Môn học pháp luật thương mại quốc tế Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA) Tài liệu: Phân tích Hiệp định chống bán phá giá (ADA)
Trang 1MỤC LỤC
PHÂN TÍCH HIỆP ĐỊNH VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ (HIỆP ĐỊNH ADA) 2
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ 2
1.1 Cơ sở pháp lý 2
1.2 Khái niệm: 2
1.2.1 Khái niệm “bán phá giá” 2
1.2.2 Một số khái niệm khác cần đề cập 3
1.3 Hiệp định chống bán phá giá ADA của WTO 5
1.3.1 Lịch sử ra đời 5
1.3.2 Ủy ban chống bán phá giá của WTO 6
2 BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 6
2.1 Các biện pháp chống bán phá giá 6
2.1.1 Thuế chống bán phá giá: Điều 9 ADA 7
2.1.2 Biện pháp tạm thời: Điều 7 ADA 7
2.1.3 Biện pháp cam kết: Điều 8 ADA 8
2.2 Điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá 9
2.2.1 Xác định có bán phá giá 9
2.2.2 Có sự thiệt hại về vật chất do hành động bán phá giá gây ra hoặc đe dọa gây ra đối với các doanh nghiệp nội địa đang sản xuất các sản phẩm tương tự, hoặc gây ra sự trì trệ đối với quá trình thành lập của một ngành công nghiệp trong nước 13
2.2.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước 14
3 QUY ĐỊNH DÀNH CHO CÁC THÀNH VIÊN CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 15
4 QUY TRÌNH, THỦ TỤC CỦA MỘT VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 15
4.1 Vụ kiện chống bán phá giá là gì? 15
4.2 Những yếu tố cơ bản của một vụ kiện chống bán phá giá: 16
4.3.1 Thuế chống bán phá giá được áp dụng như thế nào? 18
4.3.2 Điều kiện miễn trừ: 19
Trang 24.4 Cần làm gì để phòng tránh và đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá ở nước
ngoài? 19
4.4.1 Chính sách phòng ngừa và đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài 20
4.4.2 Một số biện pháp kỹ thuật để đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá: 20
5 PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 21
5.1 VBPL: Pháp lệnh về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào VN 2004 21
5.2 Cơ quan có thẩm quyền: 21
5.3 Thực trạng hiện nay ở VN: 21
5.4 Đề xuất kiến nghị: 29
5.5 Nguy cơ hàng hóa Việt Nam bị kiện ở nước ngoài có lớn không? 30
Trang 3PHÂN TÍCH HIỆP ĐỊNH VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
(HIỆP ĐỊNH ADA)
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ
1.1 Cơ sở pháp lý.
Điều VI Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994)
Hiệp định về chống bán phá giá thực thi Điều VI (Anti-DumpingAgreement – ADA)
Pháp luật chống bán phá giá của quốc gia
Các nhóm nội dung chính của Hiệp định ADA như sau:
Nhóm các quy định về điều kiện áp thuế (cách thức xác địnhbiên phá giá, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phágiá, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá vàthiệt hại, cách thức xác định mức thuế và phương thức ápthuế…)
Nhóm các quy định về thủ tục điều tra (điều kiện nộp đơn kiện,các bước điều tra, thời hạn điều tra, quyền tố tụng của các bêntham gia vụ kiện, biện pháp tạm thời…)
1.2 Khái niệm:
1.2.1 Khái niệm “bán phá giá”
Có nhiều khái niệm khác nhau về bán phá giá chẳng hạn như: bánphá giá hàng hoá là xuất khẩu hàng hoá theo giá cả thấp hơn hoặc theogiá rẻ mạt Định nghĩa này có thể gây hiểu nhầm vì bán phá giá hànghoá không đồng nghĩa với hàng hoá bán rẻ - một nước có thể xuất khẩuhàng hoá tới nước khác, bán với giá rẻ hơn hàng hoá cùng loại đangbán trên thị trường nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn giábán của hàng hoá đó trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động đókhông phải là bán phá giá
Trang 4Hay cũng có khái niệm cho rằng: bán phá giá là bán hàng ra nướcngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa Theo các cách hiểunày thì muốn xác định được hành vi bán phá giá người ta cần phải xácđịnh giá nội địa Tuy nhiên, việc xác định giá nội địa đôi khi khôngchính xác vì trong một số trường hợp, giá bán tại thị trường nội địa củacông ty còn nhỏ hơn chi phí sản xuất.
Ngày nay, khái niệm về bán phá giá ngày càng được phát triển hoànchỉnh hơn Người ta cho rằng bán phá giá là bán hàng ra nước ngoài vớigiá thấp hơn chi phí sản xuất Quan điểm này ngày càng được nhiềungười thừa nhận
Trong WTO, đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thể hiện sựphân biệt giá quốc tế thông qua việc bán háng hóa sang một nước khácthấp hơn giá thông thường (được bán tại thị trường nước mình) của hànghóa liên quan
Theo khoản 1 Điều VI GATT 1994, bán phá giá là “việc sản phẩm của
một nước được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm”
Theo khoản 1 Điều 2 của Hiệp định chống bán phá giá (ADA) của
WTO: “Một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu như giá xuất khẩu của
sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.”
Điều VI trong bối cảnh hàng nhập khẩu cạnh tranh không lànhmạnh 1
1 Robert E Hudec, “Like product: the differences in meaning in GATT I and III”, Regulatory
Trang 5 Theo Điều 2.6 Hiệp định ADA (thực thi Điều VI của GATT), khái niệmsản phẩm tương tự được định nghĩa như sau: “là sản phẩm giống hệt,tức là sản phẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang đượcxem xét, hoặc trong trường hợp không có sản phẩm nào như vậy thì
là sản phẩm khác mặc dù không giống ở mọi đặc tính nhưng có nhiềuđặc điểm gần giống với sản phẩm được xem xét.”
Như vậy, có thể rút lại, sản phẩm tương tự có thể là:
Sản phẩm giống hệt: có tất cả các đặc tính giống sản phẩm đang
bị điều tra
Sản phẩm gần giống: có nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩmđang bị điều tra, trong trường hợp không có sản phẩm giốnghệt
Tuy nhiên, vẫn chưa giải quyết được liệu rằng cơ quan có thẩm quyền
có thể căn cứ vào chỉ 1 tiêu chí nào đó để xác định sản phẩm tương tựhay không Nếu không thì nhiều tiêu chí sẽ là bao nhiêu tiêu chí và
là tiêu chí gì cũng như thứ tự ưu tiên áp dụng là gì?
Do đó, trên thực tế, việc xác định sản phẩm tương tự là hoàn toàn docác cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu quyết định, và vìvậy cũng gây ra không ít tranh cãi với nhau về việc xác định sảnphẩm tương tự
Tại sao phải xác định sản phẩm tương tự?
Xác định sản phẩm tương tự ở đây là xác định xem sản phẩm nhậpkhẩu hay sản phẩm bị cáo buộc là bán phá giá và sản phẩm được sản xuấtnội địa có phải là hàng hóa tương tự hay không Việc xác định sản phẩmtương tự này rất quan trọng và mang tính nền tảng bởi vì đây sẽ giúp xácđịnh xem doanh nghiệp nào là doanh nghiệp hình thành nên ngành côngnghiệp nội địa, và sẽ giúp điều hướng việc điều tra, xác định thiệt hại vàmối quan hệ nhân quả
b Điều kiện thương mại thông thường.
Hiện không có định nghĩa cụ thể thế nào là hàng hoá bán trong điềukiện thương mại thông thường Tuy nhiên, ADA có nêu một trường hợp cóthể được coi là không được bán theo điều kiện thương mại thông thường tạiĐiều 2.2: khi SPTT được bán tại thị trường nội địa hoặc bán sang một nướcthứ ba với mức giá không đủ bù đắp chi phí sản xuất theo đơn vị sản phẩm
Trang 6(giá thành sản xuất + chi phí bán hàng, quản trị, chi phí chung) (bán lỗvốn).
c Mức giá có thể so sánh được.
Có sản phẩm tương tự
Có tỷ giá hối đoái hợp lý
1.3 Hiệp định chống bán phá giá ADA của WTO.
1.3.1 Lịch sử ra đời.
Thuế chống bán phá giá được áp dụng lần đầu tiên ở Canada vào năm
1904 và ngày càng phổ biến rộng rãi không những ở các nước phát triểnnhư Mỹ, Canada, EU, Australia mà cả các nước đang phát triển như Brazil,
Ấn độ, Argentina, Mexico, Malaysia Đây là một công cụ bảo vệ hiệu quảhàng hoá sản xuất trong nước khi phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu bịbán phá giá
Tuy nhiên, chỉ đến năm 1947 Hiệp định chung về thuế quan và thươngmại (GATT-1947) tiền thân của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) mới cóqui định về điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá trong điều VI Sau
đó, vấn đề bán phá giá và chống bán phá giá lại được đưa ra thảo luận tạiVòng đàm phán Kenedy (1964-1967) và Vòng đàm phán Tokyo (1973-1979) thuộc Các vòng đàm phán của GATT (Hiệp định chung về thuế quan
và mậu dịch) Đây là giai đoạn mà thương mại quốc tế đang phát triển rấtmạnh mẽ, các quốc gia phát triển tăng cường xuất khẩu sang các nướcđang phát triển Họ thường sử dụng các biện pháp trợ cấp, trợ giá đối vớicác sản phẩm, nhất là những sản phẩm nông nghiệp của mình để tăngcường sức cạnh tranh của hàng hoá khi tham dự vào thương mại thế giới.Hàng hoá của những nước này ồ ạt đổ vào nước đang phát triển- nơi giờđây là thị trường lý tưởng cho các nước phát triển cạnh tranh nhau Kếtquả là vào năm 1979, GATT đã ban hành Đạo luật chống bán phá giá để
mở rộng điều VI của GATT-1947 Cũng trong thời gian này, các nước đangphát triển cũng đã bắt đầu ban hành luật điều chỉnh việc bán phá giá cùngnhững biện pháp chống lại các hoạt động này nhằm bảo vệ nền sản xuấttrong nước Các nước đang phát triển rất quan tâm tới việc đánh giá đúnggiá thành của sản phẩm, rằng sản phẩm được bán ra với giá không thấphơn giá thành hay giá bán trên thị trường nội địa và tìm mọi cách để ngănngừa những hành vi lẩn tránh các biện pháp chống bán phá giá Đồng thời
Trang 7họ cũng chú trọng đến việc đảm bảo rằng những biện pháp chống bán phágiá không bị lạm dụng nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nước mà chỉ giớihạn ở mức cần thiết (thuế chống bán phá giá không nhất thiết phải caobằng mức phá giá mà có thể chỉ ở mức được xác định là cần thiết).
Đến vòng đàm phán Uruguay (1986-1994), vấn đề về bán phá giá vàchống bán phá giá mới được thống nhất lại khi các quốc gia thành viên củaGATT cùng nhau đặt bút ký vào “Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp địnhchung về thuế quan và thương mại 1994” Trong đó có nhiều quy định chitiết và chặt chẽ từ việc xác định vấn đề phá giá, trình tự một cuộc điều tra
về bán phá giá đến các biện pháp tạm thời và các biện pháp cuối cùngtrong trường hợp xác định có bán phá giá Những quy định này được rút
ra từ thực tiễn thương mại quốc tế giữa các thành viên trong những nămqua Trên cơ sở Hiệp định này, nhiều nước đã ban hành luật chống bán phágiá của riêng mình, trong đó chủ yếu là các nước đang phát triển để bảo vệnền sản xuất trong nước khỏi hàng hoá nhập khẩu từ các nước phát triển.Tuy nhiên, do Hiệp định có nhiều quy định không chặt chẽ về vấn đề tự vệ
và việc đối phó với việc lẩn tránh các biện pháp chống bán phá giá mà cácquốc gia, trong luật của mình, đã biến những quy định đó thành những cơchế mang tính chất bảo hộ Luật chống bán phá giá đôi khi đã bị lợi dụng,trở thành biện pháp bảo hộ nền sản xuất trong nước Và trong thực tiễnthương mại hiện nay, các biện pháp chống bán giá không chỉ được cácnước đang phát triển áp dụng mà nó đã trở thành một công cụ phổ biếncủa các nước phát triển, được các nước này triệt để khai thác Đơn cử như
Mỹ, hàng năm các doanh nghiệp nước này đã phát hàng nghìn đơn kiệnbán phá giá đối với hàng nhập khẩu của hàng chục nước trên thế giới Cácbiện pháp chống bán phá giá giờ đây đã trở thành quen thuộc trongthương mại quốc tế Do đó, đối với bất kỳ một doanh nghiệp xuất khẩu củabất kỳ quốc gia nào trên thế giới, khi muốn xuất khẩu hàng hoá ra nướcngoài thì một vấn đề không thể bỏ qua là phải nghiên cứu về luật chốngbán phá giá của các quốc gia, các thị trường mà mình muốn thâm nhập đểtránh nguy cơ bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá Trong các luậtchống bán phá giá thì không thể không nhắc đến Hiệp định thực thi Điều
VI của GATT năm 1994- Hiệp định làm cơ sở cho luật chống bán phá giácủa các quốc gia
1.3.2 Ủy ban chống bán phá giá của WTO.
Trang 8Ủy ban chống bán phá giá bao gồm đại diện các thành viên WTO đượcthành lập nhằm thực hiện các nghĩa vụ qui định trong Hiệp định này và tạođiều kiện cho các thành viên trao đổi với nhau về các vấn đề liên quan đếnviệc thực hiện Hiệp định chống bán phá giá Ủy ban này họp ít nhất 2 lầnmỗi năm, Ban thư ký WTO sẽ thực hiện chức năng thư ký cho Ủy ban này
Các thành viên WTO phải thông báo cho Ủy ban chống bán phá giá:
Ngay lập tức khi họ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tạmthời hay lâu dài;
Nửa năm một lần (theo mẫu qui định) về các biện pháp chống bánphá giá mà họ áp dụng trong vòng 6 tháng trước đấy Các thànhviên có thể tham khảo thông báo này tại Ban thư ký WTO;
Cơ quan nào ở nước mình có thẩm quyền điều tra phá giá, luật quiđịnh thủ tục điều tra phá giá của nước mình
2 BIỆN PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
2.1 Các biện pháp chống bán phá giá.
Xuất phát từ quan điểm cho rằng hành vi bán phá giá, ở một mức độnghiêm trọng nhất định là hành vi thương mại không công bằng, luật lệ củaWTO hiện nay đều cho phép các quốc gia áp dụng biện pháp có tính trảđũa, tự vệ thương mại Trong các biện pháp hạn chế thương mại như ápdụng hạn ngạch, hạn chế số lượng, tăng thuế, các biện pháp hạn chế có tính
kỹ thuật, phi thuế quan khác, để chống lại hành vi bán phá giá, các quốcgia chỉ có quyền áp dụng thuế bổ sung (thuế chống bán phá giá) và biệnpháp cam kết
2.1.1 Thuế chống bán phá giá: Điều 9 ADA.
Thuế chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung của nước nhậpkhẩu áp dụng cho hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản
sự tiếp diễn của việc bán phá giá đó nhắm tránh gây thiệt hại cho ngànhsản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước Thuế chống bán phá giá là biệnpháp chống bán phá giá được sử dụng phổ biến nhất Khi một sản phẩm bịđiều tra và có kết luận là bán phá giá vào thị trường nước nhập khẩu thìnước nhập khẩu có quyền quyết định là có đánh thuế hay không Nếu có,
cơ quan điều tra chống bán phá giá sẽ quyết định mức thuế chống bán phágiá trên cơ sở biên độ phá giá, theo nguyên tắc mức thuế này có thể tươngđương hoặc nhỏ hơn biên độ phá giá
Trang 9Cơ quan điều tra sẽ xác định biên độ phá giá và mức thuế chống bánphá giá riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu Trường hợp số nhà sảnxuất, xuất khẩu quá lớn không thể tính riêng biên độ phá giá được, thì cơquan chức năng sẽ xem xét giới hạn ở một số nhà sản xuất, xuất khẩu nhấtđịnh, trên cơ sở trao đổi với các nhà sản xuất, xuất khẩu liên quan và mứcthuế đối với hàng nhập khẩu từ các nhà sản xuất, xuất khẩu không đượcđiều tra không vượt quá mức thuế của các nhà sản xuất, xuất khẩu có điềutra.
Trường hợp quốc gia xuất khẩu không chịu hợp tác cung cấp thôngtin cho quá trình điều tra, thì cơ quan điều tra bán phá giá của nước nhậpkhẩu trên cơ sở những thông tin tự thu thập được kết hợp với những thôngtin mà bên nguyên đơn đưa ra sẽ quyết định biên độ bán phá giá và mứcthuê áp dụng
Thuế chống bán phá giá sẽ được áp dụng cho từng trường hợp, trên
cơ sở không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn đượccoi là gây thiệt hại, trừ trường hợp đã cam kết giá (như đã nêu trên).Trị giáthuế chống bán phá giá áp dụng sẽ không được vượt quá biên độ phá giá
2.1.2 Biện pháp tạm thời: Điều 7 ADA.
Các biện pháp tạm thời có thể được áp dụng dưới hình thức thuế tạm thờihoặc tối ưu hơn là áp dụng dưới hình thức đảm bảo - bằng tiền đặt cọc hoặctiền đảm bảo - tương đương với mức thuế chống phá giá được dự tính tạmthời và không được cao hơn biên độ phá giá được dự tính tạm thời Việc đình chỉ định giá tính thuế cũng là một biện pháp tạm thời thích hợp vớiđiều kiện phải chỉ rõ mức thuế thông thường và mức thuế chống bán phágiá được dự tính và việc tạm đình chỉ định giá tính thuế này cũng phải tuânthủ theo các điều kiện được áp dụng cho các biện pháp tạm thời khác
Thuế chống bán phá giá tạm thời:
Là một khoản thuế bổ sung được áp dụng như một biện pháp khẩncấp tạm thời để hạn chế tác động của hàng hóa nhập khẩu bán phágiá trong quá trình điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá
Điều kiện áp dụng biện pháp tạm thời:
Cơ quan điều tra tiến hành điều tra đúng thủ tục, gửi thông báo vàtạo điều kiện cho các bên quan tâm cung cấp thông tin và trìnhbày ý kiến;
Trang 10 Có kết luận sơ bộ về việc xảy ra bán phá giá và dẫn đến thiệt hạicho ngành sản xuất trong nước; và
Cơ quan điều tra kết luận rằng biện pháp tạm thời là cần thiết đểngăn chặn thiệt hại trong quá trình điều tra
Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sớm nhất là 60 ngày sau khi bắt
đầu điều tra và sẽ được duy trì càng ngắn càng tốt, không được quá 4tháng hoặc trong trường hợp cần thiết thì cũng không được quá 6tháng Trong trường hợp cơ quan điều tra xác định được rằng khoảnthuế thấp hơn biên độ phá giá đã đủ để khắc phục thiệt hại thì thờihạn áp dụng biện pháp tạm thời có thể là 6 tháng hoặc 9 tháng
2.1.3 Biện pháp cam kết: Điều 8 ADA.
Biện pháp cam kết là thỏa thuận tăng giá hàng nhập khẩu bán phágiá của các doanh nghiệp bị điều tra để đưa giá bán của hàng hóa về vớimức giá thông thường
Hoạt động điều tra có thể bị đình chỉ hoặc chấm dứt mà không cần ápdụng bất cứ biện pháp tạm thời hay thuế chống phá giá nếu các nhà xuấtkhẩu đưa ra cam kết về giá Đây là trường hợp nhà xuất khẩu cam kết tănggiá hàng xuất khẩu, xóa đi khoản chênh lệch về giá tương đương với biên
độ phá giá được sơ bộ xác định Việc đưa ra cam kết về giá của nhà xuấtkhẩu chỉ được chấp nhận khi cơ quan điều tra thấy rằng thiệt hại đối vớingành sản xuất trong nước đã được loại bỏ và bản thân hành động cam kết
về giá cũng không đương nhiên chấm dứt hoạt động điều tra
Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà sản xuất, xuất khẩucam kết giá nếu thấy việc cam kết không khả thi, chẳng hạn số lượng nhàxuất khẩu quá lớn
Cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhưngkhông bắt buộc phải cam kết Các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu
có thể yêu cầu bất kỳ nhà xuất khẩu nào chấp nhận cam kết giá cung cấpthông tin định kỳ về việc thực hiện cam kết giá.Trường hợp nhà xuất khẩu
vi phạm cam kết giá, cơ quan điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạmthời trên cơ sở thông tin mà họ có
Theo quy định của Hiệp định ADA, cũng như thực tiễn của tất cả cácnước, hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp tạm thời và thuế chốngbán phá giá thuộc thẩm quyền của cơ quan hành pháp Để đảm bảo tính
Trang 11công bằng của các hoạt động này, bên cạnh việc quy định vấn đề chốngbán phá giá có thể trở thành đối tượng của tranh chấp thương mại theo thủtục của WTO nói chung, Hiệp định ADA còn quy định tại điều 13 về rà soát
tư pháp Theo quy định của Điều này, các quốc gia thành viên có nghĩa vụđảm bảo rằng các hoạt động về đánh giá hành vi bán phá giá, áp dụng cácbiện pháp chống phá giá phải được kiểm soát bởi các cơ quan tư pháp, hoạtđộng độc lập với các cơ quan đã đưa ra quyết định trong lĩnh vực chốngbán phá giá Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá cũngđược đảm bảo bởi nhiều các quy định thủ tục khác: theo quy định tại Điều
10 của Hiệp định ADA, thuế chống bán phá giá không có giá trị hồi tố; thờihạn áp dụng thuế chống bán phá giá không vượt quá 5 năm, trừ trườnghợp mở cuộc điều tra mới (điều 11.3 Hiệp định ADA)
2.2 Điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá.
2.2.1 Xác định có bán phá giá.
Để xác định có sự có mặt của bán phá giá hay không, chúng ta cầnphải so sánh sự khác biệt giữa giá xuất khẩu của sản phẩm nhập khẩu vớigiá trị thông thường của sản phẩm tương tự với sản phẩm nhập khẩu đượctiêu thụ tại thị trường thành viên xuất khẩu Sự khác biệt giữa chúng sẽđược gọi là biên độ phá giá
a Tính biên độ bán phá giá:
Biên độ phá giá được tính toán theo công thức sau:
Biên độ phá giá = Giá thôngthường−Giá xuất khẩu Giá xuất khẩuNếu biên độ phá giá > 0 là có bán phá giá
Trong đó:
Giá Thông thường là giá bán của sản phẩm tương tự tại thị
trường nước xuất khẩu
Theo Điều 2.2 ADA:
“Trong trường hợp không có các sản phẩm tương tự được bán trong nước theo các điều kiện thương mại thông thường tại thị trường nước xuất khẩu hoặc trong trường hợp việc bán trong nước đó không cho phép có được sự
so sánh chính xác do điều kiện đặc biệt của thị trường đó hoặc do số lượng hàng bán tại thị trường trong nước của nước xuất khẩu hàng hóa quá nhỏ,
Trang 12biên độ bán phá giá sẽ được xác định thông qua so sánh với mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ
3 thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được xác định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng thêm một khoản hợp lý chi phí quản lý, chi phí bán hàng, các chi phí chung và lợi nhuận.”
Vậy, trường hợp không có giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu do:
SPTT không được bán ở nước xuất khẩu trong điều kiện thương mạithông thường; hoặc
Có bán ở nước xuất khẩu nhưng trong điều kiện đặc biệt; hoặc
Số lượng bán ra không đáng kể (<5% số lượng SPTT bán ra ở nướcnhập khẩu)
Thì:
GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nước thứ ba; hoặc
GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lýchung ) + lợi nhuận
Trường hợp SPTT được xuất khẩu từ một nước có nền kinh tế phi thịtrường (giá bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào do chính phủ ấnđịnh) thì các qui tắc trên không được áp dụng để xác định GTTT
Giá Xuất khẩu là giá trên hợp đồng giữa nhà xuất khẩu nước ngoài
với nhà nhập khẩu đầu tiên
Theo Điều 2.3 Hiệp định ADA:
“Trong trường hợp không tồn tại mức giá xuất khẩu hoặc cơ quan có thẩm quyền thấy rằng mức giá xuất khẩu không đáng tin cậy vì lý do nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hoặc một bên thứ ba nào đó có quan hệ với nhau hoặc có thoả thuận về bù trừ, giá xuất khẩu có thể được diễn giải trên cơ sở mức giá khi sản phẩm nhập khẩu được bán lại lần đầu cho một người mua hàng độc lập, hoặc nếu như sản phẩm đó không được bán lại cho một người mua hàng độc lập hoặc không được bán lại theo các điều kiện giống với điều kiện nhập khẩu hàng hóa thì mức giá có thể được xác định trên một
cơ sở hợp lý do cơ quan có thẩm quyền tự quyết định.”
Vậy, trường hợp giá bán SPTT không tin cậy được do nhà sản xuất, nhànhập khẩu hoặc bên thứ ba nào đó có quan hệ với nhau hoặc có thỏa thuận
Trang 13sở cơ quan thẩm quyền tự quyết định.
b Bình quân gia quyền:
Theo quy định tại Điều 2.4.2 Hiệp định ADA:
“2.4.2 Thực hiện các qui định điều chỉnh sự so sánh công bằng tại khoản
4, việc xác định có tồn tại biên độ phá giá hay không trong suốt giai đoạn điều tra, thông thường sẽ dựa trên cơ sở so sánh giữa giá trị bình quân gia quyền thông thường với giá bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được hoặc thông qua so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở từng giao dịch Giá trị thông thường xác định trên cơ sở bình quân gia quyền có thể được đem so sánh với với giá của từng giao dịch xuất khẩu cụ thể nếu như các cơ quan có thẩm quyền xác định rằng cơ cấu giá xuất khẩu đối với những người mua khác nhau, khu vực khác nhau và thời điểm khác nhau có sự chênh lệch đáng
kể và khi có thể đưa ra giải thích về việc tại sao sự khác biệt này không thể được tính toán một cách đầy đủ khi so sánh bằng phương pháp sử dụng bình quân gia quyền so với bình quân gia quyền hoặc giao dịch so với giao dịch.”
Việc xác định có tồn tại biên độ bán phá giá hay không được thực hiệndựa trên 3 cách sau:
So sánh giữa giá trị bình quân gia quyền (bình quân giá) của tất cảcác giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được với giá trị bình quân giaquyền của tất cả các giá trị thông thường
So sánh giá giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sởtừng giao dịch
So sánh giá trị thông thường xác định trên cơ sở bình quân giaquyền có thể được với giá của từng giao dịch xuất khẩu cụ thể nếu cơquan có thẩm quyền cho rằng giá xuất khẩu đối với từng những ngườimua khác nhau, khu vực khác nhau, thời điểm khác nhau có sựchênh lệch đáng kể và cơ quan này có thể giải thích lý do tại sao sự
Trang 14khác biệt này không thể được tính toán một cách đầy đủ bằng 02phương pháp trên.
Ví dụ: Đơn giản hóa vụ kiện EC – ga trải giường, cộng đồng châu Âu.
Chúng ta giả sử rằng thành viên nhập khẩu chia sản phẩm đang bịđiều tra thành 4 nhóm như sau:
Sản
phẩm
điều tra
Bìnhquângiaquyềngiá trịthôngthường(VNĐ)(1)
Bìnhquângiaquyềngiá xuấtkhẩu(VNĐ)(2)
Biên độ phágiá của từngnhóm sảnphẩm
-50.000
Nhóm 4 105.00
0
85.000 20.000
c Phương pháp zeroing – Quy về không.
Là phương pháp tách riêng từng giao dịch và chỉ lấy những giao dịch
có biên độ dương để tính khối lượng bán phá giá Nghĩa là, quy về khôngtất cả các giao dịch có biên độ bán phá giá âm
Ví dụ: tiếp tục với vụ kiện ga trải giường bên trên, EC đã áp dụng
Bìnhquângia
Biên độ phágiá của từngnhóm sản
Biên độ phá giá của sảnphẩm điều tra
Trang 15quyềngiá trịthôngthường(VNĐ)(1)
quyềngiá xuấtkhẩu(VNĐ)(2)
-50.000
Nhóm 4 105.00
0
85.000 20.000
Nhược điểm của Phương pháp “Quy về 0”:
Thứ nhất, khi áp dụng phương pháp zeroing, hầu hết các kết quả điềutra đều đưa đến kết luận là có bán phá giá và bị áp thuế chống bánphá giá cao Điều đó gây bất công và tạo ra nhiều khó khăn cho cácnước xuất khẩu, từ đó hạn chế sự tự do hóa thương mại
Thứ hai, tạo nên sự không công bằng cũng như tạo ra thêm gánhnặng tài chính cho các doanh nghiệp
Thứ ba, ngoài thiệt hại về việc phải đóng thuế chống bán phá giá, cácdoanh nghiệp xuất khẩu còn phải chịu những hệ lụy khác từ việc ápthuế như phải ký quỹ một khoản tiền rất lớn Điều này một lần nữa gâykhó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi vốn – luôn là một vấn
đề của doanh nghiệp – phải dùng để ký quỹ Điều này lại làm tăng lợithế cạnh tranh của các doanh nghiệp không bị áp thuế chống bánphá giá
2.2.2 Có sự thiệt hại về vật chất do hành động bán phá giá gây ra hoặc đe dọa gây ra đối với các doanh nghiệp nội địa đang sản xuất các sản phẩm tương tự, hoặc gây ra sự trì trệ đối với quá trình thành lập của một ngành công nghiệp trong nước.
Theo Điều 3.1 của Hiệp định ADA:
Trang 16“ Việc xác định tổn hại nhằm thực hiện Điều VI của GATT 1994 phải được tiến hành dựa trên bằng chứng xác thực và thông qua điều tra khách quan
về cả hai khía cạnh: (a) khối lượng hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá
và ảnh hưởng của hàng hóa được bán phá giá đến giá trên thị trường nội địa của các sản phẩm tương tự và (b) hậu quả của việc nhập khẩu này đối với các nhà sản xuất các sản phẩm trên ở trong nước.”
Việc xác định thiệt hại sẽ liên quan đến các vấn đề sau:
a Xác định phạm vi của ngành sản xuất trong nước bị ảnh hưởng.
Theo Điều 4.1 Hiệp định ADA, ngành sản xuất trong nước là “tập hợpchung các nhà sản xuất các sản phẩm tương tự hoặc những nhà sản xuất cótổng sản phẩm chiếm phần lớn tổng sản xuất trong nước của sản phẩm đó”,trừ các trường hợp quy định tại các điểm (i) và (ii)
b Yếu tố tác động gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước.
Điều 3.4 Hiệp định ADA:
“Việc kiểm tra ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được bán phá giá đối với ngành sản xuất trong nước có liên quan phải bao gồm việc đánh giá tất cả các nhân tố và chỉ số có ảnh hưởng đến tình trạng của ngành sản xuất, trong đó bao gồm mức suy giảm thực tế và tiềm ẩn của doanh số, lợi nhuận, sản lượng, thị phần, năng suất, tỉ lệ lãi đối với đầu tư, tỉ lệ năng lực được sử dụng; các nhân tố ảnh hưởng đến giá trong nước, độ lớn của biên
độ bán phá giá; ảnh hưởng xấu thực tế hoặc tiềm ẩn đối với chu chuyển tiền mặt, lượng lưu kho, công ăn việc làm, tiền lương, tăng trưởng, khả năng huy động vốn hoặc nguồn đầu tư Danh mục trên chưa phải là đầy đủ, dù
có một hoặc một số nhân tố trong các nhân tố trên cũng không nhất thiết đưa ra kết luận mang tính quyết định.”
Thực tế, tránh trường hợp cơ quan có thẩm quyền của thành viênnhập khẩu lựa chọn phân tích chỉ một vài yếu tố dễ dàng dẫn đến thiệt hạinhất thì cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO kết luận danh sách trên làdanh sách bắt buộc Do đó, thành viên có nghĩa vụ phải cân nhắc đánh giátất cả các yếu tố
c Thiệt hại vật chất và nguy cơ gây thiệt hại vật chất.
Thiệt hại này phải là thiệt hại cho ngành công nghiệp cụ thể nào đó trên
Trang 17ADA chứ không phải thiệt hại gây ra cho một hoặc hai doanh nghiệp cụ thểkhông đáp ứng được tiêu chí về thị phần và cũng không phải là thiệt hại
mà người tiêu dùng phải gánh chịu giống như trong luật cạnh tranh
d Tính thiệt hại gộp
Trong trường hợp nhiều thành viên nhập khẩu tiêu thụ sản phẩm bị điềutra bán phá giá từ nhiều thành viên xuất khẩu khác nhau và thiệt hại chongành sản xuất trong nước có thể bị gây ra bởi hàng hóa xuất khẩu của tất
cả thành viên đó, cơ quan có thẩm quyền của thành viên nhập khẩu đượcquyền đánh giá cộng gộp tác động của hàng nhập khẩu bán phá giá đến từcác thành viên liên quan trên
Theo ADA:
“3.3 Khi có nhiều cuộc điều tra chống bán phá giá về cùng một sản phẩm được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau, cơ quan điều tra có thể đánh giá ảnh hưởng một cách tổng hợp của hàng nhập khẩu này chỉ trong trường hợp cơ quan này xác định được rằng: (a) biên độ bán phá giá được xác định đối với hàng nhập khẩu từ mỗi nước vượt quá mức tối thiểu có thể
bỏ qua (de minimis) được qui định tại khoản 8 Điều 5 và số lượng hàng nhập khẩu từ mỗi nước không ở mức có thể bỏ qua được; (b) việc đánh giá gộp các ảnh hưởng của hàng nhập khẩu là thích hợp nếu xét đến điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩm nhập khẩu với nhau và điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm tương tự trong nước.”
2.2.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
Điều VI GATT không đề cập đến bản chất cụ thể và cách thức xác địnhquan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại xảy ra đối với ngành côngnghiệp trong nước Luật chống bán phá giá Kenedy 1967 quy định rằngbán phá giá phải là nguyên nhân chủ yếu gây ra thiệt hại (principal cause
of material injury)
Tuy nhiên, việc xác định tính “chủ yếu” của các yếu tố gây thiệt hạigặp phải nhiều khó khăn trên thực tế, Bộ Luật chống bán phá giá Tokyo
1979 thì chỉ ghi nhận rằng “hàng nhập khẩu bán phá giá gây ra thiệt hại
Có thể có những yếu tố khác” Hay nói cách khác bán phá giá là mộtnguyên nhân của thiệt hại