1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều tra đánh giá hiện trạng công nghệ, xây dựng định hướng chiến lược năng lực công nghệ của một số doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn thành phố hải phòng

114 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 868,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp Atlas công nghệ để nghiên cứu và phân tích thực trạng công nghệ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố bằng việc lượng hoá các yếu tố cấu thàn

Trang 1

NGUYỄN TUẤN ANH

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG NGHỆ, XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ CỦA MỘT SỐ DOANH

NGHIỆP CƠ KHÍ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TR ẦN VĂN BÌNH

HÀ NỘI - 2004

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU Tên đề tài:

Điều tra đánh giá hiện trạng công nghệ, xây dựng định hướng chiến lược

năng lực công nghệ của các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn Thành Phố Hải

Phòng

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Ngày nay, việc ứng dụng khoa học và công nghệ ngày càng sâu vào

trong sản xuất đã không chỉ giúp cho con người nâng cao năng suất, chất

lượng sản phẩm mà còn làm thay đổi cả phương thức làm việc Nó làm sâu

sắc thêm tính chất chiến lược và cạnh tranh quốc tế

Mức độ ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ giúp cho việc tăng

trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia là khác nhau Sự bùng phát của khoa học công

nghệ giúp cho đời sống của con người ngày càng được cải thiện và dân trí

được nâng cao Cùng với sự ra đời của cuộc cách mạng thông tin và công

nghệ ngày nay chúng ta đều phải thừa nhận sự đóng góp của công nghệ vào

sự tăng trưởng kinh tế tăng lên một cách đáng kể (87% mức tăng năng suất ở

Mỹ trong giai đoạn 1950-1980, Nhật 29% trong giai đoạn 1955-1979 là do cải

tiến công nghệ) nghĩa là bất cứ một quốc gia nào muốn đưa ra các chính sách

tăng trưởng kinh tế có hiệu quả cũng cần phải chú ý tới sức nặng của công

nghệ Bởi lẽ tăng trưởng kinh tế diễn ra thông qua những hoạt động chuyển

đổi của hệ thống sản xuất quốc gia Toàn cầu hóa đang vừa chứa đựng những cơ hội và cũng có những rủi ro

cho nền kinh tế nhỏ, những nước kém phát triển và đang phát triển Bởi vì

ngày nay công nghệ cũng là hàng hoá thương mại được, nó được tạo ra để

Trang 3

cạnh tranh trên thị trường quốc tế Những nước kém và đang phát triển chủ yếu xuất khẩu nguyên vật liệu thô, các nước phát triển chủ yếu xuất khẩu sản phẩm đã chế tạo Trong khi đó, giá nguyên liệu thô thì bấp bênh, ngược lại thì giá các sản phẩm công nghệ cao ngày càng tăng Do đó, những lợi thế về tài nguyên không đủ để tăng trưởng kinh tế quốc gia, sự tăng năng suất các

nguồn lực quốc gia trước hết là nhờ khai thác lợi thế về công nghệ Tuy vậy,

do giá sản phẩm chế tạo tại các nước có công nghệ cao là rất cao Sẽ không có lợi thế cạnh tranh nếu doanh nghiệp sản xuất toàn bộ tại các nước phát triển,

do đó có sự chuyển dịch dần công nghệ từ những nước phát triển sang các nước đang phát triển Đó là lý do ngày nay có rất nhiều công ty mới ra đời tại các nước đang phát triển Các công ty tại các nước phát triển tìm đến giá nhân công lao động rẻ tại các nước đang phát triển để phát huy lợi thế về giá

Hải Phòng, một trung tâm kinh tế, văn hoá và du lịch của cả nước, đã có

bề dầy truyền thống trong các lĩnh vực như cơ khí chế tạo, sửa chữa và đóng mới tàu biển, dệt may, xếp dỡ và vận tải Trước tình hình hội nhập kinh tế của Việt nam với khu vực cũng như với toàn thế giới thì Thành phố cũng như từng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố cần phải biết năng lực công nghệ của mình đang ở đâu so với các doanh nghiệp khác trong ngành cũng như khu vực Để từ đó, doanh nghiệp sẽ có lộ trình đổi mới công nghệ cho phù hợp Tuy nhiên việc đánh giá năng lực công nghệ của Hải Phòng trong các ngành sản xuất chính để định hướng cho việc đầu tư, đổi mới thiết bị công nghệ còn rất hạn chế Với từng ngành mới chỉ tiến hành được cho một vài đơn

vị như ngành công nghiệp Kết qủa của việc đánh giá đó chưa đáp ứng được nhu cầu về quản lý công nghệ của thành phố Đứng trước các yêu cầu mới của cuộc xây dựng phát triển kinh tế xã hội để Hải Phòng có thể phát triển khi tham gia hội nhập kinh tế thì sở khoa học công nghệ Hải Phòng đã và đang

Trang 4

tiến hành xây dựng một đề án xây dựng, lựa chọn phương pháp luận, tiêu chí đánh giá thí điểm cho một số nhóm ngành sản xuất trọng điểm của Hải Phòng, làm cơ sở để tiến tới tổ chức và hỗ trợ các doanh nghiệp tự đánh giá trình độ công nghệ của chính mình Luận văn được hình thành xuất phát từ ý tưởng triển khai thực hiện đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Đối tượng nghiên cứu: Dựa trên bộ phiếu điều tra và các hệ số đóng góp β

để khảo sát đánh giá các thành phần công nghệ của các doanh nghiệp đó là Phần công nghệ (Techware), Phần con người (Humanware), Phần thông tin (Inforware) và phần tổ chức (Organware)

b) Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát đánh giá tại các công ty công nghiệp nặng và cơ khí chế tạo trên địa bàn Thành phố cụ thể là Công ty Công nghiệp nặng và xây dựng Hàn-Việt (HANVICO), Công ty cơ khí Duyên Hải, Công ty 189 thuộc tổng công ty công nghiệp quốc phòng và Công ty Thép việt Úc (VINAUSTEEL) và một số công ty đóng tàu trên địa bàn

Trang 5

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp Atlas công nghệ để nghiên cứu và phân tích thực trạng công nghệ các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố bằng việc lượng hoá các yếu tố cấu thành bốn thành phần cơ bản của công nghệ Phần công nghệ, Phần con người, Phần thông tin và Phần tổ chức, phân tích, đánh giá và so sánh các thành phần này giữa các công ty trên làm cơ sở để khảo sát và đánh giá toàn bộ các công ty trong từng ngành trên địa bàn thành phố Từ đó, thấy được mặt mạnh và mặt yếu của công nghiệp Hải Phòng, giúp cho công tác quản lý công nghệ ngày càng có hiệu quả hơn

5 Nội dung của bản luận văn

Chương I: Phương pháp luận

Chương II: Phân tích hiện trạng công nghệ tại bốn doanh nghiệp

Chương III: Đề xuất phương hướng phát triển công nghệ cho các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn Thành Phố trong giai đoạn 2005-2010

Trang 6

Chương I:

PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Điều tra đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực công

nghệ trên địa bàn Thành Phố Hải Phòng

1.1 Đặt vấn đề

Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, công nghệ phải được xem xét là biến số chiến lược quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Đã từ lâu, vai trò quan trọng của công nghệ trong phát triển đã được thừa nhận một cách rộng rãi, nó thể hiện rất rõ nét ở các nước có nền công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật, Đức Với sự phát triển và ứng dụng công nghệ trong các ngành công nghệ vật liệu và công nghệ thông tin, các hệ thống sản xuất linh hoạt và việc chuyển đổi các quy trình sản xuất đã cho phép ta tạo ra môi trường sống nhân tạo đầy đủ tiện nghi hơn, quan hệ giữa công nghệ và quá trình biến đổi xã hội dã tăng thêm sức mạnh cho nhau Tuy nhiên, việc nhìn nhận công nghệ như một yếu tố cấu thành trong các nỗ lực phát triển luôn đòi hỏi một cơ sở dữ liệu hỗ trợ cho việc ra các quyết định thực tiễn để có thể trả lời các câu hỏi mang tính sống còn như: hiện trạng năng lực công nghệ, nhu cầu công nghệ cấp bách, những lĩnh vực công nghệ cần chuyên môn hoá của một quốc gia

Với đề tài được giao: “Điều tra đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở

dữ liệu về năng lực công nghệ các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn Thành phố Hải Phòng” tôi có thể tóm tắt ở một số điểm sau:

Trang 7

1 Đưa ra báo cáo tổng hợp về thực trạng công nghệ của một số

doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí, công nghiệp nặng địa bàn Thành Phố, dựa trên dữ liệu điều tra cụ thể có hệ thống

2 Cung cấp thông tin để giúp cho việc thiết lập cơ sở dữ liệu và

website về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trong địa bàn phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển KT-XH của Thành Phố

3 Tạo nền tảng để tiến tới tiếp tục phân tích, đề xuất phương

hướng tiếp tục đầu tư, phát triển công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp nặng của Thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2005-

2010 Khuyến khích công nghệ cao khi xét duyệt dự án đầu tư, cấp đất

Đây là một đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trên quy mô một Thành Phố của một nước đang phát triển Và với những tham vọng đã nêu trong mục đích của đề tài, rõ ràng dự án phải được thực hiện trên cơ sở các phương pháp luận hợp lý, tức là những công cụ lý thuyết hỗ trợ để xem xét các vấn đề công nghệ trong quá trình hoàn thiện các chính sách và lập kế hoạch phát triển Trên thực tế, với lĩnh vực nghiên cứu này, đã có khá nhiều các đề tài, công trình dự án nghiên cứu, cho ra các phương pháp luận khác nhau, sử dụng các phương pháp luận và những kết quả nghiên cứu nhất định Chính vì vậy, cần thiết phải lựa chọn và xây dựng một cơ sở phương pháp luận hợp lý cho dự án công nghệ Hải Phòng mới có thể đạt được các kết quả nghiên cứu như mong muốn

Lựa chọn và xây dựng phương pháp luận cho dự án là công việc mà chúng tôi sẽ thực hiện trong chương này Rõ ràng là, để xây dựng phương

Trang 8

pháp luận cho dự án và hệ tiêu chí đánh giá năng lực công nghệ cho từng ngành nghề phải được dựa trên các kết quả nghiên cứu của từng phương pháp luận được sử dụng trong và ngoài nước và những đóng góp của các chuyên gia Chúng tôi sẽ trình bày một cách tổng quan về các phương pháp luận được xây dựng và áp dụng trên thế giới cũng như ở nước ta Phần việc cuối cùng nhưng hết sức quan trọng là, dựa trên các cơ sở lý thuyết mà chúng tôi đã đề cập, những đặc tính, mục đích của đề tài, sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý (Bộ khoa học và công nghệ Thành Phố Hải Phòng, và các địa phương khác), các nhà chuyên môn từ các đơn vị phối hợp sẽ lựa chọn

và xây dựng phương pháp luận có độ nhất trí cao cho dự án Hải Phòng

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Việc trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về công nghệ là hết sức cần thiết Nó cho phép nắm được những dự án, những công trình nghiên cứu

về công nghệ đã có, liên quan đến đề tài, cho phép xác định các phương pháp luận đã được nghiên cứu và áp dụng trên thế giới và trong nước, trước khi lựa chọn và xây dựng cơ sở phương pháp luận cho dự án định thực hiện

1.2.1 Nghiên cứu về công nghệ thế giới

Có thể sự ra đời của khái niệm về công nghệ, đánh giá công nghệ và quá trình phát triển của các hoạt động đánh giá về công nghệ trong thực tiễn có thể xem là những cố gắng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của quá trình xây dựng và hoàn thiện các chính sách và kế hoạch phát triển công nghệ Vào những năm 60 của thế kỷ, làn sóng khởi đầu cho việc đánh giá công nghệ được coi là hệ thống cảnh báo sớm, phục vụ cho việc hoạch định chính sách về công nghệ Tuy nhiên, cùng với thời gian cũng như sự phát triển công nghệ là công việc vô cùng khó khăn nếu như không muốn nói là không thể

Trang 9

làm được Hơn nữa, người ta cũng nhận thức rằng, cho dù có được một công trình đánh giá về công nghệ hoàn mỹ đến đâu chăng nữa thì cũng không có gì đảm bảo là các nhà hoạch định chính sách và những tổ chức, tham gia vào quá trình phát triển và sử dụng công nghệ Việc đánh giá về công nghệ, một mặt giúp cho tăng cường mối quan hệ giữa nghiên cứu, triển khai về phát triển sản phẩm, mặt khác tăng cường phạm vi áp dụng công nghệ

Xét về mặt lịch sử, đánh giá công nghệ được thể chế hoá ở những hình thức khác nhau Đầu tiên là ở Mỹ, những tổ chức đánh giá công nghệ phục vụ cho Quốc hội Văn phòng đánh giá công nghệ là cơ quan đánh giá công nghệ được thành lập từ năm 1973 Sau đó các cơ quan tương tự cũng được thành lập ở một số nước Châu Âu Hình thức thể chế thứ hai là những chương trình quốc gia về công nghệ nhằm thúc đẩy những sáng kiến đánh giá công nghệ Với thể chế thứ 3, công tác đánh giá công nghệ dần dần được thể chế tại các trường đại học thành những khoa, bộ môn có chức năng nghiên cứu giữa khoa học, công nghệ và xã hội Ở hình thức thể chế thứ tư, đánh giá công nghệ được tiến hành ở quy mô các doanh nghiệp nhằm hỗ trợ cho việc lập kế hoạch mang tính chiến lược, công việc mà người ta thường gọi dưới cái tên khác là lập kế hoạch doanh nghiệp hay đánh giá công nghệ ứng dụng

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới coi công nghệ là một biến số làm tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội Vì thế nhiều quốc gia đã xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê về khoa học công nghệ (KH & CN) làm căn cứ cho việc xây dựng hoàn thiện các chính sách và kế hoạch phát triển công nghệ Trong số nhiều nước này, cần đặc biệt kể đến như những cường quốc công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Nhật, Pháp, Đức Bài học từ các quốc gia phát triển này chỉ ra rằng, đối với các nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, vấn đề mang tính trọng tâm

Trang 10

cũng là xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ Sau đây

sẽ là một số nghiên cứu về KH&CN tại một số nước Đông Nam Á, nơi họ đã

và đang coi KHCN là tác nhân quan trọng trong việc phát triển kinh tế:

Indonesia:

• Dự án xây dựng hệ thống thông tin KH & CN quốc gia Indonesia dựa trên cơ sở phương pháp luận Atlas công nghệ (1989)

• Khoa học và công nghệ cho phát triển ngành công nghiệp và chỉ số và

KH & CN ở Indonesia (STAID)

Trang 11

nghiên cứu về công nghệ trên thế giới và trong khu vực, vậy ở nước ta, những nghiên cứu về công nghệ được quan tâm như thế nào

1.2.2 Nghiên cứu về công nghệ ở Việt Nam

Đối với nước ta, việc thực hiện đánh giá năng lực công nghệ chỉ được chính phủ quan tâm từ những năm đầu của thời kỳ mở cửa ở các quy mô khác nhau, có thể liệt kê từ đó tới nay, một số nghiên cứu về công nghệ như sau:

• Năm 1991, Uỷ ban khoa học và kỹ thuật nhà nước (Nay là Bộ Khoa học Công nghệ) công bố “Hệ thống chỉ tiêu đặc trưng trình độ công nghệ sản xuất công nghiệp” để làm cơ sở hướng dẫn các địa phương và các doanh nghiệp đánh giá trình độ công nghệ

• Năm 1997, dự án “ Điều tra khảo sát trình độ công nghệ một số ngành sản xuất công nghiệp tỉnh Đồng Nai” của sở khoa học công nghệ môi trường tỉnh Đồng Nai

• Năm 1999, dự án “Đánh giá và thẩm định Công nghệ, bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường

• Năm 2002, dự án “ Đánh giá hiện trạng công nghệ Quận 8” của Uỷ ban nhân dân Quận 8, Thành Phố Hồ Chí Minh

• Năm 2002, Dự án “ Đánh giá thực trạng công nghệ các cơ sở sản xuất thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và đề xuất phương án đổi mới trong giai đoạn 2005-2010”

Trang 12

• 2003 Dự án “Điều tra, đánh giá thực trạng công nghệ một số ngành sản xuất chủ yếu trên địa bàn tỉnh Bình Dương” của Uỷ Ban nhân dân tỉnh Bình Dương

Có thể nói các dự án nghiên cứu về công nghệ ngoài nước cũng như trong nước đã trải qua chặng đường khá phức tạp, với nhiều cơ sở phương pháp luận khác nhau được sử dụng Để có thể lựa chọn và xây dựng phương pháp luận cho dự án Hải Phòng, chúng tôi xin được trình bày một cách ngắn gọn các phương pháp luận đã được sử dụng trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho các dự án, để tài nghiên cứu về công nghệ

1.3 Các phương pháp tiếp cận

1.3.1 Tiếp cận theo quan điểm đầu vào và đầu ra của quá trình

Một trong những cố gắng đầu tiên để xây dựng nên được một phương pháp luận để phục vụ cho các công việc xem xét vấn đề công nghệ là cách tiếp cận theo quan điểm đầu vào đầu ra của quá trình (Sience & Technology input and output indicators) Theo cách tiếp cận này, năng lực công nghệ liên quan đến năng lực của doanh nghiệp có thể tiến hành những hoạt động xác định gắn liền với các vấn đề kinh tế, xã hội khác nhằm chuyển hoá đầu vào thành đầu ra Để đánh giá hiện trạng công nghệ của một đơn vị kinh tế, một vùng, một quốc gia v.v người ta tiếp cận đo lường các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của một quá trình Bằng cách thống kê, so sánh các yếu tố đó, người ta có thể đánh giá, theo dõi được hiện trạng công nghệ cũng như đóng góp của công nghệ của một đơn vị kinh tế, một vùng, một quốc gia

Nổi lên theo nguyên lý tiếp cận input-output này, các công trình nghiên cứu của các tổ chức OECD và UNESCO để xây dựng chỉ số về khoa học và

Trang 13

công nghệ (S&T) Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu tổng quan của hai phương pháp tiếp cận này

1.3.1.1 Phương pháp luận OECD

Mục đích chủ yếu của các nhà nghiên cứu OECD là xây dựng hệ thống các chỉ số về S&T nhằm đưa ra những đánh giá về hiện trạng khoa học và công nghệ hiện tại của các quốc gia thành viên của tổ chức này, đồng thời để nắm được những thay đổi về công nghệ, ảnh hưởng của khoa học và công nghệ tới tăng trưởng kinh tế, năng suất, năng lực cạnh tranh v.v

Để xây dựng hệ thống chỉ số đặc trưng trình độ S&T, cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu OECD là đánh giá hiện trạng công nghệ trên hai phạm trù

là đầu vào và đầu ra Đầu vào (input indicator) bao gồm tất cả các nguồn lực

về vốn và nguồn lực về con người của cả khu vực công cộng cũng như của khu vực tư nhân cần thiết dành cho lực lượng R&D Các lực lượng R&D này

là đầu vào của hoạt động S&T được theo đuổi Đầu ra phần lớn được xác định

từ lợi ích các ứng dụng của S&T Đầu ra đo lường giá trị các sản phẩm trực tiếp của các hoạt động S&T Về cơ bản đầu ra bao gồm: cán cân thanh toán về công nghệ nảy sinh từ việc chuyển giao công nghệ, phản ánh mức độ phụ thuộc của một quốc gia vào công nghệ nước ngoài; thống kê các loại phát minh sáng chế phổ biến; và chuyển giao công nghệ Với việc xác định các thông số đầu vào và đầu ra của các hoạt động công nghệ, thông qua việc so sánh input và output indicators, hiệu quả của các chính sách về công nghệ của mỗi quốc gia được xác định

Trang 14

Bảng 1.1: OECD S&T indicators

OECD S&T Input Indicators Output Indicators

R&D ở khu vực công

Cán cân thanh toán về công nghệ

2 Nguồn lực con người cho

R&D ở khu vực công

Thống kê các phát minh sáng chế

3 Nguồn lực con người cho

R&D ở khu vực tư nhân

Chuyển giao công nghệ

4 Nguồn lực con người cho

R&D ở khu vực tư nhân Như vậy, hệ thống các chỉ số của OECD đã đạt được một vài thành công tối thiểu là về mặt thuật ngữ hợp nhất (Unifying terminology) Các nhà nghiên cứu OECD đã phát triển những định nghĩa chuẩn đối với những thuật ngữ được sử dụng trong các chỉ số đầu vào, đầu ra của OECD Theo như đánh giá của Sharif (1986), nó cung cấp những công cụ nhằm giải thích các thành ngữ có những nghĩa rộng như “public funding” hay government R&D funding v.v , bằng việc sử dụng hệ thống các chỉ số đầu vào đầu ra về S&T được phát triển ở các nước khác nhau

Tuy nhiên hệ thống các chỉ số mà OECD xây dựng tồn tại những hạn chế lớn, đặc biệt là trong việc lập các chính sách phát triển công nghệ Trước hết, cách tiếp cận của OECD dựa trên cơ sở của các phân tích đầu vào đầu ra (inflow-outflow), nên không chỉ có chỉ số mô tả công nghệ có tính kế thừa, biến số chính yếu để xác định sự thay đổi, tiến bộ về công nghệ Ngoài ra, một yếu tố khác của tiến bộ về công nghệ là cũng nằm ngoài các hoạt động R&D những đổi mới được thực hiện bởi các xí nghiệp nhỏ Đặc biệt, hệ thống các chỉ tiêu S&T được xây dựng trên điều kiện xã hội, kinh tế, kỹ thuật, cán

Trang 15

cân thanh toán về công nghệ của tổ chức các nước OECD, nhìn chung không thể áp dụng cho các dự án về công nghệ được thực hiện ở các nước đang phát triển

1.3.1.2 Phương pháp luận UNESCO

Các nhà nghiên cứu của UNESCO cũng xây dựng phương pháp luận theo cách tiếp cận đầu vào đầu ra Cũng như OECD, UNESCO xây dựng hệ thống các chỉ số để đánh giá trình độ công nghệ Trên thực tế, các chỉ số S&T của UNESCO bắt đầu được thảo luận trong các kỳ họp lần 20 tại Paris vào tháng 11 năm 1978, nhằm giúp cho các nước thành viên xây dựng và cải thiện các thống kê về S&T của họ Bằng việc chỉ ra các hạn chế của phương pháp luận OECD, UNESCO đã phát triển một bộ chuẩn các chỉ số S&T mà phạm

vi ứng dụng là lớn hơn

Hệ thống các chỉ số S&T của UNESCO là bộ các chỉ số S&T được xây dựng cho các áp dụng ở các nước đang phát triển Trong hệ thống các chỉ số S&T của UNESCO, các chỉ số đầu vào bao gồm: Chỉ số đầu vào chính là R&D được xây dựng bởi NAF (National Sience Foundation) và OECD; thêm nữa là giáo dục đào tạo cho S&T cũng được xây dựng bởi NAF bao gồm số lượng các công trình về khoa học công nghệ được công bố, số lượng các phát minh sáng chế đã đăng ký vv

Trang 16

Bảng 1.2: Unesco S&T indicators

Unesco S&T Input indicators Output Indicator

1 Hoạt động R&D xác định ở quy mô

Q ố i

Số lượng các công trình khoa học công nghệ được

2 Giáo dục và đào tạo cho S&T Số lượng các phát minh sáng

chế đã công bố

3 Dịch vụ cho S&T

Thông qua việc xác định các chỉ số đầu vào và đầu ra của S&T, phương pháp luận UNESCO làm cơ sở cho các nước thành viên xây dựng và cải tiến

hệ thống thống kê về S&T để giúp họ có những đánh giá hiện trạng công

nghệ Tuy đã có những phát triển so với phương pháp luận OECD trong việc xây dựng các chỉ số đầu vào đầu ra về S&T, “UNESCO S&T indicators”

cũng không tránh khỏi những hạn chế đặc biệt là khả năng hỗ trợ quyết định trong các chính sách về S&T của các nước đang phát triển Đó cũng chính là yếu điểm lớn nhất của phương pháp luận được xây dựng trên cơ sở của việc

chuyển hoá đầu vào thành đầu ra của S&T

1.3.2 Phương pháp luận Atlas công nghệ

Phương pháp luận Atlas công nghệ là kết quả của dự án Atlas công

nghệ-Technology Atlas Project được khởi xướng trên cơ sở của tiên đề cho

rằng công nghệ là biến số chiến lược quyết định sự phát triển tăng tốc kinh

tế-xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, môi trường cạnh tranh quốc tế

ngày càng tăng Đây là dự án công nghệ do trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á Thái Bình Dương (APCTT) thuộc Uỷ ban kinh tế-Xã hội Châu Á

Trang 17

Thái Bình Dương (UNESCO-ESCAP) đã nghiên cứu và ban hành bộ tài liệu “ Nguyên lý phát triển dựa trên cơ sở công nghệ” dùng để áp dụng cho các quốc gia trong khu vực từ năm 1986 đến năm 1988, dưới sự tài trợ của chính phủ Nhật Bản Tài liệu này hướng dẫn các nội dung và phương pháp đánh giá hiện trạng công nghệ của một quốc gia

Mục tiêu chính yếu của “Technology Atlas Project” là đưa ra một công

cụ hỗ trợ quyết định ở một tài liệu phương pháp luận để hợp nhất các công

việc xem xét vấn đề công nghệ trong quá trình lập kế hoạch phát triển Dự án trình bày các biện pháp trong lĩnh vực quan trọng mà tới nay vẫn chưa được chú ý thích đáng và cung cấp phương tiện nhằm giới thiệu một cách rộng rãi các cách tiếp cận phân tích để đề ra và hoàn thiện các chính sách và kế hoạch phát triển công nghệ ở mỗi đơn vị kinh tế, ngành, mỗi quốc gia

Với tựa đề chung là “ Nguyên lý phát triển dựa trên công nghệ”, nội dung của phương pháp luận Atlas công nghệ bao gồm việc phân tích đánh giá

chỉ số công nghệ mà cán bộ dự án đã xây dựng (Atlas S&T indicators: hàm lượng công nghệ, môi trường công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ và nhu cầu công nghệ) được xem xét ở ba quy mô khác nhau

Ở cấp doanh nghiệp:

Các chỉ số công nghệ được xem xét là: các thành phần công nghệ (thành phần kỹ thuật, thành phần thông tin, thành phần con người, thành phần tổ chức), kết quả đóng góp trực tiếp của bốn thành phần này xác định hàm lượng công nghệ gia tăng, đây là cơ sở để đánh giá hàm lượng công nghệ; năng lực công nghệ; và chiến lược công nghệ

Ở cấp độ của một ngành công nghiệp:

Trang 18

Thông thường ở quy mô của một ngành công nghiệp, các đặc trưng công nghệ được đánh giá là các nguồn lực công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ

Ở quy mô một quốc gia:

Với quy mô là một quốc gia, những chỉ số công nghệ được xem xét là môi trường công nghệ và nhu cầu công nghệ

Để việc hợp nhất các xem xét công nghệ với quá trình kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội có ý nghĩa, thì điều kiện cơ bản là các nhà nghiên cứu về kinh tế và công nghệ phải hỗ trợ lẫn nhau khi tiến hành các phân tích Nếu sử dụng 4 hình thức biểu hiện của công nghệ theo cách phân chia theo phương pháp Atlas (thành phần kỹ thuật-Techware, thành phần con người-

Humanware, thành phần thông tin-Infoware, thành phần tổ chức-Orgaware) ở trên làm cơ sở để điều tra, thì có thể đạt được sự bổ sung cho nhau giữa kế hoạch hoá kinh tế thông thường và kế hoạch hoá kinh tế dựa trên công nghệ ở cấp công ty, phân ngành, ngành, ngành, tỉnh, quốc gia tuỳ theo mức độ dự án thực hiện

Với những ưu điểm lớn trong việc đánh giá, quản lý và hoạch định chiến lược công nghệ, phương pháp luận Atlas công nghệ đã được sử dụng làm cơ

sở cho khá nhiều dự án về công nghệ đặc biệt là các dự án ở các nước đang phát triển

1.3.3 Tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược

Hầu hết các định nghĩa về chiến lược đều có thể mô tả từ sự kết hợp giữa điểm mạnh và điểm yếu của yếu tố bên trong công ty với cơ hội và thách thức của các yếu tố bên ngoài Phát triển cách tiếp cận này, phương pháp luận cho quản lý chiến lược công nghệ của Sharif (1995) xem xét nguồn lực công nghệ

Trang 19

và năng lực công nghệ có thể được xem là điểm mạnh và điểm yếu của xí nghiệp, trong khi đó môi trường công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ có thể được xem như là cơ hội và thách thức Trên cơ sở đó Sharif xây dựng các chỉ

số đặc trưng công nghệ này, xem xét đánh giá và đưa ra chiến lược quản lý chiến lược công nghệ

a) Nguồn lực công nghệ

Theo Sharif & Ramathan, hai thành viên cốt cán của dự án Atlas công nghệ, đánh giá nguồn lực công nghệ trên cơ sở xem xét đánh giá 4 thành phần công nghệ trong Atlas công nghệ (Thành phần kỹ thuật, thành phần con

người, thành phần thông tin, thành phần tổ chức) mà chúng tôi đã giới thiệu một cách tổng quan ở trên

b) Năng lực công nghệ

Có rất nhiều cách tiếp cận, tác giả khác nhau định nghĩa, đánh giá năng lực công nghệ cho các nước thế giới thứ 3 Sharif (1995) đã xây dựng 6 thành phần của năng lực công nghệ đó là: Năng lực thu nhận công nghệ, năng lực biến đổi, năng lực bán hàng, năng lực sửa chữa, năng lực thiết kế, năng lực sản sinh công nghệ

Ngoài ra, việc đánh giá năng lực công nghệ còn có thể dựa trên phương pháp chiết trung của Bộ khoa học công nghệ và môi trường Việt nam Theo

đó phương pháp chiết trung xếp năng lực công nghệ của doanh nghiệp thành

ba phần sau:

• Năng lực tiếp thu

• Năng lực vận hành

Trang 20

• Năng lực đổi mới

Phương pháp chiết trung được xây dựng từ việc tổng hợp đánh giá 8 phương pháp khác nhau về đánh giá năng lực công nghệ của các nhà nghiên cứu, các tổ chức khoa học nước ngoài

c) Cơ sở hạ tầng công nghệ

Ramathan (1993) đã xác định 3 yếu tố chính của Cơ sở hạ tầng công nghệ đó là i) Cơ sở hạ tầng hỗ trợ về mặt vật chất như là cung cấp điện nước, giao thông, thông tin…ii) Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động công nghệ như là các hỗ trợ đầu tư, số lượng các trung tâm đầu tư mạo hiểm, sự tồn tại của trung tâm thông tin (Khoa học công nghệ v.v), iii) Sức mạnh các hoạt động công nghệ được đánh giá ở ba cấp (Viện hàn lâm,- Đơn vị NC & TK-ngành công nghiệp), số lượng các thư viện NC&TK, số lượng các trường đại học kỹ thuật

d) Môi trường công nghệ

Theo Ramathan (1993) môi trường công nghệ trong phương pháp luận dựa theo quan điểm quản trị của Sharif được diễn tả trong 4 nhân tố chính: thông tin về khách hàng (Infor-Customers); thông tin về địch thủ cạnh tranh (Infor-Rivals), thông tin về bản thân (Infor-Owners), thông tin ngành (Infor-Cluster)

Như vậy phương pháp luận Sharif thực chất cũng bắt nguồn từ cơ sở của các nghiên cứu trong dự án Atlas công nghệ của trung tâm chuyển giao công nghệ Châu á-Thái Bình Dương Cha đẻ của cách tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược này cũng lại là thành viên cốt cán của dự án Atlas công nghệ Ví dụ như việc xác định nguồn lực công nghệ trong phương pháp luận

Trang 21

của Sharif cũng chính là việc xem xét đánh giá bốn thành phần công nghệ trong phương pháp luận Atlas công nghệ Tuy nhiên, so với Atlas công nghệ, phương pháp Sharif chưa có nhiều ứng dụng cụ thể như không có tính nguyên bản

Như đã đề cập ở trên, đã có khá nhiều nghiên cứu về công nghệ, đặc biệt

là ở các nước đang phát triển ở châu á và trong khu vực Đông Nam Á đã được thực hiện trên cơ sở của phương pháp luận Atlas công nghệ và đã đạt được các kết quả rất khả quan Ngay ở Việt Nam, mới đây dự án “ Đánh giá hiện trạng công nghệ Quận 8”, Thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên cơ sở

phương pháp luận Atlas cũng thu được kết quả tốt Rõ ràng là với những tiêu chí về lựa chọn được thoả mãn: nội dung phương pháp luận chặt chẽ, chi tiết, logic, và nguyên bản, dễ dàng áp dụng, phù hợp ở những nước đang phát triển, phù hợp ở cấp độ quy mô nghiên cứu khác nhau, ứng dụng và kết quả của các ứng dụng, sau khi tham khảo ý kiến các chuyên gia, tổng hợp ý kiến của các nhà quản lý như Bộ khoa học công nghệ, Thành Phố Hải Phòng, các địa phương khác chúng tôi lựa chọn phương pháp luận Atlas công nghệ để xây dựng cơ sở lý thuyết cho dự án công nghệ Hải Phòng

1.4 Xây dựng phương pháp luận và tiêu chí Atlas công nghệ nghệ cho

dự án Hải Phòng

Xét về nguyên bản, nội dung phương pháp luận Atlas công nghệ bao gồm việc phân tích đánh giá năm yếu tố đặc trưng cho các nghiên cứu về công nghệ như đã trình bày là:

- Hàm lượng công nghệ

- Môi trường công nghệ

Trang 22

- Trình độ công nghệ

- Năng lực công nghệ

- Nhu cầu công nghệ

Tuy nhiên, việc nghiên cứu đánh giá các đại lượng này hoàn toàn không độc lập với nhau Ví dụ như việc xác định hàm lượng công nghệ gia tăng thường phải xác định được hệ số môi trường công nghệ Khi xây dựng phương pháp luận cho dự án Hải Phòng theo phương pháp Atlas công nghệ, chúng tôi sẽ dựa theo mục đích theo đuổi đề tài để lựa chọn hệ tiêu chí và mức độ ứng dụng phương pháp luận lý thuyết phù hợp

Xin được nhắc lại rằng đây là dự án điều tra, đánh giá hiện trạng và để góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp nặng trên địa bản Hải Phòng Đây là đề tài nghiên cứu về công nghệ ở quy mô một thành phố, nhưng rõ ràng là việc điều tra đánh giá các yếu

tố lại ở quy mô khác nhau như hàm lượng công nghệ sẽ được điều tra nghiên cứu ở quy mô của doanh nghiệp và tổng quan cho một ngành, còn môi trường công nghệ sẽ được xem xét chung ở cấp quốc gia Tuy nhiên, dù ở mức độ chi tiết nào việc nghiên cứu các đại lượng đặc trưng này phải đảm bảo đúng quy trình: các yếu tố xác định của đại lượng, phương pháp đánh giá, và lợi ích của việc đánh giá đó Chúng tôi sẽ trình bày đầy đủ lý thuyết phương pháp luận Atlas công nghệ trước khi triển khai cho dự án Hải phòng

1.4.1 Hàm lượng công nghệ và bốn thành phần công nghệ

Nghiên cứu về hàm lượng công nghệ, người ta nghiên cứu độ chênh lệch giữa hàm lượng công nghệ của một hoạt động chuyển đổi nào đó đưa vào hệ thống và hàm lượng công nghệ cao hơn của đầu ra Nói cách khác, người ta

Trang 23

nghiên cứu hàm lượng công nghệ gia tăng, đó là kết quả đóng góp trực tiếp của bốn thành phần công nghệ được sử dụng để chuyển đổi Nó phản ánh trình độ công nghệ thực của một hoạt động chuyển đổi Như vậy việc đánh giá bốn thành phần công nghệ là hết sức quan trọng với dự án mà chúng tôi thực hiện vì một trong các mục đích của dự án là đánh giá hiện trạng công nghệ cho Thành phố Hải Phòng

1.4.1.1 Tổng quan đánh giá hàm lượng công nghệ

Trong Atlas công nghệ, phương pháp phân tích hàm lượng công nghệ tập trung vào khía cạnh công nghệ, là cách tiếp cận định lượng để đo mức độ đóng góp của mỗi thành phần công nghệ trong bốn thành phần công nghệ (Kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức) tại một phương tiện chuyển đổi

Phần kỹ thuật có thể coi như hình thức biểu hiện về mặt vật thể của công nghệ Nó bao gồm tất cả các phương tiện về vật chất cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ các dụng cụ, thiết bị, máy móc, các kết cấu nhà xưởng Phần con người là hình thức biểu hiện về mặt con người của công nghệ

Nó bao gồm các năng lực cần thiết mà con người đã tích luỹ được cho các hoạt động chuyển đổi

Phần thông tin là hình thức biểu hiện về mặt tư liệu của công nghệ Nó bao gồm toàn bộ các dữ kiện và số liệu cần cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ các bản thiết kế, các bản tính toán, các quan sát, các phương trình, biểu đồ Phần tổ chức là hình thức biểu hiện về mặt thể chế của công nghệ Nó bao gồm các cơ cấu tổ chức cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, ví dụ: sự phân chia nhóm, phân trách nhiệm, hệ thống các tổ chức, các mạng lưới quản

Trang 24

Trong bất cứ hoạt động chuyển đổi nào, tất cả bốn thành phần công nghệ đều cần phải có một cách đồng thời Sự đòi hỏi này được lý giải như sau:

- Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ sự chuyển đổi nào Nó được triển khai, lắp đặt và vận hành bởi phần Con người

- Phần con người là yếu tố chủ chốt của bất kỳ hoạt động chuyển đổi nào

và đến lượt nó được hướng dẫn bởi phần Thông tin

- Phần Thông tin được tạo ra và cũng được sử dụng bởi phần con người

để ra quyết định và vận hành phần Kỹ thuật

- Phần Tổ chức tiếp nhận và kiểm soát phần Thông tin, phần Con người

và phần Kỹ thuật để tiến hành quá trình chuyển đổi

Khi xem xét thực tế các phương tiện chuyển đổi có thể nhận ra ngay các mức độ tinh xảo trong từng thành phần công nghệ Nhìn chung khi nói tới việc tăng mức độ tinh xảo có thể ngầm hiểu là: Tăng độ phức tạp trong vận hành trong vận hành (trường hợp các phương tiện), tăng mức độ đòi hỏi về tay nghề và kinh nghiệm (trong trường hợp năng lực), tăng chất lượng thông tin và tri thức tích luỹ (trong trường hợp các dữ liệu thông tin), tăng mức độ tương tác và liên kết động (trong trường hợp tổ chức quản lý) Trình tự đo hàm lượng công nghệ dựa trên hai phương diện: xác định mức độ tinh xảo của từng thành phần công nghệ, trình độ công nghệ hiện tại đang sử dụng so với trình độ hiện đại Mức đóng góp tổng hợp 4 thành phần công nghệ gọi là hệ

số đóng góp công nghệ và phản ánh hàm lượng công nghệ gia tăng trên một đơn vị sản phẩm

Việc phân tích hàm lượng công nghệ co thể cho ta biết được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp liên quan đến công nghệ và các động lực chuyển

Trang 25

đổi ở cấp công ty Nó cho phép xác định các ưu tiên trong phân bổ nguồn lực nhằm nâng cấp các thành phần công nghệ Nó không ảnh hưởng bởi sự không hoàn chỉnh của thị trường công nghệ và có thể bổ sung cho việc phân tích tài chính thông thường Hơn nữa, việc phân tích hàm lượng công nghệ có thể làm tăng khả năng sàng lọc cho công nghệ quốc gia và nâng cao năng lực quốc gia

về mặt đánh giá công nghệ khi hợp tác với nước ngoài

1.4.1.2 Các bước tiến hành

Như chúng ta đã đề cập, để đo lường các hàm lượng công nghệ của một

công ty, người ta dùng phương pháp trắc lượng công nghệ để đo lường mức

độ đóng góp của bốn thành phần công nghệ trong một quá trình chuyển đổi xác định Hệ số đóng góp công nghệ TCC cho quá trình chuyển đổi có thể được tính theo công thức sau:

TCC=Tβt.Hβh.Iβi.Oβo (Phương trình 1)

Trong đó T, H, I, O là mức độ đóng góp riêng tương ứng của từng thành phần công nghệ βt, βh, βI, βolà cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ tương ứng Để tính được TCC người ta tiến hành theo các bước sau Bước 1: Đánh giá cấp bậc tinh xảo của 4 thành phần công nghệ

Thông qua thủ tục cho đIểm để xác định mức độ tinh xảo của các thành phần công nghệ Bước này nhằm thực hiện kiểm tra chất lượng của 4 thành phần công nghệ và thu thập các thông tin phù hợp, xác định giới hạn cấp bậc tinh xảo trên và cấp độ tinh xảo dưới (thang điểm trên/thang điểm dưới) của bốn thành phần công nghệ một cách chi tiết Với dự án Hải Phòng, chúng tôi

đã xây dựng 28 tiêu chí để đánh giá mức độ tinh xảo của các thành phần công

Trang 26

nghệ cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng trên địa bàn Thành phố Hải Phòng

Bước 2: Đánh giá trình độ hiện đại

Khi chúng ta có được giới hạn cấp tinh xảo trên, dưới của bốn thành phần công nghệ thì vị trí của mỗi thành phần công nghệ trong khoảng giới hạn này phụ thuộc vào trình độ hiện đại của nó Trên cơ sở xác định trình độ hiện đại của mỗi thành phần công nghệ Việc xác định trình độ hiện đại của một thành phần công nghệ đòi hỏi phải có kiến thức sâu về các đặc trưng kỹ thuật

và tính năng có liên quan không những chỉ của những phương tiện chuyển đổi đang được xem xét mà còn của những nhà máy tốt nhất thế giới Ở bước này, chúng tôi cũng xây dựng những tiêu chí cụ thể để xác định mức độ hiện đại của công nghệ, ví dụ phân chia niên đại theo đặc điểm ngành, theo niên đại lắp đặt, nơi sản xuất vv Chúng tôi sẽ tổ chức các hội thảo chuyên để để lấy ý kiến của các chuyên gia đầu ngành để xây dựng hệ tiêu chí, để có những đánh giá sát thực nhất về trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ

Bước 3: Xác định những đóng góp của thành phần công nghệ trên cơ sở các giới hạn của cấp bậc tinh xảo và điểm số trình độ hiện đại đã được xác định Đây là bước tính toán điểm số, tổng hợp, xác định hệ số từ nhiều tiêu chí khác nhau

Bước 4: Đánh giá cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ: Ở đây đề xuất phương pháp đánh giá bằng cách sử dụng cách tiếp cận ma trận so sánh từng đôi một Các hệ số βsử dụng trong Luận văn được tham khảo từ dự

án Đồng Nai

Bước 5: Tính toán hệ số TCC

Trang 27

Sử dụng các giá trị T, H, I, O và các cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ (βt,h,I,o ) có thể tính được TCC bằng phương trình 1 ở trên TCC của công ty cho biết sự đóng góp của công nghệ của toàn bộ hoạt động chuyển đổi đầu vào đầu ra của công ty Nói cách khác, TCC cũng có thể được xem như hàm công nghệ gia tăng TCA trên một đơn vị đầu ra Hiểu theo cách này, một công ty có khối lượng đầu ra lớn sẽ gia tăng công nghệ nhiều hơn so với công ty có cùng TCC nhưng sản phẩm đầu ra thấp hơn Vì vậy, có thể nói TCA tỷ lệ thuận với cả TCC và đầu ra Với dự án Hải Phòng, việc xác định TCC là công đoạn khó khăn nhưng rất quan trọng trong quá trình thực hiện dự

án của chúng tôi do mục tiêu lớn của dự án mà chúng tôi đã trình bày là đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ cho Thành phố Hải Phòng

TCA cũng có thể được xem như sự khác nhau giữa hàm lượng công nghệ của các đầu ra và của đầu vào Đối với một phương tiện chuyển đổi, hàm lượng công nghệ của đầu vào sẽ thấp nhất khi tất cả các đầu vào chỉ toàn

là tài nguyên thiên nhiên Các đầu vào trung gian sẽ có hàm lượng công nghệ cao hơn so với các tài nguyên thiên nhiên bởi lẽ bản thân chúng là đầu ra của một phương tiện chuyển đổi khác Có thể thấy rằng ngay cả đầu vào là tài nguyên thiên nhiên cũng sẽ có một hàm lượng công nghệ nào đó, vì trước khi chúng trở thành đầu vào chúng có thể đã qua một vài giai đoạn chuyển đổi Quan hệ giữa TCA, TCC có thể được biểu diễn bằng phương trình đơn giản sau:

TCC=λ.TCC.VA

Trong đó VA là lượng giá trị gia tăng và λ là giá trị của hệ số môi trường công nghệ mà tại đó diễn ra hoạt động chuyển đổi

Trang 28

Như vậy, từ góc độ công nghệ, có thể nói công ty nào tạo ra một đơn vị

VA với TCC cao hơn sẽ có năng lực công nghệ lớn hơn công ty nào có VA và TCC thấp hơn Cũng có thể nói rằng, nếu 2 công ty có cùng một mứcTCC thì công ty tạo ra VA lớn sẽ có năng lực công nghệ cao hơn so với công ty có VA thấp hơn Hệ số môi trường công nghệ λ được xem như là một trong những yếu tố quyết định hoạt động của phương tiện chuyển đổi Nó phải có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 1 Nếu giá trị của hệ số môI trường gần bằng 1, thì có thể suy ra rằng phương tiện chuyển đổi hoạt động trong môi trường công nghệ có TCC bằng 1, tức là công ty tiên tiến nhất đang hoạt động trong môi trường được khuyến khích nhất thì TCC=VA (Giá trị gia tăng của công ty)

Phương trình TCA có những ứng dụng quan trọng từ quan điểm của những nhà lập kế hoạch công nghệ Thí dụ nó cho ta thấy rằng thậm chí nếu công ty có VA lớn nhưng TCC thấp thì tổng TCA thấp Giá trị TCA của công

ty có VA cao nhưng TCC thấp, có thể lớn hơn giá trị của công ty có VA trung bình nhưng TCC cao, vì vậy một trong những mục tiêu của kế hoạch hoá công nghệ liên quan với các phương tiện chuyển đổi là kiếm tìm các giải pháp

và phương tiện làm tăng không chỉ VA mà còn cả TCC Việc phân tích hàm lượng công nghệ sẽ có tác dụng trong tình huống này

1.4.2 Đánh giá môi trường công nghệ

1.4.2.1 Tổng quan đánh giá môi trường công nghệ

Kinh nghiệm cho thấy các phương tiện chuyển đổi giống nhau tại hai nước không phải lúc nào cũng mang lại kết quả giống nhau Nguyên nhân đầu tiên là sự khác biệt về môi trường công nghệ nghệ quốc gia hoặc bối cảnh công nghệ quốc gia, tại đó các chương trình khoa học và công nghệ được thực hiện Phương tiện chuyển đổi có thể thu lại kết quả tốt hơn trong môi trường

Trang 29

công nghệ thuận lợi Để đánh giá được môi trường công nghệ ở một quốc gia, cần phải xác định được 7 yếu tố sau đây:

1) Trình độ phát triển kinh tế xã hội

2) Trình độ cơ sở hạ tầng hỗ trợ

3) Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ và kinh phí cho nghiên cứu triển khai

4) Hiện trạng khoa học công nghệ trong hệ thống sản xuất

5) Hiện trạng giáo dục và đào tạo khoa học công nghệ ở nhà trường

6) Những tiến bộ trong lĩnh vực chuyên môn đã chọn

7) Các chế độ chính sách tầm vĩ mô đối với sự phát triển khoa học công nghệ

Việc nghiên cứu các tham số ảnh hưởng của môi trường công nghệ này

sẽ rất bổ ích Sự so sánh đối chiếu mức tiến bộ và các mức khác nhau sẽ cung cấp cho ta các dữ liệu xác định phương sách thực thi để tạo ra môi trường công nghệ lành mạnh Điều này đặc biệt quan trọng ở những nước mà hình mẫu kinh tế xã hội và luật lệ truyền thống chưa thuận lợi cho việc phát triển công nghệ Điều quan trọng là làm sao cho đại đa số dân số hoan nghênh cách

tư duy khoa học và vai trò công nghệ trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế

xã hội của nước mình Chỉ số đánh giá môi trường công nghệ có thể đưa ra một chỉ tiêu tương tự và bổ sung cho việc ước tính giá mờ dùng để phân tích kinh tế đối với tình hình thì trường chưa hoàn chỉnh để phù hợp với sự không hoàn của thị trường nên yếu tố môi trường công nghệ là một hệ số chuyển đổi

Trang 30

được hiệu chỉnh cho phù hợp với những vấn đề không hoàn chỉnh của môi

trường

Như vậy, có thể khái quát rằng việc xác định chỉ số môi trường công

nghệ phần nào giải thích việc với cùng một công nghệ nhưng sử dụng ở

những nơi khác nhau thì sẽ cho ra kết quả khác nhau Đánh giá môi trường

công nghệ cũng rất hữu ích đối với việc điều chỉnh các công cụ chính sách,

tạo bầu không khí lành mạnh cho việc sử dụng công nghệ trên quy mô đầy đủ

nhất cho phát triển

1.4.2.2 Các bước tiến hành

Chỉ số λ (môi trường công nghệ) cho chúng ta đánh giá được rằng môi

trường công nghệ một quốc gia có thuận lợi hay không đối với công nghệ

Chỉ số λ càng gần 1 thì môi trường càng thuận lợi Để đánh giá môi trường

công nghệ tại một quốc gia, người ta đánh giá bằng cách tính chỉ số môi

trường công nghệ (λ) Chỉ số λ được tính theo công thức phương trình 3 và

tiến hành theo các bước sau:

λ = a OFI + b SFI (Phương trình 3)

Trong đó: OFT là chỉ số yếu tố khách quan; SFI là chỉ số yếu tố chủ quan

Và 0≤ λ, OFI, SFI ≤ 1, a+b=1

Như vậy, việc đánh giá môi trường công nghệ hay xác định chỉ số λ được tiến

hành qua bốn bước sau:

Bước 1: Phân loại các dữ liệu về môi trường công nghệ (7 nhóm yếu tố

xác định môi trường công nghệ) thành hai nhóm yếu tố khách quan và nhóm

Trang 31

yếu tố chủ quan Nhóm đầu bao gồm những yếu tố có thể định lượng được, nhóm sau bao gồm các yếu tố định tính chỉ có thể đo lường bằng thang thứ bậc

Bước 2: Tìm chỉ số yếu tố khách quan (OFI) bằng cách sử dụng dữ liệu định lượng được Xây dựng ma trận của các yếu tố khách quan của từng nước, từng vùng với dữ liệu đã được chuẩn hoá Dùng các kỹ thuật phân tích thừa số

sẽ nhận được tải trọng các yếu tố, và sử dụng tải trọng đó làm trọng số để tính OFI của từng nước, vùng Giá trị cực đại mà OFI đạt được là 1

Bước 3: Tìm chỉ số của các yếu tố chủ quan (SFI) bằng cách sử dụng các yếu tố định tính Bằng cách xây dựng các ma trận ưu tiên thích hợp dựa trên cách tiếp cận so sánh từng đôi một và dùng phép phân tích giá trị riêng có thể tìm được SFI của từng nước Chuẩn hoá SFI để đạt giá trị cực đại của nó bằng

1

Bước 4: Tính λ theo phương trình 3 Đối với các nước có giá trị SFI và OFI càng gần một thì môi trường công nghệ của nước đó càng thuận lợi

1.4.3 Đánh giá trình độ công nghệ

Theo nguyên bản phương pháp luận Atlas công nghệ, việc đánh giá trình

độ công nghệ được thực hiện ở quy mô một nghành công nghiệp Cụ thể trong nội dung luận văn sẽ đi đánh giá trình độ công nghệ của nghành công nghiệp nặng

1.4.3.1 Tổng quan đánh giá trình độ công nghệ

Việc phân tích trình độ công nghệ của một nghành công nghiệp là một trong các đầu vào để kế hoạch hoá công nghệ Do các số liệu thống kê như tỷ trọng hàng hoá sản xuất cho xuất khẩu hoặc tỷ trọng công nghiệp trong tổng

Trang 32

sản phẩm quốc nội và cán cân thanh toán công nghệ (các chỉ số được sử dụng trong các phương pháp luận của OECD và của UNESCO như chúng đã đề cập ban đầu

Với Atlas công nghệ: Trình độ công nghệ gồm bốn thành phần chính đó

là hàm lượng công nghệ gia tăng trong các công ty riêng lẻ của một nghành công nghệ được tập hợp lại là một trong các chỉ tiêu đánh giá trình độ công nghệ; việc phân tích hàm lượng nhập khẩu các thành phần công nghệ đầu vào khác nhau chỉ rõ mức độ cạnh tranh của nghành công nghiệp trên thị trường quốc tế; yếu tố quyết định nhất của trình độ công nghệ là tính đổi mới của một nghành công nghiệp Tính đổi mới có thể được đánh giá bằng cách xem xét

xu hướng sản phẩm, quy trình hoặc các đổi mới ứng dụng Tính đổi mới cao, nếu công ty hoặc nghành hoặc quốc gia có tỷ lệ đổi mới cao trong các giai đoạn phát triển của vòng đời công nghệ

Việc phân tích tổng thể trình độ công nghệ cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc đồng nhất hoá các nghành công nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao

và đổi mới để nhanh chóng phát triển kinh tế Việc đánh giá trình độ công nghệ có thể giúp nhận biết các đối tác phù hợp để tối ưu cho chuyển giao công nghệ

1.4.3.2 Các bước tiến hành

Nhắc lại việc đánh giá trình độ công nghệ là việc đánh giá 4 thành phần chính sau: Hàm lượng công nghệ gia tăng; hàm lượng công nghệ nhập khẩu; hàm lượng công nghệ xuất khẩu; tính đổi mới Sau khi đưa ra đánh giá một cách tổng quan nghành công nghiệp/công nghệ-đánh giá tình hình chung của các nghành khác nhau theo yêu cầu của dự án, cần tiến hành xác định bốn thành phần trên

Trang 33

Bước 1: Đánh giá hàm lượng công nghệ gia tăng tức là đánh giá mức độ đóng góp chung của thành phần công nghệ

Bước 2: Đánh giá hàm lượng nhập khẩu các đầu vào công nghệ được sử dụng tức là đánh giá mức độ tự lực

Bước 3: Đánh giá hàm lượng xuất khẩu các đầu ra công nghệ được tạo

ra, tức là đánh giá mức cạnh tranh quốc tế

Bước 4: Đánh giá tính đổi mới, tức là đánh giá khả năng đưa vào áp dụng những thay đổi công nghệ

Tương ứng ở ba bước này là việc xây dựng các phiếu điều tra (Trung tâm nghiên cứu về tư vấn và quản lý)

Bước 5: Sau khi có kết quả đánh giá các thành phần xác định trình độ công nghệ, trình bày những phân tích trình độ công nghệ dựa trên việc tổng hợp những đánh giá nêu trên

1.4.4 Đánh giá năng lực công nghệ

Xét về mặt cơ sở lý thuyết, việc đánh giá năng lực và nhu cầu công nghệ quốc gia phải được tiến hành trong mối tương quan lẫn nhau Thật vậy, đánh giá đầy đủ năng lực công nghệ trong quá khứ và hiện tại là điều kiện tiên quyết để xây dựng năng lực công nghệ cho tương lai trong các lĩnh vực lựa chọn các nhu cầu được xác định ưu tiên cao Thực tế việc đánh giá năng lực công nghệ thường có tính chất định tính ở quy mô một quốc gia

1.4.4.1 Tổng quan đánh giá năng lực công nghệ

Để có thể đánh giá năng lực công nghệ của một đơn vị kinh tế, cần xem xét cấu trúc công nghệ của một nền kinh tế bằng cách phân loại các hoạt động

Trang 34

kinh tế thành các giai đoạn chuyển đổi khác nhau Sơ đồ phân loại này sẽ cho phép chúng ta đánh giá được cơ cấu công nghệ của mỗi nước, mỗi địa phương

có sử dụng giá trị gia tăng và các hệ số đóng góp của công nghệ Việc phân tích mức độ đóng góp tương đối theo các giai đoạn chuyển đổi sẽ giúp ta xác định khả năng điều chỉnh của cấu trúc Ngoài việc phân tích cấu trúc công nghệ ra, nên tiến hành phân tích thêm các nguồn lực khác, như nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người Hơn nữa phần cơ sở hạ tầng cũng biểu hiện khả năng sẵn có, tính thời hạn và khả năng liên kết giữa các giai đoạn trong chuỗi phát triển thành phần công nghệ và các tác nhân thúc đẩy thành phần công nghệ đó

Việc phân tích năng lực công nghệ có thể nêu bật được những điểm mạnh và điểm yếu trong việc cung cấp nguồn lực và cơ sở hạ tầng của cơ quan xí nghiệp, giúp ta hiểu rõ vấn đề để phân bố hợp lý các nguồn lực và đề xuất các chương trình phát triển

1.4.4.2 Các bước tiến hành

Việc đánh giá năng lực công nghệ chia làm bảy bước sau

Bước 1: Nghiên cứu tổng quan về nghành công nghiệp/nghành kinh tế Đầu tiên, bản tổng quan về nghành công nghiệp mà nó sẽ được đánh giá chủ yếu chỉ ra xem nước đó ở đâu trong khung cảnh toàn cầu Mặc dù, không thể có một khuôn mẫu riêng cho bản tổng quan này, nhưng nó cần đề cập ngắn gọn những khả năng và thành tựu to lớn của nước đó trong tương quan với một số nước khác

Bước 2: Đánh giá định tính năng lực công nghệ: Đây là bước đánh giá định tính chung về năng lực công nghệ của nghành công nghiệp/nghành kinh

Trang 35

tế có tham chiếu nghành công nghiệp hay kinh tế nước khác Phải đặc biệt chú ý đến việc tạo dựng năng lực công nghệ bao gồm việc sản sinh công nghệ bản xứ và đồng hoá các công nghệ nhập khẩu

Bước 3: Đánh giá các nguồn lực tự nhiên:

Bước này cung cấp diện mạo của nguồn lực tự nhiên của một đất nước

có tham chiếu đặc biệt nguồn lực tự nhiên lớn như quặng, khoáng sản

Bước 4: Đánh giá các nguồn lực con người:

Bước này đưa ra một bảng phân tích các nguồn nhân lực của một nước

về phân bổ kỹ năng, tay nghề và cơ cấu lực lượng lao động theo các giai đoạn chuyển đổi

Bước 5: Đánh giá hạ tầng cơ sở, đó là việc xem xét diện mạo hạ tầng cơ

sở bằng việc xem xét cường độ các pha của chuỗi phát triển thành phần công nghệ, sự tác động qua lại giữa các pha và các tác nhân và mối liên kết giữa các tác nhân và hệ thống sản xuất

Bước 6: Đánh giá cơ cấu công nghệ:

Đánh giá cơ cấu công nghệ của một nước bằng cách phân lập các đầu ra thành các giai đoạn chuyển đổi khác nhau, đồng thời uớc tính hàm lượng công nghệ gia tăng của các giai đoạn khác nhau

Bước 7: Đánh giá tổng thể năng lực công nghệ: Đây là bước cuối cùng bao gồm việc tổng hợp các kết quả của các bước đầu vào một bảng và đưa ra các phân tích và đánh giá tổng thể năng lực công nghệ

1.4.5 Đánh giá nhu cầu công nghệ

Trang 36

1.4.5.1 Tổng quan đánh giá nhu cầu công nghệ

Hệ phương pháp đánh giá nhu cầu công nghệ gồm một vài bước, qua đó các nhu cầu công nghệ được rút ra từ các mục tiêu kinh tế xã hội của quốc gia cùng với các nguồn lực cần thiết và kế hoạch lập tiến độ đáp ứng nhu cầu này Căn cứ vào phương pháp thu thập và phát triển công nghệ, các công nghệ cần thiết có thể chia làm ba khu vực đó là: công nghệ nhập khẩu, công nghệ diễn tiến và công nghệ xuất khẩu Hệ phương pháp đánh giá nhu cầu công nghệ có lợi ở nhiều phương diện Một là, khi lập kế hoạch phát triển quốc gia, nó cho phép xác định rõ ràng công nghệ cần thiết Hai là qua việc dự báo công nghệ

nó buộc các nhà lập kế hoạch phải theo dõi giám sát tình hình công nghệ quốc

tế Ba là thông qua cách tiếp cận theo khu vực công nghệ, nó giúp ta lập kế hoạch để đạt được cán cân thương mại thích hợp Cuối cùng nó giúp ta củng

cố mối liên kết vững chắc giữa bộ máy kế hoạch hoá cấp nhà nước và cộng đồng khoa học công nghệ

Bước 3: Dự báo thị trường thế giới và các xu hướng công nghệ

Bước 4: Xác định các ưu tiên và phân loại các lĩnh vực công nghệ phù hợp theo các giai đoạn chuyển đổi và các tác nhân thúc đẩy công nghệ

Bước 5: Đánh giá các đầu vào để đạt đầu ra mong muốn cho từng giai đoạn chuyển đổi và từng tác nhân thúc đẩy công nghệ

Trang 37

Bước 6: Xác định các chùm công nghệ có đặc tính chung và đặc tính riêng Công nghệ có đặc tính chung là công nghệ có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực Chùm công nghệ là một nhóm các công nghệ có thể được áp dụng cùng nhau để đạt kết quả tối ưu

Bước 7: Phân tích để phân loại nhu cầu công nghệ đã được xác định theo khu vực công nghệ

Chương II

PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG CÔNG NGHỆ TẠI MỘT SỐ CÔNG TY TRONG LĨNH VỰC CƠ KHÍ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Tổng quan các doanh nghiệp cơ khí trên địa bàn Hải phòng

2.1.1 Quá trình thu thập thông tin

2.1.1.1 Phương pháp thu thập thông tin

Phương pháp thu thập thông tin cho đề tài là sử dụng mẫu phiếu thu thập thông tin dựa theo mẫu mà Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về quản lý-Đại Học Bách Khoa Hà Nội tiến hành cho dự án Đồng Nai Sử dụng phiếu điều tra trên để phỏng vấn các thủ trưởng đơn vị

Trang 38

2.1.1.2 Phiếu thu thập thông tin

Phiếu thu thập thông tin được chia làm bốn phần chính Mỗi phần tương ứng với một bộ câu hỏi cho một loại thành phần công nghệ

Phần kỹ thuật gồm 24 câu hỏi được mã hoá từ T010 đến T0240

Phần con người gồm 27 câu hỏi được mã hoá từ H010 đến H0270

Phần thông tin gồm 25 câu hỏi được mã hoá từ I010 đến I0250

Phần tổ chức gồm 35 câu hỏi được mã hoá từ O010 đến O0350

8 câu hỏi khác gồm 4 câu về thông tin chung của doanh nghiệp và 4 câu hỏi khác Tổng cộng gồm 119 câu hỏi

Trong mỗi câu hỏi trên có thể gồm nhiều câu hỏi nhỏ, mỗi câu hỏi được đưa ra một số phương án trả lời sẵn theo dạng trắc nghiệm để thuận tiện cho việc điều tra

2.1.1.3 Quá trình điều tra thu thập thông tin

Việc điều tra thu thập thông tin phục vụ cho đề tài là rất khó khăn Bởi vì

bộ phiếu điều tra được xây dựng một cách rất chi tiết Nó rà soát đến hầu hết các bộ phận chức năng của doanh nghiệp Nó yêu cầu doanh nghiệp cung cấp rất nhiều thông tin rất tỷ mỉ (ví dụ các câu hỏi về trình độ lao động và kinh nghiệm làm việc), việc cung cấp thông tin cho đề tài cần được sự đồng ý cho phép của thủ trưởng đơn vị như Giám đốc, phó giám đốc Do đó, nhiều đơn

vị đã từ chối cung cấp thông tin (Công ty Cơ khí Hải phòng, Lilama, Đóng tàu Tam Sông Cấm, Công ty Thép Việt Úc ), nhiều đơn vị cung cấp thông tin song không đầy đủ nên không thể sử dụng để đánh giá được ví dụ Nhà Máy đóng tàu Bạch đằng, Đóng tàu Bến Kiền ) Sau khi đã liên lạc với thủ trưởng

Trang 39

của các đơn vị (Giám đốc, Phó giám đốc), hẹn lịch gặp, trình bày và chuyển phiếu thu thập thông tin Thủ trưởng đơn vị giao cho các phòng ban liên quan điền thông tin sau đó tập hợp lại Qua quá trình điều tra đã thu được bốn bộ phiếu điều tra tương đối đầy đủ thông tin để có thể tính toán và so sánh các thành phần công nghệ đó là các bộ phiếu điều tra của Công ty Công nghiệp nặng và Xây dựng Hàn-Việt, Cơ khí Duyên Hải, Công ty 189 và công ty Thép Việt Úc

2.1.1.4 Thang điểm đánh giá các thành phần công nghệ

Mỗi câu hỏi của từng thành phần công nghệ được chia theo thang điểm

10 Tuỳ theo mức độ tinh xảo của từng thành phần công nghệ ta xác định được điểm của nó theo thang điểm Việc tổng hợp từng thành phần công nghệ được tính toán dựa vào hệ số đóng góp của từng thành phần theo bảng 2.1 Bảng 2.1: Bảng các hệ số đóng góp các thành phần công nghệ

( Dựa theo kết quả của dự án Đồng Nai)

2.2 Giới thiệu về các doanh nghiệp

2.2.1 Giới thiệu về Công ty công nghiệp nặng và xây dựng Hàn-Việt

Trang 40

Công ty Công Nghiệp Nặng và Xây dựng Hàn-Việt được thành lập vào ngày 15 tháng 11 năm 1995 Bản thân là một công ty liên doanh giữa Công ty Công nghiệp nặng và Xây dựng Doosan (Thuộc tập đoàn Doosan và đóng góp 60% vốn đầu tư), Công ty cơ khí Duyên Hải (đóng góp 30% vốn góp) và công

ty Ssang Yong của Hàn Quốc

Tổng số vốn đầu tư của công ty là 25.700.000 đô la với tổng diện tích khoảng 70.000 m2 Sản lượng hàng năm của công ty là 15.000 tấn sản phẩm kết cấu thép Đến nay công ty đã đi vào hoạt động sản xuất được 7 năm Phần lớn sản phẩm của công ty được xuất khẩu, cho đến nay hàng hoá của công ty

đã được xuất sang 8 nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, Úc, Tây Ban Nha, Các nước Trung Đông Khách hàng chính là các công ty công nghiệp nặng trên thế giới như các công ty của Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý, Úc

Về mặt trang thiết bị, công ty có các thiết bị hàn tự động, thiết bị cắt hơi, máy cắt, máy lốc tôn cho phép lốc được chiều dày khá lớn, máy sấn và đặc biệt công ty có dây chuyền làm sạch bề mặt sản phẩm bằng hạt mài Các thiết

bị của công ty có xuất xứ Mỹ, Hàn Quốc, Ý

2.2.2 Giới thiệu về Công ty cơ khí Duyên Hải

Công ty Cơ khí Duyên Hải là một công ty thành viên trực thuộc Tổng công ty Máy và Thiết bị Công nghiệp Bản thân là một công ty cơ khí nhà nước và đã chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cơ khí Duyên Hải Công ty chủ yếu được trang bị các máy móc thiết bị do Liên xô (trước đây) sản xuất và được đầu tư mới một số thiết bị của Ý, Nhật

2.2.3 Giới thiệu về Công ty 189

Ngày đăng: 11/11/2018, 16:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w