1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ

67 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 364,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt trong hoạt động FDI thì phần lớncác nguồn lực mà các nhà đầu tư nước ngoài mang vào nước nhận đầu tư là công nghệ, do đó chuyển giao công nghệ được coi là một hoạt động tất yếu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG

ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN

*****

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN

TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC LOẠI HÌNH ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY

1 TÊN HỌC PHẦN:

Tiếng Việt: Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ

Tiếng Anh: Foreign investment and technology transfer

Mã học phần: Tổng số tín chỉ: 3

2 BỘ MÔN PHỤ TRÁCH GIẢNG DẠY: Kinh tế đầu tư

3 ĐIỀU KIỆN HỌC TRƯỚC:

Môn Kinh tế đầu tư

4 MÔ TẢ HỌC PHẦN:

Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài

có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội Các nguồn này bao gồm đầu

tư trực tiếp (FDI) và đàu tư gián tiếp Trong các hình thức đầu tư gián tiếp thì nguồn vốn

hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chiếm tỷ trọng cao nhất đồng thời cũng là nguồn vốn

có tác động mạnh nhất Môn học tập trung nghiên cứu hai nguồn vốn đầu tư nước ngoài

là FDI và ODA từ góc độ nước nhận đầu tư Đặc biệt trong hoạt động FDI thì phần lớncác nguồn lực mà các nhà đầu tư nước ngoài mang vào nước nhận đầu tư là công nghệ,

do đó chuyển giao công nghệ được coi là một hoạt động tất yếu khách quan trong các dự

án FDI Môn học nghiên cứu các vấn đề lý luận của những hoạt động này đồng thờithông qua thực tiễn Việt Nam đánh giá những tác động tích cực cũng như tiêu cực tới sựphát triên kinh tế và xã hội trong hơn 20 năm tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư nướcngoài

5 MỤC TIÊU HỌC PHẦN:

Học phần cung cấp cho sinh viên kiến thức cơ bản về hoạt động đầu tư nước ngoài, cụthể là hiểu biết các lý thuyết về đầu tư nước ngoài, đặc điểm của các nguồn vốn đầu tưnước ngoài, đánh giá được tác động của nguồn vốn này đối với nước nhận đầu tư Sinhviên nắm được những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động chuyển giao công nghệ thôngqua đầu tư nước ngoài Từ đó, sinh viên có thể tiếp tục nghiên cứu thực tiễn các hoạtđộng này ở Việt Nam

6 NỘI DUNG HỌC PHẦN:

Trang 2

PHÂN BỔ THỜI GIAN

STT Nội dung Tổng số tiết Trong đó Ghi chú

Lý thuyết Thảo luận

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHẸ

Đầu tư nước ngoài là một hoạt động mang tính tất yếu trong nền kinh tế của mọi quốcgia trên thế giới trong xu thế họi nhập Xét trên gó độ một quốc gia thì đầ tư nước ngoàibao gồm đầu tư của nước khác vào quốc gia này và đầu tư của quốc gia này ra nướcngoài Phạm vi nghiên cứu của môn học là tập trung nghiên cứu hoạt động đầu tư từnước ngoài vào một quốc gia Trong chương này sinh viên sẽ làm quen với các kháiniệm về đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ, phân biệt được sự khác nhau giữađầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài, giữa chuyển giao công nghệ thông qua đầu tưnước ngoài và chuyển giao công nghệ thông thường

1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư nước ngoài

1.1.1 Khái niệm

1.1.2 Đặc điểm

1.2 Phân loại đầu tư nước ngoài

1.2.1 Đầu tư gián tiếp nươc ngoài

1.2.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3 Chuyển giao công nghệ

1.3.1 Khái niệm

1.3.2 Các hình thức chuyển giao công nghệ

1.4 Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế thế giới

Tài liệu tham khảo:

1 Giáo trình Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân,2010, chương 1 và 3

2 Giáo trình Đầu tư quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nôi, 2001, chương 1

3 Đặng Kim Nhung, Chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp, 1992, chương 1

CHƯƠNG 2: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

Trang 3

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang giữ một vai trò quan trọng đối với sựphát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, từ những nước rất phát triển như Mỹ,các nước EU đến các nước đang phát triển như Trung Quốc hay Việt Nam Động cơ nàokhiến cho phần lớn các quốc gia trên thế giới tăng cường thu hút nguồn vốn này? Bêncạnh những “cái được” từ việc thu hút nguồn vốn này thì không ít vấn đề mà các nướcđang phát triển phải đối mặt Chương này sẽ giúp sinh viên giải đáp những câu hỏi trên.

2.1 Lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài

2.1.1 Các lý thuyết kinh tế vĩ mô

2.1.2 Các lý thuyết vi mô

2 2 Phân loại hoạt động FDI

2.2.1 Phân loại theo tỷ lệ sở hữu vốn

2.2.2 Phân loại theo mục tiêu đầu tư

2.2.3 Phân loại theo phương thức đầu tư

2.3 Tác động của nguồn vốn FDI tới nước nhận đầu tư

2.3.1 Những tác động tích cực

2.3.2 Những tác động tiêu cực

Tài liệu tham khảo:

1 Bộ Thương mại, Kiến thức cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế, 2004, chương 6

2 Giáo trình Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân,2010, chương 3

3 Giáo trình Đầu tư quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nôi, 2001, chương 2,6,7

4 Trang web của một số công ty xuyên quốc gia như Coca Cola, Honda, Intel, Canon,

5 Trang thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, mục Đầu tư trực tiếp nuốc ngoài www.fia.mpi.gov.vn

CHƯƠNG 3: NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)

Hỗ trợ phát triển chính thức là một trong nhiều hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài,nguồn vốn này do chính phủ các quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế cung cấp cho cácquốc gia nghèo như một khoản vay có ưu đãi Mặc dù đều có vai trò quan trọng đối vớicác nước nghèo song ODA và FDI là 2 nguồn vốn rất khác biệt nhau, có liên quan chặtchẽ với nhau Chương này sẽ phân tích các đặc điểm và vai trò của nguồn vốn ODAthông qua các ví dụ thực tiễn của Việt Nam

3.1 Đặc điểm của nguồn vốn ODA

3.1.1 Tính ưu đãi

3.1.2 Tính ràng buộc

3.1.3 Khả năng gây nợ

3.2 Phân loại nguồn vốn ODA

3.3 Tác động của nguồn vốn ODA tới nước nhận đầu tư

Trang 4

Tài liệu tham khảo:

1 Trang thông tin điện tử của WB, ADB, JICA, OECD

2 Helmut Führer, Director of the Development Co-operation Directorate from 1975- 1993, The Story of Official Development Assistance, OECD 1994.

3 Trang thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao Nhật Bản www.mofa.go.jp/policy/oda/

summary

4 Trang thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, mục Hợp tác tác phát triển www.mpi.gov.vn/odavn/

CHƯƠNG 4: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG HOẠT ĐỘNG

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Công nghệ là một nguồn lực quan trọng mà các nhà đầu tư thường di chuyển sang quốcgia khác trong quá trình thực hiện đầu tư ở nước ngoài Việc tiếp nhận công nghệ manglại nhiều thuận lợi cho nước nhận đầu tư song cũng đặt ra không ít vấn đề do đặc tínhphức tạp của công nghệ Các nước đang phát triển có trình độ công nghệ thấp cùng với

sự hạn chế trong công tác quản lý chuyển giao công nghệ nên nguy cơ trở thành “ bãi rácthải” công nghệ là rất cao

4.1 Tổng quan về công nghệ

4.1.1 Khái niệm và thành phần của công nghệ

4.1.2 Vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế của quốc gia

4.1.3 Công nghệ thích hợp

4.2 Chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư nước ngoài

4.2.1 Vai trò của chuyển giao công nghệ đối với các bên tham gia

4.2.2 Mối quan hệ giữa chuyển giao công nghệ và chiến lược phát triển sảnphẩm

4.2.3 Nội dung chuyển giao công nghệ

4.3 Các bước tiến hành chuyển giao công nghệ trong dự án FDI

Tàu liệu tham khảo

1 Đặng Kim Nhung, Chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp, 1992, chương 2,5.

2 Giáo trình Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân,2010, chương 5

3 Giáo trình Đầu tư quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nôi, 2001, chương 2,6,7

4 Nguyễn Anh Tuấn, Chuyển giao công nghệ thông qua FDI: thực tiễn ở một số nước đang phát triển và Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 344, tháng 1/2007, tr 51- 67.

5 Nguyễn Thị Hường, Quản trị dự án đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ,NXB Thống kê, 2000, chương 1,3.

Trang 5

CHƯƠNG 5: MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ BIỆN PHÁP TĂNG

CƯƠNNGF THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Để hoạt động đầu tư nước ngoài phát huy được vai trò quan trọng đối với sự phát triểnkinh tế của các nước thì nó rất cần đến một môi trường đầu tư thuận lợi Môi trường nàybao gồm 3 môi trường thành phần, đó là: môi trường của nnước nhận đầu tư, môi trườngcủa nước đi đầu tư và môi trường đầu tư khu vực, quốc tế Tuy nhiên, môi trường đầu tưcủa nước nhận đầu tư có thể nói là đóng vai trò quyết định bởi nó tác độn trực tiếp đếnhiệu quả của hoạt động đầu tư Chương này tập trung phân tích các yếu tố của môitrường đầu tư tại nước nhận đầu tư, đánh giá tác động của từng yếu tố trong môi trườngđầu tư này đồng thời phân tích các giải pháp nhằm tăng cường thu hút nguồn vón đầu tưnước ngoài Bên cạnh nhũng cấn đề lý luận, sinh viên sẽ tìm hiểu thực tiến của Việt Nam

để hoàn thiện kiến thức

5.1 Môi trường đầu tư nước ngoài

5.1.1 Môi trường của nước nhận đầu tư

5.1.2 Môi trường của nước đi đầu tư

5.1.3 Môi trường khu vực và quốc tế

5.2 Những biện pháp tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài

5.2.1 Tăng cường thu hút nguồn vốn ODA

5.2.2 Tăng cường thu hút nguồn vốn FDI

Tài liệu tham khảo:

1 Giáo trình Đầu tư quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nôi, 2001, chương 4,5

2 Trang thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, mục Đầu tư trực tiếp nuốc ngoài www.fia.mpi.gov.vn

3 Trang thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, mục Hợp tác tác phát triển www.mpi.gov.vn/odavn/

7 TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Bộ Thương mại, Kiến thức cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế, 2004.

2 Đặng Kim Nhung, Chuyển giao công nghệ trong nền kinh tế thị trường, NXB Nông nghiệp, 1992.

3 Giáo trình Đầu tư quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nôi, 2001.

4 Giáo trình Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân,2010.

5 Helmut Führer- Director of the Development Co-operation Directorate from 1975- 1993, The Story of Official Development Assistance, OECD 1994

6 Nguyễn Anh Tuấn, Chuyển giao công nghệ thông qua FDI: thực tiễn ở một số nước đang phát triển và Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 344, tháng 1/2007, tr 51- 67.

Trang 6

7 Nguyễn Thị Hường, Quản trị dự án đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ, NXB Thống kê, 2000.

8 Trang thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, mục Hợp tác tác phát triển www.mpi.gov.vn/odavn/

9 Trang thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, mục Đầu tư trực tiếp nuốc ngoài www.fia.mpi.gov.vn

10 Trang thông tin điện tử của WB, ADB, JICA, OECD

11 Trang web của một số công ty xuyên quốc gia như Coca Cola, Honda, Intel, Canon,

8 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HỌC PHẦN:

- Tham gia đầy đủ các buổi học: điểm tối đa là 8 điểm Hệ số 0,1

- Phát biểu thảo luận: điểm tối đa là 2 điểm Hệ số 0,1

- Bài tập nhóm: điểm tối đa là 10 điểm Hệ số 0,2

- Thi hết học phần: điểm tối đa là 10 điểm Hệ số 0,7

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1.1 Khái niệm và đặc điểm của đầu tư nước ngoài

1.1.1 Khái niệm

Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) có bản chất như đầu tư nói chung, đó là sự tìm kiếmlợi ích trong tương lai từ việc sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để thực hiện một hoạtđộng Tuy nhiên, ĐTNN nhấn mạnh vào địa điểm thực hiện hoạt động này- là ở quốc giakhác với quốc gia của tổ chức hoặc cá nhân sở hữu nguồn lực đầu tư (hay còn gọi là nhàđầu tư) Như vậy, có thể hiểu ĐTNN là sự di chuyển các nguồn lực từ quốc gia này sangquốc gia khác để tiến hành những hoạt động đầu tư nhằm tìm kiếm lợi ích hữu hình hoặc

vô hình Tuy nhiên không phải tất cả các nguồn lực cần thiết cho một hoạt động đầu tưđều có thể di chuyển được do các nguyên nhân xuất phát từ quốc gia sơ hữu nguồn lựccũng như từ quốc gia tiếp nhận nguồn lực Cụ thể là nhà đầu tư nước ngoài luôn sử dụngmột số nguồn lực của nước nhận đầu tư như nhân lực, nguồn tài nguyên, Nước nhậnđầu tư gọi là nước chủ nhà (host country), nước của chủ đầu tư là nước đầu tư (homecountry)

1.1.2 Phân loại ĐTNN

Khác với cách phân loại các hoạt động đầu tư trong nước, hoạt động ĐTNNthường được phân loại dựa trên mối quan hệ giữa chủ sở hữu các nguồn lực đầu tư với cánhân/tổ chức trực tiếp sử dụng các nguồn lực này Theo cách đó thì ĐTNN được phânthành 2 loại là: đầu tư nước ngoài gián tiếp (FII- Foreign indirect investment) và đầu tưnước ngoài trực tiếp (FDI- Foreign direct investment)

Đầu tư nước ngoài gián tiếp là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư (chính phủ, các tổ

chức tài chính phi chính phủ, các tổ chức quốc tế, các cá nhân) của một quốc gia chochính phủ hay các tổ chức của một quốc gia khác vay, cho không hoặc đóng góp mộtkhoản vốn để thực hiện những hoạt động đầu tư theo các cam kết cụ thể được các bênthỏa thuận Bên cho vay vốn không trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện đầu tư và

Trang 8

không chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn, song bằng những quy định riêng (thậmchí là kèm theo những điều kiện ràng buộc về kinh tế hoặc chính trị) bên cho vay có thểkiểm soát được quá trình sử dụng vốn Đối với các nước đang phát triển (ĐPT) như ViệtNam thì hình thức ĐTNN gián tiếp dưới dạng hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vaitrò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Do đó đối với hình thứcFPI thì môn học này chỉ đề cập đến nguồn vốn ODA

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư của quốc

gia này (một doanh nghiệp hay một cá nhân cụ thể) mang các nguồn lực cần thiết sangmột quốc gia khác để thực hiện hoạt động đầu tư Chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quátrình khai thác kết quả đầu tư và chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn của mìnhtheo quy định của quốc gia nhận đầu tư

1.1.3 Đặc điểm của hoạt động đầu tư nước ngoài

ĐTNN và đầu tư trong nước đều có những đặc điểm chung như tính rủi ro và khảnăng sinh lời, tuy nhiên ĐTNN lại có những điểm khác biệt quan trọng, đó là:

ĐTNN phụ thuộc nhiều vào quan hệ ngoại giao giữa nước nhận đầu tư với cácnước đi đầu tư cũng như tình hình chính trị trong khu vực và trên thế giới

Với việc di chuyển các nguồn lực sang nước khác, chủ đầu tư sẽ phải đối mặt vớinhững vấn đề về thuế nhập khẩu, thủ tục hải quan và hàng loạt những chính sách liênquan như chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái, thuế thu nhập doanh nghiệp, sử dụng đất,thuê lao động,

Một trong những nguồn lực mà chủ đầu tư thường mang sang nước khác là côngnghệ, có thể là công nghệ sản xuất hay công nghệ quản lý

1.2 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động chuyển giao công nghệ

1.2.1 Khái niệm

Chuyển giao công nghệ (CGCN) thực chất là hoạt động mua bán quyền sử dụngcông nghệ (trong một số rất ít trường hợp là mua bán quyền sở hữu công nghệ) Chủ sởhữu công nghệ bán quyền sử dụng công nghệ cho một tổ chức hoặc cá nhân khác trongkhi vẫn giữ quyền sở hữu công nghệ này Công nghệ là một trong các nguồn lực của đầu

Trang 9

tư, do đó nếu chủ đầu tư mang công nghệ ra nước ngoài thì hoạt động CGCN là tất yếutrong quá trình thực hiện đầu tư tại nước nhận đầu tư Do đó, trong hai hình thức ĐTNNthì hình thức FDI thường đi kèm với hoạt động CGCN vì công nghệ là một phần của cácnguồn lực đầu tư được chủ đầu tư mang sang nước khác.

1.2.2 Đặc điểm

Hoạt động CGCN hay việc mua bán quyền sử dụng công nghệ không đơn thuầnnhư mua bán một hàng hoá thông thường bởi công nghệ là kiến thức Đối với hàng hoáthông thường thì quyền sử dụng thường đi kèm với quyền sở hữu Tổ chức hay cá nhân

sở hữu hàng hoá sau khi bán hàng hoá thì sẽ không còn quyền sở hữu hàng hoá đó nữa.Nhưng đối với hàng hoá là công nghệ thì khác Tổ chức hay cá nhân sở hữu công nghệsau khi bán quyền sử dụng công nghệ thì vẫn còn nguyên quyền sở hữu công nghệ này

và đồng thời có thể bán quyền sử dụng công nghệ nhiều lần cho những đối tác khácnhau Và đặc biệt, trong trường hợp công nghệ bị “mất cắp” thì khả năng trả lại là không

có Quá trình thực hiện CGCN thường diễn ra từng bước trong một khoảng thời giannhất định theo thỏa thuận của hai bên, gồm bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao,khoảng thời gian này dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Khác với hàng hóa thôngthường, giá trị của hàng hóa công nghệ khó xác định một cách chính xác bởi công nghệbao gồm những thành phần vô hình liên quan tới chất xám, trí tuệ con người

Hoạt động CGCN có thể thực hiện theo hai hình thức: hoặc như một hoạt độngthương mại độc lập hoặc là một phần của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Trongtrường hợp thứ nhất, các bên tham gia CGCN chỉ cam kết thực hiện một hợp đồng muabán công nghệ Bên bán công nghệ không tham gia vào quá trình khai thác công nghệ.Trường hợp thứ hai, khi công nghệ được coi như một phần vốn đầu tư thì các bên thamgia CGCN phải thực hiện hợp đồng CGCN như một hoạt động bắt buộc trong quá trìnhđầu tư Các bên được hưởng lợi nhuận và phải chịu trách nhiệm từ việc sử dụng côngnghệ này theo tỷ lệ vốn góp

1.3 Mối quan hệ giữa CGCN và ĐTNN

Trang 10

Mục đích của nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là tối đa hóalợi nhuận của các nguồn lực đầu tư qua việc thực hiện sản xuất một sản phẩm nào đó ởnước ngoài Một trong các nguồn lực quan trọng để thực hiện quá trình sản xuất là côngnghệ, nhà đầu tư đã di chuyển công nghệ từ nước này sang nước khác Công nghệ sẽđược một tổ chức khác tại nước nhận đầu tư sử dụng để tạo ra sản phẩm có chất lượngnhư mong muốn của nhà đầu tư Do đó tổ chức này cần phải nắm được các nguyên lýhoạt động, các đòi hỏi về nhân lực, dịch vụ và nguyên vật liệu đầu vào cho công nghệ,các thông tin kỹ thuật, phương pháp kiểm tra chất lượng sản phẩm của công nghệ, các bíquyết, cách giải quyết những vấn đề kỹ thuật trong quá trình sử dụng công nghệ, v v.Hay nói một cách khác, tổ chức này phải làm chủ hoàn toàn được công nghệ Việchướng dẫn cho tổ chức khác làm chủ từng bước và cuối cùng là làm chủ hoàn toàn côngnghệ trong quá trình sản xuất là một nhu cầu tất yếu của nhà đầu tư cũng như của tổ chức

sử dụng công nghệ Chính vì vậy nên hoạt động CGCN được coi như một hoạt động tấtyếu trong các dự án FDI

Đối với hình thức đầu tư gián tiếp, mặc dù không trực tiếp tham gia vào quá trìnhthực hiện và khai thác đầu tư nhưng tổ chức cho vay vốn hay chính phủ nước cho vayvốn có thể yêu cầu nước nhận đầu tư tiếp nhận vốn dưới dạng một công nghệ nào đó,thông thường là công nghệ quản lý Trong trường hợp này thì hoạt động CGCN được coi

là một phần của quá trình đầu tư

1.4 Vai trò của ĐTNN và CGCN đối với sự phát triển kinh tế thế giới

ĐTNN là một hoạt động kinh tế xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử kinh tế thế giới.Tuy nhiê, trong khoảng gần 7 thập kỷ gần đây (từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2) thìhoạt động này đã phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu với nhiều sắc thái, đặcbiệt đi kèm với nó là hoạt động CGCN đã tác động mạnh đến nền kinh tế của rất nhiềuquốc gia và kinh tế toàn cầu

1.4.1 Phát huy lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế

Mỗi quốc gia dù là phát triển hay đang phát triển đều có những lợi thế so sánhnhất định, không có quốc gia nào mạnh toàn diện và không có quốc gia nào yếu toàn

Trang 11

diện Những nước phát triển như Nhật Bản hay Mỹ có lợi thế là công nghệ hiện đạinhưng giá lao động cao và hạn chế về nguồn tài nguyên, trong khi đó ở nhiều nước đangphát triển như Việt Nam, Trung Quốc thì tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn laođộng dồi dào và rẻ Đối với một hàng hoá nào đó, ví dụ như ôtô, những linh kiện đòi hỏitrình độ công nghệ cao sẽ được sản xuất tại những nước phát triển, còn những linh kiệnkhác và công đoạn lắp ráp có thể thực hiện ở những nước đang phát triển thì giá thànhôtô sẽ hạ mà các yếu tố sản xuất của các nước đều được khai thác triệt để Nhờ đó mà lợinhuận của các chủ sở hữu các yếu tố sản xuất tăng lên, lợi ích cho các nước tăng, sảnlượng thế giới cũng tăng và gắn kết các nước với nhau, đẩy nhanh quá trình nhất thể hoákinh tế khu vực và thế giới.

1.4.2 Thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá

Tự do hoá kinh tế và những tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đãthúc đẩy sự liên kết các thị trường hàng hoá, dịch vụ của các nước với nhau để hìnhthành nên một thị trường quốc tế, đặc biệt từ những năm 90 của thế kỷ XX Các công tyxuyên quốc gia (TNCs- transnational companies) đang theo đuổi các chiến lược kinhdoanh toàn cầu trên cơ sở tăng cường chuyên môn hoá và hợp tác giữa các nước TạiViệt Nam, nhờ có hoạt động ĐTNN mà nhiều ngành kinh tế có cơ hội tham gia vào quátrình toàn cầu hoá Nhiều TNCs đã có mặt tại Việt Nam để thực hiện sản xuất và lắp rápnhư Toyota, Ford, Siemen, hoặc để thăm dò và khai thác tài nguyên như Shelf, Total,BP,

1.4.3 Tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước nhận đầu tư

Cơ cấu kinh tế có nhiều cách phân loại: theo ngành, theo lãnh thổ hoặc theo thànhphần kinh tế

Cơ cấu một nền kinh tế theo ngành được nhìn nhận trên góc độ tỷ lệ đóng góp củacông nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ vào GDP Xuất phát điểm của hầu hết các nền kinh

tế là nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, sau đó đến công nghiệp và dịch vụ Trong quátrình phát triển thì tỷ trọng nông nghiệp giảm dần nhường chỗ cho công nghiệp và dịch

vụ Những nước phát triển hiện nay là những nước có tỷ trọng ngành dịch vụ cao nhất,sau đó đến công nghiệp và thấp nhất là nông nghiệp

Trang 12

Cơ cấu theo lãnh thổ là tỷ trọng đóng góp vào GDP của các vùng miền địaphương trong một quốc gia Để phát triển bền vững thì mọi quốc gia đều quan tâm đến

sự cân đối giữa các vùng lãnh thổ với những chiến lược đầu tư phát triển khác nhau

Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế là tỷ trọng đóng góp của các thành phầnnhư kinh tế nhà nước và kinh tế ngoài nhà nước vào GDP Dù với chế độ chính trị nàothì các quốc gia cũng đều co chủ trương khuyến khích khu vực kinh tế ngoài nhà nướcphát triển dể giảm bớt gánh nặng cho ngân sách

Như vậy có thể thấy rằng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia nóiriêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung theo chiều hướng tích cực luôn đòi hỏi phải cóđầu tư Với những nguồn lực đầu tư trong nước còn hạn chế thì nguồn vốn ĐTNN giántiếp hay trực tiếp đều có vai trò quan trọng

Trang 13

CHƯƠNG 2ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)2.1 Các lý thuyết kinh tế

2.1.1 Các lý thuyết kinh tế vĩ mô

Lý thuyết kinh tế vĩ mô cơ bản của FDI là lý thuyết về lưu chuyển dòng vốn dựa

trên nguyên tắc lợi thế so sánh các yếu tố đầu tư (như vốn, lao động) giữa các nước đặc

biệt là các nước phát triển và đang phát triển Theo mô hình lý thuyết thương mại quốc tếcủa Heckcher và Ohlin - HO (1933), hai nước A và B có các điều kiện sau:

- Trình độ công nghệ sản xuất như nhau,

- Nhu cầu và thị hiếu về hai loại hàng hoá nào đó X và Y như nhau,

- Các yếu tố cần thiết cho việc sản xuất hai loại hàng hoá trên như nhau, hàng hoá

X cần nhiều vốn, Y cần nhiều lao động,

- Sự lưu chuyển hàng hoá giữa hai nước là tự do, không có thuế, không có chi phívận chuyển,

- Cả hai nước đều sử dụng hết khả năng về vốn, công nghệ và lao động của mình.Giả định rằng không có sự lưu chuyển các yếu tố sản xuất qua biên giới và hiệuquả kinh tế không phụ thuộc vào quy mô thị trường của các nước

Tuy nhiên trong thực tế thì sự sẵn có của hai yếu tố sản xuất là lao động và vốncủa hai nước laị khác nhau Mô hình HO chỉ ra rằng sản lượng của 2 nước sẽ tăng lênnếu như mỗi nước tập trung sản xuất để xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều yếu tố sảnxuất dư thừa và nhập khẩu những hàng hoá dùng nhiều yếu tố khan hiếm Do đó sự xuấthiện hoạt động thương mại quốc tế được giải thích từ sự chênh lệch tính dư thừa và khanhiếm của các yếu tố sản xuất giữa các nước

Mô hình HO đã được một số nhà kinh tế sử dụng để giải thích cho hoạt động FDIvới việc lọai bỏ hai giả định đã nêu trên Richard S Eckaus cho rằng khả năng về vốngiữa các nước là khác nhau do đó sẽ có nước thừa vốn và nước thiếu vốn Tại nhữngnước thừa vốn thì hiệu quả sử dụng vốn thấp hơn so với những nước thiếu vốn nên sẽxuất hiện lưu chuyển dòng vốn giữa các nước Theo tác giả này thì mục đích tối đa hoáhiệu quả sử dụng vốn là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự di chuyển vốn quốc tế

Trang 14

Thống nhất với quan điểm trên, A MacDougall giải thích rằng nguyên nhân của

sự lưu chuyển vốn quốc tế là do sự chênh lêch về năng suất cận biên của vốn giữa các

nước Những nước thừa vốn có năng suất cận biên của vốn thấp hơn là những nước thiếuvốn Quan điểm này được M Kemp phát triển thành mô hình MacDougall- Kemp nhưsau:

Mô hình này được xây dựng trên các giả định: nền kinh tế thế giới chỉ có hainước I và II; trước khi di chuyển vốn thì năng suất cận biên của vốn đầu tư ở nước I(thừa vốn) thấp hơn ở nước II (thiếu vốn); theo quy luật thì năng suất cận biên của vốngiảm dần Luồng FDI sẽ hình thành và di chuyển từ nước I sang nước II cho đến khinăng suất cận biên của vốn ở hai nước bằng nhau (tại điểm S) Kết quả là sản lượng thếgiới tăng lên do sử dụng một cách hiệu quả hơn các nguồn lực sản xuất Mô hình cũnggiải thích sự ảnh hưởng khác nhau của FDI ở nước nhận đầu tư và nước đi đầu tư Ởnước I, thu nhập từ sử dụng vốn tăng lên do năng suất cận biên của vốn tăng, trong nước

II thì diễn ra ngược lại Như vậy FDI mang lại lợi ích cho cả 2 nước

Hạn chế của mô hình MacDougall- Kemp:

Trang 15

- Chỉ giải thích cho hoạt động FDI, không thể hiện được bản chất và vai trò củađầu tư gián tiếp,

- Chưa phản ánh được lợi thế so sánh của các nước,

- Chưa nêu được những tác động tiêu cực đối với nước chủ nhà (có thể phá huỷ vàthao túng tình hình sản xuất, kinh tế- xã hội, phá huỷ môi trường, ) và nước đầu tư (nhưnạn thất nghiệp do một phần vốn bị chuyển ra nước ngoài),

- Sự gia tăng sản lượng thế giới còn phụ thuộc nhiều vào hoạt động thương mạiquốc tế và đầu tư gián tiếp Sự phụ thuộc này chưa được thể hiện ở mô hình

Kết luận: Phân tích mô hình MacDougall- Kemp có ý nghĩa quan trọng đến sự

phát triển của lý thuyết FDI, trong đó đặc biệt là lý thuyết thuế tối ưu của FDI Một sốnhà kinh tế cho rằng việc đánh thuế ĐTNN sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho nước chủnhà Bên cạnh đó, một số lại cho rằng việc đánh thuế cao tuy làm tăng ngân sách củanước chủ nhà song sẽ giảm lợi ích của nền kinh tế về mặt lâu dài

Lý thuyết Krugman (1983) lại giải thích nguyên nhân của ĐTNN với mục đích

khai thác hiệu quả của vốn là do có sự khác biệt về chính sách kinh tế vĩ mô của các

nước tham gia đầu tư Lý thuyết này cũng giải thích ĐTNN từ góc độ hiệu quả sử dụngcác yếu tố đầu tư như hai lý thuyết trên

K.Kojima, xuất phát từ góc độ tỷ suất lợi nhuận để giải thích ĐTNN, những nước

có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nhà đầu tư Sự chênh lệch tỷ suất lợi nhuận giữa

các nước là do khác biệt về lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế

Ngoài các lý thuyết đã nêu trên, còn có một số lý thuyết khác như lý thuyết phân tán rủi ro của D Salvatore (1993) với việc giải thích rằng các nhà đầu tư không chỉ quan

tâm đến hiệu quả sử dụng vốn mà còn quan tâm đến mức độ rủi ro của từng khoản đầu tư

cụ thể Để tránh nguy cơ phá sản tại thị trường nội địa, các nhà đầu tư không dồn hết vốncủa mình vào đầu tư trong nước mà giành một phần đề đầu tư ra nước ngoài

2.1.2 Các lý thuyết kinh tế vi mô

Các lý thuyết tổ chức công nghiệp ra đời tư những năm 1960 đã giải thích FDInhư là kết quả tự nhiên từ sự tăng trưởng và phát triển của các công ty lớn độc quyền ở

Mỹ Theo Stephen Hymer (1976), do muốn độc quyền nên các công ty ở Mỹ đã mở rộng

Trang 16

ra thị trường quốc tế để khai thác các lợi thế so sánh của mình về công nghệ, quản lý,

mà các công ty trong cùng lĩnh vực ở các nước khác không có được

Theo Charles Kindleberger (1969) và Richard E.Caves (1970) thì những sản phẩmmới thường có xu hướng độc quyền và giá thành hạ nên các công ty có sản phẩm mớitích cực mở rộng phạm vi sản xuất của mình ra thị trường quốc tế để tối đa hoá lợinhuận Như vậy, các lý thuyết tổ chức công nghiệp đều giải thích nguyên nhân của FDI

là nhằm khai thác lợi thế độc quyền của các công ty lớn

Robert Z Aliber (1970) đã giải thích hiện tượng FDI là do thuế nhập khẩu khiếncho giá thành hàng hoá cao nên các công ty lớn thay vì sản xuất trong nước để xuất khẩu

sẽ tiến hành sản xuất ngay tại nước ngoài, vượt qua hàng rào thuế quan để giảm giá

thành và tạo nên các công ty xuyên quốc gia

Vernon (1966) đã dựa trên lý thuyết chu kỳ sản phẩm để giải thích Nhà kinh tế

học này dựa vào sản phẩm nhiều hơn là dựa vào quốc gia hay công nghệ chế tạo ra sảnphẩm để giải thích nguyên nhân FDI Trên các cơ sở giả định của HO, Vernon giả địnhthêm là sự thay đổi công nghệ dẫn đến các sản phẩm mới, các sản phẩm này sẽ mang lạilợi nhuận cao khi được sản xuất hàng loạt với tay nghề giỏi, các yếu tố này chỉ có sẵn ởnhững nước công nghiệp có nhiều vốn Mặt khác, sản phẩm và phương pháp chế tạo nóphải được thương mại hoá Phương pháp sản xuất đã được tiêu chuẩn hoá để lao độngtay nghề thấp hơn có thể sử dụng được và khai thác được lợi thế so sánh trong quá trìnhsản xuất sản phẩm ở nước ngoài

Mỗi sản phẩm đều phải trải qua các giai đoạn gồm ý tuởng, nghiên cứu, sản xuấtthử, sản xuất hàng loạt, bào hoà và suy thoái Các giai đoạn trước khi sản phẩm bão hoàđược các nước phát triển với ưu thế về vốn thực hiện rất hiệu quả Để phát triển thì công

ty phải mở rộng thị trường xuất khẩu, tuy nhiên những hoạt động xuất khẩu này lại gặphàng rào thuế quan ngăn cản nên công ty phải chuyển việc sản xuất ra nước ngoài

Phát triển lý thuyết chu kỳ sản phẩm, Akamatsu (1962) đã xây dựng lý thuyết chu

kỳ sản phẩm bắt kịp Chu kỳ sản phẩm được bắt đầu từ lúc nhập khẩu với chất lượng tốt

hơn, sau đó những sản phẩm này làm cho nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng lên và thị trườngđược mở rộng Như vậy, xuất hiện nhu cầu sản xuất trong nước với sự giúp đỡ về vốn,công nghệ của các nước phát triển Trong quá trình sản xuất, nước nhập khẩu học hỏi

Trang 17

được nhiều kinh nghiệm trong quản lý, nâng cao trình độ công nghệ, chất lượng sảnphẩm, hạ giá thành và mở rộng sản xuất để đáp ứng hoàn toàn nhu cầu tiêu dùng trongnước Khi đó lại xuất hiện nhu cầu xuất khẩu hàng hoá sang một nước khác và tại nướcthứ ba này chu trình lại diễn ra như vậy Lý thuyết Akamatsu đã giải thích FDI qua quátrình phát triển liên tục của sản phẩm, từ nhập khẩu đến sản xuất trong nước và chuyểnsang xuất khẩu.

Một số nhà kinh tế học khác có cùng quan điểm với Akamatsu đã giải thích conđường hình thành và phát triển các chi nhánh của công ty xuyên quốc gia như sau:

Dunning (1983) giải thích: một TNC sẽ đầu tư ra nước ngoài khi nó có lơị thế độcquyền (vốn, công nghệ, kỹ thuật, quản lý, ) so với các công ty của nước nhận đầu tư.Việc khai thấc lợi thế độc quyền này phải sử dụng được ít nhất một yếu tố đầu vào rẻ(lao động hoặc tài nguyên) và chỉ khi đó FDI mới xuất hiện Trong trường hợp nếu TNCkhông phát hiện ra được yếu tố đó thì sẽ cho các công ty của nước ngoài thuê lợi thế độcquyền và như vậy lợi nhuận sẽ giảm hơn so với FDI

Dựa trên lý thuyết xuất khẩu tư bản của V.Lenin, một số nhà kinh tế Macxit đãgiải thích nguyên nhân công ty tư bản độc quyền trong ngành chế tạo tiến hành đầu tưsang các nước ĐPT để khai thác nguồn lao động rẻ và nguyên liệu dồi dào, FDI là sựsống còn của CNTB và các TNCs thực hiện các hoạt động này như là công cụ lợi hại củachủ nghĩa đế quốc

Đánh giá những lý thuyết trên

Các lý thuyết kinh tế vĩ mô mang tính trừu tượng, chưa phân biệt được sự khácnhau giữa FPI và FDI, chỉ nêu được một khía cạnh của ĐTNN là sự di chuyển các nguồnlực mà chủ yếu là vốn, trong khi đó ĐTTT không đơn thuần chỉ là sự di chuyển vốn mà

Sản xuất

trong nước

Xuất khẩu ra nước ngoài

Văn phòng đại diện

Chi nhánh bán hàng ở nước ngoài

Chi nhánh sản xuất ở nước ngoài

Trang 18

quan trọng hơn là đặc trưng bởi những hoạt động CGCN, kiến thức quản lý và thị trườngthông qua các TNCs Các lý thuyết vĩ mô này chỉ nêu được điều kiện cần có để xuất hiệnĐTNN trong khi đó sự lưu chuyển vốn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác của môitrường đầu tư

Các lý thuyết vi mô tiếp cận từ góc độ của một TNC do đó có tính cụ thể hơn, các

lý thuyết này giải thích ĐTNN chủ yếu là FDI là kết quả tự nhiên của qúa trình khai tháccác lợi thế độc quyền nhằm tối đa hoá lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên các lýthuyết này cũng chỉ giải thích các nguyên nhân từ chiến lược của các TNCs, chưa tínhđến các nguyên nhân quan trọng khác từ phía nước chủ nhà, từ sự phát triển mạnh mẽcủa khoa học công nghệ, dịch vụ và thương mại toàn cầu

2.2 Phân loại hoạt động FDI

2.2.1 Phân loại theo tỷ lệ sở hữu vốn

- Vốn hỗn hợp (vốn trong nước và nước ngoài)

* Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư mà các bên tham gia hợp

đồng ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ởnước nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, tráchnhiệm và phân chia các kết qủa kinh doanh cho các bên tham gia

Hình thức này thường không đòi hỏi vốn lớn và thời hạn hợp đồng thường ngắn,cũng chính vì vậy mà ít thu hút được những nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng

* Doanh nghiệp liên doanh (hay công ty liên doanh) là doanh nghiệp được

thành lập tại nước nhận đầu tư (nước chủ nhà) giữa các bên nước ngoài và nước chủ nhàtrong đó các bên cùng đóng góp vốn, cùng kinh doanh và cùng hưởng quyền lợi, nghĩa

vụ theo tỷ lệ góp vốn Cần lưu ý rằng mục tiêu liên doanh giữa các nước phát triển vàđang phát triển về cơ bản là khác nhau Liên doanh tại các nước công nghiệp phát triển lànhằm mục đích tập trung, đa dạng hoá sản phẩm, giảm rủi ro trong kinh doanh, tìm kiếmthị trường mới và cùng nhau khai thác tài nguyên, trong khi liên doanh ở các nước đangphát triển là nhằm chuyển giao tay nghề, tiếp thu khả năng nghiên cứu và quản lý thịtrường cũng như chuyển giao công nghệ

Những lý do để các bên cùng tham gia liên doanh có thể kể đến như sau:

Trang 19

- Hạn chế rủi ro trong kinh doanh

- Đạt được quy mô kinh tế cần thiết

- Sử dụng được các công nghệ cần thiết

- Mở rộng phạm vi hoạt động trên thế giới

- Ngăn ngừa cạnh tranh

- Cùng khai thác tài nguyên thiên nhiên

- Vượt qua các hệ thông bảo hộ mậu dịch cũng như các quy định khác củachính phủ nước nhận đầu tư

Bên cạnh những ưu điểm mà liên doanh mang lại cho nước chủ nhà thì cũng cònnhững điểm bất lợi như:

- Nếu trình độ quản lý của phía nước chủ nhà yếu kém hơn nhiều so với phíanước ngoài thì sẽ bị phía nước ngoài chi phối do đó hiệu quả đầu tư có thể không caonhư dự kiến

- Nếu phần vốn đóng góp của nước chủ nhà chỉ là quyền sử dụng đất như trongnhiều liên doanh ở Việt Nam và cùng với trình độ kỹ thuật non kém của mình, nước chủnhà sẽ mất dần quyền kiểm soát hoạt động của các liên doanh và dần dần trở thành “bãirác” chứa những công nghệ lạc hậu cũ kỹ do nước ngoài thải ra

* Doanh nghiệp cổ phần FDI (hay công ty cổ phần) là doanh nghiệp có các cổ

đông nước ngoài và trong nước (cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức) nhưng cổ đôngnắm quyền chi phối có quốc tịch nước ngoài, đây là hình thức doanh nghiệp hiện đại.Tuy đều là doanh nghiệp có vốn hỗn hợp song doanh nghiệp cổ phần FDI có cơ cấu tổchức và cách thức hoạt động rất khác so với doanh nghiệp liên doanh

- Doanh nghiệp 100% vốn FDI

Đây là doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà và

họ tự quản lý, chịu trách nhiệm hoàn toàn về các kết quả sản xuất kinh doanh

Hình thức đầu tư này có ưu điểm đối với nước chủ nhà là không phải góp vốn vàkhông phải chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của đầu tư đối với những lĩnh vực có

độ rủi ro cao hoặc với những ngành sản xuất mới Với phía nước ngoài thì đây là cũnghình thức đầu tư được ưa chuộng bởi ngoài việc phải tuân thủ những quy định có tínhpháp luật của nước chủ nhà thì bên phía nước ngoài toàn quyền trong việc điều hành và

Trang 20

quản lý doanh nghiệp của mình, không bị bất kỳ sự can thiệp nào khác, không mất nhiềuthời gian cho việc tìm “tiếng nói chung” với những người cùng tham gia điều hành nhưhình thức liên doanh Thực tế cho thấy rằng không ít liên doanh hoạt động kém hiệu quảcũng chỉ vì ban lãnh đạo không thống nhất quan điểm trong quản lý và điều hành doanhnghiệp liên doanh.

2.2.2 Phân loại theo mục tiêu

FDI phụ thuộc vào mục tiêu của chủ đầu tư mà có thể chia làm đầu tư theo chiềungang - HI (horizontal integration) và đầu tư theo chiều dọc - VI (vertical integration)

HI là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư có lợi thế cạnh tranh trong việc sản xuất một sảnphẩm nào đó và chuyển toàn bộ quy trình sản xuất sản phẩm này ra nước ngoài Sảnphảm được hoàn thiện và được tiêu thụ ngay tại thị trường của nước nhận đầu tư hoặcxuất khẩu sang thị trường nước thứ ba Sản phẩm này cạnh tranh mạnh mẽ với các sảnphẩm cùng loại của những nhà sản xuất của nước nhận đầu tư Còn với hình thức VI, thìchủ đầu tư chuyển một hoặc một vài khâu trong quy trình sản xuất sản phẩm ra nướcngoài trên cơ sở nghiên cứu kỹ lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư (nhân công rẻ,nguyên vật liêu dồi dào, gần thị trường tiêu thụ, ) Như vậy, kết quả của quá trình sảnxuất là các bán thành phẩm hoặc chỉ là chi tiết của một sản phẩm nên thường không tạo

ra sự cạnh tranh với các nhà sản xuất sản phẩm hoàn thiện tại nước nhận đầu tư

2.2.3 Phân loại theo phương thức thực hiện

FDI có thể thực hiện theo 2 hướng là đầu tư mới hoặc sáp nhập và mua lại Merger and Acquisition) Đầu tư mới là việc chủ đầu tư thực hiên đầu tư ở bằng cáchxây dựng các doanh nghiệp mới ở nước ngoài, đây là hướng đi truyền thống và thườngđược chủ đầu tư của các nước PT áp dụng ở nước ĐPT Còn hướng thứ hai là sáp nhậphoặc mua lại các công ty cuả nước khác thường được tiến hành giữa các nước PT, cácNICs và rất phổ biến trong những năm gần đây

(M&A-Mỗi quốc gia nhận đầu tư có thể lựa chọn cho mình phương thức phù hợp trongtừng giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau Ví dụ, trong giai đoạn đầu thu hút FDI, cácnước ĐPT chủ yếu lựa chọn phương thức đầu tư mói do ở các nước này năng lực sản

Trang 21

xuất còn thiếu và yếu Đầu tư mói sẽ giúp hình thành nên hàng loạt cơ sở sản xuất kinhdoanh, đặc biệt là trong những lĩnh vực mới mà nước nhận đầu tư chưa từng có

2.3 Tác động của FDI tới các nước tham gia đầu tư

Trước những năm 1970, dòng FDI chủ yếu được thực hiện giữa các nước tư bảnphát triển (TBPT) với nhau như một sự trao đổi và từ các nước TBPT sang các nướcĐPT như một sự ban ơn bởi khi đó còn tồn tại quan điểm cho rằng các nước TBPT đều

có thế mạnh tuyệt đối, còn các nước ĐPT đều ở thế yếu tuyệt đối Quan điểm này đã bịthực tế phủ nhận bởi mỗi nước đều có thế mạnh so sánh của mình, các nước ĐPT có ưuthế về lao động rẻ do đó có thể xuất khẩu những hàng hoá có hàm lượng lao động lớn vàthậm chí xuất khẩu cả lao động Sự ra đời của các nước công nghiệp mới (NICs) đãkhiến cho dòng FDI tăng lên rất mạnh giữa các nước TBPT với NICs, giữa NICs và cácnước ĐPT và giữa các nước TBPT với các ĐPT

FDI càng ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong sự phát triển của nềnkinh tế thế giới nói chung FDI không những mang lại lợi nhuận cho nước đi đầu tư màcòn giúp các nước nhận đầu tư phát triển và phục hồi kinh tế, lẽ dĩ nhiên để phát huyđược hiệu quả của FDI thì nước nhận đầu tư phải có những điều kiện nhất định sẽ được

đề cập tới ở phần sau

2.3.1 Đối với nước đi đầu tư

Dựa trên lý thuyết xuất khẩu tư bản của Lenin, thì FDI là yếu tố sống còn củaCNTB, do đó mục đích tiến hành đầu tư ra nước ngoài là:

- Tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc giảm chi phí lao động do sử dụng nguồn laođộng rẻ mạt Mặt khác, đối với những công nghệ đã cũ, khi trong nước không còn điềukiện để phát triển thì nhà đầu tư có thể di chuyển sang những nước có trình độ công nghệthấp hơn để kéo dài chu kỳ sống cho sản phẩm và công nghệ, nhờ vậy mà tạo thêm đượclợi nhuận

- Tạo ra nguồn cung cấp nguyên vật liệu mới: thông thường, những nước ĐPT dotrình độ công nghệ còn thấp nên chưa khai thác được hết những nguồn nguyên vật liệu,

Trang 22

tài nguyên phong phú của mình Nhà đầu tư nước ngoài sẽ tận dụng lợi thế này để thựchiện việc khai thác hoặc sản xuất các bán thành phẩm và nhập trở lại nước đi đầu tư

- Trong trường hợp các nước phát triển đầu tư sang nhau thì một mục đích rất rõrệt là hợp tác, trao đổi và liên kết cùng với nhau để cùng phát triển, hạn chế bớt sự cạnhtranh không cần thiết

2.3.2 Đối với nước nhận đầu tư

2.3.2.1 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Vốn đầu tư là yếu tố quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế của mọi quốc gia.(Giải thích thông qua mô hình Harrod- Domar)

ICOR- incremental capital output ratioPhân tích phương trình kinh tế vĩ mô, đối với nền kinh tế đóng thì Y = C+I, trong

đó Y là tổng thu nhập quốc nội, C là tổng tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, I là đầu tư Đốivới nền kinh tế mở có sự tham gia của hoạt động xuất (X) nhập (M) khẩu thì Y + M = C+ I + X Như vậy, M - X = (C+I) -Y Nếu M>X thì C + I > Y, tiêu dùng trong nước vượtquá GDP Ta lại có S = Y- C, trong đó S là tiết kiệm trong nước, do đó M - X = I –S ,nếu tiết kiệm trong nước nhỏ hơn đầu tư thì M>X, có nghĩa rằng bổ sung nguồn vốnnước ngoài để cân bằng cán cân thanh toán vĩ mô là điều không thể tránh khỏi

Đóng góp của khu vực FDI vào GDP của nước chủ nhà: Nguồn vốn bên ngoàiđược bổ sung qua các hình thức vay nợ, nguồn viện trợ và FDI, trong đó nguồn FDIchiếm một tỷ trọng đáng kể đối với tổng vốn đầu tư toàn xã hội của nhiều nước chủ nhàđặc biệt là các nước ĐPT Năm 1996, tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI vào GDP củamột số nước như sau: Bỉ - 45,8%; Hà Lan - 30,9%; Anh - 20,5%; Trung Quốc- 24,7%;Malayxia - 48,6%; Singapore - 72,6% Đối với Việt Nam, tỷ trọng này năm 1996 là7,7%; sau đó tăng lên 8,6% vào năm 1997; 9,8% vào năm 1998 và năm 2000 đạt khoảng11,4%

FDI gián tiếp làm tăng thêm phần tiết kiệm trong nước bởi tăng thu nhập củangười lao động sẽ khiến khoản tiết kiệm cá nhân tăng thêm, bên cạnh đó một phần thunhập của nhà đầu tư nước ngoài lại dùng để tái đầu tư, kết quả là thúc đẩy tăng trưởngđầu tư trong nước

Trang 23

Tác động của FDI đối với cán cân thanh toán quốc tế của nước chủ nhà: cũng cócác quan điểm đánh gía khác nhau Một số quan điểm cho rằng ĐTNN làm xấu đi cáncân thanh toán quốc tế thông qua biểu thức: B = (X+I) - (T + M + R+ P), trong đó B là

độ ảnh hưởng, X là giá trị xuất khẩu từ FDI, I là ngoại tệ do nhà đầu tư chuyển vào, T làgiá trị công nghệ nhập khẩu trong các dự án FDI, M là giá trị nhập khẩu nguyên vật liệu,

R là giá trả cho giấy phép sử dụng công nghệ, P là phần lợi nhuận chuyển ra nước ngoài.Nếu các nhà đầu tư nước ngoài phải nhập khẩu công nghệ, nguyên vật liệu và sản phẩmlại hướng vào thị trường nội địa thì lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu cán cân thanh toán quốc tế.Tuy nhiên, điều này trong thực tế chưa được chứng minh Một nghiên cứu được thựchiện tại 5 nước là Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malayxia, Indonesia và Philippine lạicho thấy điều ngược lại Trong khoảng 3 năm đầu tiếp nhận FDI thì cán cân thanh toáncủa các nước này giảm xuống (nhiều nhất là 9%), sau đó tình hình dần được cải thiện vàsau hơn 10 năm thì cán cân đã đạt khoảng 7- 8%

2.3.2.2 Chuyển giao và phát triển công nghệ

Công nghệ là yếu tố quyết định sự phát triển và tốc độ tăng trưởng của mọi quốcgia, do đó tăng cường khả năng công nghệ là một trong những mục tiêu được ưu tiênphát triển hàng đầu Để thực hiện được mục tiêu này không những chỉ cần nhiều vốn màcòn đòi hỏi một trình độ phát triển nhất định Đầu tư trong lĩnh vực này thường có tínhrủi ro cao nên đã tạo ra những hạn chế rất lớn cho những nước nghèo ĐTNN đặc biệt làFDI là nguồn quan trọng để phát triển trình độ công nghệ của nước chủ nhà Quá trình sửdụng và CGCN từ các dự án FDI đã tạo ra mối liên kết cung cấp các dịch vụ công nghệ

từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng trong nước Bằng cách này, năng lực công nghệ trongnước gián tiếp được tăng cường

Bên cạnh việc chuyển giao những công nghệ sẵn có, các TNCs còn góp phần tíchcực nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) của nước chủ nhà Đến giữanhững năm 1990 đã có 55% các chi nhánh của các TNCs lớn và 45% các chi nhánh củacác TNCs vừa và nhỏ đã thực hiện các hoạt động R&D tại các nước đang phát triển

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy rằng phần lớn các hoạt động nghiên cứu vàphát triển của các TNCs ở nứơc ngoài là việc cải biến công nghệ cho phù hợp với điều

Trang 24

kiện sử dụng Việt Nam cũng không nằm ngoài tình trạng này bởi trình độ công nghệ cònthấp nên các chủ đầu tư thường nhập những công nghệ không mấy hiện đại để sử dụng ởViệt Nam Tuy nhiên, việc tiếp xúc với những công nghệ hiện đại hơn khiến cho các nhàđầu tư và phát triển công nghệ trong nước tích luỹ thêm được kinh nghiệm trong thiết kế,chế tạo, sử dụng công nghệ nguồn và từ đó dần nâng cao khả năng công nghệ của mình

2.3.2.3 Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm

- Nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý

Các nhà đầu tư nước ngoài phải sử dụng nguồn nhân lực của nước chủ nhà, để đápứng được yêu cầu sản xuất, nguồn nhân lực này cần được đào tạo một cách cơ bản, một

số được đào tạo trong nước, một số khác được đào tạo tại nước ngoài Bên cạnh việcnâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ kỹ thuật, đội ngũ quản lý của nước chủ nhàcũng được tiếp cận với cách làm việc và quản lý tiên tiến Ví dụ ở Công ty liên doanh lắpráp ôtô VIDAMCO giữa Daewoo của Hàn Quốc và một công ty ôtô của Bộ Quốc phòng(đi vào hoạt động năm 1995) đến 1998 đã đào tạo được 25% tổng số kỹ sư và cán bộ củaliên doanh taị Hàn Quốc, hơn 35% số công nhân được thực tập tại các dây chuyền côngnghệ tại các chi nhánh của Daewoo ở Ấn Độ và Indonesia Tại Việt Nam hiện naykhoảng 50% doanh nghiệp có vốn ĐTNN có quỹ đào tạo riêng Trong những dự án cóquy mô lớn thì nhà đầu tư nước ngoài chú trọng đầo tạo cán bộ quản lý một cách có hệthống hơn các nhà đầu tư trong nước

Các TNCs của Nhật Bản ở Mỹ có chi phí đào tạo bình quân cho mộtngười laođộng cao hơn gấp 2,5 lần so với chi phí đầo tạo lao động cùng loại của các công ty của

Mỹ ở các nước khác

Các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lựccủa doanh nghiệp mình mà còn có những chương trình đào tạo khác để góp phần pháttriển giáo dục của nước chủ nhà như mở những lớp phổ cập kiến thức cho người dân địaphương, các hoạt động trợ cấp phương tiện dụng cụ học tập, khuyến khích học tập,

- Tăng cường sức khoẻ và dinh dưỡng

Thông qua việc đầu tư vào các ngành y tế, dược phẩm, nông nghiệp, chế biến thức

ăn, công nghệ sinh học, chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và nguồn thực phẩm

Trang 25

được tăng lên Nhiều nhà đầu tư đã nghiên cứu để tìm ra sản phẩm y dược mới, thựcphẩm mới phù hợp với nước chủ nhà đông thời phổ biến các kiến thức về sức khoẻ vàdinh dưỡng, đây là vấn đề rất quan trong đối với những nước đang phát triển Tính đếncuối năm 1998, tổng vốn FDI vào lĩnh vực chế biến thực phẩm và y dược khoảng 1 tỷUSD.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, ĐTNN còn mang theo những ảnh hưởngtiêu cực đến sức khoẻ cộng đồng như việc phát triển sản xuất rượu, bia, thuốc lá, thựcphẩm có ga, Để hạn chế được ảnh hưởng này cần có một chính sách đầu tư hợp lý củanước chủ nhà

- Tạo một lượng lớn việc làm

Số người làm việc trực tiếp trong các dự án có vốn FDI ngày càng tăng ở cảnhững nước PT và đang PT trong đó có phụ nữ và trẻ em Theo con số thông kê chínhthức ở Việt Nam, cuối năm 1993 số lao động làm việc trong lĩnh vự này là 49.892, giữanăm 94 tăng lên 88.054 và cuối năm 98 khỏng 270.000 người Ngoài lực lượng lao độngtrực tiếp, các dự án có vốn NN tạo được một số lượng lớn lao động gián tiếp thông quacác hợp đồng cung cấp dịch vụ, gia công và đại lý

Qua kết quả khảo sát số việc làm trực tiếp và gián tiếp do FDI tạo ra tại 10 doanhnghiệp trong các lĩnh vực khác nhau ở Việt Nam như sản xuất kinh doanh ôtô, sản xuấtthức ăn gia súc, điện tử, chế biến nông sản, vận tải, người ta thấy rằng tại thời điểmnăm 1998, tỷ lệ tạo ra việc làm trực tiếp và gián tiếp thấp nhất là 1/1,97 và cao nhất là1/59,1 Nếu dựa vào tỷ lệ thấp nhất để tính thì cuối năm 1998 ước tính có khoảng532.000 lao động gián tiếp đã được tạo ra do các dự án FDI

Tiền lương và thu nhập trong khu vực FDI hiện nay cũng cao hơn rất nhiều so vớicác khu vực trong nước Mức lương tối thiểu ở thành phố HCM và Hà Nội là 80USD/người/tháng Mức lương của các cán bộ quản lý người Việt Nam trong các liêndoanh còn cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp trong nước

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực như vậy không thể không nói đến nhữngtác động tiêu cực khác như hiện tượng “chảy máu chất xám” của nước chủ nhà do sựchênh lệch và thu nhập và các chính sách đãi ngộ khác, tạo ra sự bất bình đẳng, xúcphạm nhân phẩm người lao động,

Trang 26

2.3.2.4 Thúc đẩy xuất nhập khẩu

Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng, nhờ có xuất khẩu mà các lợi thế

so sánh các yếu tố sản xuất của nước chủ nhà được khai thác triệt để trong phân công laođộng quốc tế Khuyến khích ĐTNN vào các ngành xuất khẩu luôn là mối quan tâm hàngđầu của các nước ĐPT Đối với các nhà đầu tư nước ngoài thì việc tiến hành sản xuất ởnước ngoài nhằm mục đích xuất khẩu cũng mang lại cho họ nhiều lợi nhuận hơn bởikhông bị phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ trong nước và có thể thực hiện chuyên mônhoá ở các nước khác nhau, dẫn đến hạ giá thành sản phẩm

Trong hơn ba thập kỷ gần đây, ĐTNN hướng vào xuất khẩu ngày càng tăng đặcbiệt vào những năm 1990, tỷ trọng xuất khẩu trong tổng giá trị thương mại của các TNCschiếm khoảng 30% Trong tổng giá trị xuất khẩu của nước chủ nhà thì phần đóng gópcủa ĐTNN đặc biệt là FDI cũng rất đáng kể Chỉ tính riêng các chi nhánh TNCs của Mỹtrong ngành chế tạo đã chiếm gần 10% tổng giá trị hàng chế tạo toàn thế giới, tạiSingapore tỷ trọng này năm 1993 là 23,7% so với tông giá trị xuất khẩu của nước này

Tại Việt Nam, quy mô xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng rất nhanh, năm 1991 là

52 tr USD, năm 1995- 440 tr USD; năm 1997- 1790 tr.USD, năm 1998- 1982 tr.USD,năm 1999- 2200 tr.USD chiếm hơn 21% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Thamgia sản xuất hàng xuất khẩu có hơn 800 doanh nghiệp các ngành dệt may, giày dép, chếbiến nông lâm ngư sản, sản xuất linh kiện điện tử, Cùng với việc thúc đẩy xuất khẩu,ĐTNN đã tạo ra nhiều hàng hoá có chất lượng ngày càng cao phục vụ nhu cầu tiêu dùngtrong nước

Đối với nhập khẩu, ĐTNN đã khiến cho tổng giá trị nhập khẩu của nước chủ nhàtăng, đặc biệt là máy móc thiết bị, điều đó chứng tỏ rằng các nhà đầu tư chú trọng đếnviệc sử dụng công nghệ hiện đại hơn nước chủ nhà trong các dự án đầu tư của họ Đây làyếu tố quan trọng để tăng năng suất lao động, tạo ra tính cạnh tranh của sản phẩm Theocác số liệu của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động của khu vực FDI cao hơn rấtnhiều so với toàn nền kinh tế và khu vực nhà nước Năm 1995 các năng suất tương ứng

là 146,32 - 5,41 - 44,12 (triệu VND/lao động), năm 1998 là 89 - 6,41 - 49,53

Trang 27

Năm 1994, giá trị nhập khẩu của ĐTNN của Việt Nam là 600 tr.USD thì năm

1995 đã tăng gấp đôi, đến năm 1998 là 2668 tr.USD chiếm 23,21% tổng kim ngạch nhậpkhẩu của cả nước

2.3.2.5 Liên kết các ngành công nghiệp

Mối liên kết này được thể hiện qua sự trao đổi các dịch vụ, hàng hoá như nguyênvật liệu đầu vào giữa các công ty trong nước và các công ty có vốn ĐTNN Năm 1998,các TNCs của Nhật đã mua hơn 40% tổng giá trị nguyên vật liệu đầu vào để phục vụ sảnxuất của chúng tại châu á (tỷ trọng này trong ngành chế tạo đồ gỗ là hơn 80%) và hơn30% tại các nước châu Mỹ La tinh (tỷ trọng này trong ngành chế tạo vật liệu giả kim loại

là 100%) Những TNCs liên kết với các công ty trong nước thông qua các hợp đồng cungcấp nguyên vật liệu, dịch vụ Qua nghiên cứu 63 chi nhánh của các TNCs lớn trongngành chế tạo hoạt động tại Mehico năm 1996 thì có khoảng 60% các chi nhánh có hợpđồng cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ Đây là tác động rất tích cực đối với nước nàysau cuộc khủng hoảng tài chính (1994- 1995)

Đối với khu vực châu Á, mức độ liên kết này ở các nước rất khác nhau và phụ thuộc vào điều kiện của nước chủ nhà Đối với những nước không có chính sách khuyên khích tỷ lệ nội địa hoá cao hoặc khả năng cung cấp nguyên vật liệu và dịch vụ còn thấp thì mối liên kết này sẽ ít được phát huy Tại một số nước như Singapore, Hàn Quốc hoặc Đài Loan thì mức độ liên kết này rất phát triển, trong khi đó lại rất hạn chế ở Indonexia

2.3.2.6 Các tác động khác

Thúc đẩy tính cạnh tranh của sản xuất trong nước

Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài đã khiến hoạt động sản xuất trong nướcsôi nổi hơn, thị trường có thêm đối thủ cạnh tranh, nếu như các công ty trong nướckhông được bảo hộ và chuẩn bị sẵn sàng vào cuộc chiến thì việc các công ty nước ngoàichiếm độc quyền và sản xuất trong nước bị thôn tính là điều không thể tránh khỏi

Tại Án Độ, sự có mặt của hai công ty nước giải khát Pepsi và Coca- Cola đã tạo

ra một cuộc cạnh tranh gay gắt trong sản xuất đồ uống có ga Hai công ty này đã tung ra

Trang 28

những chiến dịch quảng cáo rất tốn kém, vào năm 1997 hơn 50% thị phần đồ uống có ga

ở ấn Độ do Coca chiếm, Pepsi chỉ chiếm 27% Cuộc cạnh tranh giữa hai công ty này đãkéo các công ty trong nước vào cuộc đặc biệt là các công ty sản xuất chè nội địa bởi chè

là đồ uống truyền thống và sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng sang đồ uống có ga

là nguy cơ đe doạ ngành sản xuất chè

ĐTNN và sự phát triển văn hoá- xã hội

Do được tiếp cận với công nghệ cũng như với những người đến từ các nước pháttriển hơn nên đội ngũ lao động ở các nước ĐPT đã có sự thay đổi nhất định trong tưduycũng như trong tác phong làm việc Ngoài ra những vấn đề xã hội khác như bìnhđẳng giới ở các nước này cũng được cải thiện đáng kể

ĐTNN và chủ quyền an ninh quốc gia

ĐTNN đặc biệt là FDI thông qua các TNCs của các nước công nghiệp phát triểnnhư Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản khiến cho nhiều nước chủ nhà lo ngại trước sự can thiệp vàochủ quyền, lãnh thổ, đe doạ chính trị và làm lũng đoạn nền kinh tế Tuy nhiên, trong thực

tế ít có nhà đầu tư nước ngoài nào vi phạm những điều này bởi họ là những nhà kinhdoanh và có tài sản ở nhiều nước trên thế giới và họ hoạt động dưới sự kiểm soát củapháp luật nước chủ nhà

Ta hãy xem người Mỹ nói gì về đầu tư của Nhật vào Mỹ Vào đầu những năm 80 (1980- 1982), nền kinh tế thế giới ở trong một tình trạng cực kỳ bi đát do hậu quả của cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ hai (1978- 79) Nền kinh tế của nước Mỹ cũng nằm trong tình trạng chung đó, hàng loạt nhà máy phải đóng cửa, nạn thất nghiệp và lạm phát gia tăng Một nhà máy sản xuất lốp xe tải hạng nặng đã ngừng sản xuất và chuẩn

bị đóng cửa thì những nhà đầu tư Nhật nhảy vào, họ mua lại nhà máy, thuê lại những người lao động cũ, tiến hành đầu tư rất mạnh mẽ và sản xuất trở lại Tình trạng tương tự như vậy xảy ra với các hãng sản xuất ôtô lớn như Flat- Rock ở bang Michigan và Fremount ở bang California Bên cạnh đó hàng loạt các công ty chế tạo máy lớn khác của Nhật cũng đã có mặt ở Mỹ trong những năm này như Epson, Canon, Minolta, Toyota, Honda, Mitsubishi Motor, Sự có mặt của người Nhật ở Mỹ đã khẳng định vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài, điều này thể hiện qua lời nói của nhà kinh tế cao

Trang 29

cấp của Viện nghiên cứu an ninh - ông Daiwa: ”Đầu tư trực tiếp là một nhân tố then chốt đối với sự tăng trưởng kinh tế ngày nay” FDI của Nhật vào Mỹ đã tăng vọt từ 10,165 tỷ USD năm 1986 lên 35,455 tỷ USD vào năm 1987 (số liệu của JETRO - Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản)

Ngoài việc ổn định sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người Mỹ, những nhà đầu tư Nhật Bản đã góp phần làm ổn định cán cân thương mại của Mỹ bằng cách giảm nhập khẩu và tăng xuất khẩu Việc sản xuất và nhập khẩu tivi của Nhật là một ví dụ điển hình Năm 1976, Mỹ nhập 3 triệu tivi của Nhật trong khi đó các hãng Nhật tại Mỹ chỉ sản xuất được 500.000 chiếc Sau vài năm số tivi sản xuất ở Mỹ lên tới 4 triệu/năm và chỉ phải nhập khẩu khoảng 1 triệu chiếc Hãng Honda tại Ohio đã sản xuất xe máy và xuất khẩu cho hơn 50 nước trong đó có Nhật

Các công ty Nhật góp phần quan trọng vào việc nâng cao tiêu chuẩn kỹ thuật ở

Mỹ là nhờ họ đưa vào kỹ thuật mới và thông qua việc họ đào tạo công nhân kỹ thuật Mỹ Việc người Nhật đòi hỏi cao về chất lượng đã tác động tốt đến nền kinh tế Mỹ nói chung Một công ty Mỹ chuyên sản xuất thiết bị kiểm tra tiếng động và âm học cho ôtô khi bán thiết bị này cho một hãng chế tạo ôtô của Nhật đã phải thú nhận sự chênh lệch trình độ

kỹ thuật giữa Mỹ và Nhật, trong khi các công ty của Mỹ chấp nhận dung sai cho thiết bị này là 10mm thì công ty Nhật chỉ chấp nhận 3mm Việc các công ty Nhật sử dụng người

Mỹ vào những vị trí quan trọng đã giúp phía Mỹ thu được công nghệ Sự chuyển giao công nghệ này có lợi cho người tiêu dùng về giá cả và chất lượng Tất cả những lợi thế định lượng và không định lượng nêu trên rõ ràng xét về mặt kinh tế thuần tuý thì sự có mặt của người Nhật ở Mỹ là đặc biệt có lợi.

Trang 30

CHƯƠNG 3 NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC

Trong các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài thì nguồn vốn hỗ trợ phát triểnchính thức (ODA) do các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ hoặc các chính phủcung cấp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước ĐPT ngày càng trở nên quantrọng Vì vậy, toàn bộ nội dung phần này dành cho nghiên cứu nguồn vốn ODA

3.1 Khái niệm và đặc điểm ODA

3.1.1 Khái niệm và quá trình phát triển của ODA trên thế giới

ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, bao gồm các khoản viện trợ hoànlại và không hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ,các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức tàichính quốc tế dành cho các ĐPT Nguồn vốn ODA được thực hiện theo một cam kết haymột hiệp định vay vốn được ký giữa chính phủ nước đi vay (nước nhận đầu tư) và tổchức cho vay

Nguồn vốn ODA và nguồn vốn FDI có mối liên hệ quả và phụ thuộc lẫn nhau.Nếu một nước kém phát triển không nhận được đầy đủ vốn ODA để cải thiện các cơ sở

hạ tầng kinh tế- xã hội thì cũng khó có thể thu hút được nguồn vốn FDI và những nguồnvốn tín dụng khác để mở rộng kinh doanh Nhưng nếu chỉ tìm cách thu hút vốn ODA màkhông tìm cách thu hút vốn FDI và vốn tín dụng thì không có điều kiện để tăng trưởngnhanh sản xuất, dịch vụ và sẽ không có khả năng trả nợ vốn ODA

Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, các nước phát triển đã thỏa thuận về việc viện trợ

ưu đãi cho các nước chậm và đang phát triển Tổ chức tài chính thế giới - WB đã đượcthành lập tại Hội nghị về tài chính tiền tệ tổ chức vào tháng 7/1944 tại Bretton Woodsthuộc bang Hampshire (Mỹ) Mục tiêu của WB là thúc đẩy phát triển kinh tế và tăngtrưởng phúc lợi của các nước với tư cách là một tổ chức trung gian, một ngân hàng thực

sự với hoạt động chủ yếu là đi vay bằng cách phát hành trái phiếu để rồi lại cho các nướcvay lại

Trang 31

Sự kiện quan trọng hơn cả là việc thành lập Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển(OECD - Organisation for Economic Cooperation and Development) vào ngày14/12/1960 tại Paris Tổ chức này ban đầu gồm 18 nước thành viên (đến nay là 20 nướcthành viên) và đã đóng góp một phần quan trọng nguồn ODA song phương cũng như đaphương Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra Uỷ ban hỗ trợphát triển (Development Assistance Commitee- DAC) nhằm giúp các nước ĐPT pháttriển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư Năm 1996, DAC đã đưa ra bản báo cáo “ Kiếntạo thế kỷ XXI- Vai trò của hợp tác phát triển”, trong đó khẳng định: viện trợ phát triểnphải chú trọng vào hỗ ttợ cho các nước nhận vốn có được sự thay đổi chính sách và thểchế phù hợp chứ không phải chỉ đơn thuần là cấp vốn Và điều này sẽ làm tăng hiệu quảcủa việc sử dụng vốn đầu tư.

3.1.2 Đặc điểm của vốn ODA

- Tính ưu đãi: Vốn ODA có thời gian ân hạn và hoàn trả vốn dài (khoảng 10 năm

và 40 năm đối với các khoản vay từ ADB, WB và JBIC) Một phần của vốn ODA có thể

là viện trợ không hoàn lại Phần vốn ODA hoàn lại có mức lãi suất thấp hơn so với lãisuất vay thương mại quốc tế

Vốn ODA chỉ được dành cho các nước ĐPT Các nước này có thể nhận được vốn

ODA khi đáp ứng các điều kiện nhất định Thứ nhất, tổng sản phẩm quốc nội thấp.

Những nước có tỷ lệ GDP/người càng thấp thì tỷ lệ viện trợ không hoàn lại và các điềukiện ưu đãi càng cao Khi các nước này đạt trình độ phát triển nhất định thì sự ưu đãi

cũng sẽ giảm đi Thứ hai, mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp

với chính sách và phương hướng ưu tiên của các bên cho vay

- Tính ràng buộc: Vốn ODA thường đi kèm theo những ràng buộc về kinh tế,

chính trị đối với nước tiếp nhận Kể từ khi ra đời đến nay, các khoản viện trợ luôn chứađựng hai mục tiêu cùng song song tồn tại Một mặt nguồn viện trợ này thúc đẩy sự tăngtrưởng bền vững và giảm sự nghèo khó của các nước chậm phát triển Mặt khác, cácnước cho vay đều nhìn thấy lợi ích từ hỗ trợ các nước đi vay để mở mang thị trường tiêuthụ sản phẩm và vốn xét về lâu dài, các nhà tài trợ có lợi về an ninh, kinh tế và chính trịkhi mà kinh tế của các nước nghèo tăng trưởng Một số nước như Bỉ, Đức, Đan Mạch

Trang 32

cung cấp ODA kèm theo điều kiện là phải sư dụng 50% vốn để mua hàng hóa và dịch vụ

tư vấn của mình Hoặc như Nhật Bản quy định vốn phải được thực hiện bằng đồng YênNhật Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của ODA trong việc giải quyếtmột số vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu như: hạn chế tốc độ gia tăng dân số, tăngcường sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, và tất cả các quốc gia trên thế giớikhông phân biệt giàu nghèo đều cần nỗ lực tham gia

Các nước cho vay dùng ODA như một công cụ chính trị để nhằm khẳng định vaitrò của mình ở các nước và khu vực tiếp nhận vốn Mỹ là nước đã dùng ODA của mình

để thực hiện những ảnh hưởng chính trị với một số nước trên thế giới Nhật Bản hiệnđang là nhà tài trợ lớn nhất trên thế giới và cũng đã từng sử dụng vốn ODA của mìnhlàm công cụ kinh tế và chính trị Trong thời gian cuối những năm 1990, khủng hoảng tàichính tiền tệ đã diễn ra ở châu Á và nhiều nước Đông Nam Á phải chịu ảnh hưởng lớn.Nhật Bản đã quyết định tài trợ một khoản rất lớn để giúp các nước này vượt qua khókhăn Nhật Bản dành 15 tỷ USD tiền mặt cho các nhu cầu vốn ngắn hạn với lãi suất thấp

và dành 15 tỷ USD cho mậu dịch và đầu tư có nhân nhượng trong vòng 3 năm Các nướcĐông Nam Á chiếm một tỷ trọng lớn trong thương mại và đầu tư của Nhật Bản, ví vậylấy lại sự ổn định cho những nước này chính là củng cố thị trường quan trọng của NhậtBản

Tính ràng buộc của nguồn vốn ODA còn được thể hiện qua mục đích sử dụng.Mỗi thoả thuận hay hiệp định vay vốn đều dành cho một lĩnh vực đầu tư cụ thể, nướcnhận ODA không thể tuỳ tiện thay đổi lĩnh vực đầu tư Trong trường hợp nước vaykhông tuân thủ những quy định nhằm đảm bảo được mục tiêu đầu tư thì thoả thuận vayvốn có thể bị bên cho vay đơn phương huỷ bỏ

- Có khả năng gây ra gánh nặng nợ nần cho nước tiếp nhận: Trong thời gian

đầu tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do những điều kiện vay ưu đãi nên yếu tố nợ nầnthường chưa xuất hiện Một số nước đi vay chủ quan với nguồn vốn này và không sửdụng một cách có hiệu quả Kết quả là đã sử dụng một lượng vốn ODA lớn nhưng lạikhông tạo ra được những điều kiện tương ứng để phát triển kinh tế (không đủ thu hút vốnFDI và các nguồn vốn khác cho sản xuất, kinh doanh) Nước đi vay đã không trả được lãi

và vốn vay ODA theo đúng cam kết và để lại gánh nặng nợ nước ngoài cho thế hệ sau

Trang 33

Do đó, nước đi vay khi hoạch định chính sách tiếp nhận vốn ODA cần phải kết hợp vớichính sách thu hút các nguồn vốn khác để chúng hỗ trợ nhau nhằm tăng cường tiềm lựckinh tế.

3.2 Phân loại nguồn vốn ODA

0 Thông thường, một khoản vay ODA gồm cả hai phần hoàn lại và không hoàn lại

- Theo tính ràng buộc: ODA ràng buộc và không ràng buộc.

Nguồn ODA có tính ràng buộc thường bị ràng buộc dưới hai hình thức là ràngbuộc mục đích sử dụng và ràng buộc nguồn cung cấp hàng hóa, dịch vụ

- Theo cách thức thực hiện:

Phi dự án: hỗ trợ cho cán cân thanh toán bằng cách hỗ trợ tài chính trực tiếpthông qua tiền tệ, hàng hóa; hỗ trợ để trả nợ và hỗ trợ theo các chương trình (theo mộtmục đích tổng quát và trong một thời gian nhất định nhưng không xác định cụ thể vốn sẽđược sử dụng như thế nào) Những khoản hỗ trợ này thường mang tính ngắn hạn vàkhông đi kèm nhiều điều khoản ràng buộc trong quá trình thực hiện

Theo dự án: hỗ trợ để thực hiện một dự án có mục tiêu cụ thể, thời gian cụ thể vànhằm tạo ra một sản phẩm cụ thể Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án thì nước

Ngày đăng: 12/11/2018, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w