1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tâm lý học dưới góc nhìn Aristotle thời cổ đại

16 1,4K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 609,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học lịch sử tâm lý học cho phép sinh viên đặt tâm lý học hiện đại trong viễn tượng lịch sử, hiểu tâm lý học hiện đại đầy đủ hơn, nhận ra rằng những gì thịnh hành trong tâm lý học thì thường được quyết định bởi các yếu tố xã hội và tâm lý, thấy được các sai lầm của quá khứ để không lặp lại chúng một lần nữa, khám phá ra các ý tưởng có ích lợi tiềm tàng, thỏa mãn sự tò mò về một điều được coi là quan trọng. Trên đây là những lí do trả lời cho câu hỏi “Tại sao chúng ta cần học lịch sử Tâm lý học?” Có thể khẳng định học lịch sử Tâm lý học là rất cần thiết. Khi học lịch sử Tâm lý học không thể nào bỏ qua thời kỳ Hy Lạp cổ đại. Hy Lạp cổ đại được biết đến như một nền văn minh tiêu biểu cho sức sống mạnh mẽ của nhân loại, là cột mốc đánh dấu nhân loại bước vào một thời đại văn minh.Tổ tiên của người Hy Lạp là một trong những bộ tộc thuộc ngữ hệ ẤnÂu từ hạ lưu sông Đanuyp di cư xuống bán đảo Bankan rồi định cư ở ven biển Êgiê.Chế độ chiếm hữu nô lê ở Hy Lạp hình thành từ khoảng thế kỷ X đến thế kỷ III TCN. Sự tách rời thủ công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và tách rời lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay tạo điều kiện sâu sắc thêm sự phân công lao dộng xã hội. Aten có vị trí thuận lợi về nhiều mặt cho sự phát triển, dần trở thành một trung tâm văn hóa nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại, cái nôi của triết học châu Âu. Ngoài triết học, các ngành khoa học khác của Hy Lạp cũng phát triển khá mạnh như toán học, thiên văn học, địa chất, y học,...Vậy “Tâm lý học trong thời kỳ này đã có những bước phát triển gì và phát triển như thế nào?” Đây là một câu hỏi khá hấp dẫn. Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, đã nổi bật lên ba nhà khoa học vĩ đại đó chính là Socrates, Plato và Aristotle. Đặc biệt Aristotle được đánh giá là tác gia vĩ đại nhất của Tâm lý học cổ đại với tác phẩm nổi tiếng lúc bấy giờ “Bàn về tâm hồn”. Hêghen đã nhận định rằng, “những gì tốt nhất mà đã có trong Tâm lý học cho đến thời đại ngày nay, là những cái chúng ta đã nhận được từ Aristotle”.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA TÂM LÝ HỌC



TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

LỊCH SỬ TÂM LÝ HỌC Giảng viên: Th.S Lê Duy Hùng

TÂM LÝ HỌC DƯỚI GÓC NHÌN ARISTOTLE

THỜI CỔ ĐẠI

Sinh viên thực hiện: ĐỖ MẠNH AN

Mã số sinh viên: 42.01.611.002

Lớp sinh viên: TLH K42.A

TP Hồ Chí Minh, tháng 6/2018

Trang 2

MỤC LỤC

1 Phần mở đầu……… 3

2 Phần nội dung………3

2.1 Tiểu sử Aristotle……….3

2.2 Các qua điểm về tư tưởng triết học và tâm lý học của Aristotle………4

2.2.1 Nguyên lý nhân quả và nguyên lý cứu cánh……….5

2.2.2 Thứ bậc của các loại “hồn”……… 6

2.2.3 Cảm giác……… 7

2.2.4 Công cảm, lý trí thụ động và lý trí chủ động………7

2.2.5 Trí nhớ và hồi tưởng……….9

2.2.6 Tưởng tượng và giấc mơ………10

2.2.7 Động lực……….11

2.2.8 Các cảm xúc và tri giác chọn lọc………12

3 Những khác biệt cơ bản giữa Plato và Aristotle……… 12

4 Những đóng góp của Aristotle cho Tâm lý học……… 14

5 Kết luân……… 14

Trang 3

1 Phần mở đầu

Học lịch sử tâm lý học cho phép sinh viên đặt tâm lý học hiện đại trong viễn tượng lịch sử, hiểu tâm lý học hiện đại đầy đủ hơn, nhận ra rằng những gì thịnh hành trong tâm lý học thì thường được quyết định bởi các yếu tố xã hội và tâm lý, thấy được các sai lầm của quá khứ để không lặp lại chúng một lần nữa, khám phá ra các ý tưởng

có ích lợi tiềm tàng, thỏa mãn sự tò mò về một điều được coi là quan trọng Trên đây là những lí do trả lời cho câu hỏi “Tại sao chúng ta cần học lịch sử Tâm lý học?”

Có thể khẳng định học lịch sử Tâm lý học là rất cần thiết Khi học lịch sử Tâm lý học không thể nào bỏ qua thời kỳ Hy Lạp cổ đại Hy Lạp cổ đại được biết đến như một nền văn minh tiêu biểu cho sức sống mạnh mẽ của nhân loại, là cột mốc đánh dấu nhân loại bước vào một thời đại văn minh.Tổ tiên của người Hy Lạp là một trong những bộ tộc thuộc ngữ hệ Ấn-Âu từ hạ lưu sông Đanuyp di cư xuống bán đảo Bankan rồi định cư ở ven biển Êgiê.Chế độ chiếm hữu nô lê ở Hy Lạp hình thành từ khoảng thế

kỷ X đến thế kỷ III TCN Sự tách rời thủ công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và tách rời lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay tạo điều kiện sâu sắc thêm sự phân công lao dộng xã hội Aten có vị trí thuận lợi về nhiều mặt cho sự phát triển, dần trở thành một trung tâm văn hóa nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại, cái nôi của triết học châu Âu Ngoài triết học, các ngành khoa học khác của Hy Lạp cũng phát triển khá mạnh như toán học, thiên văn học, địa chất, y học, Vậy “Tâm lý học trong thời kỳ này đã có những bước phát triển gì và phát triển như thế nào?”- Đây là một câu hỏi khá hấp dẫn

Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, đã nổi bật lên ba nhà khoa học vĩ đại đó chính là Socrates, Plato và Aristotle Đặc biệt Aristotle được đánh giá là tác gia vĩ đại nhất của Tâm lý học

cổ đại với tác phẩm nổi tiếng lúc bấy giờ “Bàn về tâm hồn” Hêghen đã nhận định rằng,

“những gì tốt nhất mà đã có trong Tâm lý học cho đến thời đại ngày nay, là những cái chúng ta đã nhận được từ Aristotle”

Từ những quan điểm trên, tôi quyết định thực hiện đề tài “Tâm lý học dưới góc nhìn Aristotle- Thời cổ đại”

2 Phần nội dung

2.1 Tiểu sử Aristotle

Aristotle (384 - 322 TCN.) tên gốc Hy Lạp là Aristotleles, là tác gia vĩ đại nhất của Tâm lý học cổ đại, ông sinh tại Stagira, một thành phố ít được biết đến của Macedonia, nằm giữa Biển Đen và Biển Aegea Cha ông là Nicomachus, quan thái y

Trang 4

của vua Amyntas III của Macedonia Theo tập tục Hy Lạp, cha của Aristotle đã giáo dục ông theo nghề y Năm 367 TCN., Aristotle sang Nhã Điển và chỉ một thời gian ngắn sau

đã trở thành một sinh viên xuất sắc nhất của Plato; lúc ấy ông 17 tuổi Khi Plato mất năm 347 TCN., Aristotle đến Tiểu Á và tại đây ông chuyên nghiên cứu lãnh vực sinh vật và động vật học Năm 343 TCN., Aristotle được mời dạy học cho hoàng tử của vua Philip, là Đại đế Alexander tương lai, và tiếp tục công việc này trong bốn năm Sau một

ít chuyến hành trình nữa, Aristotle quay trở về Nhã Điển, tại đây năm 48 tuổi, ông mở trường riêng, lấy tên là Lyceum Vì trường Lyceum có nhiều giáo sư, có các lớp học thường xuyên, một thư viện dồi dào, và những sưu tập đầy đủ về khoa học tự nhiên, nên

nó được coi là trường đại học đầu tiên trên thế giới Khi Đại đế Alexander mất năm 323 TCN., Aristotle trốn khỏi Nhã Điển và một năm sau ông qua đời tại Challis Aristotle là triết gia đầu tiên nghiên cứu sâu rộng nhiều đề tài mà sau này sẽ là thành phần của tâm

lý học Trong kho tác phẩm đồ sộ của ông, ông bàn đến các đề tài như trí nhớ, cảm giác, giấc ngủ, giấc mơ, lão khoa, và sự học tập Ông cũng mở đầu tác phẩm De Anima (Về Linh Hồn) của ông với những điều được coi là lịch sử tâm lý học đầu tiên Chỉ riêng những cống hiến của ông cho tâm lý học mà thôi thì cũng đã thực sự quá ấn tượng rồi Tuy nhiên, phải nói rằng ông đã có những cống hiến cho mọi ngành khoa học, có lẽ chỉ trừ toán học Ảnh hưởng các tư tưởng của ông đối với các đề tài triết học và khoa học như luận lí học, siêu hình học, vật lý học, sinh vật học, đạo đức học, chính trị học, tu từ học, và thi ca đã tồn tại lâu dài Người ta thường nói Aristotle là con người cuối cùng biết mọi cái có thể biết khi còn sống

2.2 Các qua điểm về tư tưởng triết học và tâm lý học của Aristotle

Bằng việc phân tích tác phẩm “ Bàn về tâm hồn” của Aristotle có thể thấy: Aristotle rất coi trọng khía cạnh tâm hồn trong con người.Ông kêu gọi mọi người hãy đi vào nghiên cứu tâm hồn Khi hệ thống lại các nghiên cứu về tâm hồn đã có, theo ông có 3 quan niệm chính như sau:

Tâm hồn là cái có khả năng vận động cao nhất, vì nó tự vận động

Tâm hồn mang tính chất thân thể cấu tạo nên từ các hạt nhỏ nhất, hay tâm hồn ít tính chất thân thể hơn tất cả các cái khác

Tâm hồn hợp bởi các yếu tố đất, nước, khí, lửa

Aristotle đã đưa ra quan niệm của ông về tâm hồn:

Trang 5

Tâm hồn bao gồm cả tư duy, trí nhớ, tình cảm, các quá trình và trạng thái tâm lý, các hành động tác động vào thế giới bên ngoài

Muốn hiểu tâm hồn, phải đi tìm mối quan hệ ngoài tâm hồn, đó là mối quan hệ giữa tâm hồn, tâm lý và cơ thể

“ Tâm hồn là cái tự đích của thân thể tự nhiên và có khả năng sống”

Chỉ có những vật thể tự nhiên nào có sự sống mới có tâm hồn

Theo Aristotle, có 3 loại tâm hồn:

Tâm hồn dinh dưỡng đảm bảo chức năng nuôi dưỡng, sinh nở

Tâm hồn cảm giác thụ cảm, đảm nhận chức năng cảm thụ, ước mong và vận động

Tâm hồn suy nghĩ đảm nhận chức năng lý giải, lập luận, biểu tượng, tưởng tượng

2.2.1 Nguyên lý nhân quả và nguyên lý cứu cánh

Theo Aristotle, để thực sự hiểu biết về một vật gì, chúng ta phải biết bốn điều về

nó Nghĩa là, mọi vật đều có bốn nguyên nhân:

 Nguyên nhân chất thể là chất liệu của một vật Ví dụ, một pho tượng được làm bằng cẩm thạch

 Nguyên nhân mô thể là hình dạng hay kiểu mẫu nhất định của một vật Ví dụ, một phiến đá cẩm thạch có hình của thần Vệ Nữ

 Nguyên nhân tác thành là lực biến đổi chất liệu thành một hình dạng nhất định

- ví dụ, sức lực của nhà điêu khắc

 Nguyên nhân cứu cánh là mục đích mà một vật tồn tại Trong trường hợp pho tượng, mục đích có thể là đem lại sự vui thích cho người chiêm ngưỡng nó Triết học Aristotle là triết học cứu cánh vì theo ông, mọi sự vật trong thiên nhiên đều tồn tại vì một mục đích Tuy nhiên, mục đích theo Aristotle hiểu không phải là một

ý hướng có ý thức Đúng hơn, ông hiểu rằng mọi sự vật trong thiên nhiên đều có một chức năng bao hàm nội tại trong nó Mục đích nội tại, hay chức năng này, được gọi là cứu cánh thể (entelechy) Cứu cánh thể làm cho một vật chuyển động hay phát triển theo hướng đã định trước cho tới khi tiềm năng của nó đạt tới mức hoàn hảo Ví dụ, mặt có mục đích cung cấp thị giác, và nó tiếp tục phát triển cho đến khi nó làm được điều này Nguyên nhân cứu cánh của các sinh vật là thành phần của bản tính của nó; nó tồn tại như một tiềm thể ngay từ khởi điểm của sinh vật Một quả sồi có tiềm năng trở thành

Trang 6

một cây sồi, nhưng không thể trở thành một con ếch hay một cây ô - liu Nói khác đi, mục đích hay cứu cánh thể của một quả sồi là trở thành một cây sồi Thiên nhiên có đặc tính là thay đổi hay chuyển động, và sự thay đổi này diễn ra khi các vật biến đổi dần dần

từ tiềm thể của chúng sang hiện thể - nghĩa là khi các sự vật chuyển động hướng tới nguyên nhân cùng đích hay cứu cánh của chúng, như khi một quả sồi biến thành một cây sồi Nguyên nhân mục đích hay cứu cánh của một vật cũng được Aristotle gọi là yếu tính của vật ấy Theo Aristotle, mọi vật trong thiên nhiên, dù là sinh vật hay các vật

vô sinh đều có một mục đích nội tại trong chúng Nhưng hơn thế nữa, chính thiên nhiên cũng có một mục đích hay cứu cánh lớn Mặc dù Aristotle tin rằng các phạm trù trong thiên nhiên luôn luôn cố định, và vì thế ông phủ nhận sự tiến hóa, nhưng ông cũng nói đến một bậc thang giá trị lớn giữa mọi sự vật ông gọi nó là scala naturae, bậc thang thiên nhiên, nghĩa là thiên nhiên được sắp đặt theo một bậc thang đi từ chất thể trung lập lên tới một tác nhân không bị tác động, hay tác nhân đệ nhất, là hiện thể thuần túy và là nguyên nhân của mọi sự trong thiên nhiên Theo Aristotle, tác nhân không bị tác động

là cái tạo cho mọi sự vật tự nhiên mục đích của chúng Trong bậc thang thiên nhiên, vật

gì càng gần với tác nhân không bị tác động thì càng hoàn hảo Giữa các động vật, loài người ở gần nhất với tác nhân không bị tác động, còn mọi động vật khác đều ở các bậc thang khác nhau bên dưới loài người Tuy Aristotle không chấp nhận sự tiến hóa, bậc thang thiên nhiên của ông cũng tạo ra một cấp trật các giống và loài đủ loại khác nhau, nhờ đó chúng ta có thể nghiên cứu các động vật "thấp hơn" để hiểu biết về con người Tuy nhiên, sự hiểu biết này luôn luôn có giới hạn, vì theo Aristotle, con người là loài độc nhất vô nhị giữa các loài động vật Ở đây vẫn thế, lập trường của Aristotle có tính chất hoàn toàn cứu cánh: Mọi vật trong thiên nhiên đều có một mục đích, và thiên nhiên

tự nó cũng có một mục đích

2.2.2 Thứ bậc của các loại “hồn”

Đối với Aristotle, cũng như đối với đa số nhà triết học Hy Lạp, hồn là cái cho sự sống; vì vậy, mọi sinh vật đều có một hồn Theo Aristotle, có ba loại hồn, và tiềm thể (mục đích) của một sinh vật được xác định bởi loại hồn mà nó có:

 Các loại cây cỏ thì có hồn thực vật (hay dinh dưỡng) Hồn thực vật chỉ cho sự tăng trưởng, hấp thu sự dinh dưỡng, và sinh sản

Trang 7

 Các loài động vật thì có giác hồn mà các loại cây cỏ không có Ngoài các chức năng trên, các sinh vật có giác hồn thì cảm giác và phản ứng với môi trường xung quanh, cảm nghiệm khoái lạc và đau khổ, và có trí nhớ

 Chỉ loài người có linh hồn (hay hồn lý tính) Nó cung cấp mọi chức năng của hai loại hồn trên nhưng còn cho con người biết suy nghĩ bằng lý trí

2.2.3 Cảm giác

Aristotle nói rằng nhận thức về môi trường xung quanh được cung cấp bởi ngũ quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác, và khứu giác Khác với các nhà triết học thời trước (Empedocles và Democritus), Aristotle không tin rằng các sự vật phát ra các bản sao cực nhỏ của bản thân chúng (eidola) Ngược lại, ông cảm thấy rằng tri giác được giải thích bằng chuyển động của các sự vật kích thích một trong năm giác quan Chuyển động của các sự vật xung quanh tạo các chuyển động xuyên qua các môi trường khác nhau, và mỗi giác quan nhạy cảm với các chuyển động trong một môi trường nhất định

Ví dụ, thị giác là do chuyển động của ánh sáng phát ra từ một vật, thính giác và khứu giác phát xuất từ chuyển động của không khí, và vị giác và xúc giác phát xuất từ chuyển động của da thịt Bằng cách này, Aristotle giải thích làm thế nào chúng ta có thể thực sự cảm giác các sự vật xung quanh mà không cần các vật ấy phát ra các bản sao vật lý của chúng Khác với Phao, Aristotle tin rằng chúng ta có thể tin cậy các giác quan trong việc chúng cung cấp cho chúng ta một biểu thị chính xác về các vật xung quanh

2.2.4 Công cảm, lý trí thụ động và lý trí chủ động

Tuy dữ liệu của cảm giác đối với Aristotle rất quan trọng, nó cũng chỉ là bước đầu của tri thức Nói khác đi, kinh nghiệm giác quan là một yếu tố cần nhưng không đủ

để đạt đến tri thức Trước hết, mỗi hệ giác quan cung cấp các thông tin riêng rẽ về mỗi môi trường, mà tự chúng không ích lợi bao nhiêu Ví dụ, nhìn một đứa bé lăn lộn trên giường chỉ cung cấp cho chúng ta một phần hiểu biết về tình trạng của nó, nghe nó khóc cho chúng ta một chìa khóa khác, ngửi mùi nó toát ra có thể cho một chìa khóa khác, và

sờ vào người nó có thể cho biết nó đang bị sốt Chính sự phối hợp các thông tin của tất

cả các giác quan sẽ cho chúng ta có những tương tác hiệu quả nhất với môi trường Aristotle đưa ra một định đề cho rằng có một lương tri, như là cơ chế hoạt động phối hợp thông tin từ mọi giác quan Giống như mọi chức năng tinh thần khác, lương tri được nghĩ là nằm ở tim Nhiệm vụ của công cảm là tổng hợp các kinh nghiệm cảm giác, nhờ

đó làm cho nó trở nên ý nghĩa hơn Tuy nhiên, các thông tin của giác quan, cả sau khi

Trang 8

nó đã được tổng hợp bởi công cảm, cũng chỉ cung cấp thông tin về các trường hợp đặc thù của sự vật Lý trí thụ động bao gồm việc sử dụng kinh nghiệm đã tổng hợp được để sống đời sống hằng ngày một cách hiệu quả, nhưng nó không tạo ra một sự hiểu biết về các yếu tính, hay nguyên lý đệ nhất của sự vật Các nguyên lý đệ nhất chỉ có thể được trừu tượng hóa từ nhiều kinh nghiệm khác nhau của một người nhờ lý trí chủ động, được coi là hình thức tư duy cao nhất Vì vậy Aristotle vạch ra các cấp tri thức hay hiểu biết rất giống với đường ranh giới của Plato Các cấp tri thức này là:

 Lý trí chủ động: Sự trừu tượng hóa các nguyên lý, hay yếu tính, từ các kinh nghiệm đã tổng hợp

 Lý trí thụ động: Sử dụng các kinh nghiệm đã tổng hợp

 Lương tri: Các kinh nghiệm được tổng hợp

 Dữ liệu cảm giác: Các kinh nghiệm riêng rẽ

Một ví dụ cho thấy các cấp độ tri thức này liên quan thế nào với nhau có thể là việc kinh nghiệm về điện nhờ các cảm giác như thị giác (thấy một tia điện phát ra), đau (bị điện giật), và thính giác (nghe tiếng tia điện xoẹt ra) Các kinh nghiệm này có thể tương ứng với cấp độ thu nhận cảm giác Công cảm sẽ cho thấy tất cả các kinh nghiệm này có một nguồn gốc chung - điện Lý trí thụ động sẽ cho thấy điện có thể được sử dụng vào các cách thực tế khác nhau, trong khi lý trí chủ động sẽ tìm ra các định luật chi phối điện

và sự hiểu biết về yếu tính của điện Cái bắt đầu là một tập hợp các kinh nghiệm thường nghiệm dẫn đến việc tìm kiếm các nguyên lý có thể cắt nghĩa các kinh nghiệm ấy Phần

lý trí chủ động của linh hồn cung cấp cho con người mục đích cao nhất của họ Nghĩa

là, nó cung cấp cho họ cứu cánh thể của họ Cũng như mục tiêu cuối cùng của một quả sồi là trở thành một cây sồi, mục tiêu cuối cùng của một người là vận dụng lý trí chủ động Aristotle cũng tin rằng hành động phù hợp với bản tính của mình tạo ra sự thích thú và hành động ngược lại tạo ra đau khổ Trong trường hợp con người, hành động theo

lý trí chủ động là nguồn khoái lạc cao nhất của con người Về vấn đề này, Aristotle chủ yếu đồng ý với Socrates và Plato Hơn nữa, vì Aristotle giả thiết có một tiềm năng nội tại mà con người có thể đạt đến hay không, nên lý thuyết của ông được coi là lý thuyết đầu tiên của tâm lý học về sự tự thể hiện mình Các lý thuyết về sự tự thể hiện của Jung, Maslow, và Rogers phản ánh các tư tưởng của Aristotle về cứu cánh thể Với khái niệm của ông về lý trí chủ động, Aristotle đưa một yếu tố thần bí hay siêu nhiên vào cho lý thuyết duy nhiên thông thường Phần lý trí chủ động của linh hồn được coi là bất tử, nhưng khi nó rời bỏ thân xác khi chết, nó không mang theo một sự hồi tưởng nào Nó

Trang 9

được coi là một cơ chế hoạt động cho tư tưởng thuần túy và được tin là giống nhau nơi mọi người Nó không được đánh giá theo tính cách đạo đức của con người có nó trước kia, và không có sự hợp nhất hay tái hợp với Thượng Đế Phần chủ động của linh hồn không đi lên thiên đàng hay xuống địa ngục Tuy nhiên, về sau cách giải thích của Kitô giáo về linh hồn theo Aristotle sẽ mang tất cả các tính chất này Một thành phần thần bí khác trong lý thuyết của Aristotle là khái niệm của ông về tác nhân không bị tác động Theo Aristotle, mọi sự vật trong tự nhiên có một mục đích đã được lập trình sẵn trong

đó Mục đích hay cứu cánh thể này giải thích tại sao một vật lại tồn tại như nó đang tồn tại và tại sao nó làm như nó đang làm Nhưng nếu mọi vật trong thiên nhiên đều có một mục đích, vậy thì cái gì là nguyên nhân của mục đích ấy? Như chúng ta đã thấy, Aristotle giả thiết một tác nhân không bị tác động, hay một tác nhân tạo ra mọi vật khác nhưng chính nó không do một cái gì khác tạo ra Theo Aristotle, tác nhân không bị tác động làm cho mọi vật chuyển động, ngoài ra nó không làm một điều gì khác; nó là một sự tất yếu lý luận, chứ không phải một thượng đế Cùng với khái niệm Aristotle về tính bất tử của linh hồn, người Kitô giáo cũng thấy khái niệm của ông về một tác nhân không bị tác động rất phù hợp với giáo lý của họ

2.2.5 Trí nhớ và hồi tưởng

Hợp với khía cạnh thường nghiệm của triết học của ông, Aristotle cắt nghĩa trí nhớ

và sự hồi tưởng như là kết quả của tri giác Lý thuyết này tương phản với cách cắt nghĩa của Plato chủ yếu theo thuyết bẩm sinh Theo Aristotle, sự nhớ lại là một sự hồi tưởng

tự phát về một điều gì đã kinh nghiệm trước đó Ví dụ, bạn thấy một người và nhớ lại rằng bạn đã thấy người ấy trước đó và có lẽ đã trò chuyện với người ấy Tuy nhiên, hồi tưởng bao gồm một sự tìm kiếm chủ động của tinh thần về một kinh nghiệm quá khứ Liên kết với hồi tưởng, Aristotle đã giả thiết các luật liên tưởng nổi tiếng của ông Luật liên tưởng cơ bản nhất là luật tương cận, luật này phát biểu rằng khi chúng ta nghĩ đến một điều gì, chúng ta cũng có khuynh hướng nghĩ đến những cái gắn liền điều ấy trong kinh nghiệm của chúng ta Luật thường xuyên phát biểu rằng một điều gì càng được kinh nghiệm nhiều lần, ta càng dễ nhớ lại nó Luật tương tự phát biểu rằng khi chúng ta nghĩ đến một điều gì, chúng ta sẽ có khuynh hướng nghĩ đến các điều giống với nó Luật tương phản phát biểu rằng khi chúng ta nghĩ đến một điều gì, chúng ta cũng dễ nghĩ đến điều trái ngược với nó Các luật liên tưởng của Aristotle sẽ trở thành cơ sở của lý thuyết

Trang 10

về việc học tập trong hơn hai ngàn năm Sự tin tưởng rằng chúng ta có thể sử dụng một hay nhiều luật liên tưởng để cắt nghĩa nguồn gốc các ý tưởng, các hiện tượng của trí nhớ, hay các ý tưởng phức tạp được hình thành bởi các ý tưởng đơn giản, sẽ được gọi là thuyết liên tưởng Như thế, Aristotle quả đã có ảnh hưởng rất to lớn đối với tâm lý học hiện đại Không một ý tưởng quan trọng nào trong lịch sử được tạo ra bởi chỉ một người Ngay cả Aristotle, một trong những nhà triết học lớn của mọi thời, đã mở rộng hay sửa đổi các tư tưởng của các nhà triết học tiền bối, và nhiều nhà triết học chia sẻ với ông cuộc tìm kiếm các phổ quát thể (yếu tính) Ngay cả các luật liên tưởng, thường được gán cho Aristotle, cũng có thể thấy trong đoạn sau đây của tác phẩm Phaedo của Plato: Thế nhưng những người yêu nhau có cảm tưởng gì khi họ nhận ra một cây đàn lia, hay một

bộ quần áo, hay bất cứ vật gì mà người yêu của họ từng quen dùng? Hẳn là khi biết được cây đàn, họ sẽ hình thành trong con mắt của trí khôn họ một hình ảnh của người yêu thời tuổi trẻ yêu quý cây đàn ấy Và đó là sự hồi tưởng Cũng vậy, bất cứ ai nhìn thấy Simmias cũng có thể nhớ đến Cebes; và có vô số ví dụ khác nữa và hồi tưởng thường

là một quy trình phục hồi những gì đã bị quên lãng qua thời gian và sự không chú ý… chúng ta thấy quá rõ - rằng khi chúng ta tri giác một điều gì dù là nhờ thị giác hay thính giác, hay một giác quan nào khác, từ tri giác ấy chúng ta có thể đạt được một khái niệm

về một vật khác giống hay không giống với nó, có liên hệ với nó nhưng đã bị lãng quên

2.2.6 Tưởng tượng và giấc mơ

Chúng ta đã thấy triết học Aristotle có cả các thành phần lý tính lẫn thường nghiệm

Ví dụ, giải thích của ông về trí nhớ và sự hồi tưởng mang tính chất thường nghiệm Chúng ta cũng gặp lại thành phần thường nghiệm này trong giải thích của ông về trí tưởng tượng và giấc mơ Theo Aristotle, khi các cảm giác xảy ra, chúng tạo ra các hình ảnh còn kéo dài sau khi các kích thích tạo ra chúng đã kết thúc Sự nhớ lại các hình ảnh này được gọi là trí nhớ Các hình ảnh này cũng tạo ra sự nối kết giữa cảm giác và tư tưởng thuần lý bởi vì chính các hình ảnh do kinh nghiệm tạo ra được suy nghĩ bởi lý trí thụ động và chủ động Do đó, trí tưởng tượng được cắt nghĩa như là sự giữ lại các hiệu quả của kinh nghiệm giác quan Cũng vậy, giấc mơ cũng được Aristotle cắt nghĩa dựa trên cơ sở các hình ảnh của kinh nghiệm quá khứ Khi ta ngủ, các hình ảnh của kinh nghiệm quá khứ có thể được kích thích bởi các sự kiện bên trong hay bên ngoài thân xác Lý do khiến các ấn tượng (hình ảnh) còn giữ lại có vẻ kz quặc trong giấc mơ có thể

là như sau: Khi ta ngủ, các hình ảnh không được tổ chức bởi lý trí Khi thức, các hình

Ngày đăng: 12/11/2018, 10:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w