1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu ôn tập môn Tâm lý học Phát triển 1

81 1,7K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 195,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Khái niệm hoạt động chủ đạo Theo TS VŨ DŨNG: hoạt động chủ đạo là hoạt động gắn liền với sự xuất hiện những tạo lập mới về phương diện tâm lý rất quan trọng trong gia đoạn phát triển cụ thể. Theo chiều hường của hoạt động đó, những dạng hoạt động khác được phát triển và tạo lập được những cơ sở chuyển sang hoạt động chủ đạo mới. 2. Hoạt động chủ đạo của trẻ nhà trẻ Khi bước vào lứa tuổi nhà trẻ và thế giới đồ vật được thay đổi đáng kể . Đồ vật trở thành hoạt động chủ đạo vì nó giúp cho các chức năng của đồ vật lần đầu tiên được bộc lộ ra trước đứa trẻ và đồ vật xung quanh trở thành đối tượng thu hút sự chú ý của trẻ, khiến trẻ hăng hái đi tìm kiếm, lôi cái này ra, tháo lắp cái kia vào cái nọ bận rộn suốt ngày. Chính nhờ vậy mà tâm lý của trẻ được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trí tuệ. Ở loài khỉ cũng có hoạt động đồ vật giống như trẻ ở giai đoạn này. Nhưng loài khỉ hành động với đồ vật không tìm được chức năng của đồ vật và phương thức sử dụng nó như ở con người. VD: loài khỉ có thể uống nước ở trong bất kì chổ nào có nước như xô, ao, sông,... Còn ở trẻ khi được người lớn hướng dẫn uống nước bằng ly thì lần sau trẻ sẽ đòi uống nước bằng ly, trẻ đã nhận biết được chứa năng của chiếc ly. Khi trẻ lĩnh hội và thực hiện đúng với chức năng đó thì trẻ cũng có thể sử dụng theo ý thích của mình. VD: trẻ có thể dùng chiếc ly uống nước đó để đựng bút,...

Trang 1

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

MỤC LỤC

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 1

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

1

Trang 2

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

A TRẺ NHÀ TRẺ

 TÓM TẮT KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

I HOẠT ĐỘNG CHỦ ĐẠO CỦA TRẺ NHÀ TRẺ

Theo tiêu chuẩn phân kì lứa tuổi thì giai đoạn nhà trẻ (ấu nhi): 1 tuổi đến 3 tuổi

1 Khái niệm hoạt động chủ đạo

Theo TS VŨ DŨNG: "hoạt động chủ đạo là hoạt động gắn liền với sự xuất hiện nhữngtạo lập mới về phương diện tâm lý rất quan trọng trong gia đoạn phát triển cụ thể Theochiều hường của hoạt động đó, những dạng hoạt động khác được phát triển và tạo lập đượcnhững cơ sở chuyển sang hoạt động chủ đạo mới

2 Hoạt động chủ đạo của trẻ nhà trẻ

Khi bước vào lứa tuổi nhà trẻ và thế giới đồ vật được thay đổi đáng kể Đồ vật trở thànhhoạt động chủ đạo vì nó giúp cho các chức năng của đồ vật lần đầu tiên được bộc lộ ra trướcđứa trẻ và đồ vật xung quanh trở thành đối tượng thu hút sự chú ý của trẻ, khiến trẻ hăng hái

đi tìm kiếm, lôi cái này ra, tháo lắp cái kia vào cái nọ bận rộn suốt ngày Chính nhờ vậy màtâm lý của trẻ được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trí tuệ

Ở loài khỉ cũng có hoạt động đồ vật giống như trẻ ở giai đoạn này Nhưng loài khỉ hànhđộng với đồ vật không tìm được chức năng của đồ vật và phương thức sử dụng nó như ở conngười VD: loài khỉ có thể uống nước ở trong bất kì chổ nào có nước như xô, ao, sông, Còn ở trẻ khi được người lớn hướng dẫn uống nước bằng ly thì lần sau trẻ sẽ đòi uống nướcbằng ly, trẻ đã nhận biết được chứa năng của chiếc ly Khi trẻ lĩnh hội và thực hiện đúng vớichức năng đó thì trẻ cũng có thể sử dụng theo ý thích của mình

VD: trẻ có thể dùng chiếc ly uống nước đó để đựng bút,

Điều quan trọng hơn là trong quá trình lĩnh hội chức năng của đồ vật sinh hoạt hàngngày thì trẻ cũng lĩnh hội đươc những quy tắc hành vi trong xã hội Vì nhờ vào đồ vật màngười lớn có thể dạy trẻ cách ứng xử đúng đắn

Việc khám phá lĩnh hội chức năng của đồ vật diễn ra theo hai hướng tích cực và tiêu cực.Hành vi tích cực giúp cho sự phát triển tâm lý của trẻ Hành vi tiêu cực trong quá trình khámphá, trẻ có thể làm vỡ đồ gây nguy hiểm cho trẻ Từ đó, các đồ chơi mô phỏng các vật thậtnhư ly, chén, bàn, Để thỏa mãn nhu cầu khám phá của trẻ mà không gây nguy hiểm

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 2

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

2

Trang 3

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

3 Các loại hành động với đồ vật của trẻ

Đối với mỗi loại đồ chơi hay đồ vật trẻ đều cố gắng tìm kiếm phương thức hành độngtương ứng Trong số những hành động thiết lập các mối quan hệ tương quan và những hànhđộng công cụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của sự phát triển ở trẻ

a Hành động công cụ

Là hành động trong đó một đồ vật nào đó được sử dụng như một công cụ để tác động lên

đồ vật khác

VD: dùng thìa để xúc cơm, Ở độ tuổi này, trẻ chỉ mới học cách sử dụng một số công cụ

sơ đẳng nhất như thìa, ly, bút chì,

Đặc điểm chung của mọi công cụ là cách thức dùng chúng là do xã hội và cấu tạo củacông cụ lại do chứa năng của chúng quy định Công cụ là khâu trung gian giữa bàn tay conngười với đồ vật tác động tới và tác động đó diễn ra như thế nào lại tùy thuộc vào cấu tạocủa công cụ Trẻ chỉ nắm được hành động công cụ một cách đúng đắn khi có sự hướng dẫn

có hệ thống của người lớn Cuối cùng, chỉ khi nào bàn tay thích nghi đầy đủ với cấu tạo củacông cụ thì mói xuất hiện hành động công cụ đích thực Hành động của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻchưa hoàn toàn thành thạo mà còn phải tiếp tục hoàn thiện thêm Trẻ nắm được nguyên tắccủa việc sử dụng công cụ, nhờ đó mà trong những trường hợp khác, trẻ có thể tự mình sửdụng đồ vật nào đó làm công cụ

b Hành động thiết lập các mối quan hệ tương quan

Là những hành động đưa hai hoặc nhiều đối tượng (hoặc các bộ phận của chúng) vàonhững mối quan hệ tương quan nhất định trong không gian

VD: hành động những chồng các khối gỗ thành hinh tháp, hoạt động lắp ráp đồ chơi Những hành động thiết lập mối hành động tương quan mà trẻ bắt đầu lĩnh hội ở tuổi ấunhi đòi hỏi phải tính đến những thuộc tính của đối tượng

VD: khi xếp các khối gỗ, trẻ cần phải chú ý đến độ lớn nhỏ của các khối gỗ, đặt các khối

gỗ to ở dưới và các khối gỗ nhỏ được đặc chồng lên

Đây là những hành động khá phức tạp với trẻ ở giai đoạn này bởi vì những hành độngnày phải được đều chĩnh bằng chính kết quả thu được Người lớn cần giúp trẻ đạt tới kết quảmong muốn bằng cách làm mẫu cho trẻ và giúp trẻ thực hiện để dần dần trẻ có thể nắm bắtđược hành đó Không nên để trẻ tự làm sau đó sửa chổ sai thì trẻ sẽ hành động theo lối làthử Nhờ vào hành động thiết lập các mối quan hệ tương quan sẽ giúp cho chức năng tâm lýcủa trẻ phát triển như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng tư duy phát triển mạnh

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 3

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

3

Trang 4

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

4 Sự phát triển vận động của trẻ ấu nhi

a Đi theo tư thế thẳng đứng - hình thái di chuyển đặc trưng của con người

Ở cuối tuổi hài nhi, một số trẻ bắt đầu những bước đi chập chững, nhưng hầu hết trẻ emphải sau một năm mới bắt đầu biết đi Đi là hình thái vận động đặc trưng của con người,không có sẵn trong những chương trình di truyền

Sự vận động theo tư thế thẳng đứng là một công việc khó khăn Việc điều khiển các cửđộng đi vẫn chưa được hình thành, vì thế đứa trẻ luôn luôn bị mất thăng bằng Những trởngại nhỏ nhặt nhất trên đường đi đều có thể làm cho nó bối rối, sợ hãi Lúc này người lớncần dìu dắt trẻ đi từng bước một và kịp thời cổ vũ khi đứa trẻ đi được vài bước Sau nhữngthành công đó, chẳng bao lâu đứa trẻ cảm thấy thích đi, mặc dầu bị ngã lên, ngã xuốngnhưng trẻ vẫn không chán nản Dần dần động tác đi lấn át được động tác bò và

trở thành phương thức cơ bản để di chuyển trong không gian, để tiến gần tới những đối tượng hấp dẫn Tuy nhiên, bản thân các cử động đi vẫn chưa phối hợp được hài hòa

Động tác đi ngày càng tiến bộ, đứa trẻ đã làm chủ được thân thể của mình, những bước

đi trở nên mạnh dạn, các vận động được thực hiện mà không gây căng thẳng như trước Trẻkhông những chỉ đi mà còn chạy Nói đúng hơn trẻ chạy nhiều hơn đi vì chạy dễ lấy thăngbằng hơn là đi

Khi đã biết đi thành thạo rồi, các bước đi đã tự động hóa, trẻ bắt đầu thích làm phức tạphóa bước đi của mình như đi thụt lùi, xoay vòng quanh, nhiều khi còn muốn vượt qua một số

đồ vật, lúc này trẻ rất say mê thực hiện các bài tập đi do người lớn hướng dẫn Do đó, nêntận dụng thời cơ này để tập những động tác vận động khéo léo cho trẻ để việc đi đứng củachúng trở nên mạnh dạn và linh hoạt hơn

Đi theo tư thế thẳng đứng là một bước tiến cơ bản nhằm làm cho trẻ độc lập về mặt sinhhọc, đồng thời là một bước quan trọng trong việc biến đứa trẻ trở thành người

b Phát triển khả năng cầm nắm và thao tác bằng tay

Cùng với sự phát triển các tư thế, vận động của bàn tay và các ngón tay ngày càng tinhkhéo hơn Vào cuối năm thứ nhất người ta thấy trẻ đã có thể cầm nắm đồ vật giữa ngón cái

và ngón trỏ một cách khéo léo Thích lồng đồ vật này vào đồ vật khác, cho ngón tay vào cáckhe, các lỗ.Nếu đưa cho trẻ viên phấn, viên sáp trẻ đã có thể vạch ra những nét nguệchngoạc thô sơ Vào khoảng 15 tháng, việc cầm nắm đã chính xác, bàn tay và các ngón tay đãthích nghi với đặc điểm của các vật trẻ cầm một cách chắc chắn và hợp lí hơn Trẻ có thể mở

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 4

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

4

Trang 5

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

một cái hộp, cầm được chén, cốc, thìa Thích ném đi ném lại, thích đẩy các đồ vật (con búp

bê, quả bóng ) Bé biết thả những viên tròn nhỏ vào chai cổ nhỏ, biết lật giở trang sách Biết chồng khoảng 2 đến 4 khối vuông lên nhau Bắt chước người lớn vẽ được đường thẳng

và vạch những nét nguệch ngoạc

Sau 2 tuổi, khả năng phối hợp vận động của tay phát triển, giúp trẻ làm được nhiều việcphức tạp hơn Lúc này bé đã biết xoay cổ tay Biết dùng thìa xúc ăn dù còn để rơi vãi dochưa thuần thục Trẻ tắm rửa được, có thể tự mặc quần áo, biết mở đóng cửa Biết lật giởtừng trang sách một Có thể xây dựng một cái tháp bằng cách chồng 5-6 khối gỗ hoặc nhựa ;

có thể lồng các khối gỗ đục lỗ vào một cái cọc, chồng lên nhau được từ 6-8 khối vuông Cuối năm thứ ba, trẻ có thể tự ăn lấy một cách gọn gàng, có thể mở một gói đã buộc, biếtném bóng và tô theo một hình vuông bằng bút chì

Tất cả những khả năng mới này cho phép trẻ có được những vận động tích cực, tinh vi vàphong phú hơn Trẻ luôn luôn vận động, không ngừng lặp đi lặp lại và hoàn thiện những cửchỉ cũ, nảy ra những cử chỉ mới, những cách thức phối tiếp tục thử nghiệm và hoàn thiệnnó Khả năng hành động bằng tay phát triển giúp trẻ thực hiện được nhiều công việc, khámphá được nhiều hơn về thế giới Từ đó trẻ nhận ra bản thân rõ rệt hơn, có nhiều kinh nghiệmhơn Thời kì này ở trẻ có sự nở rộ các trò chơi vận động khác nhau Do đã đi vững, nhữngvận động phối hợp toàn thân và vận động của bàn tay đã khá thuần thục, trẻ có nhu cầu và

có thể thực hiện được nhiều trò chơi có tính chất vận động khá phức tạp Trẻ không chỉ đi

mà còn nhún nhảy, xoay vòng, đi tới rồi lùi lại, đi nghiêng nghiêng Rồi chạy, nhảy, trèoleo, nhào lộn, đóng mở cửa, đu hoặc cánh cửa, nắm tay mọi người, xé giấy, vạch vẽ khắpnơi Nhờ có sự phát triển về vận động, những khả năng hành động của trẻ được tăng lên.Chính qua những vận động có tính chất chơi đùa như trên, trẻ tác động vào thực tiễn Nhữngthay đổi của thực tiễn giúp nó nhận thức được mình Mặc dù vận động còn vụng về nhưngnhững khả năng này rất có ý nghĩa đối với sự phát triển của trẻ Nó không chỉ giúp trẻ khámphá thế giới, nhận ra chính mình mà còn giúp trẻ phát triển cảm xúc, nảy sinh lòng tự tin.Chính đó là cơ sở của khả năng tự chủ, khả năng sang tạo

Để trẻ phát triển thuận lợi, người lớn nên tạo điều kiện cho trẻ được chạy nhảy, chơi đùa,thử nghiệm, khám phá và làm những việc mà trẻ có thể làm được Do trẻ còn chưa thậtchuẩn xác, tính tự chủ của hành động chưa tốt, trẻ còn vụng về, làm mất thời gian Ngườilớn không nên vì thế mà ngăn cản hoặc giành làm hết thay cho trẻ Tạo cơ hội cho trẻ đượcvận động,hoạt động, làm những việc trẻ có thể làm được là giúp cho trẻ phát triển cả về cơthể và tâm lí

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 5

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

5

Trang 6

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

II ĐẶC ĐIỂM TRÍ TUỆ TUỔI NHÀ TRẺ (1-3 TUỔI)

1 Cảm giác

• Ngoài: 5 giác quan (nhìn, nghe, ngửi, nếm, da)

VD: Trẻ có thể nhìn, nghe, ngửi, nếm và cảm nhận được các kích thích lên da

• Trong: cơ thể, vận động, thăng bằng, rung

VD: Hầu hết trẻ được 1 tuổi rưỡi có thể tự đi nhưng chưa biết giữ thăng bằng

Đến 2-3 tuổi trẻ không chỉ biết đi, biết chạy mà còn biết đi xe đạp 3 bánh, nhảy nhótbằng 2 chân, giữ thăng bằng trên 1 chân, ném bóng bằng 2 tay tương đối khéo léo

2 Tri giác

không chủ định:

Đầu tuổi nhà trẻ, trẻ nhận biết đồ vật còn mơ hồ và chỉ dựa vào dấu hiệu bên ngoài Tri giác tinh vi, đầy đủ dần nhờ hoạt động với đồ vật

Trẻ hình thành những hành động định hướng bên ngoài

Hành động định hướng bằng mắt giúp trẻ tích luỹ nhiều biểu tượng về các đối tượng và

so sánh các vật khác

Tri giác bằng tai phát triển

Ví dụ như khi xác định các đối tượng có ba góc trẻ nói "giống mái nhà" Khi xác định đốitượng có hình tròn trẻ nói "giống quả bóng"

3 Trí nhớ

Trẻ nhớ không chủ định, trẻ không có ý thức buộc mình phải nhớ một điều gì, trẻ chỉ nhớnhững gì hấp dẫn thu hút sự chú ý của trẻ Vì vậy trí nhớ của trẻ nhiều khi không đầy đủ,không chính xác

Trẻ nhớ máy móc, nhớ nhờ sự lặp đi lặp lại nhiều lần mà không hiểu ý nghĩa của điềumình cần nhớ Vì vậy trẻ nhớ lộn xộn, không theo một trật tự nhất định, hay chắp nối

Trí nhớ của trẻ có đặc tính rất mềm dẻo, trẻ dễ nhớ nhưng cũng rất dễ quên

VD: Trẻ nhớ được những người thân trẻ gặp ít hôm trước và nhớ được tên con mèo, conchó, con bò, con gà

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 6

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

6

Trang 7

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

4 Ngôn ngữ

Bước đầu tập nói, đang hoàn thiện khả năng nghe Chủ yếu là ngôn ngữ bên ngoài 1tuổi: nghe được vài tiếng, nói được 1 tiếng Cuối 1 tuổi trẻ có khoảng 4 đến 10 từ

2 tuổi: nghe được câu đơn, nói được vài tiếng Cuối hai tuổi trẻ có khoảng 300 từ

3 tuổi: nghe được câu phức, nói được câu đơn (nói chậm) cuối ba tuổi trẻ có khoảng 1300 từ.VD: khoảng 3 tuổi trẻ có thể nói: ―Chị An hư quá‖

- Chú ý của trẻ bền vững hơn trong hoạt động tích cực như trò chơi, trong khi cầm nắm đồvật, trong các hoạt động khác nhau

VD: Trẻ lên 2 đã có thể quấn quýt khá lâu với sự vật nào đó, chú ý xem một số đồ chơinào đó, tập trung theo dõi ngôn ngữ và hành vi của người xung quanh

6 Tư duy

Sự phát triển tư duy của trẻ bắt đầu lúc 2 tuổi tức là lúc mà đứa trẻ biết xác lập mối quan

hệ chưa có sẵn giữa các đồ vật để giải quyết nhiệm vụ thực tiễn đặt ra Ví dụ: Trẻ lấy quảbóng lăn vào gầm bàn bằng cách lấy gậy khều nó ra Tức là trẻ đã biết xác lập mối quan hệgiữa cái gậy và quả bóng, đó là mối quan hệ vốn chưa có sẵn

Tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động, tư duy của trẻ được thực hiện bằng hànhđộng trực tiếp với đồ vật mang tính chất thử nghiệm nhiều khi ngẫu nhiên tìm ra cách làm Đến cuối tuổi nhà trẻ bắt đầu xuất hiện một số hành động tư duy thực hiện trong óckhông cần phép thử bên ngoài Đó là kiểu tư duy trực quan hình tượng, được thực hiện nhờhành động bên trong óc với các hình ảnh của sự vật, hiện tượng Ở tuổi ấu nhi mới sử dụngloại tư duy này trong trường hợp giải bài toán đơn giản nhất, còn chủ yếu vẫn sử dụng tưduy trực quan hành động

7 Tưởng tượng

Mang tính chất tái tạo thụ động, không chủ định

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 7

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

7

Trang 8

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

VD: Trẻ hứng thú nghe người lớn kể những câu chuyện đơn giản

Trẻ thường xuyên sử dụng các đồ vật cho trò chơi tưởng tượng của mình như: cho búp bê

ăn, lấy ghế cho búp bê ngồi,…

IV TIỀN ĐỀ NHÂN CÁCH

1 Sự hình thành cấu tạo tâm lý bên trong

- Bước sang tuổi ấu nhi, người lớn không hoàn toàn điều khiển được hành vi của trẻ nữa

Đó là do trẻ đã xuất hiện một thế giới bên trong riêng Tức là hành vi của trẻ đã xuất hiệnđộng cơ (tuy chưa rõ ràng )

Ví dụ : Khi đang đòi mẹ mua một thứ đồ chơi nào đó mà mẹ nói với trẻ thực hiện cho

mẹ một việc thì mới được mẹ mua thì trẻ có thể vui vẻ làm và cố gắng thực hiện cho tốt

- Bắt đầu hình thành hành động hướng tới mục đích được chỉ ra bằng lời nói

Ví dụ: ― Con muốn vẽ con gà!‖ (Bé 30 tháng trước khi vẽ nói )

- Mong được người lớn khen ngợi, âu yếm và rất sợ người lớn không bằng lòng Bắt đầuhình thành tình cảm tự hào và xuất hiện thêm tình cảm xấu hổ

2 Sự xuất hiện tự ý thức

- Bước vào đầu tuổi ấu nhi, trẻ vẫn còn ở trong tình trạng chưa xác định được bản thânmình, đồng nhất mình với người khác, người lớn gọi trẻ như thế nào thì trẻ cũng gọimình như vậy Nhưng cuối tuổi ấu nhi trẻ nhận biết mình là ngôi thứ nhất

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 8

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

8

Trang 9

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

Ví dụ: Bé Hà 24 tháng nói với mẹ: ― Mẹ bế Hà đi chơi!‖ Nhưng ở cuối tuổi ấu nhithì câu nói này gần như được thay đổi thành : ― Mẹ cho con đi chơi!‖

- Trẻ bắt đầu để ý đến hình dáng bên ngoài của mình

Ví dụ: Với bé gài thì thích soi gương nhiều hơn và tự cười với mình ở trong gương - Trẻ tiếp tục hiểu cơ thể của mình, quan tâm tới các bộ phận : mắt, mũi, chân, tay…cả những đặc điểm về giới tính

- Trẻ có thể tự nhận xét đánh giá được mình Điều này được trẻ căn cứ vài thái độ củangười lớn đối với những việc mà trẻ làm để trẻ xác định mình là con ngoan hay hư

- Trẻ bắt đầu hình thành mong muốn về mình trong tương lai

Ví dụ: Cháu Hải 32 tháng nói: ― Sau này con muốn được lái xe như bố!‖

3 Nguyện vộng độc lập và khủng hoảng của tuổi lên 3

- Trẻ bắt đầu so sánh mình với người lớn, muốn giống như người lớn và làm những việcnhư người lớn

- Muốn tách ra khỏi người lớn Biểu hiện là trẻ không nhất định nghe theo người lớn nữa,bắt đầu ―bướng‖ Điều này được trẻ thể hiện rõ ở tuổi lên 3:  Muốn làm theo ý mình,

tự mình làm tất cả

 Hầu như cái gì cũng muốn giành về mình

 Đôi khi làm cả những việc mà người lớn ngăn cấm…

Đây là bước phát triển trong sự hình thành tự ý thức vê bản thân của trẻ Cha mẹ vànhững người bên trẻ cần hiểu và nắm rõ để giúp trẻ đi qua khoảng thời gian này một cáchnhẹ nhàng và có ích nhất Bằng cách khuyến khích, tán dương những hành động tốt củatrẻ vì mọi lời khen thưởng với trẻ trong thời gian này đều rất ý nghĩa và có tác động mạnhvới trẻ Cho phép trẻ được thòa mãn nhu cầu khẳng định mình bằng cách cho trẻ thựchiện 1 số hoạt động mà trẻ muốn nhưng phải là dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo của người lớnmột cách khéo léo để trẻ khôngcảm thấy mình bị kiểm soát Người lớn cần có thái độ rõràng với những hành động của trẻ để trẻ xác định được đâu là đúng, đâu là sai

 TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 1 Khi dạy đứa trẻ phương thức sử dụng một đồ vật, chúng ta chú ý dạy cho trẻ điều gì?

- Cách cầm giữ, nắm (phân bố ngón tay)

- Trình tự các thao tác khi hành động với đồ vật

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 9

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

9

Trang 10

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

- Cầm giữ đồ vật một tay hay hai tay (tư thế úp hay ngửa)

Câu 2 Các giai đoạn hình thành, phát triển với hành động đồ vật của trẻ?

Phát triển qua 3 giai đoạn:

- Hành động với đồ vật tùy tiện

- Nắm bắt chức năng đồ vật, phương thức sử dụng (thao tác) bộc lộ chức năng chính (phương thức sử dụng cơ bản), chức năng phụ

- Cùng đồ vật có nhiều phương thức sử dụng: linh hoạt, sáng tạo để đồ vật bộc lộ chứcnăng phụ khác nhau

Câu 3 Hành động công cụ khác hành động thiết lập các mối quan hệ tương quan về hình thức?

- Hành động thiết lập các mối quan hệ tương quan: hình thức không thay đổi

- Hành động công cụ: công cụ vẫn giữ nguyên cấu tạo không thay đổi, thay đổi hình thức

Câu 4: Hãy nêu những đặc trưng của mỗi hiện tượng tâm lý ở tuổi ấu nhi?

Những đặc trưng của mỗi hiện tượng tâm lý ở tuổi ấu nhi:

-Cảm giác: Bắt đầu hình thành tất cả các giác quan

-Tri giác: Tri giác không chủ định

-Tư duy: Tư duy trực quan hành động

-Tưởng tượng: Tưởng tượng không chủ định, gắn liền với đối tượng bên ngoài

-Chú ý: Chú ý không chủ định, kém bền vững

-Trí nhớ: Trí nhớ không chủ định

-Ngôn ngữ: Bước đầu tập nói và dần dần hình thành khả năng nghe

Câu 5: Em hiểu như thể nào về hiện tượng "ngôn ngữ tự trị"? Muốn cho trẻ phát triển về ngữ pháp thì người lớn cần làm gì?

-Hiện tượng ''ngôn ngữ tự trị'': Do trẻ phát âm không chính xác và vốn từ của trẻ còn hạnchế, trẻ tự sáng tạo ra những từ chưa đúng với ngữ pháp nhưng vẫn được người lớn chấpnhận và hiểu "ngôn ngữ'' trẻ đang nói Đó là hiện tượng "ngôn ngữ tự trị'' của trẻ

Ví dụ: Trẻ nói ngược, trật tự của các từ sẽ lộn xộn, tùy ý của trẻ: "Bánh con đi", "Cơmăn",

-Muốn cho trẻ phát triển về ngữ pháp thì người lớn cần: Phát triển các từ cụ thể cho trẻbằng cách trò chuyện và dạy trẻ nói thường xuyên Dạy trẻ nói các từ cụ thể, đồng thời cóvật mẫu kèm theo càng tốt Tăng dần vốn từ theo thời gian, kết hợp với thường xuyên điềuchỉnh mỗi khi trẻ nói, trẻ phát âm

Câu 6: Ở trẻ có tri giác thời gian và tri giác không gian đến mức nào?

-Tri giác thời gian: (sáng - trưa - chiều - tối)

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 10

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

10

Trang 11

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

+ Trẻ chỉ tri giác được ''hôm nay'' (hiện tại), chưa tri giác được ''hôm qua'' (quá khứ) và''ngày mai'' (tương lai)

+ Tập xác định những khoảng thời gian ngắn dựa vào hoạt động của mình (Ví dụ: Banngày là chơi, học, ăn Còn ban đêm thì ngủ) - Tri giác không gian:

+Hình dạng: Tri giác được các hình cơ bản như hình tròn, hình vuông, hình tam giác.+Khoảng cách: rộng, hẹp,

+Kích thước: to (lớn), nhỏ (bé),

+Phương chiều: trong, ngoài, trên, dưới, trước, sau,

Câu 7: Nội dung nhà trẻ cho trẻ tư duy ở lứa tuổi này là khám phá gì?

Hành động với đồ vật là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này Nội dung nhà trẻ cho trẻ tưduy ở lứa tuổi này chính là khám phá mối liên hệ - quan hệ của đối tượng, thông qua hànhđộng khám phá với đồ vật

Kiểu tư duy được thực hiện nhờ những hành động định hướng bên ngoài được gọi là tưduy hành động Tức là tư duy được diễn ra trong quá trình hành động với đồ vật, chủ yếu làhành động công cụ và xác lập những mối tương quan

Câu 8 Những rung động (xúc cảm) trong đời sống tình cảm của trẻ?

Xúc cảm, tình cảm nói chung là toàn bộ những rung động trong đời sống tình cảm conngười Mối quan hệ giữa nhu cầu chủ quan và đối tương khách quan bên ngoài liên quan đếnnhu cầu này taọ ra rung động tương ứng Nếu đối tượng xuất hiện phù hợp với nhu cầu sẽ đểlại rung động dương tính, ngược lại là rung động âm tính Đời sống tình cảm là các rungđộng phản ánh quan hệ đối tượng đó ra như một Và các rung động có 3 dạng xét về thờigian tồn tại: Xuất hiện thời gian ngắn (quá trình rung động hay quá trình xúc động vớicường độ mạnh); xuất hiện thời gian không dài cũng không ngắn (trạng thái tâm lý: tâmtrạng, xúc cảm); các rung động một khi đã hình thành thì nó tồn tại ổn định, ít khi thay đổi(các tình cảm) có gốc chung là nhu cầu

Câu 9Tình cảm thực tiễn là gì ?

Thực tiễn là hoạt động vật chất Tất cả những hoạt động bên ngoài hoạt động tinh thầncủa con người đều là hoạt động thực tiễn.Nên tình cảm thực tiễn là tình cảm đối với các hoạtđộng thực tiễn của trẻ, các HĐ bên ngoài, hoạt động tinh thần điều là HĐ thực tiễn

Câu 10 Trong các loại tình cảm cấp cao của trẻ thì loại nào thể hiện rõ nhất? Chứng minh?

Hoạt động chủ đạo là: với đồ vật - -> ảnh hưởng đến tâm lý tương ứng phát triểnmạnh mẽ nhất: biểu hiện của tình cảm trí tuệ

Các biểu hiện cơ bản của tình cảm trí tuệ ở trẻ nhà trẻ:

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 11

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

11

Trang 12

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

- Thích thú, ngạc nhiên khi nhìn ngắm các đối tượng mới lạ - Thích thú thực hiệnhành động khám phá, tìm hiểu đối tượng đó

- Thích thú đặt câu hỏi và thích thú lắng nghe người lớn trả lời

- Thích thú trong hoạt động vui chơi và tạo ra các sản phẩm mới với đồ chơi mới đó(ví dụ cũng là trò chơi lắp ráp với những món đồ cũ là khối gỗ thì giờ trẻ ráp ra nhữngsản phẩm mới)

Câu 11 Con đường cơ bản để chúng ta hình thành nhu cầu cấp cao đến tình cảm cấp cao mang bản chất người?

 Con đường chính để hình thành nhu cầu là rèn luyện thói quen

Câu 12 Phân biệt giữa xúc cảm và tình cảm :

— Chỉ có ở con người Vd: cha mẹ nuôi

con bằng tình yêu thương, lo lắng, che chở

cho con suốt cuộc đời

— Là thuộc tính tâm lý Vd: tình yêu quê

hương, yêu Tổ quốc, yêu gia đình,

— Có tính chất ổn định và xác định, khó

hình thành và khó mất đi Vd: tình cảm giữa

cha mẹ và con cái Đâu phải mới sinh ra

đứa con đã biết yêu cha mẹ, phải trải qua

thời gian dài được cha mẹ chăm sóc thì đứa

con mới hình thành tình cảm với cha mẹ,

— Thường ở trạng thái hiện thực Vd:

— Thường ở trạng thái tiềm tàng Vd: cha

mẹ yêu thương con cái nhưng không nói ra,

mặc dù có lúc đánh mắng lúc con hư, nhưng

đối với cha mẹ thì luôn tiềm tàng tình yêu

thương dành cho con

— Gắn liền với phản xạ có điều kiện: có

được tình cảm phải trải qua quá trình tiếp

xúc, hình thành tình cảm Vd: Nếu một

người mẹ mà không ở bên cạnh, không chăm

sóc con mình thì tình cảm giữa hai mẹ con sẽkhông được sâu nặng hoặc có thể không được hình thành

buồn, vui,…

— Gắn liền với phản xạ không đều kiện Vd: sinh ra thì con chuột đã có tính sợ con

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 12

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

12

Trang 13

ÔN THI TÂM LÝ HỌC PHÁT TRIỂN 1

mèo, vì bản năng trong khi con chuột sinh ra

đã như vậy

A successful team is a group of many hands and one mind - Bill Bethel 13

Group Chung Sức Ôn Thi HK4 – K41.TLH |

13

Trang 14

Câu 13 Bản chất cấu trúc của thế giới nội tâm giai đoạn trẻ nhà trẻ?

Trong tâm hồn chúng ta có 2 mảng hiện tượng tâm lý cơ bản cốt lõi nhất là: đôichân tinh thần của mình (trí tuệ và tình cảm)

- Trí tuệ: lí lẽ của cái đầu

- Tình cảm : lí lẽ của con tim

Về trí tuệ: Ở đầu nhà trẻ (khoảng 1tuổi rưỡi), trẻ chưa có lý lẽ riêng, chưa biết lập

luận, suy nghĩ Cuối nhà trẻ, trẻ bắt đầu có lí lẽ, suy nghĩ riêng của mình thế giới nộitâm (bắt đầu có suy nghĩ riêng) Ví dụ: cha mẹ bé hỏi bé: ―buổi tối ba mẹ bế em bénhà kế bên sang nhà mình ngủ vs ba mẹ nha, con sang nhà kia ngủ‖, bé nói ― dạ đâu

có được, con là con của ba mẹ thì con phải ngủ vs ba mẹ, còn con của nhà bên kia thìphải ngủ ở bên kia chứ‖ ở giai đoạn cuối nhà trẻ, trẻ có suy nghĩ, còn trước đó trẻkhông trả lời đc chuyện này

Trong tình cảm: bắt đầu hình thành hệ thống động cơ hành vi, nghĩa là trong tình

cảm trẻ cũng có lí lẽ riêng của trái tim mình Ví dụ: Dì út hay đánh bé, mẹ hỏi ― con

có thương dì út không?‖, bé ―dạ không‖, mẹ ―con thương dì út đi mà‖, bé ―dạkhông, dì út đánh con, con ghét dì út lắm‖ lập luận riêng trong tình cảm xuất hiện vàocuối giai đoạn trẻ nhà trẻ (khoảng 3 tuổi), còn trước đó khoảng 1 tuổi- 1 tuổi rưỡi trẻchưa có

Tiền đề ở đây là: trẻ bắt đầu có lập luận, suy nghĩ riêng về mặt trí tuệ (nhận thức).Nhờ tác động của môi trường mà toàn bộ tâm lý của đứa bé phát triển,trong đó pháttriển hai mảng quan trọng nhất là trí tuệ (nhận thức) và tình cảm

Trong trí tuệ (nhận thức): phát triển nhận thức về tự nhiên, nhận thức về xã hội,nhận thức về những người khác, nhận thức về bản thân mình (trong đó có những biểuhiện nhận thức về giới tính)

Trong tình cảm: phát triển thái độ đối với tự nhiên, với xã hội, với người khác vàvới bản thân mình

Câu 14 Bản chất cấu trúc tâm lý của tự ý thức giai đoạn trẻ nhà trẻ? (nhắc đến giới tính)

Trang 15

Tâm lý

Tình cảm

Tự nhiên

Xã hội Người khác Bản thân

Trí tuệ

Bản thân Người khác

Tự nhiên

Xã hội

Ý thức

Tự

Ý thức

Câu 15 Ở khủng hoảng 3 tuổi, có các nhóm biểu hiện cơ bản nào (theo mức độ)?

- Biểu hiện

- Nguyên nhân

Trẻ muốn độc lập làm tất cả mọi thứ Xét những việc mà trẻ muốn độc lập so với

khả năng của trẻ: Những việc mà trẻ có thể làm được (vùng phát triển hiện tại), những

việc học có thể làm được (vùng phát triển gần nhất), những việc không thể làm cho

đến khi lớn (vùng phát triển tương lai)

Cốt lõi của mâu thuẫn bao gồm mong muốn độc lập mà khả năng làm không được,

mong muốn độc lập và bị người lớn cảnnguyên nhân khủng hoảng của tâm lý trẻ

- Giải pháp (giúp đứa bé vượt qua thời kì khủng hoảng 1 cách nhẹ nhàng):

Khi trẻ bị khủng hoảng, người lớn cần biết lắng nghe, chia sẻ, giúp trẻ giải quyết

(khủng hoảng 3 tuổi không thể tránh được, mà phải đương đầu với nó, vượt qua nó

để trưởng thành; tất cả mọi đứa trẻ khỏe mạnh về mặt tâm lý đều khủng hoảng trừ khi

là bé bị chậm phát triển trí tuệ hoặc có biểu hiện lệch lạc về giới tính)

Ví dụ: trẻ khóc bù lu bù loa suốt 20’-30’ cha mẹ phải đủ kiên nhẫn, sáng suốt

(không phải là đủ nghị lực) trong chuyện thương con ― biết thương quả ấu sẽ tròn,

không biết thương bù hòn sẽ méo‖ (ví dụ: bản chất ban đầu là đứa bé ngoan mà không

biết thương thì nó sẽ bị lệch lạc trong suy nghĩ, nhận thức, tình cảm; còn đứa bé có thể

Trang 16

đã lệch lạc rồi mà mình biết thương yêu nó đúng cách, đúng pp, đúng bài bản thì sẽtròn trịa trở lại về mặt tâm tính, về mặt bản chất

 Mối quan hệ của 3 tiền đề:

3 tiền đề gắn chặt với nhau: thế giới nội tâm + ý thức và tự ý thức  Nguyện vọngđộc lập Khủng hoảng

B LỨA TUỔI MẪU GIÁO

 TÓM TẮT KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

I HOẠT ĐỘNG CHỦ ĐẠO Ở TUỔI MẪU GIÁO

1 Hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo là vui chơi (đặc biệt là sắm vai theo chủ đề)

a Vui chơi là hoạt động chủ đạo

không chỉ vì trẻ mẫu giáo dành nhiều thời gian cho nó, mà chính là trò chơi màtung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề đã gây ra những biến đổi về chất trong tâm

lý của trẻ Nó chi phối các dạng hoạt động khác làm cho chúng mang màu sắc độc đáocủa tuổi mẫu giáo

b Đặc điểm:

1 Vui chơi là dạng hoạt động không mang tính bắt buộc, trẻ tham gia nhiệt tình do

chính sức hấp dẫn của trò chơi Động cơ chơi chính là quá trình chơi chứ không phải kết quả chơi

Ví dụ: Khi trẻ chơi trò bác sĩ thuần thục, trẻ sẽ chán và tìm trò khác, hoặc cũng vớidụng cụ bác sĩ, trẻ sẽ nghĩ ra luật chơi khác

2 Đối với trẻ, trò chơi là một dạng hoạt động mang tính tự lập Trong khi chơi, trẻ mẫu

giáo thể hiện rõ ý thức làm chủ (tự chọn chỗ chơi, bạn chơi, đồ chơi,…), nổ lực khắcphục các vấn đề phát sinh Để giáo dục trẻ tốt hơn, người lớn biến những yêu cầu giáodục thành trò chơi để trẻ tự trải nghiệm, như vậy vừa thỏa mãn nhu cầu, vừa đạt đượcmục đích giáo dục

3 Trong trò chơi đóng vai theo chủ đề, đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các thành viêntrong trò chơi với nhau Trò chơi đối với trẻ mẫu giáo thường phản ánh một mặt nào

đó của xã hội người lớn xung quanh, mà hoạt động của người lớn thì bao giờ cũng

Trang 17

mang tính chất xã hội Bởi vậy, để tiến hành một trò chơi nhằm mô phỏng lại đời sống

xã hội thì nhất thiết phải có nhiều trẻ em tham gia Tính hợp tác là một nét phát triển

mới, một nét tiêu biểu trong vui chơi của trẻ mẫu giáo

4 Trò chơi của trẻ vừa mang tính giả vừa mang tính thật Giả ở chỗ trẻ có thể mô

phỏng đồ vật (giấy là tiền, cái ghế là con ngựa,…) nhưng cũng thật ở chỗ trẻ sẽ môphỏng đúng hành động, phương thức, mối quan hệ,… diễn ra trong thế giới người lớn(động tác cưỡi ngựa giống thật,.)

5 Hoạt động vui chơi của trẻ mang tính sáng tạo cao Khi chơi, trẻ không áp dụng một

nguyên tắc cố định lên hoạt động chơi mà luôn tạo nên những nét mới lạ trong tròchơi Sáng tạo là một đặc điểm nổi bật, nhờ có sự sáng tạo các trò chơi trở nên phongphú, đa dạng, mới lạ và hấp dẫn hơn, làm nổi bật nét độc đáo ở trẻ tuổi mẫu giáo Vd: Trẻ sử dụng các nguyên liệu (như giấy, bìa, vỏ chai, màu,…) để tạo ra các đồdung, con vật hay nặn ra Trái Đất hình … tam giác

2 Cấu trúc của hoạt động sắm vai theo chủ đề

Ví dụ: Bé Na (4 tuổi) và bé Bo (4 tuổi rưỡi) là hai đứa bạn hàng xóm đang chơi

cùng nhau Các bé chơi trò gia đình, Na là Mẹ và Bo là con Na hái lá dâm bụt cắt nhỏcho vào hộp sữa chua (ăn xong rửa để dành chơi), bỏ lên cục gạch, lấy que đảo rồimúc ra, khi đặt xuống thì la nóng và lấy tay nắm vào tai:

- Bún riêu con thích nè.Con ăn đi cho nóng!

- Dạ, con mời mẹ Thơm quá mẹ ơi! – Bo đáp

Sau khi cả hai ―giả bộ‖ ăn, Bo dọn đổ ―thức ăn‖ vào thùng rác rồi Na rửa chén

a Chủ đề chơi và nội dung chơi

- Chủ đề chơi là mảng cuộc sống được trẻ phản ánh lại trong trò chơi (giađình)

- Nội dung chơi là các phần cụ thể của chủ đề chơi (bữa ăn)

b Vai chơi và các hoạt động của vai chơi

Trang 18

- Vai chơi là người lớn mà trẻ đóng trong trò chơi, trẻ tái hiện lại các hành động củangười lớn này Vai chơi thường là vai nghề nghiệp hoặc vị thế xã hội (vai mẹ vàvai con)

- Hành động của vai chơi là các hành động của người lớn được trẻ mô phỏng lại, cáchành động này thường gắn với các đồ vật, thể hiện qua cách thức trẻ sử dụng các

đồ vật đó (cắt rau, khuấy thức ăn, múc ra, dọn rửa…)

c Các mối quan hệ qua lại trong trò chơi

- Các mối quan hệ thực là mối quan hệ giữa trẻ với nhau (bạn bè hàng xóm)

- Các mối quan hệ chơi là quan hệ giữa các vai chơi với nhau (mẹ - con)

d Đồ chơi và hoàn cảnh chơi

- Đồ chơi là vật thay thế cho trẻ thao tác trong các hoạt động chơi (lá làmbún, chén muỗng đồ chơi, gạch làm bếp…)

- Tùy vào đồ chơi mà trẻ tưởng tượng ra các hoàn cảnh chơi khác nhau tươngứng (bưng đồ nóng, thức ăn thơm, dọn rửa )

3 Vai trò của hoạt động vui chơi

- Ảnh hưởng đến sự hình thành tính chủ định của quá trình tâm lí

- Ảnh hưởng thường xuyên tới sự phát triển của hoạt động trí tuệ

- Ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ

- Có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng

- Tác động rất mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo

- Phẩm chất ý chí được hình thành mạnh mẽ

II ĐẶC ĐIỂM TRÍ TUỆ

1 Hoạt động nhận cảm của trẻ mẫu giáo

Hoạt động nhận cảm của trẻ tiếp tục được hoàn thiện mau chóng nhờ bộ phận trungương của bộ máy phân tích phát triển và hệ thống tín hiệu thứ hai ngày càng tham gianhiều hơn vào quá trình nhận cảm

a Cảm giác

Tính nhạy cảm của cảm giác được nâng cao, hạ thấp ngưỡng cảm giác, cảm giáccủa trẻ ngày càng chính xác hơn, có tính tự giác hơn

Trang 19

b Tri giác

Tri giác không chủ định là chủ yếu: Trẻ hay tri giác cái gì gần gũi với trẻ, có liênquan đến nhu cầu, hứng thú của trẻ, do đó trẻ hay di chuyển chú ý, tri giác tản mạnkhông hệ thống Dưới ảnh hưởng của giáo dục tri giác có chủ định bắt đầu hình thành

và phát triển trong suốt tuổi mẫu giáo Trẻ biết tri giác theo sự hướng dẫn của ngườilớn và biết kiểm tra tri giác của mình theo yêu cầu đề ra Vì vậy trẻ tri giác lâu hơn vàđầy đủ hơn

Trẻ mẫu giáo đã dần dần tập được cách xem xét sự vật hiện tượng xung quanh mộtcách tỉ mỉ, có kế hoạch, nhờ vậy hình ảnh tri giác thực tại xung quanh nảy sinh trongđầu trẻ dần dần có nội dung phong phú và chính xác hơn

Trẻ chuyển dần từ áp dụng mẫu sự vật cụ thể sang sử dụng chuẩn nhận cảm phổbiến để so sánh những thuộc tính của đối tượng mới mẻ khi tri giác chúng làm trẻ địnhhướng chính xác hơn thuộc tính của đối tượng, hoạt động nhận cảm tinh vi hơn, chínhxác hơn, sâu sắc hơn

Tri giác của trẻ gắn liền với hoạt động, trong trường hợp sự vật hiện tượng mới mẻhoặc khó khăn trẻ chỉ tri giác sự vật hiện tượng đầy đủ, chính xác khi quá trình tri giácđược kết hợp với hành động

2 Sự phát triển các loại hoạt động nhận cảm

a Nhìn và nhận cảm các thuộc tính về màu sắc, hình dạng, độ lớn

Nhìn và nhận cảm các thuộc tính màu sắc, hình dạng

Nhìn chung trẻ mẫu giáo có khả năng nắm và sử dụng các chuẩn về màu sắc vàhình dạng của sự vật, hiện tượng Trẻ nắm được khá chính xác các màu trong quangphổ và các hình trong hình học Trẻ nắm và sử dụng các chuẩn nhận cảm này chủ yếutrong quá trình nắm các dạng hoạt động sáng tạo khác nhau (như vẽ, nặn, cắt dán, xâydựng, lắp ghép) Bản thân các vật liệu trẻ sử dụng khi vẽ, nặn, ghép hình, xây dựng

đã chứa đựng những màu về chuẩn nhận cảm màu sắc, hình dạng

Ví dụ: Khi vẽ trẻ phải sử dụng thuốc vẽ và màu được lựa chọn phù hợp với màu

của quang phổ, hay khi xây dựng trẻ dùng những khối gỗ hình tam giác, tròn, vuông

có độ lớn khác nhau, trong ghép hình trẻ dùng vật liệu ghép hình là những hình tròn,vuông, tam giác màu sắc khác nhau Khi dạy trẻ vẽ tranh, xây dựng người lớn bắtbuộc phải gọi tên các hình dạng và màu sắc cơ bản, trẻ phải khảo sát các thuộc tính,quan hệ, những biến dạng của hình, màu của vật mẫu

Khả năng phân biệt màu sắc, hình dạng của trẻ phát triển qua các độ tuổi:

Trang 20

Ví dụ: Ở đầu tuổi mẫu giáo trẻ phân biệt được màu đỏ xanh vàng trắng

-đen Nhận biết được các hình tròn - vuông - tam giác

Các hoạt động sáng tạo của trẻ ngày càng phức tạp, dần dần trẻ lĩnh hội thêmnhững chuẩn màu sắc và hình dạng

Cuối tuổi mẫu giáo trẻ phân biệt được các màu chính trong quang phổ, nhưng cácsắc thái còn lẫn lộn (như vàng và cam; xanh da trời và xanh lam ) Trẻ gọi tên vànhận biết thêm các hình chữ nhật, thang, bầu dục nhưng các dạng trung gian còn khó

phân biệt

Nhìn và nhận cảm các thuộc tính về độ lớn

Khác với chuẩn về màu sắc và hình dạng, các chuẩn độ lớn mang tính ước lệ, trigiác về độ lớn ở trẻ mẫu giáo được phát triển trên cơ sở lĩnh hội những biểu tượng vềquan hệ độ lớn giữa các vật Các quan hệ này được biểu thị bằng từ lớn hơn - nhỏhơn, lớn nhất - nhỏ nhất Vì vậy trẻ mẫu giáo lĩnh hội được chuẩn độ lớn còn khókhăn Khả năng lĩnh hội chuẩn độ lớn tăng dần qua các độ tuổi

Thường tuổi mẫu giáo bé trẻ chỉ nhận ra mối quan hệ độ lớn giữa 2 vật khi được trigiác chúng cùng một lúc: Lớn nhất - nhỏ nhất; lớn hơn – nhỏ hơn , trẻ khó xác định

độ lớn của 2 vật khi đứng riêng lẻ Ở tuổi mẫu giáo nhỡ đã có biểu tượng về quan hệ

độ lớn giữa 3 vật:

Lớn nhất - nhỏ hơn - nhỏ nhất và trẻ đã bắt đầu xác định được độ lớn của một số đồvật quen thuộc khi đứng riêng lẻ không cần phải so sánh chúng với các vật khác

Ví dụ: "Con voi lớn", "con ruồi nhỏ"

Trẻ mẫu giáo lớn ngoài chuẩn độ lớn, trẻ còn hình thành những biểu tượng về từngchiều: Chiều dài, chiều rộng, chiều cao

Nhờ sự giúp đỡ của người lớn, trong hoạt động được tổ chức một cách đặc biệt, trẻlĩnh hội được trong một hình dạng có thể thay đổi về độ lớn các góc, cạnh, trẻ nhận rađược độ lớn các chiều, các bộ phận trong hình

Tất cả những chuẩn nhận cảm màu sắc, hình dạng, độ lớn trẻ đều lĩnh hội trong quátrình hành động thực tiễn hàng ngày định hướng vào thế giới xung quanh và khôngphải bao giờ cũng được ý thức rõ và diễn đạt bằng lời Để hoạt động nhận cảm của trẻphát triển nhanh chóng khi tổ chức trẻ tham gia các hoạt động học tập, vẽ, nặn, xâydựng v.v Cô giáo cần hướng dẫn, khuyến khích trẻ vừa nhận biết, vừa gọi tên cácmàu, hình dạng, độ lớn chính xác

Trang 21

b Sự định hướng không gian và thời gian

Định hướng không gian

Trẻ mẫu giáo (3 tuổi) lấy mình "làm gốc" để xác định phương hướng Dưới sựhướng dẫn của người lớn trẻ đã bắt đầu phân biệt được đúng tay phải của mình đó là:Tay cầm thìa xúc cơm, tay cầm bút để vẽ Trẻ chỉ có thể xác định được mọi vị trí các

bộ phận khác trên cơ thể là "phải" hay "trái" dựa vào vị trí của tay phải Chẳng hạn tahỏi trẻ "mắt phải đâu" trẻ giơ tay phải ra rồi sau mới chỉ được mắt phải Vì vậy đối vớitrẻ "phải", "trái" mang tính cố định, trẻ không thể hiểu được một vật ở bên phải mìnhlại là bên trái người khác

Những định hướng khác của không gian (đằng trước, đằng sau) cũng được xác

định dựa vào bản thân mình

Sự hình thành biểu tượng không gian có liên quan mật thiết với sự lĩnh hội cáchdiễn đạt bằng lời các quan hệ đó, nó giúp trẻ tách biệt và ghi lại mỗi dạng quan hệ đó(bên trên, bên dưới), (đằng trước, đằng sau) trẻ lĩnh hội từng vế một, dựa vào vế này

để lĩnh hội vế kia Chỉ đến cuối tuổi mẫu giáo trẻ mới xác định hướng không giankhông phụ thuộc vào "điểm gốc" của bản thân Sự phát triển khả năng định hướng cóthể nhanh hơn nếu người lớn hướng dẫn trẻ tập xác định vị trí không gian của bản thântrẻ và đồ vật xung quanh một cách thay đổi và tập diễn đạt bằng lời những quan hệ đó

Định hướng thời qian

Định hướng thời gian đối với trẻ khó hơn định hướng không gian

Thời gian không có hình dạng cụ thể, không thể hành động gì với thời gian Từbiểu thị thời gian không ổn định cái ngày hôm nay gọi là ngày mà qua một đêm trởthành "hôm nay", cái ngày hôm qua gọi là "hôm qua" qua một đêm trở thành "hômqua" Vì vậy sự hình thành biểu tượng thời gian muộn hơn biểu tượng không gian và

nó có đặc điểm riêng của nó

Trẻ mẫu giáo bé chưa phân biệt được các buổi trong ngày và chưa hiểu được các từ

"bây giờ", "bao giờ" khác nhau như thế nào Trẻ mẫu giáo lớn đã phân biệt được cácbuổi trong ngày Khi lĩnh hội các biểu tượng về thời gian trong ngày trẻ phải dựa vàohoạt động sinh hoạt của bản thân trong ngày để định hướng và phân biệt được sáng,trưa, chiều, tối: Buổi sáng ngủ dậy, rửa mặt, ăn sáng, đi học, chơi, học Buổi trưa ăncơm trưa, ngủ trưa Buổi chiều ăn quà chiều, mẹ đón về Buổi tối ăn cơm tối, xem tivi,

đi ngủ Chính vì vậy để giúp trẻ lĩnh hội các biểu tượng thời gian trong ngày cô giáocần tổ chức tốt chế độ sinh hoạt, giờ nào việc nấy

Sự lĩnh hội các biểu tượng "hôm qua", "hôm nay", "ngày mai" khó khăn đặc biệt.Trong thời gian dài trẻ không thể nắm được tính chất tương đối của các biểu tượng đó

Trang 22

Nhờ sự hướng dẫn của người lớn lấy cái "hôm nay" làm gốc dạy cái "hôm qua" và cái

"ngày mai": Cái gì đang diễn ra thuộc về hôm nay, cái đã trải qua thuộc về hôm qua,cái sắp tới sẽ làm thuộc về "ngày mai" Đến nửa cuối tuổi mẫu giáo nói chung trẻ mới

có thể lĩnh hội được các ký hiệu thời gian đó và sử dụng chúng một cách đúng đắn Trẻ mẫu giáo chưa có khả năng lĩnh hội khoảng thời gian dài như tháng, năm,

thế kỷ

c Biện pháp phát triển hoạt động nhận cảm cho trẻ mầm non

1) Bảo vệ thần kinh và các giác quan cho trẻ bằng cách giữ gìn vệ sinh thân thể, phòngchữa bệnh kịp thời, thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt

2) Tích cực rèn luyện các giác quan cho trẻ

3) Dạy trẻ quan sát đối tượng một cách có hệ thống theo nguyên tắc: Từ tổng thể - chitiết – tổng thể

4) Tổ chức tốt các hành động định hướng bên ngoài với đối tượng cho trẻ, dần dần tạođiều kiện cho trẻ khảo sát các thuộc tính của đối tượng không cần hành động địnhhướng bên ngoài và yêu cầu trẻ diễn đạt điều quan sát được bằng ngôn ngữ mạch lạccủa trẻ qua việc tổ chức các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là các trò chơi, hoạt động tạohình, hát, múa

3 Sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo

a Đặc điểm chung của sự phát triển tư duy ở lứa tuổi mẫu gíao

Chúng ta đã biết, ở lứa tuổi vườn trẻ đã hình thành những cơ sở cho sự phát triển

tư duy của trẻ Trên cơ sở hình thức tư duy hành động trực quan, bắt đầu hình thànhhình thức tư duy hình tượng trực quan Đồng thời cac em cũng hình thành những kháiquát hóa đầu tiên dựa trên kinh nghiệm hoạt động có đối tượng thực tiễn của các em

và được cũng cố bằng từ ngữ Cuối tuổi vườn trẻ cũng như ở trên đã nói, cũng là thời

kì trẻ em bắt đầu lĩnh hội chức năng kí hiệu của ý thức khi các em biết dùng các đốitượng và các hình biểu diễn làm kí hiệu, làm vật thay thế các đối tượng khác

Ở tuổi mẫu giáo, trẻ em phải giải những bài toán ngày càng phức tạp và nhiềuhình nhiều nhiều vẻ hơn, đồi hỏi phải tách biệt và sử dụng những liên hệ và quan hệgiữa các đối tượng, hiện tượng và hành động Trong hành động vui chơi, vẽ, nặng, xâydựng, lúc hoàn thành những công việc học tập và lao động, trẻ em không chỉ giản đơn

sử dụng những hành động đã học mà còn không ngừng biến đổi các hành động để thuđược những kết quả mới

Ví dụ: khi các em dùng đất nặng để tạo ra một con vật hay hình thù gì đó thì

ccac1 em đã khám phá và vậng dụng các tính chất như độ ẩm độ bền, tính mềm dẻo để

Trang 23

nặng ra đồ vật đó Chính tư duy này giúp trẻ dự kiến được kết quả của hoạt động vàlập kế hoạch từng bước để thực hiện

Khi nhận thức của trẻ càng phát triển, bé càng sử dụng tư duy để nhận thức thếgiới giới xung quanh Đứa trẻ bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìmtòi cách giải thích những hiện tượng nhận xét được Trẻ mẫu giáo thường vận dụngnhững ―thực nghiệm ― của mình để làm sáng tỏ những vấn đề đang quan tâm, cac

em thường cham chú quan sát các hiện tượng, suy luân về các hiện tượng đó và rút rakết luận Trẻ có khả năng suy luận những hiện tượng không liên quan tới kinh nghiệmcủa bản thân, nhưng đã biết qua truyện kể của người lớn hoặc được nghe đọc trongsách

Ví dụ: Khi xem một buổi biểu diễn kịch‖ cô bé hoàng khăn đỏ‖ các em dễ dàng

nhận ra những nhân vật trong vỡ là có người đống giả vì niếu thật thì consói sẽ ăn thịttất cả mọi người

Nhưng không phải tất cả các suy luận của các em đều đúng Trẻ mẫu giáo dần hiểuđược những quan hệ phụ thuộc ẩn kín và phức tạp hơn nhiều Một trong những quan

hệ phụ thuộc rất quan trọng là quan hệ nhân quả

Người ta đã nghiên cứu trẻ mẫu giáo thuộc những lứa tuổi khác nhau xác định nguyên nhân các hiện tượng diễn ra trước mắt như thế nào và nhận thấy trẻ ba tuổi chỉ

có thể khám phá được những nguyên nhân là một tác động bên ngoài nào đó đến đối tượng (đụng vào bàn, bàn đổ ) Nhưng đến buốn tuổi, trẻ mẫu giáo đã bắt đầu hiểu rằng nguyên nhân của cac hiện tượng còn có thể nằm trong cac thuộc tính của bản thân đối tượng (bàn đổ vì nó chỉ có 1 chân) Ở tuổi mẫu giáo lớn, cac em bắt đầu vạch

ra những nguyên nhân của các hiện tượng chẳng những là các hiện tượng đập ngay vào mắt mà cả những thuộc tính cố hữu của đối tượng (bàn đỗ vì nó đứng 1 chân, vì phần bên này nhiều hơn, vì nặng quá nó không chịu nổi)

Đến cuối tuổi mẫu giáo, các em đã phát triển khả năng giải các bài toán khá phứctạp, đồi hỏi một số liên hệ và quan hệ cơ học, vật lý,… Kỹ năng vận dụng tri thức vềcác liên hệ và quan hệ đó trong điều kiện mới

Ví dụ: chúng ta có thể hỏi trẻ cách để tạo ra một viên đá…

Thu lượm tri thức là điều kiện bắt buộc phải có để phát triển tư duy trẻ em Một

số tri thức các em thu được trực tiếp từ người lớn, một số khác các em thu lượm quakinh nghiệm quan sát và hoạt động của bản thân được người lớn chỉ đạo và hướngdẫn Khi một tri thức mới dược lĩnh hội, nó sẽ tham gia vào sự phát triển tiếp tục của

tư duy và được sử dụng để giải quyết những bài toán mới

Trang 24

Cơ sở của sự phát triển tư duy là hình thành và hoàn thiện các hoạt động tư duy.Việc nắm các hành động tư duy ở lứa tuổi mẫu giáo diễn ra theo quy luật chung của sựlĩnh hội và nhập tâm các hành động định hướng bên ngoài

Khi hành động với các hình tượng trong óc đứa trẻ hình dung được hành độnghiện thực với cac1 đối tượng và kết quả của hành động, bằng con đường đó trẻ giải bàitoán đặt ra cho mình, đó là tư duy hình tượng trực quan Tư duy từu tượng tuân theonhững quy tắc do khoa học logic nghiên cứu vì vậy còn gọc là tư duy logic

b Sự phát triển tư duy hình tượng của trẻ mâũ giáo

Tư duy hình tượng là dạng tư duy cơ bản của trẻ mẫu giáo, ở những hìh thức cơbản nhất tư duy này thể hiện ngay ở tuổi vườn trẻ khi các em giải những bài toán thực

tế có liên quan với hoạt động có đối tượng, với việc sử dụng những công cụ đơn giảnnhất Đến đầu tuổi mẫu giáo trẻ em chỉ giải nhẫm trong óc được những bài toán trong

đó hành động tiến hành bằng tay hay với công cụ nhằm trực tiếp đạt một kết quả thựctiễn: chuyển dời vậy sử dụng hay biến đổi vật

Khi giải bài toán có kết quả gián tiếp, bắt đầu hình thành hình thức tư duy sơ đồtrực quan Đây là hình thức trước tiên tạo khả năng phản ánh những mối liên hệ vàquan hệ tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào hành động hay ý muốn, ý định củabản thân đứa trẻ

Tư duy sơ đồ trực quan vẫn giữ tính chất hình tượng, nhưng bản thân các hình tượng

đã trở nên khác trước: trong đó phản ánh không phải là từng sự vật riêng lẽ, các thuộctính của chúng mà là liên hệ, quan hệ giữa các sự vật và các thuộc tính

Có nhiều dạng tri thức trẻ không thể lĩnh hội được trên cơ sở sự giải thích bằng lờicủa người lớn hay trong quá trình hành động có đối tượng do người lớn tổ chức, song

có thể lĩnh hội dễ dàng nếu người ta cung cấp cho các em trii thức đó dưới dạng nhữnghành động với các sơ đồphản ánh những nét bản chất của hiện tượng cần nghiên cứu Như vậy, trong điều kiện dạy học thích hợp, tư duy sơ đồ trực quan sẽ trở thành cơ

sở để trẻ mẫu giáo lĩnh hội các tri thức khái quát

Các hình thức sơ đồ trực quan của tư duy vẫn là những hình thức trừu tượng vàbọc lộ hạn chế của chúng khi đứa trẻ gặp những bài toán đồi hỏi phải tách biệt nhữngthuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ không thể hình dung một cách trực quandưới dạng những hình tượng

c Sự lĩnh hội các hình thức logic của tư duy

Tiền đề cho sự phát triển tư duy logic, cho sự lĩnh hội các hành động với các từ,các số xem như những kí hiệu thay thế cho các sự vật và tình huống hiện thực, nảy

Trang 25

sinh vào cuối lứa tuổi vườn trẻ, khi ở trẻ em bắt đầu hình thành chức năng kí hiệu của

ý thức

Những phát biểu bằng lời của bản thân đứa trẻ, ngay cả trong thời kì chúng ta chỉ

đi kèm với hành động thực tiễn chứ không đi trước chuẩn bị cho hành động thực tiễn,giúp đứa trẻ thông hiểu tiến trình và kết quả của hành động này, giúp các em tìm tòicon đường giải các bài toán

Muốn lời nói trở thành một phương tiện độc lập của tư duy, cho phép những bàitoán trí tuệ mà không cần sử dụng đến hình tượng, trẻ em phải lĩnh hội đượcnhữngkhái niệm mà loài người xây dựng nên, tức là những tri thức về các dấu hiệu chung vàbản chất của các đối tượng vá hiện tượng của hiện thực được củng cố trong các từ Các khái niệm được kết hợp với nhau thành một hệ thống chặt chẽ cho phép một trithức này suy ra một tri thức khác và do đó giải các bài toán tư duy mà không cần sửdụng đến các đối tượng hay hình tượng Chẳng hạn, nếu biết quy luật chung là tất cảcác động vật có vú đều thở bằng phổi và sau khi được biết các voi là một động vật có

vú chúng ta sẽ suy ra ngay kết luận là cá voi có phổi

Qúa trình hình thành khái niệm tiếp sau đó là tổ chức cho các em chuyển từ hànhđộng định hướng bên ngoài sang những hành động nhẫm trong óc

Trong chương nói về quy luật cung của sự phát triển tâm lí, đã nói rằng tuổi mẫugiáo đặt biệt nhạy cảm, phát cảm với sự học tập phát triển tư duy hình tượng, vì vậymuốn tăng mức độ nắm các hình thức logic của tư duy ở lứa tuổi này đều không hợp

Kết luận: Lứa tuổi mẫu giáo là lứa tuổi phát cảm nhất đối với việc học tập dựa trên

hình tượng Đối với tư duy trừu tượng, tư duy logic thì chỉ nên sử dụng khả năng hìnhthành tư duy này ở chừng mực cần thiết để giới thiệu với trẻ một số tri thức khoa họcchứ đừng cố tìm cách nhất thiết phải làm cho toàn bộ tư duy của trẻ có tính chất logic

4 Sự phát triền Trí tưởng tượng của trẻ mẫu giáo

Trí tưởng tượng chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong

+ Đầu tuổi mẫu giáo (và ngay cả ở cuối tuổi ấu nhi ) tưởng tượng của trẻ khôngtách khởi trí giác đối tượng và hành động với đối tượng

+ Cuối tuổi mẫu giáo, trí tưởng tượng có thể dựa vào cả những vật không giốngnhau, thậm chí khác hẳn để làm vật thay thế Về sau các em không cần đến những chỗdựa bên ngoài nữa mà chuyển vào trí tưởng ngầm trong óc

Trang 26

Có thể nhận định rằng con đường phát triển trí tượng ở trẻ là từ bình diện bênngoài chuyển vào bình diện bên trong theo cơ thế ― nhập tâm ― như mọi chức năngtâm lí khác

Trí tưởng tượng có chủ định và không có chủ định

+ Tưởng tượng của trẻ mẫu giáo phần lớn là không có chủ định, không nhằm vàomục đích đề ra từ trước

+ Đến cuối tuổi mẫu giáo, tưởng tượng có chủ định mới hình thành rõ nét, đượcthể hiện nhiều nhất trong các dạng hoạt động mang tính sáng tạo như vẽ, nặn, trò chơixây dựng… lúc này trẻ bắt đầu có khả năng hành động theo ý đồ định trước Tính chủđịnh còn cho phép trẻ điều chỉnh hành động của mình bằng ngôn ngữ trong nhữnghoạt động ấy Chính vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo cũng chính làlàm tăng tính chủ định trong hoạt động tâm lí, đặc biệt là phát triển trí tưởng tượng cóchủ định

+Cuối tuổi mẫu giáo, trí tưởng tượng sáng tạo của trẻ được phát triển khá mạnh với

sự hỗ trợ đắc lực của quá trình tri giác Nếu đứa trẻ có khả năng quan sát tốt sự vật vàhiện tượng của thế giới xung quanh thì trí tưởng tượng, nhất là tưởng tượng sáng tạo

sẽ phát triển được thuận lợi, bởi tri giác là nguồn cung cấp ― chất liệu ― cho hoạtđộng của trí tưởng tượng sáng tạo

VD : như muốn phi ngựa thì dùng chiếc gậy hay tàu cau, muốn lái đoàn tàu thì xếpmấy chiếc ghế nối đuôi nhau, muốn làm công chúa thì tha hồ tự trang điểm bằng hoatai, vòng vàng xuyên bạc được tết bằng hoa

5 Sự phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo

Lứa tuổi mẫu giáo lớn là ―giai đoạn phát cảm‖ về trí nhớ song trí nhớ của trẻ chưahoàn thiện, điều đó gây nên những khó khăn cho trẻ khi tập trung kiến thức Vì vậykhi dạy con, việc hiểu được năng lực trí nhớ, đặc biệt là trí nhớ hình ảnh của bé có ýnghĩa rất quan trọng để các bậc làm cha làm mẹ hỗ trợ bé trong quá trình học tập, hìnhthành và phát triển nhân cách cho trẻ

a phát triển khả năng ghi nhớ và nhớ lại

Trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển, trẻ ghi lại được khá nhiều những ấntượng một cách không chủ định khi tham gia vào các hoạt động

Trí nhớ không chủ định là chủ yếu Trẻ ghi nhớ những gì có ý nghĩa quan trọngtrong đời sống của trẻ, cái gì trẻ thích thú, cái gì gây cho trẻ ấn tượng mạnh mẽ rõ rệt.Trẻ không đặt ra cho mình nhiệm vụ, mục đích ghi nhớ Các sự vật, hiện tượng đượctrẻ nhớ một cách tự nhiên trong quá trình hoạt động hay vui chơi với các đồ vật đó

Trang 27

Ví dụ: Ta đưa cho trẻ đồ chơi (đồ chơi nấu ăn, các khối gỗ nhỏ không đặt chotrẻ nhiệm vụ ghi nhớ đặc biệt nào), trẻ chơi với những vật ấy, dùng chúng để nấu ăn,

để xây dựng thì trẻ sẽ nhớ rất lâu

Muốn trẻ nhớ kỹ một tài liệu nào đó cần tổ chức cho trẻ hoạt động với tài liệu ấy

Ví dụ: Muốn trẻ nhớ các loại đồ dùng trong gia đình ta cho trẻ được xếp chúngvào các nhóm thì trẻ sẽ nhớ kỹ hơn, tốt hơn là chỉ để cho trẻ nhìn nó không

Ngay khi cùng nhau vui chơi, học tập cô luôn đề ra yêu cầu cho trẻ Vì vậy mà bêncạnh ghi nhớ không chủ định thì trí nhớ có chủ định bắt đầu hình thành ở mẫu giáonhỡ và phát triển nhanh ở mẫu giáo lớn Lúc đầu trí nhớ có chủ định của trẻ chưa hoànthiện lắm, trẻ nắm được yêu cầu, nhiệm vụ cần ghi nhớ, nhưng trẻ chưa nắm đượcbiện pháp ghi nhớ và chưa biết làm gì để ghi nhớ tốt hơn

Sự phát triển trí nhớ có chủ định có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho trẻvào học ở trường phổ thông

Ở trẻ mẫu giáo, ghi nhớ máy móc là chủ yếu, trẻ nhớ nhờ sự lặp đi lặp lại nhiều lần

mà không cần hiểu nội dung cần ghi nhớ Nhờ có sự hướng dẫn của cô, khi tổ chứccác hoạt động giáo dục cô luôn chú ý giải thích, giúp trẻ tìm hiểu nội dung tài liệutrước khi ghi nhớ nên ghi nhớ có ý nghĩa bắt đầu hình thành và phát triển ở trẻ Trẻ bắtđầu tìm hiểu được mối liên hệ của sự vật, hiện tượng và bước đầu vận dụng nhữnghiểu biết đơn giản vào các hoạt

b Sự phát triển các loại trí nhớ

Trong lứa tuổi mẫu giáo, trí nhớ trực quan hình tượng là chủ yếu, những tài liệutrực quan (sự vật và hình ảnh của nó) được trẻ ghi nhớ tốt hơn nhiều so với tài liệungôn ngữ Sự vật được trẻ nhớ lại, hình dung lại một cách sinh động, sáng tỏ như trẻđược tri giác lại sự vật đó một lần nữa

Đồng thời trí nhớ ngôn ngữ bắt đầu hình thành ở trẻ mẫu giáo Trẻ chỉ nhớ những

từ cụ thể, không nhớ được những từ trừu tượng (vì trẻ không hiểu hết ý nghĩa của nó).Trong tài liệu ngôn ngữ, những gì được mô tả hình tượng, đặc biệt là mô tả có tínhchất diễn cảm được giữ lại trong trí nhớ tốt hơn nhiều (so với những lời mô tả khôkhan) Như những sự kiện nào đó trong câu chuyện nghệ thuật được diễn tả một cáchsinh động, diễn cảm, đi sâu vào tình cảm trẻ ghi nhớ lâu hơn, nhưng khi mô tả khôkhan về những sự kiện ấy thì sẽ bị trẻ quên ngay lập tức

Trí nhớ vận động, rất quan trọng đối với trẻ nó tạo điều kiện cho trẻ học tập và laođộng sau này Ở trẻ 4 - 6 tuổi đã hình thành một số kỹ xảo lao động tự phục vụ, kỹxảo thể dục (chạy, nhảy ), kỹ xảo học tập (cầm kéo, cắt dán, cầm bút vẽ)

Trang 28

T m lại: Khối lượng ghi nhớ, tính chính xác, tính bền vững, tính hệ thống của trí

nhớ được tăng dần qua các độ tuổi và phụ thuộc vào tính chất của tài liệu, tính tích cựchoạt động và các dạng hoạt động khác nhau Trí nhớ của trẻ được tiếp tục phát triểntrong suốt tuổi đi học ở phổ thông Nhờ ảnh hưởng của việc học tập có hệ thống, trínhớ có chủ định mới chỉ có mầm mống ở tuổi mẫu giáo sẽ được phát triển ở mức độcao, đồng thời các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa cũng được hoàn thiện dần

c Biện pháp rèn luyện trí nhớ cho trẻ mầm non:

 Đảm bảo nguyên tắc trực quan và sử dụng khéo léo phương pháp trình bày trựcquan nhằm gây hứng thú cho trẻ

 Tạo điều kiện cho trẻ tham gia hoạt động khác nhau để hình thành tính tích cựccủa trẻ trong việc ghi nhớ

 Cần cho trẻ ôn tập, củng cố các bài học thường xuyên

 Khối lượng tài liệu, tính chất tài liệu cần quy định sao cho phù hợp với từng độtuổi của trẻ

6 Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo

a Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo

Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo có những bước phát triển về chất:

Do sự xuất hiện nhiều mối quan hệ giao tiếp với những người xung quanh nênngôn ngữ của trẻ phát triển nhanh

 Vốn từ được mở rộng

 Trẻ đã sử dụng tương đối đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ

 Trẻ đã biết sử dụng những sắc thái biểu cảm qua lời nói, như thay đổi giọng điệu,ngữ điệu, nhịp điệu khi giao tiếp

- Trong suốt lứa tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ được tiếp tục phát triển mạnh: ngữ âmđược hoàn thiện dần, vốn từ được mở rộng, trẻ sử dụng tương đối đúng ngữ pháptiếng mẹ đẻ

- Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo diễn ra trong mối quan hệ với sự phức tạphóa hoạt động của trẻ và sự biến đổi các quan hệ với những người xung quanh, đặcbiệt là trong giao tiếp

Ví dụ: khi trẻ nói ―con là gấu con, còn bố là gấu bố‖ Bố: ―thế nếu bố là sư tử thìcon là gì?‖ Trẻ nói: ―thì con là sư tử con‖

- Trẻ mẫu giáo có nhiều khả năng thu thập tri thức phong phú và đa dạng, có tính tự chủcao hơn tuổi ấu nhi Hơn nữa, việc phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo còn liên quanchặt chẽ với sự phát triển tư duy, đặc biệt là sự chuyển biến từ kiểu tư duy trực quan -hành động sang kiểu tư duy trực quan - hình tượng, kiểu tư duy bắt đầu có lập luận

Trang 29

trong óc Tất cả những cái đó kích thích trẻ vươn tới nắm các phương tiện ngôn ngữcàng phong phú, chính xác, chuyển sang một bước mới trong sự phát triển ngôn ngữ

- Từ vựng của trẻ mẫu giáo tăng lên rất nhanh (từ 300 - 400 từ đầu tuổi mẫu giáo bétăng lên 3000 - 4000 từ ở giữa tuổi mẫu giáo)

- Lứa tuổi mẫu giáo là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượngngôn ngữ ; điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ nhanh, và đếncuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành

thạo trong sinh hoạt hàng ngày

Ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo dần dần phát triển hoàn thiện theo các hướng sau đây:

Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ:

Ở tuổi mẫu giáo, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng trong những nămtrước đây, cơ quan phát âm đã trưởng thành đến mức trẻ có thể phát ra những âmtương đối chuẩn, kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ khi nói năng Chỉ trong trườnghợp bộ máy phát âm của trẻ bị tổn thương, hay do chịu ảnh hưởng của lời nói ngọngcủa người lớn trong địa phương, thì trẻ mẫu giáo lớn mới phạm nhiều lỗi trong việcnắm vững ngữ âm của tiếng mẹ đẻ

Trẻ mẫu giáo dần dần cũng đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nộidung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể

Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp

Vốn từ của trẻ mẫu giáo tích lũy được khá phong phú không những chỉ về danh từ

mà cả về động từ, đại từ, tính từ, liên từ… Trẻ nắm được từ của tiếng mẹ đẻ đủ để diễnđạt các mặt trong đời sống hàng ngày

Sự lĩnh hội ngôn ngữ được quyết định bởi tính tích cực của bản thân trẻ đối vớingôn ngữ Những trẻ em mà năng giao tiếp, năng tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ thìkhông những hiểu từ ngữ và nắm vững ngữ pháp một các vững vàng, làm cho vốn từđược tích cực hóa mà còn ―sáng tạo‖ ra những từ ngữ, những cách nói chưa hề cótrong ngôn ngữ của người lớn

Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc

Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện một trình độ phát triển tương đối cao không những vềphương diện ngôn ngữ mà cả về phương diện tư duy nữa Tư duy phát triển là điềukiện vô cùng quan trọng để phát triển ngôn ngữ mạch lạc Ngược lại ngôn ngữ mạchlạc phát triển lại là điều kiện không thể thiếu được để phát triển tư duy, nhất là tư duylôgic Mối quan hệ này của ngôn ngữ và tư duy sẽ tồn tại vững chắc trong những bướcphát triển sau này ở mỗi người

Ở tuổi mẫu giáo bé và ngay đầu tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ thường hay sử dụng ngônngữ tình huống là chủ yếu Khi giao tiếp với những người xung quanh, trẻ sử dụngnhiều yếu tố trong tình huống giao tiếp để hỗ trợ cho ngôn ngữ của mình Như vậy chỉ

Trang 30

có những người đang giao tiếp với trẻ lúc đó mới hiều được trẻ muốn nói gì Dần dầncuộc sống đòi hỏi trẻ cần phải xây dựng cho mình một kiểu ngôn ngữ khác, ít phụthuộc vào tình huống hơn, nhất là khi trẻ cần phải mô tả lại cho người khác nhữngđiều mà mình đã mắt thấy tai nghe Ở đây trẻ phải nói năng sao cho người khác có thểhình dung được những điều mình định mô tả mà không thể dựa vào tình huống cụ thểtrước mắt Kiểu ngôn ngữ này là ngôn ngữ ngữ cảnh, mang tính rõ ràng, rành mạc.Tuy vậy, khi đã nắm vững ngôn ngữ ngữ cảnh rồi, trẻ mẫu giáo lớn vẫn còn sử dụngngôn ngữ tình huống để giao tiếp với người xung quanh

Một kiểu ngôn ngữ khác cũng đang phát triển trong độ tuổi mẫu giáo, đó là kiểungôn ngữ giải thích Ngôn ngữ giải thích đòi hỏi đứa trẻ phải trình bày ý kiến củamình theo một trình tự nhất định, phải nêu bật những điểm chủ yếu và những mốiquan hệ liên kết các sự vật và hiện tượng một cách hợp lí để người nghe dễ đồng tình,

có nghĩa là nó yêu cầu phải có tính chặt chẽ và mạch lạc, do đó còn gọi là ngôn ngữmạch lạc

Kiểu ngôn ngữ mạch lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hình thànhmối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ em và với những người xung quanh, đặc biệt là đốivới sự phát triển trí tuệ của trẻ

b Sự phát triển các chức năng của ngôn ngữ:

Ngôn ngữ và giao lưu

Một trong những chức năng cơ bản của ngôn ngữ được phát triển ở tuổi mẫu giáo

là chức năng giao lưu Ngay từ tuổi vườn trẻ, trẻ em đã biết sử dụng ngôn ngữ làmphương tiện giao lưu Sự giao lưu trong trường hợp này nảy sinh nhân một tình huống

cụ thể mà người lớn và bản thân đứa trẻ cũng tham gia trong tình huống đó Ngôn ngữnày là những câu hỏi nảy ra liên quan với hoạt động hoặc khi tìm hiểu nhũng đốitượng hay hiện tượng mới, là những câu trả lời cho các câu hỏi,và cuối cùng, là nhữngyêu cầu nào đó

Những người đang nói chuyện với nhau thì hoàn toàn hiểu rõ ngôn ngữ tìnhhuống, nhưng thường những người ngoài cuộc không nắm được tình huống thì khônghiểu nổi Một trường hợp điển hình đối với ngôn ngữ tình huống là bỏ chủ ngữ chủngữ được thay thế bằng đại từ Do ảnh hưởng của người xung quanh, trẻ em bắt đầuchỉnh đốn ngôn ngữ tình huống thành một ngôn ngữ dễ hiểu hơn đối với người nghe

Ở trẻ mẫu giáo lớn, bắt đầu xuất hiện cấu trúc ngôn ngữ điển hình, lúc đầu em dungđại từ ―nó‖, nhưng về sau dường như thấy sự trình bày của mình không rõ ràng, emdùng danh từ để thuyết minh cho đại từ: ―nó (cô gái) đi‖, ―nó (con bò) húc‖, ―nó(chó sói) vồ‖, ―nó (quả bóng) lăn‖…trẻ em dần dần nắm được ngôn ngữ ngữ cảnhcùng với việc mở rộng phạm vi giao lưu và sự phát triển của hứng thú nhận thức, thuật

Trang 31

lại một sự kiện lí thú hay mô tả một sự vật mà không trình bày rõ rang khúc chiết thìngười nghe không thể hiểu được đứa trẻ bắt đầu tự đề ra cho mình những yêu cầunhất định và cố gắng tuân theo những yêu cầu đó khi nói năng

Dần dần, trẻ em càng sử dụng hoàn thiện và đúng lúc hơn khi thì ngôn ngữ tìnhhuống, khi thì ngôn ngữ ngữ cảnh tùy theo điều kiện và tính chất giao lưu

Ngôn ngữ và tư duy

Trong thời gian tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ em biến thành phương tiện đặt kếhoạch và điều chỉnh hành vi thực tiễn của các em Đó là chức năng thứ hai của ngônngữ ngôn ngữ bắt đầu hoàn thành chức năng này là do nó hòa nhập với tư duy của trẻ

Tư duy của trẻ em ở lứa tuổi vườn trẻ tham gia vào hoạt động thực tiễn có đốitượng của các em Còn ngôn ngữ thì biểu hiện trong quá trình giải các ―bài toán‖dưới dạng những yêu cầu người lớn giúp đỡ

Trong thời gian tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ em biến thành phương tiện đặt kếhoạch và điều chỉnh hành vi thực tiễn của các em Đó là chức năng thứ hai của ngônngữ ngôn ngữ bắt đầu hoàn thành chức năng này là do nó hòa nhập với tư duy của trẻ

Tư duy của trẻ em ở lứa tuổi vườn trẻ tham gia vào hoạt động thực tiễn có đốitượng của các em Còn ngôn ngữ thì biểu hiện trong quá trình giải các ―bài toán‖dưới dạng những yêu cầu người lớn giúp đỡ

7 Sự phát triển chú ý của trẻ mẫu giáo

a Chú ý không chủ định

Trẻ ở tuổi mẫu giáo chú ý không chủ định là chủ yếu, trẻ thường chú ý đến nhữngđối tượng gây kích thích mạnh hoặc gây cho trẻ sự ngạc nhiên, nhất là tạo ra một sựhứng thú

Chẳng hạn, khi tìm hiểu môi trường xung quanh những đối tượng xuất hiện bất ngờ,mới lạ thường gây cho trẻ chú ý tới nó, xem xét nó hoặc câu chuyện cô kể dưới hìnhthức sinh động hấp dẫn sẽ gây cho trẻ sự chú ý nghe câu chuyện cô kể

Việc tổ chức các hoạt động giáo dục có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển chú

ý không chủ định của trẻ Bằng cách gây ấn tượng mạnh bằng yếu tố bất ngờ, mới lạ,hấp dẫn của sự vật hiện tượng mới cô "bắt" trẻ tập trung chú ý của mình vào các sự vậthiện tượng ấy một cách không chủ định

Nếu ở trẻ mẫu giáo chú ý không chủ định phát triển tới mức cao thì chú ý có chủđịnh của trẻ mới bắt đầu hình thành khi người lớn tổ chức hoạt động của trẻ trong đó

có xác định rõ nhiệm vụ cho trẻ, có sự nhắc nhở để trẻ thực hiện nhiệm vụ

Trang 32

Để phát triển chú ý có chủ định ở trẻ cần tổ chức các hoạt động cho trẻ tham gia,trong đó cần xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ cần thực hiện, hướng dẫn trẻ thực hiện đếncùng nhiệm vụ được giao

Nhưng tính bền vững chú ý của trẻ mẫu giáo còn phụ thuộc vào từng đối tượnghoạt động Nếu đối tượng sinh động, hấp dẫn, liên quan đến nhu cầu, hứng thú của trẻ

và đòi hỏi sự tham gia tích cực của trí tuệ, đặc biệt khi trẻ được tiếp xúc hoạt động vớiđối tượng thì tính bền vững chú ý cao hơn

Khối lượng chú ý

Ngôn ngữ được phát triển, tính độc lập cao trong hành vi của trẻ, hoạt động của trẻ

đa dạng làm phát triển mạnh khối lượng chú ý của trẻ mẫu giáo Khối lượng chú ý củatrẻ tăng qua các độ tuổi Trẻ 3 tuổi chú ý 1 - 2 đối tượng trong một thời gian Trẻ lớnchú ý 2 - 3 đối tượng trong cùng một thời gian rõ như nhau

Sự di chuyển chú ý

Trẻ dễ di chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác

c Các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mầm non

 Tổ chức môi trường sống và hoạt động cho trẻ đảm bảo yên tĩnh, tạo điều kiệnsinh động, tránh thay đổi nhiều làm phân tán chú ý

 Tổ chức tốt các hoạt động cho trẻ, nội dung phong phú, thích hợp với trẻ, hìnhthức sinh động, hấp dẫn Phương pháp hướng dẫn của giáo viên phù hợp với độtuổi, khéo léo, tạo ra yếu tố bất ngờ Trong đó giáo viên phải giao nhiệm vụ cụthể, yêu cầu trẻ thực hiện để phát triển chú ý có chủ định cho trẻ

 Phải bao quát lớp, phát hiện cháu chưa chú ý để nhắc nhở

III ĐẶC ĐIỂM TÌNH CẢM CỦA LỨA TUỔI MẪU GIÁO

1 Đời sống tình cảm

Trang 33

a Những đặc điểm tình cảm của trẻ mẫu giáo

Trong lứa tuổi mẫu giáo:

+ Tình cảm thống trị tất cả các mặt trong đời sống của trẻ  khiến chúng có 1 màu sắc, 1 bộ mặt riêng

+Đứa trẻ chưa điều khiển những tình cảm của mình  tình cảm xâm chiếm đứa trẻ

biến đứa trẻ thành ―tù nhân‖ của tình cảm ấy

Đối với người lớn (những người xung quanh):

Tình cảm của trẻ được biểu hiện ra bên ngoài mang tính chất mạnh mẽ hơn, trựctiếp và không chủ định hơn so với người lớn

Tình cảm ở trẻ bùng nổ 1 cách nhanh chóng và rõ ràng, tắt đi cũng nhanh chóngkhông kém

 Nguồn tình cảm mạnh nhất và quan trọng nhất của đứa trẻ là những mối quan hệqua lại giữa nó và những người khác

Sự yên ổn về mặt cảm xúc trong các mối quan hệ của trẻ sẽ góp phần phát triểnnhân cách bình thường của đứa trẻ, hình thành phẩm chất tích cực, thái đô thiện chí Nguồn tình cảm khác đến từ đồ vật, động vật, cây cối, đồ chơi, các hiện tượng tựnhiên, các đối tượng, qua đó trẻ tìm hiểu hoạt động, tình cảm ở con người và gánchúng cho tất cả các đối tượng

Hành vi của người khác đối với đứa trẻ luôn gây ra những tình cảm muôn màumuôn vẻ ở trẻ Một mặt, đứa trẻ thể nghiệm 1 cách mạnh mẽ sự âu yếm, khen ngợi vàcũng thể nghiệm mạnh mẽ sự buồn rầu mà người khác gây ra

Trẻ thể nghiệm những tình cảm âu yếm đối với người thân: cha mẹ, anh chị em trẻ thể hiện sự quan tâm, thông cảm với họ

Đặc biệt, ở trẻ mẫu giáo lòng yêu mến và sự thông cảm với những đứa trẻ khác dễdàng xuất hiện và được bộc lộ rõ ràng

Đứa trẻ vô tình đặt mình vào địa vị của người khác mà đứa trẻ gắn bó, thể nghiệm

sự đau đớn, sự bất công mà người khác phải gánh chịu như là chính nỗi đau của mìnhvậy

Đối với các nhân vật trong các câu chuyện kể:

Tình cảm của trẻ đối với người khác dễ dàng được trẻ chuyển sang cả những nhânvật của các tác phẩm nghệ thuật- những câu chuyện cổ tích, truyện kể  trẻ có thể xemnhân vật trong đó như 1 người thực

Trang 34

Trẻ có thể nghe đi nghe lại 1 câu chuyện nhưng tình cảm không yếu đi mà còn trởnên mạnh mẽ hơn

Tình cảm bộc lộ nhất của trẻ mẫu giáo nghe kể chuyện đó là sự thông cảm với tất

cả những nhân vật bất hạnh

Những nhân vật tích cực gây ra sự thông cảm đặc biệt của đứa trẻ, nhưng đôi khitrẻ có thể tiết thương cả những kẻ độc ác nếu như họ không bị rơi váo hoàn cảnh rấtxấu

Thông thường trẻ tức giận về những hành động của các nhân vật tiêu cực, mongmuốn bảo vệ nhân vật mà đứa trẻ yêu thích, chống lại các nhân vật tiêu cực

Những tình cảm khi đứa trẻ nghe chuyện cổ tích, biến trẻ từ một người nghe thụđộng thành 1 người tham gia tích cực vào các sự kiện

VD: Lo sợ trước những sự kiện sắp tới trẻ sẽ yêu cầu gập sách lại và dừng đọchay trẻ sẽ nghĩ ra cách giải quyết theo quan điểm tốt hơn cho phần còn lại cho câuchuyện nhiều khi trẻ sắm vai nhân vật

Khi cho trẻ xem tranh ảnh minh họa cho câu chuyện, trẻ mẫu giáo cố can thiệp vàodiễn biến của các sự kiện, bôi mực lên các nhân vật tiêu cực hay nhũng tình huống đedọa nhân vật

b Sự sợ hãi trong đời sống tình cảm ở trẻ mẫu giáo:

Chiếm 1 vị trí đặc biệt trong đời sống tình cảm của trẻ

VD: Sự thay đổi kì dị của người mà trẻ quen biết

+ Trong tình huống bất thường không xác định, đứa trẻ thường hay rất lo lắng VD: Trẻ sợ bóng tối

Ảnh hưởng

Sự thể nghiệm sợ hãi thường xuyên ảnh hưởng đến tình trạng thể lực và tâm lý củađứa trẻ

Trang 35

Người lớn phải giáo dục và duy trì tính bạo dạn và xông xáo của đứa trẻ

Sợ hãi thay người khác ở trẻ hình thức đặc biệt của sự thông cảm và sự xuất hiệncủa nó nói lên khả năng đồng cảm đang được phát triển ở đứa trẻ

2 Khuynh hướng phát triển cơ bản của tình cảm trẻ mẫu giáo

a Tình cảm của trẻ phụ thuộc vào hoàn cảnh và không ổn định

Sơ đồ: Tính tò mò đi sâu vào mọi vật + Thái độ vô tâm thuần túy ở trẻ em

Trẻ mẫu giáo lớn:

Thường thấy những biểu hiện của thái độ quan tâm thực sự với người thân, những

cử chỉ nhằm tránh cho họ mọi sự lo lắng và buồn rầu

Tình bạn với bạn cùng tuổi cố định hơn, dù tình bạn luân phiên vẫn còn thể hiện

nhiều

Ý nghĩa cơ bản không phải là tình huống bên ngoài nữa mà là mối thiện cảm củachúng với nhau Thái độ tích cực với:những phẩm chất, những tri thức, những kỹnăng

VD: ―Bạn ấy xinh lắm‖, ―Bạn ấy biết nhiều trò chơi lắm‖, ―Bạn ấy rất tốt vớicác bạn cùng lớp‖…

Sự phát triển chủ yếu của các tình cảm ở lứa tuổi mẫu giáo là sự tăng cường ―tínhhợp lý‖ gắn liền với sự phát triển trí tuệ của trẻ Trẻ em nhận thức thế giới xung quanh,tìm hiểu những hành vi của mình, hiểu cái gì là tốt, là xấu

Sự biến đổi tình cảm ở trẻ tùy thuộc vào việc chúng hiểu biết hoàn cảnh

b Tình cảm hài hước ở trẻ:

Trang 36

Trẻ mẫu giáo nhỏ: những sự việc vô lý, những câu pha trò, đứa trẻ tự làm trò cườinhăn mặt, ―làm xấu‖

Trẻ mẫu giáo lớn: tình cảm hài hước phức tạp hơn, nhiều khi chúng nhận ra nhữnghành vi không phù hợp của người lớn, sự thiếu sót trong tri thức, những kỹ năng củahọ tiếng cười của trẻ có ẩn ý, những ý định ―tóm‖ người đối thoại qua câu trả lờikhông phù hợp với thực tế

c Tình cảm với cái đẹp: cũng trải qua các chặng đường phát triển tương

tự ở lứa tuổi mẫu giáo

VD: Trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi: đồ chơi rực rỡ, lấp lánh…màu mè

Trẻ mẫu giáo lớn: tính nhịp điệu, hài hòa của các màu sắc, đường nét, sự phát triểncủa giai điệu âm nhạc, nét mềm mại trong diệu múa vẻ đẹp của tự nhiên phong cảnh,các cuộc diễu hành gay rung động mạnh mẽ với trẻ ẫu giáo lớn

Đứa trẻ định hướng tốt hơn trong thế giới xung quanh thì những nguyên nhân gây

ra tình cảm về cái đẹp trong con người của đứ trẻ càng muôn hình muôn vẻ hơn vàcàng phức tạp hơn

d Sự phát triễn “tính hợp lý” của các tình cảm không chỉ thể hiện trong tình cảm đối với con người mà còn tình cảm gắn liền với hành vi riêng của đứa trẻ

VD: đứa trẻ 3-4 tuổi: vui khi được khen ngợi, buồn khi bị quở trách

Ở trẻ xuất hiện những tình cảm tự hào và xấu hổ tùy vào sự đánh giá của ngườilớn đối với hành vi của nó

Sự thể nghiệm này chưa có quan hệ với các cử chỉ mà quan hệ với các đánh giá vềcác cử chỉ của người khác Sự lĩnh hội các chuẩn mực, quy tắc, hình thành sự tự ýthức ở lứa tuổi mẫu giáo dẫn tới việc thực hiện hay không thực hiện các chuẩn mựcđược đứa trẻ thể nghiệm bắt đầu gây vui sướng, xấu hổ ngay khi chỉ có một mình trẻ,không ai biết cử chỉ của trẻ

Sự thể hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo ra bên ngoài có những biến đổi căn bản Đứa trẻ dần nắm được các kỹ năng kiềm chế những biểu hiện mạnh mẽ, đột ngộtcủa các tình cảm ở mức độ nào đó

VD: Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: có thể kiềm được nước mắt, không thể hiện sự sợ hãi Trẻ em nắm được ngôn ngữ của tình cảm- những hình thức thể hiện những sắc tháitinh tế như bằng ánh mắt, nụ cười, nét mặt, điệu bộ, tư thế, cử động, ngữ điệu giọngnói

Trang 37

Về sau đứa trẻ biết điều khiển chúng, không những nén lại trong trường hợp cầnthiết mà còn biết sử dụng chúng 1 cách có ý thức để thông báo cho người khác biếttình cảm của mình

Đứa trẻ có thể học bằng cách bắt chước những phương tiện biểu cảm tinh tế hơn

mà con người dùng để thể hiện tình cảm của chúng (có nguồn gốc từ xã hội)

IV ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH

Những tiền đề của sự phát triển nhân cách đã được hình thành ở tuổi vườn trẻ,chúng tạo ra cơ sở cho những biện pháp tác động mới của những ngườu xung quanhtới đứa trẻ Trong khi phát triển, trẻ em lĩnh hội những đặc điểm tâm lý mới và nhữnghành vi mới, nhờ ddos mà đứa trẻ trở thành thành viên nhỏ tuổi của xã hội loài người

Ở tuổi mẫu giáo, thế giưới nội tâm tương đối ổn định, nó là cơ sở khiến đứa trẻ lầnđầu tiên có nột nhân cách mặc dù chưa hoàn chỉnh nhưng sẽ được tiếp tục phát trieenr

và hoàn thiện

Những điều kiện phát triển của trẻ mẫu giáo khác hẳn với những điều khiện củagiai đoạn tuổi trước Những yêu cầu của người lớn đối với hành vi của nó được tanglên một cách đáng kể.Yêu cầu trung tâm là phải phục tùng những qui tắc hành vi cótính chất bắt buộc đối với tất cả mọi người trong xã hội

Sự phát triển nhân cách của đứa trẻ gồn 2 mặt:

+ Đứa trẻ dần dần hiểu thế giới xung quanh và hiểu được địa vị của mình trong thếgiới đó làm nảy sinh những loại động cơ hành vi mới mà do ảnh hưởng của chúng đứatrẻ thực hiện những cử chỉ nào đó

+ Sự phát triển của các tình cảm ý chí, chúng đảm bảo tính hiệu lực của các động

cơ này, tính bền vững của các hành vi, tính độc lập nhất định của hành vi đối với sựbiến đởi của hành vi bên ngoài

1 Ảnh hưởng của người lớn đối với sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu

giáo

Con đường cơ bản đề người lướn ảnh hưởng đến sựu phát triển nhân cách của trẻ

là tổ chức cho chúng lĩnh hội những chuần mực đạo đức đạo đức điều chỉnh hành vicủa con người trong xã hội.Những chuẩn mực này được trẻ lĩnh hội dưới ảnh hưởngcủa những khuôn mẫu hành vi mà trước hết là bản than người lớn- những cử chỉ của

họ và quan hệ qua lại của họ

Trang 38

Trẻ em lứa tuổi mẫu giáo tỏ ra thích thú với các chuẩn mực hành vi.ví dụ như khinghe truyện cổ tích, trẻ cố gắng tìm hiểu ai là người tốt và ai là kẻ xấu Về việc nàychúng không chịu bất kì sự mập mờ nào Nhiều khi còn định đứng trên quan điểm này

để đánh giá ngay cả những sự vật vô tri vô giác

Trong tuổi mẫu giáo nhỏ, trẻ em lĩnh hội những quy tắc gắn liền với những kỹ xảovăn hoá-vệ sinh với sựu tôn trọng chế độ sinh hoạt, quy tắc sử dụng trò chơi Trẻkhoong chỉ phục tùng những yêu cầu của người lớn mà bản than chúng cũng mongmuốn nắm được quy tắc

Trong lứa tuổi mẫu giáo nhở, đặc biệt là lứa tuổi muẫ giáo lớn, việc lĩnh hội nhữngquy tắc về các mối quan hệ qua lại với các trẻ em khác đuợc đưa lên hàng đầu Việcphức tạp hoá hoạt động của trẻ em dẫn tới chỗ thường xuyên phải tới quan điểm củabạn, quyền lợi và những hứng thú của bạn

Mức độ thực hiện các quy tắc hành vi của trẻ em cũng được biến đổi trong suốtthời kì mẫu giáo Trong thời kì này không những trẻ bắt đầu tự giác phục tùng các quytắc mà còn theo dõiviệc thực hiện các quy tắc đó của những đứa trẻ khác

Sự phát triển tình cảm tự hào- xấu hổ Những tình cảm buộc đứa trẻ phải đối chiếunhững cử chỉ của mình với những ý kiến đánh giá và mong đợi của người lớn có 1 ýnghĩa to lớn trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và quy tắc hành vi

2 Đứa trẻ trong nhóm bạn cùng tuổi

Nhu cầu giao tiếp được phát triển trên cơ sở hoạt động phối hượp của trẻ em trong

các trò chươi khi thực hiện các nhiệm vụ lao động

Ảnh hưởng của nhóm bạn cùng tuổi tới sự phát triển nhân cách của đứa trẻ thể hiệntrước hết ở chỗ chính trong những điều kiện giao tiếp với các bạn cùng tuổi đưa trẻluôn luôn thấy cần phải vận dụng vào thực tế những chuần mực hành vi đã lĩnh hộiđược với những người khác Trong hoạt động phối hượp của trẻ em luôn nảy sinhnhững tình huống đòi hỏi phải phối hợp các hành động, phải thể hiện thái độ thiện chíđối với bạn cùng tuổi Phải có kỹ năng gạt bỏ những những nguyện vọng riêng để đạtmục đích chung

Trẻ từ lúc 4-5 tuổi bắt đầu lắng nghe ý kiến của các bạn và phục tùng ý kiến của đa

số ngay cả khi nó mâu thuẫn với những ấn tượng và tri thức riêng của chúng Sự phụctùng ý kiến của đa số như thế gọi là sự thích nghi Tính thích nghi ở trẻ mẫu giáolàmột giai đoạn quá độ trong việc nắm vững kĩ năng phối hợp các ý kiến của mình.Nhưng ở một số trẻ nó được củng cố và có thể trở thành một thuộc tính xấu của nhâncách

Trang 39

Mỗi trẻ đều có một địa vị nhất định trong nhóm bạn cùng tuổi,địa vị này thể hiện ởchỗ các bạn cùng tuổi đối xử với nó như thế nào Địa vị trong nhóm bạn cùng tuổi ảnhhưởng 1 cách căn bản đến sựu phát triển nhân cách của trẻ

3 Hoạt động và sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo

Ảnh hưởng của người lớn và đám bạn cùng tuổi tới đứa trẻ được thực hiện chủ yếutrong quá trình hoạt động Khi tổ chức hoạt động cho trẻ, người lớn khuyên nhủ và chỉdẫn chúng về các chủ đề của trò chơi, của các tranh vẽ, dạy trẻ tìm hiểu những mốiquan hệ qua lại và nhwungx những hành động của các nhân vật được mô tả,…từ đógiúp trẻ giải quyết những khó khắn, xung đột trong tiến trình hoạt động

Trò chơi có ý nghĩa quan trọng nhất đối với sự phát triển nhân cách Khi nhận sắmvai người lớn, khi tái tạo haotj động và những mối quan hệ qua lại của họ, trẻ em tìmhiểu những quy tắc và những động cơ hành vi vừa sức đối với chúng Những quy tắc

và những độngc ơ này chỉ đạo người lớn trong trong hoạt động lao động và hoạt động

xã hội, trong sự giao tiếp giữa họ với nhau

Trò chơi làm cho trẻ em thích thú buộc chúng phải thể nghiệm những tình cảm màcác nhân vật được mô tả phải thể nghiệm-mối thiện cảm, sự thông cảm với bệnhnhân,

Trẻ hứng thú với trò chơi, nguyện vọng sắm vai thật tốt, lớn đến nỗi trong nhữngđiều kiện này trẻ em thực hiện những hành động mà tự bản than chúng là những hànhđộng khó, không hấp dẫn đối với trẻ.Hay từ chối thoả mãn những nguyện vọng khácxuất hiện trong lúc tiến hành công việc

Tuy nhiên, không nên nghĩ kết quả đạt được trong trò chơi có thể được trẻ vậndụng trực tiếp vào những điều kiện khác, vào hành vi hàng ngày của chúng

Những hình thức hoạt động sang tạo, việc thwucj hiện các nhiệm vụ lao động vàhọc tập góp phần phát triển nhân cách của trẻ Trong những hình thức hoạt động này

sẽ hình thành những xu hướng, tạo ra kết quả được người lớn và các bạn ngợi khen Nhu cầu gaio tiếp được phát triển trên cơ sở hoạt động phối hợp của trẻ em trongcác trò chơi, khi thực hiện các nhiệm vụ lao động.Do kết quả của hoạt động mang lạimột kết quả nhất định, ở trẻ sẽ hình thành những hành vi mới Khi thục hiện nhữngnhiễm vụ lao động, trẻ sẽ biết hướng vào lợi ích mà chúng có thể mang lại cho ngườikhác

Trang 40

 TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 1 Phân biệt: nội dung – chủ đề - hành động phân vai

hội đương thời

Nội dung của tròchơi là những hoạtđộng của người lớn

mà đứa trẻ nhậnthức được và phảnánh vào trò chơi củamình Đó là nhữnghành động củangười lớn với các

đồ vật, những mốiquan hệ giữa họ vớinhau, những yếu tố

hành động này xuất phát từ hành độngthực tế mà trẻ đã trông thấy trong cuộc đờithực hay nghe kể lại Những thao tác của hànhđộng lại phụ thuộc vào đồ chơi, như vậy hànhđộng chơi và cả thao tác chơi đều phải phùhợp với điều kiện thực tế, cũng có nghĩa là đểthực hiện vai chơi trẻ không hành động tuỳtiện mà hành động chơi phải xuất phát từ vaichơi Vai chơi trong trò chơi quy định hànhđộng của trẻ đối với đồ vật và đối với bạncùng chơi

Tuy nhiên đây chỉ là hành động mô đạo đức, thẩm mỹ phỏng, do đó nó không đòi hỏi phải có thao

tác đúng kỹ thuật, mà chỉ cần phỏng theo hìnhthức của nó và mang tính khái quát

Tóm lại: HÀNH ĐỘNG tạo thành NỘI DUNG, các NỘI DUNG tạo thành 1 CHỦ ĐỀ

Câu 2 Có những loại đồ chơi nào được dùng trong trò chơi sắm vai

Đồ chơi có 4 loại : thay thế vật thật, mô phỏng vật thật, vật thật, tưởng tượng thuầntuý Câu 3 Tri giác thời gian ở tuổi mẫu giáo Trẻ có khả năng tri giác bức tranh như thế nào? sau này giáo viên mầm non hay xài là bức tranh, đặc điểm tri giác bức tranh như thế nào?

Khả năng tri giác bức tranh ở tuổi mẫu giáo:

Tri giác bức tranh ở tuổi mẫu giáo theo 3 quy luật:

Ngày đăng: 12/11/2018, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w