Do đó việc hoàn thiện vàquản lý chính sách giá tại công ty là vô cùng quan trọng, nó liên quan trực tiếp đếnkhả năng tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và hiệu qu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động và cạnh tranh gay gắt, nhiềuquốc gia trên thế giới luôn đạt mức tăng trưởng cao, nhất là những nước thuộcnhóm dẫn đầu Các quốc gia còn lại muốn tồn tại và phát triển được cần khôngngừng cố gắng để không bị tụt hậu lại quá xa và bắt nhịp được với sự phát triển sôiđộng không ngừng đó Là quốc gia đang phát triển, vừa gia nhập tổ chức thươngmại quốc tế (WTO) Việt Nam có nhiều thuận lợi nhưng cũng phải đối mặt vớikhông it khó khăn
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển tốt phải hết sức linh hoạt, thíchứng với sự thay đổi của môi trường, áp dụng mô hình quản lý phù hợp, chiến lượclâu dài, sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả phù hơp Để làm được điều này cần tổchức và thực hiện tốt tất cả các khâu sản xuất, từ đầu vào đến tiêu thụ Và trong đóchính sách giá của các mặt hàng khác nhau có vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyếtđịnh đến thành công Công ty
Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà qua gần nửa thế kỷ phấn đấu, xây dựng,trưởng thành đã không ngừng lớn mạnh và từng bước khẳng định mình Là mộttrong những đơn vị dẫn đầu cả nước trong ngành công nghiệp sản xuất bánh kẹo.Sản phẩm công ty đa dạng phong phú với nhiều chủng loại nên đưa ra chính sáchgiá cho mỗi loại sản phẩm là công việc khó khăn phức tạp Do đó việc hoàn thiện vàquản lý chính sách giá tại công ty là vô cùng quan trọng, nó liên quan trực tiếp đếnkhả năng tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và hiệu quảhọat động sản xuất kinh doanh
Trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà, em nhận thấyđây là vấn đề khá hay và cũng còn nhièu bất cập tại công ty Với tất cả những lý do
trên, em đi tới lựa chọn đề tài “Hoàn thiện chính sách giá nhóm mặt hàng kẹo của Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà “ làm chuyên đề tốt nghiệp của mình Từ
đó tìm ra những mặt hợp lý, những mặt chưa hợp lý và đề xuất giải pháp nhằm tăngcường và hoàn thiện các chính sách giá ở công ty
Trang 2Nội dung chuyên đề tốt nghiệp gồm có 3 phần:
Phần I: Tổng quan về Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà.
Phần II: Phân tích chính sách giá nhóm mặt hàng kẹọ hiện tại của Công ty Cổ phần
bánh kẹo Hải Hà
Phần III: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách giá tiêu thụ nhóm mặt hàng kẹo.
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Nguyễn Kế Tuấn và các anh chị trongphòng kế hoach thị trường cùng tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Cổ phầnbánh kẹo Hải Hà đã giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Trang 3PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
BÁNH KẸO HẢI HÀ
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà
1.1.1 Giới thiệu chung
Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà được thành lập chính thức theo quyết định
số 216/CN/TCLD ngày 24/3/1993 của Bộ trưởng bộ công nghiệp nhẹ Đăng kí kinhdoanh số 106286 do trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội cấp ngày 7/4/1993 Ngày12/4/1994 Công ty được bộ thương mại cấp giấy kinh doanh nhập khẩu số 1011001
Công ty là doanh nghiệp chuyên sản xuất bánh kẹo lớn nhất tại Việt Nam.Bắt đầu cổ phần hóa từ tháng 1/2004, sản phẩm của Công ty được người tiêu dùngbình chọn là "Hàng Việt Nam chất lượng cao" trong nhiều năm gần đây Công tycũng là doanh nghiệp đầu tiên trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo được cấp giấychứng nhận hệ thống"Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn"(HACCP) tạiViệt Nam
Tên giao dịch quốc tế: Haihaco Confectionery Jiont-Stock Company
Tên viết tắt: Haihaco
Trụ sở chính: 25 Trương Định-Hai Bà Trưng-Hà Nội
Các chi nhánh và nhà máy trực thuộc:
- Chi nhánh Tp HCM: Lô 27 Đường Tân Tạo - Khu công nghiệp TânTạo - Quận Bình Tân-Tp HCM
- Chi nhánh Tp Đà Nẵng: 134 - Đường Phan Thanh - Quận ThanhKhê - Tp Đà Nẵng
Tài khoản ngân hàng: 1020-10000054566 tại chi nhánh Ngân hàng Công
thương Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 84-4-8632041
Fax: 84-4-8638730
Email: haihaco@hn.vnn.vn
Website: www.haihaco.com.vn
Trang 4Công ty được thành lập từ năm 1960 trải qua hơn 40 năm phấn đấu vàtrưởmg thành Công ty đã không ngừng lớn mạnh, tích lũy được nhiều kinh nghiệmtrong sản xuất kinh doanh Với đội ngũ lãnh đạo giàu kinh nghiệm, chiến lược kinhdoanh tốt, đội ngũ kỹ sư được đào tạo chuyên ngành có năng lực và lực lượng côngnhân giỏi tay nghề Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà đã tiến bước vững chắc vàphát triển liên tục để giữ vững uy tínvà chất lượng xứng đáng với niềm tin yêu củangười tiêu dùng.
1.1.2.Các giai đoạn phát triển
Khi mới thành lập, Công ty chưa sản xuất bánh kẹo mà mặt hàng đầu tiên là miến làm từ đậu xanh Quá trình ra đời và phát triển của Công ty :
1.1.2.1 Giai đoạn 1959-1960
Tháng 1/1959 Tổng Công ty Nông thổ sản Miền Bắc (trực thuộc Bộ nộithương) đã xây dựng một cơ sở thực nghiệm nghiên cứu hạt Trân Châu(Toopica)với số lượng lao động ban đầu là 9 cán bộ công nhân viên do Tổng Công ty cử sang.Năm 1960 để phục vụ nhu cầu của nhân dân Công ty lại chuyển sang nghiên cứu vàsản xuất mặt hàng miến từ đậu xanh Ngày 25/12/1960 xưởng miến Hoàng Mai rađời,đánh dấu bước đi đầu tiên cho sự phát triển của Công ty sau này
1.1.2.2 Giai đoạn 1961-1967
Trong thời kỳ này xưởng miến Hoàng Mai đã có sự phát triển đáng kể cả vềnguồn lực và chủng loại sản phẩm, ngoài sản xuất mặt hàng chính là miến Công tycòn chủ trương nghiên cứu và đưa vào sản xuất thành công mặt hàng xì dầu và tinhbột ngô cung cấp cho nhà máy pin Văn Điển
Năm 1996 theo quyết định của Bộ công nghiệp nhẹ xí nghiệp đổi tên thànhNhà máy thực nghiệm thực phẩm Hải Hà thuộc Bộ lương thực quản lý Từ đó Công
ty ngày càng đáp ứng nhiều hơn nhu cầu tiêu dùng của người dân với cơ cấu mặthàng phong phú như nước chấm lên men, nước chấm hoa quả, tương, viên đạm, bộtdinh dưỡng trẻ em, đặc biệt Công ty còn nghiên cứu mạch nha Đây là cơ sở đểCông ty trở thành Công ty bánh kẹo sau này
1.1.2.3 Giai đoạn1968-1991
Trang 5Giai đoạn này nhà máy có nhiều thay đổi.
Tháng 6/1970 thực hiện chủ trương của Bộ lương thực thực phẩm nhà máy
đã tiếp nhận phân xưởng kẹo 900 tấn/ năm của nhà máy Hải Châu Từ đây nhà máyđổi tên thành Nhà máy thực phẩm Hải Hà Số lượng cán bộ công nhân viên củaCông ty là 550 người và thực hiện nhiệm vụ chính là sản xuất kẹo, mạch nha, tinhbột
Tháng12/1976 nhà máy phê duyệt phương án thiết kế mở rộng Nhà máythực phẩm Hải Hà với công suất thiết kế là 6000 tấn/ năm, số lượng lao động 900cán bộ công nhân viên
Năm 1978 lần đầu tiên xuất khẩu 38 tấn kẹo ra các nước như Pháp, Cộnghòa dân chủ Đức, Ý
Năm 1980 thực hiện Nghị quyết trung ương 6 khóa V Nhà máy chính thứcthành lập bộ phận sản xuất phụ trợ là rượu ngay sau đó đã tiến hành nghiên cứu và
đi vào sản xuất
Năm 1981, nhà máy đổi tên thành Nhà máy thực phẩm Hải Hà trực thuộc BộCông nghiệp, thực phẩm quản lý
Năm 1982 sản xuất của Nhà máy được mở rộng, ngoài sản xuất kẹo còn sảnxuất thêm bánh
Sau thời kỳ đổi mới năm 1987, Nhà máy đổi tên thành Nhà máy kẹo xuấtkhẩu Hải Hà trực thuộc Bộ công nghệ và công nghiệp thực phẩm quản lý Trongthời gian này sản phẩm của Công ty không những đáp ứng nhu cầu trong nước màcòn xuất khẩu một lượng lớn
1.1.2.4 Giai đoạn 1992 đến nay
Đây là thời kỳ nền kinh tế mở cửa nên Nhà Nước có những chính sách thôngthoáng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển tận dụng điệu kiện thuận lợi
đó Công ty ra những quyết định táo bạo nhằm thu hút vốn, máy móc thiệt bị, dâychuyền sản xuất Cũng trong giai đoạn này Nhà máy chính thức đổi tên thành Nhàmáy bánh kẹo Hải Hà
Trang 6Tháng 7 -1992, theo Quyết định số 216/CN-LĐ của Bộ công nghiệp nhẹ Nhàmáy đổi tên thành Công ty bánh kẹo Hải Hà với tên giao dịch HaiHaCo thuộc BộCông nghiệp nhẹ quản lý.
Năm1993, Công ty liên doanh với nhật bản thành lập công ty liên doanhHaiha -Koto buki
Năm 1995, Công ty liên doanh với Hàn Quốc thành lập Công ty liên doanhHai ha -Miwon
Tháng 9 năm 1995 Công ty sát nhập với nhà máy thực phẩm Việt Trì thànhmột phân xưởng chuyên sản xuất thực phẩm của công ty đặt tại Việt Trì
Tháng 7 năm 1996 Công ty sát nhập với nhà máy bột dinh dưỡng Nam Địnhthành một phân xưởng đặt tại Nam Định
Năm 2004 thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước củaChính phủ và theo Quyết định số 192/2003/QĐ-BCN ngày 14/01/2003 của Bộcông nghiệp Công ty chuyển đổi thành công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà với 51%vốn Nhà nước., 49% là các cổ phần khác và hoạt động cho đến nay
1.1.3 Chức năng nhiệm vụ của Công ty
Theo Quyết định 995/QĐ-TW/TCCB ngày 23/10/1996 của Bộ Thương MạiCông ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà có các chức năng nhiệm vụ sau:
+Chức năng: Công ty vừa sản xuất vừa kinh doanh bánh kẹo nên công ty giữvai trò quan trọng trong việc quản lý đầu ra và đầu vào của dây chuyền sản xuất vàtiêu thụ hàng hóa Sản xuất kinh doanh các loại bánh kẹo phục vụ mọi tầng lớp nhândân và một phần xuất khẩu
Nghĩa vụ: Thực hiện Nghị quyết Hội nghị 7 khóa VI của BCH Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phát triển nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, công ty đã xác định những nhiệm vụchủ yếu sau:
- Thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Nhà nước
- Chấp hành mọi quyết định, các chế độ chính sách về quản lý và sử dụngtiền vốn, tài sản và nộp ngân sách theo quy định
Trang 7- Đầu tư công nghệ sản xuất tiên tiến, đào tạo đội ngũ nhân viên có trình độchuyên môn tay nghề đặc biệt đội ngũ nhân viên thị trường.
Tăng cường đầu tư chiều sâu không ngừng nâng cao chất lượng đa dạng hóasản phẩm, mở rộng thị trường và tăng năng suất lao động
- Bảo vệ uy tín của công ty, thực hiện đúng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thựcphẩm, bảo vệ môi trường
- Thực hiện phân phối theo lao động, tạo công ăn việc làm tăng thu nhập chongười lao động, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên
1.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà.
Công ty bánh kẹo Hải Hà từ một phân xưởng nhỏ với 9 cán bộ công nhânviên nay đã trở thành một doanh nghiệp lớn với 1682 vào năm 2006 Trải qua hơn
40 năm phát triển Công ty đã xây dựng được một tiềm lực kinh tế mạnh với sốlượng máy móc thiết bị hiện đại, nguồn vốn sản xuất kinh doanh lớn, lao động cótay nghề và chuyên môn có được thành quả đó là do Công ty đã biết khắc phụckhó khăn tận dụng tối đa cơ hội trong điều kiện hoàn cảnh của doanh nghiệp
Bảng 1.1: Kết qủa sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà
2002
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Năm 2006
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường, Phòng nhân sự.
a Sản lượng sản xuất và sản lượng tiêu thụ:
Sản lượng sản xuất của công ty tăng mạnh nhất vào hai năm 2003 và 2004với tốc độ tăng tương ứng là 17.04% và 10.25% Có được kết quả trên là do công ty
đã áp dụng nhiều biện pháp hợp lý tận dụng tối đa công suất máy móc thiết bị, tăngcường công tác quản lý, nâng cao tay nghề của đội ngũ công nhân làm động làm
Trang 8tăng năng suất lao động, Tuy nhiên đến năm 2005, 2006 thì sản lượng sản xuất tăngvới tốc độ chậm lại do công ty đã gần đạt mức công suất thiết kế.
Sản lượng tiêu thụ cũng tăng dần qua các năm và cao nhất là năm 2006 Từnăm 2004 dây chuyền sản xuất kẹo chew đi vào hoạt động tạo nến cơn sốt về mặthàng này trên thị trường Sản lượng tiêu thụ tại công ty tăng dần trong điều kiệncạnh tranh như hiện nay là sự thành công lớn
b Doanh thu: Qua bảng số liệu trên cho thấy doanh số hàng năm của công ty càng
tăng bình quân năm sau cao hơn năm trước 17-18% Năm 2006 đạt 518.81 tỷ đồng,
có được kết quả đó là do:
- Nhu cầu tiêu dùng của người dân về sản phẩm bánh kẹo ngày càng tăngcao, công ty đã tận dụng thời cơ đó mở rộng sản xuất cải tiến mẫu mã chất lượngsản phẩm phù hợp với nhu cầu
- Thực hiện tốt các hoạt động tiêu thụ sản phẩm như: khuyến mại, giảmgiá
- Sản lượng sản xuất tăng lên công tác quản lý được nâng cao, các hoạt độngxúc tiến bán được đẩy mạnh Từ năm 2004 đến nay doanh thu tăng mạnh nhất, năm
2005 tăng 71.2 tỷ đồng tăng 19.12% so với năm 2004 Điều này được giải thích:Năm 2004 công ty chuyển sang hình thức Công ty Cổ phần nên sản xuất kinh doanhđược tổ chức lại một cách hợp lý hơn, cùng với sự đồng tâm nhất trí của toànthể cán
bộ công nhân viên đã góp phần tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Cũng trong năm
2004 công ty dầu tư thêm dây chuyền sản xuất kẹo chew mới và hiện đại nên đã đápứng yêu cầu tiêu dùng của khách hàng Năm 2006 doanh thu tiêu thụ là 518.81 tỷđồng tăng 17% so với năm 2005.Tốc độ tăng doanh thu giảm do năm 2006 là nămnhuận, tháng tết bánh kẹo tiêu thụ mạnh nhưng doanh thu được tính sang năm 2007
c Lợi nhuận: Doanh thu tăng kéo theo lợi nhuận cũng tăng Từ năm 2002 - 2006
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có hiệu hiệu quả, đem lại lợi nhuận lớn
và liên tục tăng Năm 2004 là năm Công ty đạt mức lợi nhuận là 12.43 tỷ đồng và lànăm có tốc độ tăng lợi nhuận lớn nhất từ trước đến nay,tăng 25.05% so với năm
2003 Năm 2006 lợi nhuận là 17.76 tỷ đồng tăng 18% so với năm 2005 lợi nhuận
Trang 9tăng tạo điều kiện để Công ty đầu tư phát triển cho các năm sau, điều này đượcminh chứng vốn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng tăng, đầu
tư thêm nhiều dây chuyền sản xuất hiện đại để thích ứng được với môi trường kinhdoanh nhiều biến động thay đổi
d Thu nhập bình quân người lao động:
Trên đà phát triển của Công ty thì thu nhập của người lao động có xu hướngtăng dần Thu nhập bình quân người lao động qua các năm đều tăng Năm 2002 là1,25 triệu đồng đến năm 2006 đạt 2.1 triệu đồng điều này chứng tỏ đời sống củangười lao động ngày càng cải thiện, đây là động lực để người lao động tích cực làmviệc nâng cao năng suất Không những vậy người lao động còn luôn được đảm bảo
về các chế độ bảo hiểm, phụ cấp, ốm đau, thai sản
e Nộp ngân sách nhà nước:
Đây là nghĩa vụ mà doanh nghiệp luôn thực hiện đầy đủ và đúng hạn nhưngtrong nhiệm vụ công ty đã quy định Cùng với hiệu quả sản xuất kinh doanh ngàymột tăng thì nghĩa vụ nộp ngân sách tăng theo Riêng nămg 2006 mặc dù doanh thutăng nhưng cũng tăng ít hơn chi phí nên làm cho lợi nhuận giảm kéo theo khoản nộpngân sách nhà nước giảm Ngoài nghĩa vụ nộp thuế công ty luôn thực hiện đầy đủcác nghĩa vụ khác đối với nhà nước, công ty cũng là một trong những doanh nghiệp
có đóng góp lớn vào ngân sách
1.2 Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của công ty
1.2.1 Về lĩnh vực kinh doanh và nhiệm vụ kinh doanh
Căn cứ vào chủng loại có:
- Sản phẩm bánh chia 3 loại: bánh biscuits, bánh cracker, bánh kem xốp
Trang 10- Sản phẩm kẹo chia thành 3 loại: kẹo cứng, kẹo xốp mềm, kẹo dẻo
- Ngoài ra trong dịp trung thu, Tết Nguyên Đán công ty còn sản xuất nhiềumặt hàng bánh trung thu và mứt khác
Căn cứ vào chất lượng sản phẩm:
- Sản phẩm chất lượng cao: bánh kem xốp phủ sôcôla, bánh kem xốp thỏi,bánh dạ lan hương, kẹo caramen, bánh cracker đặc biệt là kẹo chew
- Sản phẩm chất lượng trung bình: kẹo cứng, các loại kẹo mềm, kẹo tráicây, kẹo mặn, bánh bích quy, bánh quy đóng cân, kẹo cân
Căn cứ vào hương vị sản phẩm gồm: vị trái cây, ca cao, sữa, chocolate
* Hiện nay Công ty có 2 hướng phát triển sản phẩm mới:
- Thứ nhất: Sản phẩm mới cải tiến trên cơ sở sản phẩm cũ, chỉ thay đổi về
hình thức hương vị
- Thứ hai: Cho ra đời sản phẩm mới hoàn toàn, tạo ra nét riêng biệt về sản
phẩm của công ty.Tuy nhiên khả năng này còn kém so với các đối thủ cạnh tranhkhác như: Kinh Đô, Hữu Nghi, Haiha-kotobuki
Trong những năm gần đây Công ty đưa ra thị trường một số sản phẩm hoàntoàn mới như kẹo chew, kẹo jelly, kẹo mặn(2004),kẹo que hương vị trái cây(2005).Các sản phẩm này được người tiêu dùng chấp nhận và đánh giá cao Sản lượng tiêuthụ kẹo chew cuối năm 2005 đạt mức kỉ lục 2410 tấn chiếm 14.1% tổng sản lượngbánh kẹo tiêu thụ năm
Trong những năm tới Công ty sẽ thay đổi hương liệu, nguyên liệu, giảm độngọt tăng độ cay độ mặn vào trong kẹo bánh.Công ty nghiên cứu cho ra đời các loạibánh kẹo mang hương vị những loại hoa thơm, sử dụng các loại máy cắt để tạo racác hình dạng khác nhau, góp phần chống hàng giả hàng nhái
b Đặc điểm về nguyên vật liệu dùng sản xuất sản phẩm
Trang 11Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố quan trọng cấu thành nên sản phẩm.
Nó chiếm 60-75% giá thành sản phẩm, là yếu tố quyết định bản chất sản phẩm Đốivới các sản phẩm tiêu dùng như các sản phẩm của Công ty bành kẹo Hải Hà thì vaitrò của nguyên vật liệu lại càng quan trọng hơn so với các ngành sản xuất khác.Nguyên vật liệu để sản xuất bánh kẹo không chỉ đòi hỏi lớn về số lượng và còn cao
về chất lượng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sức khỏe con người
Nguyên vật liệu dùng phục vụ sản xuất của Công ty trước đây chủ yếu lànguyên liệu trong nước từ các nhà cung ứng truyền thống nhưng trong mấy năm trởlại đây Công ty nhập khẩu một số nguyên liệu từ nước ngoài để đáp ứng yêu cầusản xuất các loại sản phẩm cao cấp
c Đặc điểm về thị trường tiêu thụ.
Công ty đã thiết lập được mạng lưới tiêu thụ rộng rãi trải khắp ba miền trong
cả nước Miền Bắc là thị trường lớn,ổn định và chủ yếu của Công ty nhất là thànhphố Hà Nội Doanh thu tại thị trường Hà Nội chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanhthu
Thị trường Miền Trung có tỷ trọng tiêu thụ ít hơn thị trường Miền Bắc vàkém ổn định hơn
Thị trường Miền Nam chỉ tiêu thụ khối lượng nhỏ do có nhiều sản phẩm củaKinh Đô Ngoài ra Công ty còn xuất khẩu sang thị trường Đức, Nga, Malaxia tuysản lượng chưa cao nhưng mục tiêu của công ty trong những năm tới là phát triển và
mở rộng quan hệ quốc tế
Trang 12Sơ đồ kênh phân phối 1.1:
Kênh phân phối trực tiếp: Công ty đưa sản phẩm trực tiếp đến tay người
tiêu dùng thông qua các cửa hàng giới thiệu sản phẩm và các hội trợ triển lãm.Thông qua kiểu kênh phân phối này công ty có cơ hội tiếp xúc với khách hàng, từ
đó đã đáp ứng tốt cho nhu cầu thị trường về chủng loại, mẫu mã, giá cả sản phẩm.Hiện nay lượng tiêu thụ theo kênh này chỉ chiếm khoảng 10%
Kênh phân phối một cấp: Thông qua nhà bán lẻ Công ty cung ứng sản phẩm
đến tay người tiêu dùng các nhà bán lẻ ở đây là các siêu thị như: Metro, Fivimart,Marko và một số cửa hàng nhỏ lẻ khác, sản lượng tiêu thụ theo kênh này chiếmkhoảng 21%
Kênh phân phối hai cấp: Sản phẩm đến tay người tiêu dùng thông qua các
đại lý và các cửa hàng bán lẻ Kênh phân phối này là kênh chủ yếu của công ty sảnlượng tiêu thụ khoảng 70% Năm 2005, Công ty có khoảng 220 đại lý tại 34 tỉnhthành trong cả nước, trong đó Miền Bắc có 145 đại lý, còn lại là thị trường MiềnTrung (36 đại lý) và Miền Nam (27 đại lý)
Với 3 kiểu kênh phân phối như trên, Công ty sẽ giảm được rủi ro trong quátrình phân phối cũng như chi phí vận chuyển, xúc tiến khuếch trương sản phẩm,
Nhà bán lẻ
dùng
Nhà bán buôn
Nhà bán lẻ
Nguồn: Phòng Kinh doanh
Trang 13thiết lập các mối quan hệ từ đó tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những ngườimua tiềm năng.
d Đặc điểm về khách hàng
Khách hàng của Công ty là mọi tầng lớp nhân dân.Bao gồm đối tượng có thunhập cao, trung bình thấp Mục tiêu của Công ty là phục vụ tốt nhât nhu cầu kháchhàng Bánh kẹo là mặt hàng tiêu dùng thường xuyên nhưng các tháng trong nămmức tiêu dùng chỉ đạt mức trung bình, tronng các dịp lễ tết những tháng cuối nămthì nhu cầu tăng cao Vì vậy Công ty luôn có kế hoạch sản xuất phục vụ cho tiêudùng và dự trữ khi thị trường cần có sản phẩm đáp ứng
Khách hàng mục tiêu của Cồng ty là trẻ em và tầng lớp trung niên Đây làdnhững đối tượng có nhu cầu cao Công ty hàng năm đều cho ra đời những sảnphẩm mới chất lượng, mẫu mã đẹp được người tiêu dùng chấp nhận và đánh giácao
1.2.2 Đặc điểm quy trình công nghệ
Quy trình công nghệ sản xuất của Công ty theo kiểu đơn giản, chế biến liêntục khép kín sản xuất với mẻ lớn trên dây chuyền bán tự động thủ công nửa cơ khí
Đặc điểm quy trình sản xuất của Công ty là không có sản phẩm dở dang, mỗisản phẩm được hoàn thành ngay sau khi kết thúc dây chuyền sản xuất, sản phẩmhỏng được đem đi tái chế ngay trong ca làm việc Trên một dây chuyền sản xuất cóthể sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau, nhưng có sự tách biệt về thời gian.Mỗi chu kỳ sản xuất thường ngắn, nhanh nhất là từ 5-10 phút, dài nhất là 3-4 giờ.Quy trình sản xuất bánh kẹo( Xem phụ lục trang 6 )
1.2.3 Đặc điểm cơ sở vật chất trang thiết bị
a Cơ sở vật chất
Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà có 5 xí nghiệp thành viên trong đó có 4 xínghiệp sản xuất chính và một xí nghiệp phụ trợ, các xí nghiệp chính được xây dựngtheo nguyên tắc đối tượng, mỗi xí nghiệp được phân công sản xuất những sản phẩmnhất định
Trang 14Xí nghiệp kẹo: Chuyên sản xuất các loại kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo gôm, kẹo
cà phê
Xí nghiệp bánh: sản xuất các loại bánh buicuits, bánh cracker, bánh kẹp
kem,
Xí nghiệp phụ trợ: phục vụ việc việc cung cấp nhiệt lượng cho các xí nghiệp
sản xuất bánh kẹo,sửa chữa máy móc thiết bị của toàn công ty
Nhà máy thực phẩm Việt Trì: sản xuất bánh kẹo và một số sản phẩm khác
như: mì ăn liền, nước giải khát Năm 1997 được đầu tư thêm một dây chuyền sảnxuất kẹo Jelly đây là là sản phẩm được ưa chuộng đặc biệt là đối với trẻ em
Nhà máy bột dinh dưỡng Nam Định: chuyên sản xuất bột dinh dưỡng, bột
canh và bánh kem xốp các loại
b Đặc điểm máy móc thiết bị.
Bên cạnh nguyên vật liệu máy móc thiết bị có vai trò hết sức quan trọngtrong quá trình sản xuất sản phẩm Giá trị của máy móc thiết bị tồn tại trong sảnphẩm dưới dạng khấu hao qua nhiều quá trình sản xuất Hiện nay cả công ty cổphần có 2 hệ thống máy móc thiết bị:
Hệ thống máy móc thiết bị cũ: được trang bị từ những năm 1960
Hệ thống máy móc thiết bị mới
Ngoài cơ sở vật chất đã có công ty còn đầu tư đổi mới các máy móc thiết bịnhằm nâng cao năng suất chất lượng, cải tiến mẫu mã sản phẩm Đặc biệt công tytập trung đầu tư 2 dây chuyền sản xuất kẹo chew và đem lại thành công lớn, doanhthu công ty tăng đáng kể tạo dựng uy tín với khách hàng:
Trang 15Bảng 1.2: Hệ thống máy móc thiết bị cũ
STT Tên máy móc thiết bị Số lượng Xuất xứ Năm trang bị
14 Dây chuyền sản xuất kẹo
Bảng 1.3: Hệ thống máy móc thiết bị mới đầu tư
STT Tên thiết bị Xuất xứ Năm
trang bị
Công suất (kg/h)
A Thiết bị sản xuất kẹo
Trang 162 Máy gói kẹo cứng Trung Quốc 1995 500
7 Dây chuyền sản xuất kẹo jelly đổ khung Australia 1996 2000
B Thiết bị sản xuất bánh
11 Dây chuyền sản xuất bánh bitcuits Đan Mạch 1992 300
13 Dây chuyền sản xuất bánh Cracker giòn Ý 1995 400
Nguồn: Phòng Kỹ thuật
Qua bảng trên cho thấy trong những năm gần đây công ty đã đầu tư trangthiết bị thiết bị hiện đại từ Nhật Bản, Đức, Ý nhằm tiết kiệm và giảm khối lượngmua sắm nguyên vật liệu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đáp ứng cơ bảnnhu cầu sản xuất Tuy nhiên vẫn còn một số thiết bị lạc hậu đã hết thời gian khấuhao nhưng vẫn đang được sử dụng Điều này gây bất cật trong sản xuất nhất là sửdụng nguyên liệu gây khó khăn cho việc tìm nguồn hàng
Đổi mới công nghệ là việc làm cần thiết đối với công ty Trong quá trình đổimới công nghệ công ty có những thuận lợi lớn như: có đội ngũ cán bộ có trình độcông nhân tay nghề cao, đáp ứng được yêu cầu, tuy nhiên công ty cũng gặp nhiềukhó khăn như vấn đề tài chính, kỹ thuật
Công tác quản lý máy móc thiết bị được đội ngũ cán bộ thực hiện triệt để,khai thác hết công suất của máy nhất là vào các dịp lễ tết nhằm đáp ứng nhu cầutiêu dùng tăng cao Thường xuyên được kiểm tra sửa chữa máy móc thiết bị nhưngvới khối lượng khá lớn máy móc cũ gây nhiều khó khăn cho sản xuất
1.2.4 Đặc điểm về lao động
Sản phẩm của Công ty mang tính mùa vụ nên lao động của Công ty đượcchia làm 2 loại là lao động dài hạn và lao động ngắn hạn Mặt khác sản xuất bánhkẹo đòi hỏi sự khéo léo thành thục nên lao đông dài hạn nhiều hơn lao động ngắnhạn (lao động ngắn hạn gồm lao động hợp đồng 1- 3 năm và lao động tạm thời)
Trang 17Bảng 1.4: Cơ cấu lao động Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà
2002 -2006
1 Theo thời gian lao động
- Về chất lượng lao động: Ngày càng được cải thiện, lượng lao động trình
độ Đại học trở lên tăng dần, tay nghề của người lao động ngày càng được nâng caotrong đó bậc thợ thấp nhất là bậc 3, cán bộ quản lý kinh tế thấp nhất là Trung cấp,chủ yếu là tốt nghiệp Đại học Năm 2002 lao động từ đại học trở lên là 126 ngườichiếm 7,5% Năm 2006 là 159 người chiếm 9,4% đây là tiền đề để nâng cao năngsuất lao động từ đó giảm chi phí sản xuất sản phẩm bình quân góp phần hạ giáthành sản phẩm, do vậy công ty có những biện pháp để đào tạo và phát triển nguồnnhân lực của mình: Thường xuyên mở các lớp đào tạo tại doanh nghiệp và cử đi họcbên ngoài về quản lý kinh tế, an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp, ngoại ngữ,nâng cao cấp bậc công nhân
- Về số lượng lao động: Tổng số lao động của toàn công ty ngày càng tăng
từ năm 2002 - 2005 riêng năm 2006 số lượng lao động giảm Năm 2004 công tytăng 110 lao động hay 6,5% so với năm 2003 là do quy mô sản xuất mở rộng đầu tưthêm dây chuyền sản xuất kẹo chew Năm 2006 số lượng lao động của công ty giảm11% so với năm 2005 hay giảm 208 người do công ty đã nghiên cứu nhu cầu thịtrường và ổn định sản xuất
Trang 18- Về giới tính: lao động nữ trong công ty luôn chiếm gần 80% trong tổng số
lao động, vấn đề này đặt ra cho doanh nghiệp phải quan tâm nhiều hơn tới chế độbảo hiểm , y tế cho người lao động
- Mức thời gian lao động: Được xây dựng dựa trên kinh nghiệm sản xuất
nhiều năm và thực tế sản xuất hiện nay Nhóm trực tiếp sản xuất có bộ phận tổchức làm việc 2 ca, có bộ phận làm 3 ca liên tục Hàng năm vào quý 1 và quý 4 nhucầu tiêu dùng trên thị trường lớn công ty tổ chức làm việc 3 ca/ ngày
- Thù lao lao động: Công ty áp dụng trả lương theo thời gian đối với nhân
viên quản lý và trả lương theo sản phẩm đối với lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm.Việc trả lương như vậy đã tạo ra sự gắp bó tin tưởng giữa người lao động và Công
ty
Qua sự phân tích trên có thể kết luận nguồn lao động của công ty mạnh cả về
số lượng và chất lượng Đây là một trong ưu thế của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải
Hà được phát huy trong quá trình phát triển của doanh nghiệp
1.2.5 Vốn kinh doanh.
Trước khi cổ phần hóa vốn sản xuất kinh doanh của công ty phụ thuộc vàonhà nước Sau khi cổ phần hóa từ tháng 1 năm 2004 nguồn vốn này đa dạng hơn rấtnhiều, ngoài vốn của nhà nước còn vốn của công nhân viên, vốn vay và vốn các đốitượng khác
Bảng 1.5: Cơ cấu vốn công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà
Trang 19- Xét theo cơ cấu: thì vốn cố định luôn chiếm trên 50% Điều này là hoàn
toàn hợp lý vì Công ty Cổ phần bnáh kẹo Hải Hà là 1 doanh nghiệp sản xuất nênvốn cố định phải chiếm phần lớn trong tổng tài sản, cơ cấu vốn của Công ty năm
2006 như sau: Vốn lưu động 58008 triệu đồng (36,45%), vốn cố định 101136 triệuđồng (63,55%)
Tuy vậy vốn lưu động vẫn chiếm một tỷ lệ khá lớn trong số vốn, vốn lưuđộng các năm trung bình chiếm 35% (năm 2006 là 36,45%) và tương đối ổn định.Điều này tạo điều kiện cho công ty linh hoạt hơn trong quá trình sản xuất kinhdoanh từ khâu đầu vào đến khâu tiêu thụ sản phẩm
- Xét theo nguồn vốn: Vốn chủ sở hữu luôn chiếm trên 60% trong đó vốn
nhà nước là chủ yếu vì chiếm 51% trong tổng vốn kinh doanh của Công ty, hầu hếtmáy móc thiết bị sản xuất được đầu tư bằng nguồn vồn này Vốn vay ngân hàngchiếm trung bình 31,39% tạo điều kiện thuận lợi cho các quyết định sản xuất kinhdoanh Các nguồn vốn khác chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng vốn
Nguồn vốn kinh doanh của Công ty qua các năm có xu hướng tăng và ổnđịnh bảo đảm cho việc sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường tạo niềm tin cho cácnhà cung ứng, thuận lợi cho việc mua sắm nguyên vật liệu, đảm bảo cho quá trìnhsản xuất
1.2.6 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
Trang 20Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà có bộ máy tổ chức quản lý theo kiểu trựctuyến chức năng Các phòng chức năng có nhiệm vụ tham mưu cho các cấp lãnhđạo song không ra lệnh cho các phân xưởng sản xuất, mỗi phòng đại diện một chứcnăng nhất định Các quyết định quản lý do các phòng chức năng nghiên cứu đề xuất(phòng kinh doanh, phòng tài vụ, phòng kỹ thuật ) Khi được lệnh của thủ trưởngtruyền từ trên xuống dưới.
Trang 21SƠ ĐỒ 1.2: CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN TRỊ CÔNG TY
CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát
Tổng Giám đốc
Văn phòng Phó TGĐ tài
chính
Phó TGĐ kinh doanh
Bộ phận Maket ting
Bộ phận vật tư
Bộ phân vận tải
Bộ phận bốc vác
XN kẹo
XN phụ trợ
XN bột dinh dưỡng
XN chew
Ghi chú:
Nguồn: Phòng Hành chính - Tổng hợp
Quan hệ trực tuyếnQuan hệ chức năng
Trang 22Hội đồng quản trị: Gồm các thành viên được bầu chọn từ Đại hội đồng cổ
đông, trong đó có đại diện từ phía Nhà nước và các Cổ đông khác Hội đồng Quảntrị có nhiệm vụ quản lý Công ty, có quyền quyết định cao nhất vì mục đích lợi íchCông ty và toàn thể các cổ đông
Ban kiểm soát: Có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt động kinh
doanh của Công ty
Tổng Giám Đốc: là thành viên của Hội đồng quản trị, do Hội đồng quản trị
bầu ra điều hành các hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trướcđại hội đồng cổ đông Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty
Tổng giám đốc là người quản lý các phòng ban: phòng tài vụ, phòngkỹ thuật,phòng kinh doanh, văn phòng cũng như các phân xưởng sản xuất
Phó Tổng giám đốc tài chính: Là người quản lý mọi mặt hoạt động có liên
quan đến tài chính của Công ty Quản lý vốn và các nguồn ngân quỹ Phó Tổnggiám đốc tài chính phê duyệt các quyết định về ngân quỹ cho hoạt động của Công
ty Chịu trách nhiệm báo cáo với Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị về kết quảkinh doanh của Công ty
Phó Tổng giám đốc kinh doanh: Chịu trách nhiệm điều hành các hoạt động
kinh doanh của Công ty Quản trị nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm đảm bảo choquá trình đó được diễn ra liên tục
Phó Tổng giám đốc kỹ thuật: chịu trách nhiệm quản lý về tình hình máy
móc thiết bị sản xuất, công nghệ và cơ sở vật chất khác
Các phòng chức năng có nhiệm vụ giúp Giám đốc thực hiện tốt nghĩa vụ củamình
- Phòng Kinh doanh: có nhiệm vụ cung ứng vật tư, lập kế hoạch sản xuất
ngắn hạn, trung hạn , dài hạn Đề ra các biện pháp tiêu thụ sản phẩm, ngoài raphòng còn có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường bảo đảm cho quá trình sản xuất kinhdoanh diễn ra liên tục ổn định
Trang 23- Phòng Kỹ thuật: theo dõi thực hiện các quá trình sản xuất, công nghệ đảm
bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa thiết bịmáy móc sản xuất
- Phòng Tài vụ: Có nhiệm vụ huy động bảo đảm nguồn vốn cho họat động
sản xuất kinh doanh, tiến hành công tác kiểm toán, kế toán theo dõi các hoạt độngkinh doanh của công ty Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh trong từng tháng,quý năm và lập dự toán chi phí sản xuất
- Văn phòng: Tổ chức, sắp xếp, phân bổ lao động một cách hợp lý, xác định
chế độ tiền lương, thưởng cho người lao động Tuyển dụng lao động và phụ tráchvấn đề an toàn lao động, BHXH
Từ sơ đồ bộ máy quản trị trên ta nhận thấy bộ máy quản trị của Công ty khá linhhọat, các phòng ban được chuyên môn hóa, bố trí đã tạo điều kiện thuận lợi chokhâu quản lý Tuy nhiên hoạt động Marketing chưa được chuyên môn hóa và doPhòng Kinh doanh đảm nhận
Trang 24PHẦN II: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH GIÁ NHÓM MẶT HÀNG KẸO HIỆN TẠI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ
2.1 Tổng quan tình hình tiêu thụ kẹo của Công ty
2.1.1 Tình hình biến động tiêu thụ nhóm mặt hàng kẹo Hải Hà trong thời gian qua.
Sau thời kỳ đổi mới năm 1987, tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty Cổphần bánh kẹo Hải Hà ngày càng được mở rộng và phát triển Đặc biệt từ năm 1996Công ty đầu tư thêm nhiều dây chuyền sản xuất mới nhập từ nước ngoài Chấtlượng và mẫu mã sản phẩm được cải tiến để đáp ứng nhu cầu thị trường Hiện nayngoài các sản phẩm truyền thống, công ty còn liên tục cho ra đời nhiều sản phẩmmới như kẹo Chew, kẹo Caramel…
Khách hàng: Do sự khác nhau về phong tục tập quán cũng như thị hiếu tiêu
dùng
nên việc tiêu thụ hàng hóa ở các thị trường cũng khác nhau Hiện nay mạng lướitiêu thụ của công ty rộng khắp trên cả nước, sản phẩm kẹo Hải Hà có mặt ở hầu hếtcác tỉnh thành trong cả nước
Bảng 2.1: Tình hình tiêu thụ sản phẩm kẹo của công ty Hải Hà
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường
Sản phẩm: Các mặt hàng kẹo cuả Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà rất đa
dạng và phong phú đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu khách hàng Trong tổng sảnlượng sản xuất thì sản phẩm kẹo chiếm 68% còn các mặt hàng bánh chỉ chiếm 32%
Trang 25Bảng 2.2: Phân loại các nhóm sản phẩm kẹo tại Công ty Cổ phần
III Kẹo dẻo:
1 Kẹo Chew gói gối
2 Kẹo Chew nhân
3 Kẹo Jelly
I Nhóm kẹo có giá trị,chất lượng cao:
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường
Bên cạnh đó công ty còn đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm theo khối lượng đónggói từ 50 - 500 gr Trong vài năm gần đây, chính sách sản phẩm công ty có sự đổi
Trang 26mới cơ bản Mỗi năm công ty đều đưa ra thị trường những sản phẩm mới về mẫu
mã chất lượng hoặc mới hoàn toàn
Các sản phẩm kẹo truyền thống bao gồm: kẹo mềm thủ công, kẹocứng( cứng gối , cứng nhân), kẹo xốp Mỗi loại kẹo có hương vị khác nhau và kẹocứng có nhân lần đầu tiên sản xuất ở Việt Nam tại Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải
Hà trên dây chuyền sản xuất được nhập từ Ba Lan
Trong công ty, kẹo dẻo chiếm ưu thế hơn cả về chất lượng và số lượng donhu cầu hiện nay trên thị trường tăng Các sản phẩm kẹo: kẹo Chew, kẹo caramel,kẹo jelly là các sản phẩm cao cấp được nhiều người ưa thích và đem lại doanh thulớn cho công ty
Khả năng tiêu thụ kẹo trên thị trường:
Hầu hết các sản phẩm công ty đưa ra đều tiêu thụ mạnh, đặc biệt là kẹo dẻo,kẹo Chew với nhiều hương vị khác nhau tăng thêm sự lựa chọn cho khách hàng.Thị trường tiêu thụ sản phẩm chủ yếu là thị trường miền Bắc đặc biệt là thủ đô
Hà Nội với doanh thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu Đối với thị trườngmiền Trung và miền Nam - hai thị trường có tiềm năng lớn, Công ty vẫn đang tíchcực tìm kiếm các đại lý mới nhằm tăng sản lượng tiêu thụ, tạo điều kiện khai tháctối đa công suất máy móc thiết bị và kéo dài chu kỳ sống cho sản phẩm cũ trênnhững thị trường mới
Hiện nay, thị trường bánh kẹo có sự cạnh tranh gay gắt của các công ty lớnnhư: Kinh Đô, Hải Châu, Hữu Nghị, Tràng An, Biên Hòa…Công ty chủ trương duytrì và bảo vệ thị phần hiện có đồng thời đẩy mạnh, phát triển thị trường mới: vùngsâu, vùng xa, thị trường xuất khẩu…
Trang 27Bảng 2.3: Kết quả sản xuất kinh doanh mặt hàng kẹo giai đoạn 2003 - 2006
2005
Năm2006
Nguồn: Phòng Kế hoạch thị trường, Phòng Kế toán
Từ bảng tổng hợp kết quả sản xuất kinh doanh nhóm sản phẩm kẹo của Công
ty giai đoạn 2003 - 2006, đặc biệt từ năm 2004 khi công ty thực hiện Cổ phần hóa tathấy công ty đang trên đà phát triển mạnh Sản lượng sản xuất, doanh thu, lợi nhuận
ở mức cao và tăng đều qua các năm Cao nhất là năm 2006 lợi nhuận tăng trungbình 19.89% năm Có được những kết quả như vậy là do công ty đã thực hiện nhiềuhoạt động cải tiến và đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ, mở nhiều hộinghị khách hàng Năm 2004 cũng là năm công ty chuyển sang hình thức công ty Cổphần nên hoạt động sản xuất kinh doanh được tổ chức lại một cách hợp lý hơn Sựđồng tâm nhất trí của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty cũng góp phầntăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Từ năm 2004 các cán bộ công ty đặc biệt là phòng kế hoạc thị trường đã chủđộng trong việc tìm kiếm thị trường, đại lý và chào hàng sản phẩm, kí kết hợp đồng
vì vậy công ty có nhiều đại lý kí kết hợp đồng lâu dài với công ty Điều này giúpcông ty tận dụng tối đa công suất máy móc thiết bị, mở rộng sản xuất Từ năm 2003đến nay sản lượng sản xuất:
+ Nhóm mặt hàng kẹo dẻo tăng trung bình 19,53 %+ Nhóm kẹo mềm tăng trung bình 5.79 %
Trang 28+ Nhòm kẹo cứng tăng trung bình 10.42 %
Từ năm 2002 đến năm 2006 doanh thu bán hàng tăng trung bình 18,6 % năm,riêng năm 2006 doanh thu bán hàng đạt cao nhất là 352,79 tỷ đồng Lợi nhuận bìnhquân qua các năm tăng 20% năm Tốc độ tăng lợi nhuận là lớn và cao hơn tốc độtăng doanh thu Điều này đạt được là do công ty đã cải tiến kỹ thuật, sửa chữa máymóc thiết bị, tiết kiệm nguyên vật liệu, sử dụng hiệu quả nguồn
Công ty có lực lượng lao động khá đông và ổn định, số lượng lao động toàncông ty trung bình là 1770 người Số lượng lao động tham gia sản xuất các mặthàng kẹo trung bình là 1141 người Năm 2004 công ty đầu tư thêm dây chuyền sảnxuất kẹo chew nên số lượng lao động trong phân xưởng kẹo tăng lên đáng kể Sốlao động tăng thêm là 53 người Nhưng từ năm 2005 đến nay số lượng lao động ổnđịnh, lượng tăng giảm không đáng kể
Thu nhập bình quân ở mức khá cao so với các công ty sản xuất bánh kẹokhác hiện nay Lực lượng lao động ổn định lương bình quân tăng đều, cán bộ côngnhân viên được tham gia đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đầy đủ giúp người laođộng yên tâm hơn trong công việc, gắn bó với công ty và làm việc có hiệu quả hơn.Các khoản nộp ngân sách Nhà nước của công ty cũng tăng lên qua các năm.Năm 2003 nộp ngân sách cho nhóm sản phẩm kẹo là 9.445 tỷ đồng đến năm 2006 là13.447 tỷ đồng Như vậy khoản nộp ngân sách năm 2006 tăng 14.23% so với năm
2002 Nộp ngân sách của nhóm sản phẩm kẹo chiếm tỷ trọng khá lớn trung bình68,2 % trong tổng các khoản nộp ngân sách Tốc độ tăng khoản nộp ngân sách năm
2006 cho nhóm sản phẩm kẹo giảm là do doanh thu bán hàng tết được tính sangnăm 2007
2.1.2 Thị trường và khách hàng
Do đặc thù của sản xuất, sản phẩm mà các sản phẩm kẹo của công ty đượcphân bố rộng rãi trong cả nước Khách hàng của công ty bao gồm 2 nhóm chínhsau:
Đối tượng khách hàng là các đại lý: Mục đích của họ là lợi nhuận vàđộng lực để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm cho công ty là hoa hồng, chiết khấu bán
Trang 29hàng, thưởng và phương thức bán Nắm bắt được điều này công ty đã thiết lập hệthống kênh phân phối được đánh giá là mạnh nhất trong ngành sản xuất bánh kẹovới 220 đại lý tại 34 tỉnh thành trong cả nước( miền Bắc 157 đại lý còn lại là thịtrường miền Trung và miền Nam) và đối tượng khách hàng này tập trung chủ yếutại miền Bắc đặc biệt là thủ đô Hà Nội.
Công ty áp dụng chính sách giá linh hoạt đối với từng khu vực thị trường, từngđối tượng khách hàng và tùy thời gian trong năm Công ty có chính sách trợ giá, hỗtrợ chi phí vận chuyển, chính sách hoa hồng thích hợp cho các đại lý tại những khuvực khác nhau nhằm đảm bảo đại lý bán sản phẩm cùng một giá thống nhất trong cảnước
Đối với các đại lý mua hàng với số lượng lớn, có uy tín và kí hợp đồng lâu dàiCông ty áp dụng một số chính sách mềm dẻo tạo quan hệ lâu dài: cho phép thanhtoán chậm, ưu tiên trong quá trình vận chuyển, chiết khấu… Việc quan hệ tốt vớicác đại lý giúp tiêu thụ nhiều sản phẩm hơn, thu thập các thông tin phản hồi từngười tiêu dùng, tạo khả năng cạnh tranh trên thị trường với các đối thủ và mở rộngthị trường
Đối tượng khách hàng là người tiêu dùng: Đây là đối tượng quyết định sựthành bại công ty, là người trực tiếp tiêu dùng sản phẩm và quyết định các sản phẩm
có được chấp nhận trên thị trường hay không Do đó Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải
Hà đã tiến hành điều tra nghiên cứu phân tích nhu cầu, khả năng thanh toán củakhách hàng để đưa ra các quyết định thích hợp Tuy nhiên kết quả thu được chưanhư mong muốn, thấy được tầm quan trọng của vấn đề Công ty đưa ra nhiều kếhoạch và từng bước thực hiện điều tra nghiên cứu thị trường nhăm đạt kết quả tốthơn
Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà kinh doanh ở 4 khu vực thị trường khácnhau:
+ Khu vực các tỉnh phía Bắc+ Khu vực các tỉnh miền Trung+ Khu vực miền Nam
Trang 30+ Thị trường xuất khẩu và một số thị trường khác.
Bảng 2.4: Thị hiếu tiêu dùng trên thị trường miền Bắc, miền Trung,
miền Nam
1 Loại kẹo được
sử dụng chủ yếu
Bánh kẹo Hải Hà,Tràng An, HảiChâu,Hữu Nghị,Kinh Đô
Bánh kẹo QuảngNgãi, Biên Hòa,Húế
Bánh kẹo QuảngNgãi, Kinh Đô,Biên Hòa, Vinaco
2 Đặc điểm tiêu
dùng
- Thích mua kẹogói
- Quan tâm đếnbao bì, mẫu mã
- Độ ngọt vừa phải
- Rất quan tâm đếnchất lượng
- Thích mua lẻhoặc kẹo cân
- Không quan tâmnhiều đến bao bì
- Quan tâm nhiềuđến độ ngọt, thích
vị cay
- Quan tâm đếnhình thức và giá cả
- Thích mua kẹocân
-Ít quan tâm đếnbao bì
- Thích kẹo có độngọt cao
Trang 31Bảng 2.5: Số liệu tiêu thụ nhóm sản phẩm kẹo Hải Hà tại các vùng
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường
Qua bảng trên cho thấy tại các thị trường khối lượng tiêu thụ qua các nămđều có sự biến động.Khối lượng tiêu thụ kẹo ở thị trường miền Trung và Nam đềutăng, thị trường miền Trung năm 2006 tăng 187.49 tấn tương ứng tốc độ tăng 0.83%
so năm 2005 thị trường mièn Nam tăng 182.01 tấn hay tăng 1.2% so năm 2005.Khối lượng tiêu thụ của thị trường miền Bắc và xuất khẩu do cạnh trranh gay gắtnên Công ty có xu hướng bảo vệ thị trường này và phát triển mở rộng thị trườngmiền Trung và Nam
Trong các thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty miền Bắc vẫn là thịtrường chính chiếm trung bình 56,65% tổng sản lượng tiêu thụ kẹo trên tất cả cácthị trường với khối lượng là 5704.21 tấn năm 2006 Hiện nay thị trường miền Bắctương đối ổn định nhưng công ty gặp không ít khó khăn trong việc duy trì thị phầntrên thị trường do có nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh như: Công ty bánh kẹo Kinh
Đô, Hữu Nghị, Biên Hòa, Tràng An…
Sau thị trường miền Bắc là thị trường miền Trung Cùng với sự phát triểnchung của nền kinh tế đất nước sản lượng tiêu thụ kẹo tại thị trường miền Trungcũng không ngừng tăng, hiện tại sản phẩm kẹo tiêu thụ tại thị trường này chiếm 23đến 26% trong tổng sản lượng kẹo tiêu thụ Năm 2005 sản lượng kẹo tiêu thụ là2230.19 tấn đến năm 2006 tăng lên là 2417.68 tấn Như vậy sản lượng kẹo tiêu thụnăm 2006 so với 2005 tăng 187.49 tấn tương ứng với tốc độ tăng 0.83%
Thị trường miền Nam không phải là thị trường chính các sản phẩm Công ty
Cổ phần bánh kẹo Hải Hà Tuy nhiên trong những năm gần đây công ty đang thực
Trang 32hiện đẩy mạnh việc marketing, quảng bá sản phẩm nhằm đẩy khối lượng kẹo tiêuthụ tại thị trường này tăng lên và bước đầu đạt được kết quả đáng khích lệ Năm
2005 lượng tiêu thụ là 1278.89 tấn, năm 2006 đạt 1406.9 tấn tăng 128.01 tấn so vớinăm 2005 hay tương ứng tốc độ tăng 1.2% Đây là thị trường rất tiềm năng mà công
ty cần có sự đầu tư hơn nữa vào hoạt động tiêu thụ, mở rộng kênh phân phối nhằmchiếm lĩnh thị phần cao hơn
Thị trường xuất khẩu: Hiện tại sản phẩm kẹo Hải Hà được xuất khẩu sangmột số nước khu vực Châu Á Thái Bình Dương, chủ yếu là thị trường Mông Cổ.Đặc điểm các thị trường này là giàu tiềm năng, yêu cầu cao về chất lượng, mẫu mã.Bên cạnh đó nhiều nước có phong tục tập quán văn hóa khác với Việt Nam nên khókhăn cho việc cung ứng hàng hóa đến những thị trường này Thêm vào đó khi kinhdoanh trên những thị trường này có nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh, nhiều quốc gia
có nền khoa học công nghệ trong sản xuất tiến bộ hơn Việt Nam Đây là một trongnhững nguyên nhân làm cho sản lượng kẹo xuất khẩu tăng chậm
Tỷ lệ doanh thu tiêu thụ sản phẩm kẹo cho từng nhóm khách hàng trong tổngdoanh thu tiêu thụ kẹo của công ty như sau:
+ Miền Bắc chiếm 59%
+ Miền Trung chiếm 23%
+ Miền Nam chiếm 14%
+ Thị trường xuất khẩu và một số thị trường khác chiếm 4%
Trong Công ty Cổ phần bánh kẹo Hải Hà thì nhóm sản phẩm mang lại gần70% doanh thu trong tổng doanh thu của toàn công ty Hiện nay giá các nhóm sảnphẩm kẹo của Công ty ở mức sau:
+ Kẹo mềm thủ công:19.500 đồng/ kg hoa hồng 2%
+ Kẹo xốp: 24.000 đồng/ kg hoa hồng 2%
+ Kẹo Jelly cốc: 22.000 đồng/ kg hoa hồng 5%
Jelly chíp: 38.000 đồng/ kg hoa hồng 5%
+ Kẹo Chew gói gối: 28.500 đồng/ kg hoa hồng 5%
Kẹo Chew nhân: 30.000 đồng/ kg hoa hồng 5%