ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Tên chuyên đề : ĐOÀN XUÂN NGUYÊN “ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON, GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Tên chuyên
đề :
ĐOÀN XUÂN NGUYÊN
“ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON, GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN KHƯƠNG TUẤN BÌNH LIÊN KẾT
VỚI TẬP ĐOÀN BMG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2018
Thái Nguyên, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-Tên chuyên đề
:
ĐOÀN XUÂN NGUYÊN
“ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON, GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN KHƯƠNG TUẤN BÌNH LIÊN KẾT
VỚI TẬP ĐOÀN BMG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 – 2018 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Diệu Thùy
Thái Nguyên, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời cảm
ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt nhữngnăm học vừa qua
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới Giảng viên TS Phạm Diệu Thùy đãtận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôiThú y đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn Tập đoàn BMG cùng toàn thể anh em kỹthuật, công nhân trong trang traị đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốtquá trình thực tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thựctập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựavào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏisai sót Em kính mong được ý kiến nhận xét của thầy cô để giúp cho kiến thứccủa em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việcsau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Đoàn Xuân Nguyên
Trang 4ii
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái của trại lợn Khương Tuấn Bình từ năm 2015
đến tháng 12 năm 2017 5
Bảng 2.2 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của trại cho lợn nái 20
Bảng 4.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 29
Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng của trại 30
Bảng 4.3 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn con theo mẹ 36
Bảng 4.4 Kết quả chẩn đoán 36
Bảng 4.5 Phác đồ điều trị bệnh bệnh cho đàn lợn giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tại cơ sở 37
Trang 74
Trang 8MỤC LỤC
Trang
PHÂN 1 MƠ ĐÂU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHÂN 2 TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của tổng công ty tập đoàn BMG và trại lợn Khương Tuấn Bình liên kết với Tập đoàn BMG 3
2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại 5
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 7
2.2 Đối tượng vật nuôi và các kết quả sản xuất của cở sở 7
2.2.1 Đối tượng vật nuôi của trại 7
2.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở 7
2.3 Cơ sở khoa học của đề tài 8
2.3.1 Một số hiểu biết về lợn con 8
2.3.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ 9
2.3.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 13
2.3.4 Cai sữa cho lợn con 18
2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 20
2.3.6 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ 22
2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
2.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27
Trang 9PHÂN 3 ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp theo dõi 28
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định chỉ tiêu 28
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 30
4.1 Kêt qua công tac chăm sóc, nuôi dưỡng 30
4.1.1 Công tác chăn nuôi 30
4.1.2 Công tác thú y 32
4.1.3 Công tác khác 38
4.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại cơ sở 38
4.3 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tập tại cơ sở 39
4.3.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 39
4.3.2 Phòng bệnh bằng vắc xin 40
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh cho lợn con giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 41
4.4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh 41
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại cơ sở trong thời gian thực tập 42
Trang 10PHÂN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45 5.1 Kết luận 45 5.2 Đề nghị 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 111
Trang 12Lợn là một trong những con vật nuôi chính, hiện đang được nuôi tại các
xí nghiệp, trang trại, cũng như các nông hộ, nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùngcủa nhân dân và cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu, giải quyết công ăn việclàm cho người dân lao động
Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về các sảnphẩm chăn nuôi ngày càng cao không những về số lượng mà cả chất lượngcủa sản phẩm phải đảm bảo về chất lượng dinh dưỡng, đặc biệt là phải antoàn cho sức khỏe người tiêu dùng
Thịt lợn không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người màcòn phù hợp với khẩu vị của đại đa số người sử dụng nó Thịt lợn chiếm 75-80% so với các loại thịt trong chăn nuôi Để đáp ứng được nhu cầu bức thiếtnày, Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm đầu tư phát triển ngànhchăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Để phát triển chăn nuôi lợncần thực hiện tốt các khâu chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh, góp phầnnâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, đảm bảo lợn con sinh trưởng nhanh, khỏemạnh và cung cấp con giống có chất lượng tốt cho chăn nuôi Xuất phát từthực tế trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại họcNông Lâm Thái Nguyên và giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện
chuyên đề: " Áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh
Trang 13cho lợn con, giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Khương Tuấn Bình liên kết với Tập đoàn BMG"
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
- Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con từ
sơ sinh đến 21 ngày tuổi
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết các phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại
Trang 14PHÂN 2 TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của tổng công ty tập đoàn BMG và trại lợn Khương Tuấn Bình liên kết với Tập đoàn BMG.
Công ty CP Thuốc Thú y Đức Hạnh Marphavet được thành lập tháng
12 năm 2002, hoạt động kinh doanh chính trong các lĩnh vực: Sản xuất vắcxin phòng bệnh, sản xuất kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm
chức năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi…
Nhận thức sâu sắc vấn đề tầm nhìn, sứ mệnh và tạo giá trị cốt lõi cho xãhội, định hướng phát triển sản phẩm chất lượng cao, lựa chọn phân khúckhách hàng chăn nuôi có kĩ thuật, chuyên nghiệp, theo hướng công nghiệpquy mô lớn Ngay từ những ngày đầu, HĐQT đã định hướng cần phải đổi mớicông nghệ, đổi mới dây chuyền máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng, lấy
phương châm “Hiệu quả sử dụng của bạn là sức mạnh của chúng tôi” là
kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động và là tiền đề để Công ty vươn lên pháttriển trở thành một trong những Công ty hàng đầu Việt Nam sản xuất vắc xin,thuốc thú y chất lượng cao, tiêu chuẩn quốc tế, hướng đến xuất khẩu và cạnhtranh bền vững thời kỳ hội nhập Sản phẩm của Marphavet mang lại giá trịkinh tế và hiệu quả điều trị bệnh cao, hợp với hình thức chăn nuôi trang trạicông nghiệp quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại, đầu năm 2010, Ban Giám đốccông ty đã đầu tư hơn 195 tỷ đồng xây dựng nhà máy thuốc thú y đạt tiêuchuẩn của tổ chức Y tế thế giới GMP/WHO với 3 dây chuyền: Thuốc tiêm,thuốc dung dịch uống và thuốc bột, đưa vào sử dụng từ cuối năm 2011 Đếnnay, Công ty tiếp tục đầu tư thêm trên 250 tỷ đồng xây dựng nhà máy vắc xinvới 3 dây chuyền sản xuất vắc xin vi khuẩn, dây truyền vắc xin vi rút trên tế
Trang 15bào và dây chuyền sản xuất vắc xin vi rút trên phôi trứng, cả 3 dây chuyềncông nghệ châu Âu đang đi vào hoạt động và cho kết quả tốt.
Sau hơn 12 năm hoạt động, Marphavet đã có những bước phát triểnvượt bậc cả về quy mô sản xuất kinh doanh, thị trường và số lượng cán bộchuyên nghiệp có chiều sâu, am hiểu sâu sắc tư duy quản trị Hiện tại,Marphavet có 5 công ty thành viên và 12 chi nhánh tại các thành phố lớngồm: Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, Công ty cổ phầnNanovet, Công ty cổ phần BMG, Công ty cổ phần Hoàng Đức Hiền, Công ty
cổ phần Aboss Với tổng diện tích hơn 12,5 ha và 2 nhà máy đạt tiêu chuẩnGMP/WHO trên cả 6 dây chuyền thuốc và vắc xin công nghệ cao Trụ sở nhàmáy đặt tại xã Trung Thành- Phổ Yên- Thái Nguyên và 12 chi nhánh kháctrên cả Nước như: Chi nhánh Cần Thơ, Chi nhánh Quận 9 - TPHCM, Chinhánh Đồng Nai, Chi nhánh Dắk Lắc, Chi nhánh Nha Trang, Chi nhánh ĐàNẵng, Chi nhánh Huế, Chi nhánh Hải Phòng và Chi nhánh Mỹ Đình - Hà Nội.Sản phẩm của Marphavet phủ khắp 63 tỉnh thành trong cả nước và xuất khẩusang trên 10 nước trên Thế giới Hệ thống nhà phân phối và đại lý với sốlượng hơn 8.000 đại lý Marphavet có đội ngũ nhân sự chuyên môn trình độcao với hơn 1.000 cán bộ nhân viên bao gồm 2 Giáo sư, 5 Phó Giáo sư, 8Tiến sỹ, 29 Thạc sỹ, trên 500 Bác sĩ thú y và Kĩ sư chăn nuôi, 15 Dược sĩnhân y, 12 Cử nhân Công nghệ sinh học có nhiều kinh nghiệm thực tế trongngành, hơn 250 Cử nhân kinh tế, Kế toán, Luật, Nhân văn, Quản trị kinhdoanh, Marketing, Cơ khí chế tạo máy, Điện lạnh…có trình độ chuyên mônthường xuyên được tập huấn ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài sangđào tạo, đội ngũ công nhân thâm niên lành nghề, môi trường làm việc thânthiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến Ngoài ra Công ty đang hợp táctốt với các Bộ, Vụ, Cục, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trường đạihọc trong và ngoài nước
Trang 16Trong quá trình xây dựng và phát triển, Ban lãnh đạo Công ty luôn đềcao nhân tố con người, đặt con người vào vị trí trung tâm trong mọi hoạtđộng Chính sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Lãnh đạo Công ty cộng với tinhthần ham học hỏi, giao lưu, chia sẻ, không ngừng nâng cao kiến thức, trình
độ, kinh nghiệm của cán bộ công nhân viên đã tạo nên sức mạnh tổng lựcgiúp Marphavet vươn lên và khẳng định thương hiệu cũng như đứng vữngtrên thị trường trong nước và quốc tế
Trang trại sản xuất lợn hướng nạc của ông Khương Tuấn Bình làmtrưởng trại, nằm trên địa phận xã Phú Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.Trại lợn được thành lập năm 2007, là trại lợn tư nhân do ông Khương TuấnBình làm chủ đầu tư
2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn ông Khương Tuấn Bình được xây dựng trên địa bàn xã PhúLâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa Địa bàn xã giáp với đường quốc lộ 1Arất thuận tiện cho việc di chuyển và giao thông vận tải hàng hóa Đoạn đườngcũng tiếp giáp với lối ra đường mòn Hồ Chí Minh nên càng thuận lợi hơn Địabàn thuộc vùng giáp vùng núi của tỉnh Thanh Hóa nên thời tiết cũng ổn địnhhơn ngoài vùng ven biển và vùng núi Đường giao thông được nâng cấp thuậnlợi cho việc giao thông vận tải, trọng tải nhỏ hơn 16 tấn
Trại lợn cách khu dân cư 1km
Khu chăn nuôi trại lợn của ông Khương Tuấn Bình được xây dựng trêndiện tích 3 ha gồm trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn vàcác công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.Ngoài ra, xung quanh trại là một diện tích nhỏ đất trồng cây ăn quả, ao hồchứa nước và nuôi cá nước ngọt, và tận dụng các khoảng đất trống để trồngrau xanh
Trang 17Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào riêng.Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôicông nghiệp, hệ thống chuồng lồng, sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sànnhựa cho lợn con, cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Mỗichuồng được lắp đặt hệ thống bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồngtrại hàng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải.
Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồngtrại cho 200 nái bao gồm: 1 chuồng đẻ có 50 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, 1chuồng bầu có 150 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, 1 chuồng đực giống + náihậu bị có 10 ô kích thước 5m × 6m, 3 chuồng thương phẩm mỗi chuồng có 10
ô kích thước 5m × 6m, và 1 chuồng úm có 10 ô kích thước 5m × 6m Cùngmột số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sáttrùng, phòng pha tinh, kho thuốc…
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệthống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ; 4quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị +đực giống và chuồng úm Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ
có diện tích 1,2m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 50cm Trên trầnđươc lắp hệ thống chống nóng bằng thép
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máyđếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóngliều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đềuđược đổ bê tông và có các hố sát trùng Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi tạitrại có xây dựng hệ thống sát trùng phun sương cho công nhân trước khi ra,vào chuồng chăm sóc lợn Và bên cạnh đó có một kho thuốc, một kho cám, vàvật liệu vật tư
Trang 18Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng mua từbên ngoài về (do trại xây dựng gần biển nên không thể khoan giếng lấy nướcngọt được) Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứanước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồngkhác nhau.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
01: Chủ trại
01: Trưởng trại
01: Kỹ thuật trại
01: Kế toán
8: công nhân và 1 sinh viên thực tập
02: bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổchuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng thương phẩm Mỗi tổ thực hiệncông việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại Ngoài racòn có tổ nhà bếp và các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý chung cácthành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự pháttriển của trang trại
2.2 Đối tượng vật nuôi và các kết quả sản xuất của cở sở
2.2.1 Đối tượng vật nuôi của trại
Trại lợn của công ty nuôi các giống lợn khác nhau như: Yorkshire,Landrace, Duroc Ngoài ra trại còn nuôi 2 giống lợn khác là: Meishan và lợnMóng Cái làm dự án với số lượng nhỏ
2.2.2 Kết quả sản xuất của cơ sở
Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 – 2,5 lứa/năm
Số con sơ sinh là 11,15 con/đàn, số con cai sữa: 9,9 con/đàn
Trang 19Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và lợn con được chuyển sang chuồng úm.
Lợn thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sơ sinh đến lúc xuất bán khoảng 5 đến 6 tháng với trọng lượng trung bình từ 90 đến 105kg
Cơ cấu đàn lợn nái của trại trong 3 năm gần đây
Cơ cấu đàn lợn nái của trại từ năm 2017 đến nay như sau:
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn lợn nái của trại lợn Khương Tuấn Bình
từ năm 2015 đến tháng 12 năm 2017
Loại lợn nái
Số lượng lợn nái của các năm (con)
*Nguồn: trại lợn Khương Tuấn Bình liên kết với tập đoàn BMG
Bảng 2.1 cho thấy, số lượng lợn nái sinh sản của trại có biến động tănggiảm qua các năm Số lượng lợn nái có xu hướng tăng lên trong năm 2016nhưng giảm mạnh năm 2017, đặc biệt lợn nái hậu bị tăng lên số lượng lớnnhằm thay thế cho các lợn nái sinh sản không đủ tiêu chuẩn và loại thải
2.3 Cơ sở khoa học của đề tài
2.3.1 Một số hiểu biết về lợn con
* Các thời kỳ quan trọng của lợn con
+ Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiêncủa lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn conchuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiệntiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chămsóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Trang 20Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹvừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồiphục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ởgiai đoạn này.
+ Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quyluật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ
và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảmnhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợncon sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Đểgiải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
+ Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môitrường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặt khác, thức ănthay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn docon người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chuđáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa
Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc
23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đãlàm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con
2.3.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ
Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ởthời kỳ bú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiệnngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỉ lệ hao hụtlớn ở lợn con
+ Chuồng nuôi: Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ.Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè,đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có
Trang 21đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng.
Nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cầngiữ ấm ở 32 - 35oC trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27oC cho đến lúc caisữa
3 - 6 tuần tuổi Nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhânstress đối với gia súc
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [4], nhiệt độ môi trường ảnhhưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùyvào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ
30 – 31oC, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC Trong mùa đông ởcác tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10oCảnh hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [17], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽlàm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vikhuẩn cường độc gây bệnh
+ Cắt đuôi, bấm răng nanh, thiến:
Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôicho lợn nuôi thịt Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và cómật độ cao cho nên lợn thường tấn công nhau gây mất ổn định, giảm năngsuất chăn nuôi Vị trí tấn công thường là đuôi
Việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ.Dùng kìm điện cắt sát khấu đuôi sao cho để lại 2,5 – 3 cm Cắt xong dùng cồniot 70o để sát trùng
Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc bấm răng nanh cũngtiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây đau cho lợn mẹ khi bú, giảm tỷ
lệ gây viêm vú cho lợn mẹ Khi cắt răng nanh, người cắt tránh không phạm
Trang 22vào nướu hoặc lưỡi lợn con, ngoài ra người cắt cũng nên cẩn thận không đểnanh gẫy bắn vào mắt mình.
Trong thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực khôngdùng làm giống Có thể thiến trong khoảng từ 8 - 10 ngày tuổi Cần sát trùngbằng cồn iod trước và sau thiến
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2013) [15], bệnh phó thương hàn là bệnhtruyền nhiễm chủ yếu xảy ra ở lợn con 2-4 tháng tuổi Đặc trưng của bệnh là
do vi khuẩn tác động vào bộ máy tiêu hóa gây nên triệu chứng nôn mửa, ỉachảy, phân khắm, vết loét lan tràn ở ruột già
+ Tiêm phòng:
Khi lợn con được 20 ngày tuổi nên tiêm phòng những loại vắc xin:
- Salmonella (2 ml/con) phòng bệnh phó thương hàn.
- Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin dịch tả
- Giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng vàđóng dấu
Quản lý lợn con: Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thìcần phải có kế hoạch quản lý tốt Những con này sẽ được cân và đánh số ởcác giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi Đây chính là cơ
sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này
* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi
Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề
15 – 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn Lợn con đẻ ra phảiđược lau khô bằng vải màn xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu -mình - rốn - bốn chân, cho vào ổ úm sau khi nhiệt độ môi trường nhỏ hơn
35oC Lợn nái đẻ xong con cuối cùng tiến hành bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu
vú cho lợn con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều
Trang 23* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi
Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đãbước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rấtquan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn
và cắt đuôi Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn controng mọi vấn đề, trừ sắt Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trongmáu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể Thiếu sắt sẽ gây thiếu máunhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [10], một trong các yếu tố làm cholợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đãchứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 – 50mg sắt nhưng lợn con chỉnhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1mg Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tốithiểu 200 -
250mg/con/ngày Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề
kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu chảy
Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 - 16 mg hoặc 21 mg/kg tăngkhối lượng duy trì hemoglobin (hồng cầu) trong máu, sắt dự trữ cho cơ thểtồn tại và phát triển Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhucầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàmlượng hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phântrắng, chậm lớn, có khi chết
* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa
Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khảnăng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó Vào thời gian này,phần lớn lợn con theo mẹ đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn vàlớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần
cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn con
Trang 24Một cách để đạt năng suất tối đa là lợn con bắt đầu ăn càng sớm càngtốt Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 - 4 tuần tuổi và bắtđầu giảm, lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức
ăn bổ sung nếu nó sinh trưởng với tiềm năng di truyền của nó, trong giai đoạnnày nội ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại do kýsinh trùng gây ra có thể bắt đầu từ rất bé Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếucuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa, tuổi cai sữa lợn con có thểthay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn Nói chung lợn con có thểcai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý nhiềuhơn Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú ýnhững điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:
+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg
+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổđông con
+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể
+ Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được
+ Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảysau cai sữa
+ Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi
nước uống
+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy
2.3.3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
* Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con:
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiếtsữa đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối vớilợn con là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả
Trang 25đàn con bú cùng lúc Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻtrước bú trước.
Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2006) [23], lợn con khi mớisinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Song lượng kháng thể trongmáu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], lợn con mới đẻ lượng khángthể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễndịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấpthu được nhiều hay ít từ lợn mẹ
Theo Trần Thị Dân (2008)[7], lợn con mới đẻ trong máu không cóglobulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹsang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 – 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 –
6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễndịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễndịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết đểtăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng proteintrong sữa đầu gấp 2 lần so với bình thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin
C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 1,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàmlượng globulin mà sữa thường không có, globulin có tác dụng giúp cholợn con có sức đề kháng đối với bệnh tật, Ngoài ra, M++ trong sữa đầu có tácdụng tẩy các chất cặn bã (phân su) trong quá trình tiêu hóa phát triển thai đểhấp thu chất dinh dưỡng mới Nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rốiloạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cao
Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng búsữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phầnngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ
Trang 26không đều nhau Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú
ở những vú trước con ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều củađàn lợn con rất thấp, có trường hợp có những con lợn yếu không tranh được
bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao Khi cố định đầu vú, nên ưu tiênnhững con lợn nhỏ yếu được bú phía trước ngực Công việc này đòi hỏi phảikiên trì, tỷ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày (7 - 8) lần, làmliên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi Cũng cótrường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn vú phía sau có thể chomỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa tránh
bị teo vú cho lợn mẹ
Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vúquy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằmcủa lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con búthì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn Ngược lại, nếu lợn mẹ nằmthay đổi vị trí luôn thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn
Theo Duy Hùng (2011) [14], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằngngày bằng dung dịch sát trùng Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợncon bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống
đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy
cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng
bị viêm Dùng các phương pháp chừm nóng, xoa bóp nhẹ nên vùng bị sưng
Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun erezyl cho cả đàn con cũ
và mới mới không bị mẹ cắn, những con mới ghép cũng phải cố định vúbú
* Bổ sung sắt cho lợn con
Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn contiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cầnđược bổ sung thêm sắt
Trang 27Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x 7 mg/ngày = 210 mg Trong đó, lượng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 - 2mg/ ngày (36
- 60 mg/30 ngày), lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 - 180 mg,
vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tếthường cung cấp thêm 200 mg
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh Việc tiêm sắtthường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lúc
3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100mg là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm200mg sắt tiêm 2 lần Lần 1: 3 ngày tuổi, lần 2: 10 - 12 ngày tuổi
Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượnghemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, đôi khilợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết
Để loại trừ hiện tượng thiếu sắt cần bổ sung kịp thời cho lợn con bằngcách tiêm, cho uống hoặc cho ăn
Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất Nêndùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran Ferri -Dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài Cáchthức sử dụng:
- Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200
mg sắt (Fe - Dextran) cho 1 lợn con
- Cách 2: Tiêm lần 2: lần thứ nhất 100mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lầnthứ 2 (tiêm lặp lại) là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất Cũng với liều lượng
100 mg cho 1 lợn con
Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêmvitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng500mg) Nếu thiếu vitamin E thì cần cung cấp 20 - 30 mg Fe vào ngày thứ 3sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con
Trang 28- Cách tiêm sắt cho lợn con
Dùng 1 bơm tiêm sạch lấy dung dịch sắt khỏi lọ chứa, sử dụng kimtiêm 14 hoặc 16 (đường kính lớn) để lấy thuốc Sau khi lấy thuốc đầy bơmdùng kim 8, dài 1 cm để tiêm Sắt tiêm quá liều có thể gây hại, thậm chí cóthể gây độc Kiểm tra liều dùng ghi ở trên nhãn sản phẩm, không cần thay haysát trùng kim tiêm cho từng con lợn, song điểm tiêm nếu bẩn nên lau bằngnước sát trùng Rửa và sát trùng dụng cụ sau khi tiêm cho nhóm lợn con Việc
sử dụng kim tiêm và tiêm 1 lần tạo điều kiện vệ sinh hơn
Nên tiêm vào cổ, không nên tiêm ở mông vì có thể làm hại đến dâythần kinh và cũng có thể vết sắt dư thừa lưu ở thân lợn thịt mổ bán Tiêm sắtvào cơ bắp hay tiêm vào dưới da Cẩn thận không tiêm vào phần xương sống.Giữ mũi tiêm một lúc để tránh hoặc giảm lượng thuốc chảy ngược ra Điểmkhuyến cáo để tiêm dưới da là chỗ da kéo lên được ở phía trước chân trước
+ Giảm bớt sự nhấm nháp thức ăn rơi vãi của lợn con để hạn chế đượccác bệnh đường ruột của lợn con
+ Giảm bớt sự khai thác sữa mẹ kiệt quệ và giảm tỷ lệ hao mòn của lợn
mẹ, từ đó lợn mẹ sớm động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con
+ Tránh sự cắn xé bầu vú lợn mẹ, hạn chế bệnh viêm vú
+ Có điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con, tăng hệ số quay vòng lứađẻ/nái/năm
Trang 29- Phương pháp tập ăn sớm:
Khi lợn con đạt 7 - 10 ngày tuổi, ta nên tiến hành cho lợn con làm quenvới thức ăn Thức ăn tập ăn phải đảm bảo có tính thèm ăn cao Cần lựa chọnloại thức ăn, các chất phụ gia, cũng như phương pháp chế biến sao cho kíchthích sự thu nhận thức ăn của lợn con Lợn con thường rất thích ăn thức dạngviên hay bột nhỏ khô, những thức ăn này thường là các loại tấm, bắp, đậunành được rang xay để tạo mùi thơm Phải cho lợn con làm quen với nguồnglucid, lipid, protid của các loại thực liệu thông thường để hệ tiêu hóa của lợncon sớm bài tiết các enzyme tiêu hóa thích hợp
2.3.4 Cai sữa cho lợn con
* Điều kiện cai sữa cho lợn con:
- Phải chủ động thức ăn, thức ăn cần phải có phẩm chất tốt, giá trị dinhdưỡng cao, cân đối
-Sức khỏe của lợn con và lợn mẹ phải tốt
- Lợn con phải ăn tốt và tiêu hóa tốt các loại thức ăn
- Cần phải có trang thiết bị đầy đủ, đúng kỹ thuật
- Người chăn nuôi phải có tay nghề, tinh thần trách nhiệm cao
* Các hình thức cai sữa:
- Cai sữa thông thường: Cai sữa từ 42 - 60 ngày tuổi
+ Ưu điểm: Lợn con biết ăn tốt, thức ăn yêu cầu không cao lắm, lợncon khỏe mạnh hơn, khả năng điều tiết thân nhiệt tốt hơn nên chăm sóc nhẹnhàng hơn
+ Nhược điểm: Khả năng sinh sản thấp, chi phí cho 1kg khối lượng lợncon cao, tỷ lệ hao mòn lợn mẹ lớn hơn
- Cai sữa sớm: Cai sữa từ 21 đến 28 ngày tuổi
+ Ưu điểm: Nâng cao sức sinh sản của lợn nái (nâng cao số lứa đẻ lên2,33 lứa so với 2,19 lứa), tránh được một số bệnh truyền nhiễm từ mẹ sang
Trang 30con, giảm chi phí thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn con (20% so với cai sữathông thường), giảm tỷ lệ hao mòn lợn mẹ.
+ Nhược điểm: Đòi hỏi thức ăn phải có chất lượng tốt, người chăm sócnuôi dưỡng phải nhiệt tình với công việc và có nhiều kinh nghiệm
* Kỹ thuật cai sữa:
- Trước cai sữa 2 - 3 ngày cần giảm số lần bú của lợn con
- Giảm thức ăn cho lợn mẹ trước khi cai sữa 1 - 2 ngày
- Chế độ ăn đối với lợn con:
+ Tỷ lệ sơ trong khẩu phần thấp: Khả năng tiêu hóa chất xơ ở lợn concòn kém, tỷ lệ xơ ở trong khẩu phần ăn cao thì lợn con sinh trưởng phát triểnchậm, tiêu tốn thức ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và có thể dẫn đếncòi cọc, tỷ lệ thích hợp là 5 - 6 % Xu hướng trong những năm gần đây ở cácnước chăn nuôi tiên tiến người ta khuyến khích nâng cao tỷ lệ xơ trong khẩuphần ăn của lợn để nâng cao sức khỏe
+ Có tỷ lệ ăn thích hợp: Lợn con ở giai đoạn này cần có dinh dưỡng tốtcho phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu Nếu chúng ta cung cấp khẩuphần ăn có lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con sẽ béo sớm và khả năng tăngtrọng sẽ giảm, tích lũy nhiều mỡ sớm Tỷ lệ thức ăn tinh thích hợp cho lợncon trong giai đoạn này là 80% trong khẩu phần
Trang 31+ Có tỷ lệ nước thích hợp: Nếu khẩu phần lợn con có tỷ lệ nước cao sẽdẫn đến tiêu hóa kém, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng nhất làprotein, thức ăn nhiều nước cũng gây nền chuồng bẩn, ẩm thấp và lợn con dễnhiễm bệnh.
Nếu tỷ lệ nước thấp sẽ gây nên thiếu nước cho nhu cầu sinh trưởng vàphát triển của lợn con Tỷ lệ thức ăn tinh : thô phải thích hợp, cứ 1kg thức ăntinh trộn với 0,5l nước sạch, tối đa có thể là tỷ lệ 1 : 1, ngoài ra người chănnuôi phải cho lợn con uống nước đầy đủ theo hình thức tự do
Ngoài ra chúng ta còn bổ sung khoáng vi lượng như Mn, Co, Cu, Mg,Fe, và bổ sung cho lợn những chế phẩm vitamin - khoáng
+ Phương pháp cho lợn con ăn:
Cho ăn nhiều bữa trong ngày, 5 - 6 bữa/ngày thì có tốc độ tăng trọngcao hơn 3 bữa/ngày Tuy nhiên, cho ăn nhiều bữa trong ngày sẽ tốn công laođộng trong chăn nuôi Từ đó người chăn nuôi cần lựa chọn số bữa thích hợp
để cho lợn con ăn
Cho lợn con ăn đúng giờ giấc quy định và tập cho lợn con những phản
xạ có điều kiện về tiêu hóa
Cho lợn con ăn từ từ để tránh vung vãi ra ngoài và hạn chế được lợncon mắc các bệnh về đường tiêu hóa
Cho lợn con ăn đúng tiêu chuẩn và khẩu phần ăn Theo dõi sức khỏe đểđiều chỉnh khẩu phần và tiêu chuẩn cho chúng
2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm:các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài
* Yếu tố bên trong:
Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh
hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quátrình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều
Trang 32khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chấtcủa tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu.
* Yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và pháttriển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng vàcác yếu tố khác
+ Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếukhông có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng tađảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽgóp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong
cơ thể
+ Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnhhưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và pháttriển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thểđảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệtcủa cơ thể lợn
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004)[8], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng,hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởngtrực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, cácphản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [13], lợn con sinh ra phải đượcsưởi ấm ở nhiệt độ 34oC trong suốt tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuốngnhưng không được thấp hơn 30oC, như vậy lợn sẽ tránh được những stresslạnh ẩm
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều,lợn sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kgtăng khối lượng