Để thực hiện được các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, nhất thiết các doanh nghiệp đang kinh doanh và sản xuất trong ngành công nghiệp Việt Nam nói chung cần phải xây dựng được các
Trang 1ĐINH LÊ ANH
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
CỦA TỔNG CÔNG TY BIA - RƯỢU - NGK HÀ NỘI
ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI - 2004
Trang 2ĐINH LÊ ANH
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY BIA - RƯỢU - NGK HÀ NỘI
Trang 3Tôi xin cam đoan ngoài những nội dung, thông tin, dữ liệu được trích dẫn, sử dụng từ các tài liệu tham khảo, bản luận văn tốt nghiệp cao học này
Cuối cùng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới:
Bách khoa Hà Nội
Đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội, ngày 2 tháng 9 năm 2004
Tác giả luận văn
Đinh Lê Anh
Trang 4MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN LÝ
1.2.2 Tầm quan trọng của quản lý chiến lược 8
1.3 Các căn cứ để xây dựng Chiến lược kinh doanh 9
1.3.5 Thiết lập và đánh giá các phương án chiến lược 24
1.4 Phương pháp để xây dựng chiến lược kinh doanh 31
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA TỔNG
CÔNG TY BIA - RƯỢU - NGK HÀ NỘI 43
2.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Công
ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội 43
2.1.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2003 46
Trang 52.3 Mục tiêu và quan điểm phát triển của Tổng công ty Bia -
Rượu - Nước giải khát Hà Nội đến năm 2010 52
2.5 Phân tích nội bộ Tổng Công ty Bia - Rượu - NGK Hà Nội 79
CHƯƠNG III CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY
BIA - RƯỢU - NGK HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2010 95
3.1 Giải pháp đầu tư nâng cao năng lực sản xuất 95
3.1.3 Sản xuất sản phẩm Nước giải khát 96
3.4 Chiến lược con người, tổ chức và quản lý 114
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước ta xuất phát từ một quốc gia nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, lại chịu sự
tàn phá nặng nề của nhiều cuộc chiến tranh, luôn đối mặt với thách thức găy gắt là phải
thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển, nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của
chủ nghĩa xã hội Trong cuộc đua tranh phát triển vì các mục tiêu phát triển con người,
Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam luôn coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ
trung tâm Đường lối này được khẳng định tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1986), trở thành mốc đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế,
trước hết là trong tư duy về phát triển, về công nghiệp hoá của Việt Nam
Trong suốt mấy thập niên qua, việc triển khai trên thực tế chiến lược
phát triển kinh tế ở Việt Nam dựa trên cách đặt vấn đề nhất quán như vậy về
công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, trong các giai đoạn khác nhau, tuỳ
theo những điều kiện và yêu cầu phát triển cụ thể mà nội dung, phương thức
và giải pháp thực hiện cũng mang sắc thái khác nhau Mặc dù vậy tất cả đều
có một mục tiêu chung đó là: nhất quán với đường lối phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, mục tiêu tổng quát của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong giai đoạn đổi mới của Việt Nam vẫn là đưa đất nước thoát khỏi tình
trạng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ sở
vật chất, kỹ thuật hiện đại Trong bối cảnh thị trường mở cửa, dưới áp lực
ngày càng tăng của cạnh tranh quốc tế, những mục tiêu đó đều mang sắc thái
mới Trong khuôn khổ mở của, việc nhanh chóng thoát khỏi tình trạng tụt hậu
phát triển trở thành thách thức phát triển có mức độ gay gắt hơn nhiều Mặt
khác, thực chất và nội dung của khái niệm độc lập tự chủ về kinh tế trong điều
kiện toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế không còn có nghĩa là
phải nỗ lực tạo dụng một cơ cấu kinh tế có đủ mọi thứ, giúp đất nước “ tự bảo
đảm”, có thể “khép kín” để khỏi lệ thuộc vào nước ngoài Bao trùm lên tất cả
Trang 7các mục tiêu cụ thể đó là đưa Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp
vào thời điểm năm 2020
Để thực hiện được các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, nhất
thiết các doanh nghiệp đang kinh doanh và sản xuất trong ngành công nghiệp
Việt Nam nói chung cần phải xây dựng được các chiến lược kinh doanh đủ
mạnh, bền vững và có hiệu quả
Là một doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp, Tổng công ty Bia -
Rượu - Nước giải khát Hà Nội trong những năm tới sẽ tập trung đầu tư, củng
cố và khai thác tối đa các nguồn lực hiện có, tăng cường các biện pháp quản
lý, mở rộng quan hệ quốc tế nhằm phát triển Tổng công ty thành tập đoàn sản
xuất Bia - Rượu - Nước giải khát hàng đầu Việt Nam và trở thành tập đoàn
kinh tế mạnh trong khu vực Xuất phát từ đường lối, quan điểm, mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội của Đảng và tình hình thực tiễn phát triển sản xuất kinh
doanh của Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội tôi đã chọn đề
tài nghiên cứu:
“Xây dựng chiến lược kinh doanh của Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước
giải khát Hà Nội đến năm 2010”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội Thông qua các số liệu
thống kê, các công cụ thống kê
giải khát Hà Nội giai đoạn đến năm 2010, thiết lập và đưa ra hệ thống giải
pháp chiến lược một cách khoa học phù hợp với tình hình thực tế và quan
điểm phát triển của Tổng công ty nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
Trang 83 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng Tổng công ty Bia - Rượu -
Nước giải khát Hà Nội
Đề tài tập trung nghiên cứu 3 dòng sản phẩm chủ yếu của Tổng công ty
khát
3.3 Phạm vi số liệu khảo sát (Thời gian từ năm 2001 đến nay):
Chủ yếu lấy từ nguồn số liệu của:
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận và làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu, phương phấp luận
được sử dụng là: phương pháp luận của phép duy vật biện chứng, các phương
pháp mô hình, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp chuyên gia,
phương pháp thống kê đơn giản
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Xây dựng chiến lược mang tính cơ sở khoa học về lý luận để triển khai
hoạt động sản xuất kinh doanh của các sản phẩm bia, rượu, nước giải khát của
Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội
5.2 Ý nghĩa thực tiễn:
giải khát của Tổng công ty bằng việc áp dụng một số mô hình phân tích chiến
lược
Trang 9- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm thức đẩy, xây dựng
một mô hình phát triển sản xuất kinh doanh phù hợp, vững chắc ở Tổng công
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận - kiến nghị, tài liệu tham
khảo và phụ lục, bao gồm 03 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về chiến lược và quản lý chiến lược
Chương II: Phân tích chiến lược kinh doanh của Tổng công ty Bia -
Rượu - Nước giải khát Hà Nội
Chương III: Chiến lược kinh doanh của Tổng công ty Bia - Rượu -
Nước giải khát Hà Nội đến năm 2010
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC
VÀ QUẢN LÝ CHIẾN LƯỢC
1.1 Cơ sở lý luận về chiến lược
1.1.1 Khái niệm
Trong quản trị kinh doanh khái niệm chiến lược được thể hiện qua các
quan niệm sau:
hành động hoặc những kế hoạch liên kết với nhau được thiết kế để đề ra và
thực hiện những mục tiêu của tổ chức
tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và
thách thức từ bên ngoài
của một tổ chức phản ảnh được cấu trúc, khuynh hướng mà người ta dự định
trong tương lai
liên quan đến chiến lược với những mục tiêu cơ bản, thế chiến lược và triển
vọng trong tương lai của nó
Vậy chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là sự tập hợp
một cách thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt
động của một đơn vị kinh doanh trong chiến lược tổng thể nhất định Chiến
lược kinh doanh phản ảnh các hoạt động của đơn vị kinh doanh bao gồm quá
trình đặt ra các mục tiêu và các biện pháp, các phương tiện sử dụng để đạt
được mục tiêu đó
Hoạch định chiến lược kinh doanh nhằm giúp các doanh nghiệp đạt
được mục tiêu trược mắt và lâu dài, tổng thể và bộ phận, là một điều hết sức
Trang 11quan trọng và cần thiết Mục đích của việc hoạch định chiến lược kinh doanh
là “ Dự kiến tương lai trong hiện tại” dựa vào chiến lược kinh doanh các nhà
quản lý có thể lập ra các kế hoạch cho những năm tiếp theo Tuy nhiên quá
trình đó phải có sự kiểm soát chặt chẽ, hiệu chỉnh trong từng bước đi Một
chiến lược vững mạnh luôn cần đến khả năng, điều hành linh hoạt, sử dụng
được các nguồn lực vật chất, tài chính và con người thích ứng
Chiến lược kinh doanh thực chất là hướng vào trả lời 4 câu hỏi quan
trọng: Hiện nay doanh nghiệp đang ở đâu? Doanh nghiệp muốn đến đâu?
Doanh nghiệp sẽ đến đó bằng cách nào? Làm thế nào để biết được tiến độ của
doanh nghiệp?
1.1.2 Phân loại chiến lược
1.1.2.1 Phân loại theo phạm vi của chiến lược:
chia chiến lược kinh doanh thành 02 cấp, chiến lược tổng quát và chiến lược
bộ phận
* Chiến lược tổng quát:
Chiến lược tổng quát là chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp vạch
ra mục tiêu phát triển doanh nghiệp trong khoảng thời gian dài Chiến lược
tổng quát tập trung vào các mục tiêu sau:
mục tiêu tỷ lệ sinh lợi của đồng vốn và lợi nhuận càng cao càng tốt phải là
mục tiêu tổng quát của mọi doanh nghiệp
thường được đo bằng phần thị trường mà doanh nghiệp kiểm soát được; tỷ
trọng hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp so với tổng lượng cung về hàng
hoá, dịch vụ đó trên thị trường; khả năng tài chính, khả năng liên doanh, liên
Trang 12kết trong, ngoài nước; mức độ phụ thuộc của các doanh nghiệp khác vào
doanh nghiệp; uy tín, tiếng tăm của doanh nghiệp đối với khách hàng
rủi, chiến lược kinh doanh càng táo bạo, cạnh tranh càng khốc liệt thì khả
năng thu lợi nhuận càng lớn nhưng rủi ro cùng càng cao Rủi ro là sự bất trắc
không mong đợi nhưng các nhà chiến lược khi xây dựng chiến lược chấp
nhận nó thì sẽ tìm cách ngăn ngừa, né tránh, hạn chế, nbếu có chính sách
phòng ngừa tốt thì thiệt hại sẽ ở mức thấp nhất
* Chiến lược bộ phận
Chiến lược bộ phận bao gồm rất nhiều loại chiến lược, đối với doanh
nghiệp công nghiệp thường là chiến lược Marketing, chiến lược tài chính,
chiến lược nguồn nhân lực Trong chiến lược Marketing người ta thường chú
ý tới các chiến lược giá, chiến lược sản phẩm, chiến lược phân phối, và chiến
lược giao tiếp khuếch trương
đuổi vì bao giờ họ cũngmuốn sản xuất ra sản phẩm với giá thấp nhất
điểm nhấn mạnh như chất lượng tốt, dịch vụ chu đáo, thiết kế sáng tạo, tính
năng kỹ thuật đa dạng, những ấn tượng mạnh mẽ về nhãn hiệu sản phẩm
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa chiến lược tổng quát, chiến lược bộ phận
Chi ến lược tổng quát
T ạo thế lực trên thị
tr ường Tối đa hoá lợi nhu ận Btrong kinh doanh ảo đảm an toàn
Chi ến lược bộ
ph ận
Trang 131.1.2.2 Phân loại theo hướng tiếp cận
* Chiến lược tập trung vào những yếu tố then chốt:
Tư tưởng chỉ đạo của những việc hoạch định chiến lược ở đây là không
dàn trải các nguồn lực, mà tập trung vào những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định
đối với phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
* Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối:
Việc hoạch định chiến lược ở đây bắt đầu từ việc phân tích, so sánh sản
phẩm hay dịch vụ của mình có chi phí tương đối nhỏ so với đối thủ cạnh
tranh Từ việc tìm ra thế tương đối của mình doanh nghiệp sẽ dựa vào đó để
xây dựng chiến lược kinh doanh
* Chiến lược sáng tạo tấn công:
Để thực hiện chiến lược này thì doanh nghiệp phải nhìn thẳng vào
những vấn đề được coi là phổ biến, bất biến để xem xét chúng Cần đặt ra
nhiều câu hỏi, những nghi nghờ về những vấn đề tưởng như đã kết luận Từ
việc đặt liên tiếp các câu hỏi và sự nghi ngờ bất biến của vấn đề, doanh
nghiệp có thể khám phá ra những vấn đề mới mẻ có lợi cho doanh nghiệp và
tìm cách phát triển chúng trong chiến lược kinh doanh đặt ra
* Chiến lược khai thác các khả năng và tiềm năng:
Xây dựng chiến lược này dựa trên sự phân tích có hệ thống thông tin
nhằm khai thác khả năng có thể có của tất cả các yếu tố khác bao quanh nhân
tố then chốt Từ đó tìm cách sử dụng phát huy tối ưu nguồn lực của doanh
nghiệp để mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất
1.2 Quản lý chiến lược
Quản lý chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại
cùng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và
Trang 14kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong
môi trường hiện tại cũng như tương lai Nó bao gồm tất cả các chức năng cơ
bản của quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát
1.2.2 Tầm quan trọng của quản lý chiến lược
Trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh hiện nay, quá
trình quản lý chiến lược giúp các doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi
của mình, vượt qua những trở ngại khó khăn bằng chính khả năng của mình
Quản lý chiến luợc được xây dựng nhằm mục tiêu giúp doanh nghiệp
có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng hết các cơ hội đó và giảm
bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường
Quản lý chiến lược giúp cho một tổ chức có thể chủ động hơn trong
việc vạch rõ tương lai của mình, cho phép doanh nghiệp có thể tiên phong và
gây ảnh hưởng trong môi trường nó hoạt động
Tạo ra mối liên hệ giữa các cá nhân trong nội bộ doanh nghiệp, giúp kết
hợp những hành vi đơn lẻ thành một nỗ lực chung, cung cấp cơ sở cho việc
làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân Việc vận dụng quá trình quản lý chiến
lược đã đem lại cho doanh nghiệp thành công, có cái nhìn xa hơn trong tương
lai Quản lý chiến lược nhằm tăng thêm khả năng ngăn chặn những nguy cơ
của tổ chức bởi lẽ nó khuyến khích cho những suy nghĩ tiến bộ cùng chia sẻ
mục tiêu cần đạt tới của doanh nghiệp Khuyến khích thái độ tích cực đối với
sự đổi mới, đem lại một mức độ kỷ luật và sự chính thức đối với công tác
quản trị trong công ty
1.3 Các căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh
1.3.1 Phân tích môi trường kinh doanh
1.3.1.1 Phân tích môi trường vĩ mô
a/ Môi trường kinh tế:
Trang 15Môi trường kinh tế của doanh nghiệp được xác định thông qua tiềm lực
của nền kinh tế quốc gia Các nhân tố quan trọng nhất để đánh giá tiềm lực
này bao gồm: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, lãi suất và xu hướng của lãi
xuất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát, mức độ tiêu dùng, mức độ thất nghiệp,
hệ thống thuế và mức thuế, các khoản nợ Đây là những yếu tố rất quan trọng,
tác động mạnh hơn so với một số yếu tố khác của ngoại cảnh vĩ mô
Mức tăng trưởng kinh tế hàng năm được đánh giá thông qua mức tăng
GDP và mức tăng thu nhập bình quân đầu người/năm Mức tăng trưởng kinh
tế ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và đặc trưng của các cơ hội cũng như các
thách thức đối với doanh nghiệp Tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo tăng khả
năng tiêu thụ hàng hoá trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ đó tạo ra triển
vọng phát triển cho các doanh nghiệp và làm giảm bớt đi áp lực cạnh tranh
trong phạm vi của những ngành riêng biệt Sự thụt lùi trong nền kinh tế sẽ
đem đến những hậu quả ngược lại: giảm nhu cầu tiêu thụ hàng hoá, cạnh tranh
quyết liệt để tồn tại dẫn đến phá sản hàng loạt các doanh nghiệp yếu kém Sự
giảm sút của nền kinh tế cũng dẫn đến các cuộc chiến về giá cả trong các
ngành công nghiệp nằm trong thời kỳ trưởng thành trở nên khốc liệt hơn Mặc
dù việc dự đoán hệ số mức tăng trưởng kinh tế là rất khó đạt được mức độ
chính xác cao, nhưng nghiên cứu và dự báo chiều hướng phát triển của nó là
hết sức cần thiết để xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp
Mức lãi suất sẽ quyết định đến mức cầu cho các sản phẩm của doanh
nghiệp Mức lãi xuất tăng sẽ là mối nguy cơ cho phát triển chiến lược của
doanh nghiệp, ngược lại, nếu nó giảm sẽ làm tăng triển vọng phát triển doanh
nghiệp lâu dài
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo ra một vận hội mới
cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể là những nguy cơ cho sự phát triển Mức
độ lạm phát và những vấn đề chống lạm phát cũng là một nhân tố quan trọng
Trang 16Trên thực tế, nếu tỷ lệ lạm phát cao có thể làm mất ổn định nền kinh tế, hạn
chế nhịp độ phát triển kinh tế, thúc đẩy việc nâng cao tỷ lệ phần trăm cho vay
tiền và tăng sự giao động về giá trao đổi ngoại tệ Lạm phát tăng lên, dự án
đầu tư trở nên mạo hiểm hơn, doanh nghiệp sẽ giảm đầu tư phát triển sản
xuất Những yếu tố kinh tế trên rất dễ thay đổi nên những xu thế hay thay đổi
của những con số có thể ảnh hưởng mạnh đến các quyết định chiến lược
Hệ thống thuế và mức thuế là những căn cứ để Nhà nước điều khiển
mối quan hệ cung cầu các sản phẩm hàng hoá khác nhau trong nền kinh tế
Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của các doanh nghiệp, tạo ra những
nguy cơ hoặc triển vọng phát triển của doanh nghiệp
Ngoài những nhân tố trên có những tác động trực tiếp và quan trọng
đến doanh nghiệp, còn có các nhân tố khác nữa như: các phương pháp hoạt
động thị trường, thị trường vồn, vòng quay và các chỉ số chứng khoán, cấu
trúc nền kinh tế…
b/ Môi trường công nghệ:
Đây là loại nhân tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và đe doạ
đối với các doanh nghiệp, có ảnh hưởng lớn, trực tiếp cho chiến lược kinh
doanh của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều doanh nghiệp Trên thế giới đã
chứng kiến sự biến đổi công nghệ làm chao đảo, thậm chí mất đi nhiều lĩnh
vực, nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh mới,
hoàn thiện hơn
Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học và công nghệ Do đó sự phân tích
và phán đoán sự biến đổi công nghệ là rất quan trọng va cấp bách hơn lúc nào
hết Thực tế sự biến đổi công nghệ ảnh hưởng đến mọi doanh nghiệp, thậm
chí cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự thay đổi của công nghệ đương nhiên
ảnh hưởng tới chu kỳ sống của một sản phẩm hoặc một dịch vụ Một chu kỳ
lý thuyết bao gồm các pha: bắt đầu, phát triển, chín muồi, và suy tàn Thực tế
Trang 17đối với một số doanh nghiệp và cũng là một số sản phẩm sẽ lại có giai đoạn
phát triển mới sau giai đoạn suy tàn Hơn nữa sự thay đổi công nghệ cũng làm
ảnh hưởng tới các phương thức sản xuất nguyên vật liệu, cũng như thái độ
ứng xử của người lao động Từ đó đòi hỏi các nhà chiến lược phải thường
xuyên quan tâm tới sự thay đổi cũng như đầu tư cho tiến bộ công nghệ Do tác
động hai mặt của yếu tố khoa học- kỹ thuật, nhà quản trị cần có hệ thống
thông tin nhạy bén để tận dụng được cơ hội và ngăn chặn nguy cơ kịp thời
Công việc này cần được phân công cho bộ phận quản lý kỹ thuật trong mỗi
doanh nghiệp Đặc biệt, các doanh nghiệp cần quan tâm đúng mức việc tận
dụng công nghệ thông tin mới để tạo ra lợi thế trong cạnh tranh trên thị
trường
c/ Môi trường văn hoá - xã hội:
Trong thời gian chiến lược trung và dài hạn có thể đây là loại nhân tố
thay đổi lớn nhất Những lối sống tự thay đổi nhanh chóng theo hướng du
nhập những lối sống mới luôn là cơ hội cho nhiều nhà sản xuất Doanh nghiệp
cũng phải tính đến thái độ tiêu dùng, sự thay đổi của tháp tuổi, tỷ lệ kết hôn
và sinh đẻ, vị trí vai trò của người phụ nữ tại nơi làm việc và gia đình Sự xuất
hiện của hiệp hội những người tiêu dùng là một cản trở đòi hỏi các doanh
nghiệp phải quan tâm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm phải đảm bảo vì lợi ích
người tiêu dùng Trình độ dân trí ngày càng cao đã, đang và sẽ là một thách
thức đối với các nhà sản xuất Văn hoá truyền thống và văn hoá tiếp nhận qua
các hình thức giao lưu hình thành nền tảng văn hoá của mỗi quốc gia, có tính
hệ thống, có giá trị theo các mức độ khác nhau, có tính lịch sử, có mặt tích
cực, có mặt tiêu cực ảnh hưởng đến tư duy và hành động của con người
trong các hoạt động thuộc các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc
gia Chính vì vậy, khi kinh doanh ở quốc gia nào, nhà quản trị các doanh
nghiệp cần có thông tin về đặc điểm văn hoá của các dân tộc khác nhau theo
Trang 18vùng lãnh thổ để có quyết định kinh doanh phù hợp với môi trường: có thái
độ ứng xử với con người, với thiên nhiên, với xã hội thích hợp
d/ Môi trường dân cư:
Sự thay đổi dân cư dẫn đến sự thay đổi sâu sắc và quan trọng các quá
trình kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thế giới Những quá trình này làm thay
đổi môi trường kinh tế và ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp Khi xây dựng chiến lược, các doanh nghiệp cần phải quan tâm đến
môi trường dân số ở các mặt: tổng dân số xã hội, tỷ lệ gia tăng dân số, kết cấu
và xu hướng thay đổi kết cấu dân số về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, mức
thu nhập, tuổi thọ trung bình, sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn lên thành
thị…
e/ Môi trường chính phủ, luật pháp và chính trị:
Các nhân tố này tác động đến doanh nghiệp theo các hướng khác nhau
Chúng có thể tạo ra cơ hội, trở ngại, thậm chí là rủi ro thực sự cho doanh
nghiệp Chúng thường bao gồm:
luôn là sự hấp dẫn các nhà đầu tư Hệ thống luật pháp được xây dựng và hoàn
thiện sẽ là cơ sở để kinh doanh ổn định
lại vừa có thể là những thách thức để phát triển sản xuất
nghiệp cũng là điều mà các doanh nghiệp phải tính đến
Khi quyết định đầu tư sản xuất kinh doanh, nhà quản trị các doanh
nghiệp cần hiểu rõ tình hình chính trị ở khu vực đầu tư, khu vực phát triển thị
trường mua bán Có như vậy, nhà quản trị sẽ chủ động việc quyết đinh đầu tư
ở đâu, đầu tư cái gì, đầu tư như thế nào, đầu tư trong bao lâu đồng thời hạn
Trang 19chế được rủi ro yếu tố chính trị: Mặt khác, nhà quản trị có căn cứ đầu tư mua
công nghệ mới, bán hàng hoá của doanh nghiệp mình trên quốc gia nào là
thuận lợi nhất
f/ Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên luôn luôn là yếu tố đặc biệt quan trọng không chỉ
đối với đời sống của con người, mà còn là yếu tố đầu vào hết sức quan trọng
của các ngành kinh tế Môi trường tự nhiên bào gồm: vị trí địa lý, khí hậu, đất
đai, sông biển, tài nguyên khoáng sản, rừng, môi trường sinh thái,… Nhận
biết được các nhân tố ngoại cảnh tự nhiên đó sẽ giúp cho các doanh nghiệp
hướng những hoạt động nhằm khai thác tốt nhất các lợi thế của vị trí địa lý, có
chiến lược hành động đúng trong việc nghiên cứu phát triển công nghệ chế
tạo sản phẩm phù hợp, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái của nước ta
g/ Môi trường toàn cầu:
Khu vực hoá và toàn cầu hoá đã, đang và sẽ là một xu hướng tất yếu
mà mọi doanh nghiệp, mọi ngành, mọi chính phủ phải tính đến Môi trường
quốc tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh hơn theo quan điểm từ những khác biệt về
xã hội văn hoá, cấu trúc thể chế, chính sách và kinh tế
a/ Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Sơ đồ 1.2: Mô hình gồm 5 lực lượng của M.Porter
Nh ững người
mu ốn vào mới (c ạnh tranh tiềm
tà )
Doanh nghi ệp và các đối thủ hiện tại ngáp lười mua ực của
áp l ực của
các nhà
cung ứng
Trang 20Mỗi lực lượng trong số 5 lực lượng trên càng mạnh thì càng hạn chế
khả năng cho các doanh nghiệp tăng giá cả và kiếm được lợi nhuận Ngược
lại, khi 1 lực lượng nào đó mà yếu thì cơ hội để doanh nghiệp có được lợi
nhuận sẽ càng khả thi
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại tạo ra cấu trúc cạnh tranh bên trong khu
vực, là ấp lực thường xuyên đe doạn trực tiếp các doanh nghiệp Cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất thường bao gồm các nội
dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành và các
hàng rào lối ra Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng
phân phối sản phẩm của doanh nghiệp trong ngành sản xuất Cơ cấu cạnh
tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tán tới ngành sản xuất tập trung Thông
thường ngành riêng lẻ bao gồm một số lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
không có một doanh nghiệp nào trong số đó có vị trí thống trị ngành Trong
khi đó một ngành tập trung có sự chi phối bởi một số ít doanh nghiệp lớn,
thậm chí chỉ là một doanh nghiệp duy nhất gọi là độc quyền Bản chất và mức
độ cạnh tranh đối với các ngành tập trung rất khó phân tích và dự đoán Tình
trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt trong
cạnh tranh nội bộ ngành Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một
cơ hội lớn để mở rộng hoạt động Ngược lại cầu giảm dẫn đến cạnh tranh
khốc liệt để các doanh nghiệp giữ được phần thị trường đã chiếm lĩnh Đe doạ
mất thị trường là điều khó tránh khỏi đối với các doanh nghiệp không có khả
năng cạnh tranh Hàng rào lối ra là mối đe doạ cạnh tranh nghiêm trọng khi
cầu của ngành giảm mạnh Hàng rào lối ra là kinh tế, là chiến lược và là quan
Trang 21hệ tình cảm giữ doanh nghiệp trụ lại Nếu hàng rào lối ra cao, các doanh
nghiệp có thể bị khoá chặt trong một ngành sản xuất không ưa thích Hàng rào
lối ra thường bao gồm:
+ Đầu tư nhà xưởng và thiết bị một số ngành không có sự lựa chọn thay
đổi sử dụng hoặc có thể bán lại được Nếu muốn bỏ ngành buộc doanh nghiệp
phải bỏ phí những giá trị còn lại của những tài sản này
+ Chi phí trực tiếp cho việc rời bỏ ngành là cao
+ Quan hệ chiến lược giữa các đơn vị chiến lược kinh doanh Một sản
phẩm hoặc một dịch vụ có thể cùng kênh phân phối hoặc cùng các phương
tiện sản xuất với các sản phẩm dịch vụ khác
+ Giá trị của các nhà lãnh đạo, quan hệ tình cảm, lịch sử với ngành
hoặc cộng đồng địa phương cũng có thể dẫn đến doanh nghiệp không muốn
rời bỏ ngành gốc của họ
+ Chi phí xã hội khi thay đổi như khó khăn về sự sa thải nhân công, rủi
ro về sự xung đột xã hội, chi phí đào tạo lại
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh
tranh trong cùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ
lựa chọn và gia nhập ngành Đây là đe doạ cho các doanh nghiệp hiện tại, họ
cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn gia nhập ngành bởi vì có càng
nhiều doanh nghiệp trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt
hơn, thị trường và lợi nhuận sẽ bị chia sẽ, vị trí của doanh nghiệp sẽ bị thay
đổi Mức độ thuận lợi và khó khăn cho việc nhập ngành của các đối thủ cạnh
tranh tiềm ẩn phụ thuộc phần lớn vào hàng rào lối vào ngành công nghiệp
Nội dung của nó thường bao gồm:
+ Những ưu thế tuyệt đối về chi phí: thuộc về các sáng chế, làm chủ
một công nghệ riêng đặc thù
Trang 22+ Khác biệt hoá về sản phẩm: chi phí cho một chiến lược khác biệt hoá
là rất cao và rất mạo hiểm
+ Kinh tế quy mô hay còn gọi là kinh tế bậc thang: các chi phí về sản
xuất, phân phối, bán, quảng cáo, dịch vụ sẽ giảm với sự gia tăng số lượng
bán
+ Kênh phân phối chủ yếu đã được thiết lập của các doanh nghiệp hiện
tại cũng là một vật cản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia sẻ thị
trường
+ Phản ứng lại của các doanh nghiệp hiện tại trong lĩnh vực kinh
doanh
Doanh nghiệp hoạt động cần các yếu tố đầu vào do các nhà cung cấp
bán Mỗi thời kỳ lợi thế trong mua bán thuộc về ai căn cứ vào số lượng người
tham gia mua bán trên thị trường này, nói cách khác là căn cứ vào quan hệ
cung cầu các yếu tố đầu vào trên thị trường:
Các nhà cung cấp chủ yếu:
+ Nhà cung cấp máy móc thiết bị
+ Nhà cung cấp nguyên phụ liệu, dịch vụ
+ Nhà cung cấp vốn
+ Nhà cung cấp sức lao động
+ Nhà cung cấp thông tin
Ngoài yếu tố số lượng doanh nghiệp tham gia mua bán, tuỳ theo yếu tố
đầu vào cụ thể, nhà quản trị nghiên cứu các đặc điểm liên quan khác Ví dụ:
mua máy móc thiết bị cần xem xét chất lượng, thế hệ công nghệ, giá cả, điều
kiện cung cấp Thu nhập thông tin về yếu tố đầu vào cụ thể để nhà quản trị
lựa chọn nguồn cung cấp phù hợp, hạn chế rủi ro trong đầu tư nhất là mua
sắm máy móc thiết bị nguyên vật liệu Bản thân nhà doanh nghiệp muốn
Trang 23chọn nhà cung cấp đáng tin cậy thì phải xây dựng uy tín thật của mình trên
thương trường thông qua các phương án đầu tư có hiệu quả, chính sách đãi
ngộ thoả đáng, giá trị văn hoá của tổ chức cao
- Khách hàng:
Khách hàng là đối tượng được các doanh nghiệp quan tâm phục vụ và
khai thác, là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, không có khách
đe doạ cạnh tranh khi họ buộc doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất
lượng cao và dịch vụ tốt hơn Ngược lại, khi người mua yếu sẽ mang đến cho
doanh nghiệp một cơ hội để tăng giá kiếm được lợi nhuận nhiều hơn Người
mua gồm: người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ) và
các nhà mua công nghiệp Mỗi đối tượng khách hàng có đặc điểm riêng, nhà
quản trị các doanh nghiệp, nhất là nhà quản trị Marketing cần hiểu rõ để có cơ
sở phục vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng trên thị trường mục tiêu
Những đặc điểm cơ bản của khách hàng như: quy mô nhu cầu sản phẩm hoặc
dịch vụ hiện tại và tiềm năng, lợi ích mà khách hàng mong muốn, thị hiếu về
các đặc trưng của sản phẩm, khả năng thanh toán của khách hàng, nghề
nghiệp, tình trạng gia đình, trình độ học vấn Các đặc điểm của khách hàng
có thể tạo cơ hội hay nguy cơ cho doanh nghiệp Hiểu khách hàng, nhà quản
trị có cơ sở hoạch định và tổ chức thực hiện các kế hoạch phục vụ khách hàng
Lực lượng đe doạ cuối cùng trong mô hình M.Porter là sự đe doạ của
các sản phẩm thay thế Sản phẩm thay thế là sản phẩm khác có thể thoã mãn
cùng nhu cầu của người tiêu dùng Đặc điểm cơ bản của nó thường có ưu thế
hơn, sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt Đe doạ này đòi hỏi
doanh nghiệp phải có sự phân tích, theo dõi thường xuyên những tiến bộ kỹ
Trang 24thuật- công nghệ, trong đó liên quan trực tiếp là đổi mới công nghệ, đổi mới
sản phẩm Hơn nữa, sự thay đổi của nhu cầu thị trường cũng là nhân tố quan
trọng tạo ra sự đe doạ này
b/ Tình hình nội bộ doanh nghiệp
Nhà quản trị thường xuyên thu thập thông tin nội bộ doanh nghiệp để
phát hiện các thuận lợi, các khó khăn ở các bộ phận, các khâu công việc, đồng
thời có cơ sở so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong ngành trên từng khu
vực thị trường Các yếu tố trong nội bộ doanh nghiệp cần có thông tin thường
xuyên hoặc định ký như:
*Các nguồn lực
Đây là nhóm yếu tố cơ bản cần xem xét đánh giá đầu tiên, mục tiêu của
doanh nghiệp có đạt được hay không phần lớn phụ thuộc vào nhóm yếu tố
thừa hành ở tất cả các bộ phận Đối với nhà quản trị, các tiêu chuẩn về đạo
đức nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng quan hệ con người, kỹ năng
tư duy cần được đánh giá chặt chẽ trong thời kỳ để có kế hoạch quản lý phù
hợp, nhất là nhà quản trị cấp cao Đối với nhân viên thừa hành (trực tiếp và
gián tiếp sản xuất), các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên
môn tay nghề cần kiểm tra phân tích, đánh giá qua các kỳ thi nhằm hoạch
định các kế hoạch huấn luyện, nâng cao chất lượng theo thời gian Con người
là yếu tố cực kỳ quan trọng, con người quyết định thành công hay thất bại
trong mọi hoạt động Kiểm tra, phân tích, đánh giá con người thường xuyên
nhằm nâng cao giá trị văn hoá cá nhân sẽ tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp
vốn bằng hiện vật Cơ cấu nguồn vốn gồm: tự có và vay, tỷ lệ trong cơ cấu,
mức độ huy động sử dụng các loại vốn (vốn cố định, vốn lưu động) thể hiện
Trang 25tính chủ động, tính hiệu quả mà doanh nghiẹp đạt được sẽ đánh giá điểm
mạnh, điểm yếu về nguồn vốn kinh doanh
dưới nhiều hình thức khác nhau, được sử dụng làm cơ sở ra quyết định, quản
lý môi trường kinh doanh được xem như một nguồn lực quan trọng trong bối
cảnh hiện nay Nếu thông tin thu thập thường xuyên, đầy đủ, phù hợp nhu cầu
quản lý của các bộ phận chuyên môn và sử dụng có hiệu quả sẽ làm cho
doanh nghiệp có lợi thế trong kinh doanh
* Triết lý kinh doanh
Nội dung nhiệm vụ, hệ thống các mục tiêu, các kế hoạch chiến lược,
các chính sách và các chương trình hành động của tổ chức trong từng kỳ Nhà
quản trị các cấp của tổ chức phân tích những nội dung này để đánh giá hiệu
quả hoạt động của các bộ phận chuyên môn đồng thời xác định điểm mạnh,
điểm yếu của tổ chức so với các đối thủ cạnh tranh, thực hiện việc điều chỉnh,
bổ sung phù hợp với môi trường luôn thay đổi theo khu vực thị trường
* Cơ cấu tổ chức
Trong từng thời kỳ, cơ cấu tổ chức được hình thành thích ứng với
nhiệm vụ và các kế hoạch chiến lược: khi nhiệm vụ và kế hoạch thay đổi thì
cơ cấu tổ chức cần được đánh giá, xem xét để thiết kế lại nhằm luôn duy trì cơ
cấu tổ chức hữu hiệu
* Văn hoá tổ chức
Văn hoá tổ chức là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được hình
thành và phát triển trong quá trình hoạt động, ảnh hưởng đến tư duy và hành
động của các thành viên trong tổ chức Văn hoá tổ chức do các thành viên ban
đầu mang vào, phản ảnh các giá trị văn hoá trong xã hội mà những người này
chịu ảnh hưởng, tạo nên bản sắc văn hoá của tổ chức và phát triển theo thời
gian theo chiều hướng tích cực và tiêu cực
Trang 26Văn hoá tổ chức bao gồm các yếu tố cơ bản như:
+ Những giá trị cốt lõi: thể hiện qua tính quyết đoán, thái độ đối với
quyền lực, đối với rủi ro, đối với các mối quan hệ đối nội và đối ngoại
+ Những chuẩn mực chung: là những giá trị, những tiêu chuẩn bất
thành về hành vi ứng xử mà các thành viên của tổ chức phải tuân theo Những
chuẩn mực này có thể mang tính tích cực (cởi mở, trung thực, quan tâm hiệu
quả, tạo cơ hội cho các thành viên phát huy khả năng dám chịu trách nhiệm )
hoặc tiêu cực
+ Những niềm tin: Là những điều mà con nguời tiếp nhận từ bên ngoài,
do ảnh hưởng văn hoá, truyền thống, tôn giáo
+ Những giai thoại được truyền tụng trong tổ chức
+ Các nghi lễ thực hiện thường xuyên hay định kỳ
+ Những điều cấm kỵ nhân viên không được thực hiện nơi làm việc
+ Thói quen quan tâm đến chất lượng (trong bối cảnh hiện nay chất
lượng là trung tâm, là cơ sở để duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh, là giá
trị và danh tiếng của tổ chức)
Văn hoá tổ chức ảnh hưởng đến hoạt động giá trị, ảnh hưởng đến tư
giá trị cao hay thấp Vì vậy, nhà quản trị muốn tổ chức tồn tại lâu dài và hoật
động hữu hiệu cần quan tâm đến việc hình thành và duy trì văn hoá tổ chức
tích cực Đồng thời, thường xuyên đánh giá các yếu tố văn hoá tổ chức để
không ngừng hoàn thiện, luôn tác đông tốt và thúc đẩy sự nhiệt tiình sáng tạo
đối với mọi thành viên trong tổ chức
Sơ đồ 1.3: Kết hợp các bộ phận của môi trường vĩ mô và vi mô
Môi trường kinh tế Môi trường
công nghệ
Cạnh tranh tiềm tàng
Trang 27áp lực Doanh nghiệp áp lực Môi trường
của và đối thủ của văn hoá
nhà cung ứng cạnh tranh người mua xã hội
Sản phẩm thay thế
Môi trường chính phủ Môi trường
luật pháp, chính trị tự nhiên
Phân tích môi trường kinh doanh là vô cùng quan trọng đối với doanh
nghiệp Môi trường kinh doanh gồm môi trường vi mô và môi trường vĩ mô
Mục tiêu của phân tích là phán đoán môi trường để xác định các cơ hội và đe
doạ, trên cơ sở đó có các quyết định quản trị hợp lý Có thể rút ra một số vấn
đề chính sau:
+ Một doanh nghiệp trả lời được các nhu cầu của môi trường thì chiến
lược của nó sẽ có hiệu quả hơn
+ Những nguyên nhân chính của gia tăng, suy thoái là những thay đổi
khác với cấp độ lớn trong các doanh nghiệp thường là các nhân tố của môi
trường chứ không phải thuộc về nội bộ
+ Một doanh nghiệp càng phụ thuộc vào nmôi trường thì phải càng tập
trung phân tích và phán đoán môi trường đó
+ Một môi trường hay thay đổi và không chắc chắn thì nó càng đòi hỏi
được phân tích và phán đoán tốt
+ Nhà chiến lược khôn ngoan và có hiệu quả là nhà chiến lược phải biết
mình (phân tích nội bộ) và biết người (phân tích môi trường)
Căn cứ vào thông tin môi trường kinh doanh, nhà quản trị xác định
nhiệm vụ cho ngành, tổ chức hoặc doanh nghiệp tuỳ theo phạm vi quản lý
Trang 28Nội dung bản tuyên bố nhiệm vụ được xem là một định hướng tổng quát, là
con đường cần phải đi để đạt các mục tiêu mong muốn, thông qua các giải
pháp chiến lược, các chính sách và các chương trình hành động của tổ chức
Khi xác định nhiệm vụ, nhà quản trị cần chú ý các khía cạnh có quan hệ chặt
chẽ với nhau trong quản trị chiến lược kinh doanh là:
+ Hiện trạng và tiềm năng của một ngành kinh tế hoặc một tổ chức cụ
thể
+ Các lãnh vực hoạt động
+ Đối tượng phục vụ
+ Phương tiện hoạt động chủ yếu (sử dụng con nguời, nghiên cứu và
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, huy động và sử dụng vốn )
+ Thái độ trong các mối quan hệ đối nội và đối ngoại
+ Các mong muốn và các mối quan tâm khác của tổ chức trong quá
trình hoạt động
Nội dung tuyên bố nhiệm vụ có tính ổn định lâu dài, tuỳ tình hình thực
tế, nhiệm vụ có thể thay đổi hoặc bổ sung cho phù hợp với môi trường kinh
doanh Xác định được nhiệm vụ rõ ràng, có tính khả thi tức là nhà quản trị đã
vạch ra được con đuờng đúng đắn để tổ chức hoặc doanh nghiệp tiến lên phía
trước vững chắc và thành công
1.3.3 Thiết lập các mục tiêu
Mục tiêu là kết quả mà tổ chức hoặc doanh nghiệp mong muốn đạt
được trong kỳ hạn ngắn hoặc dài
trường trong quá trình soạn thảo chiến lược đến khi triển khai thực hiện có
phù hợp không, nếu còn tương đồng thì điều chỉnh nội dung chiến lược, nếu
không tương đồng thì phải điều chỉnh mục tiêu
Trang 29- Thiết lập các mục tiêu hàng năm: mục tiêu hàng năm là những cái
mốc mà các doanh nghiệp phải đạt được để đạt tới mục tiêu dài hạn mục tiêu
hàng năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực hiện chiến lược chung vì
+ Là công cụ quan trọng để kiểm soát tiến trình thực hiện chiến lược
nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn đã đề ra
+ Là căn cứ ưu tiên của tổ chức, của bộ phận của phòng ban
Các mục tiêu hàng năm nên đo lường được phù hợp, hợp lý có tính thách
thức, rỏ ràng được phổ biến trong tổ chức Xác định trong khoảng thời gian
phù hợp và kèm theo cơ chế thưởng phạt tương ứng
sách là những nguyên tắc chỉ đạo, những phương pháp thủ tục, quy tắc hình
thức và những công việc hành chính được thiết lập để hỗ trợ và thúc đẩy theo
các mục tiêu đề ra Trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, các nhà
quản trị cần chú trọng các mục tiêu tăng trưởng (nhanh, ổn định hoặc suy
giảm) vì nó gắn liền với các giải pháp chiến lược Từ các mục tiêu tăng
trưởng, nhà quản trị các cấp sẽ xác định các mục tiêu dài hạn, ngắn hạn cho
toàn bộ tổ chức, cũng như các bộ phận chức năng (theo chu kỳ quyết định
quản trị)
có tính khả thi, linh hoạt, thống nhất và hợp lý Sở dĩ phải có các yêu cầu trên
và xác định mục tiêu là để đạt được theo thời gian Tuỷ theo loại mục tiêu
định lượng hay định tính, nhà quản trị sẽ xác định phù hợp các yêu cầu Để có
Trang 30thể hoàn thiện việc quản trị chiến lược kinh doanh, hiện nay nhiều công ty ở
các nước phát triển đã thực hiện việc quản trị theo mục tiêu (MBO-
Management by Objectives), MBO là cách thức quản lý có hiệu quả phân
định rõ vai trò nhiệm vụ, quyền hạn trong cơ cấu tổ chức, mọi nguời có trách
nhiệm vói công việc của mình và là biện pháp kiểm tra có hiệu quả
1.3.4 Liệt kê các tiền đề
Tiền đề là các dự báo cụ thể về môi trường bên ngoài, các chính sách
cơ bản có thể áp dụng, các kế hoạch đang thực hiện của tổ chức Các tiền đề
được liệt kê ở đây là các yếu tố, các điều kiện cần thiết và có thể phối hợp với
nhau trong các kế hoạch hoạt động Trong việc xác định các tiền đề, dự báo
đóng vai trò quan trọng, ví dụ: dự báo thị trường mục tiêu, loại và số lượng
sản phẩm sẽ bán được, mức giá cả, ký thuật sản xuất, chi phí nghiên cứu và
sản xuất, chính sách và các mức thuế phải nộp, các nguồn cung cấp vốn
Yêu cầu đối với các tiền đề là tính thống nhất từ trên xuống Nhà quản
trị cấp cao sẽ phổ biến các tiền đề cho nguời dưới quyền một cách rõ ràng để
họ hiểu và triển khai xây dựng các kế hoạch liên quan Để hệ thống tiền đề có
độ tin cậy cao, bộ phận quản trị thông tin môi trường kinh doanh của tổ chức
cần xây dựng và quản lý mạng thông tin có hiệu quả
1.3.5 Thiết lập và đánh giá các phương án chiến lược
Căn cứ vào các tiền đề đã được xác định, các nhà quản trị sẽ thực hiện
việc phác thảo các phương án chiến lược nhiều triển vọng khả thi
Các loại phương án chiến lược kinh doanh có thể lựa chọn như:
- Chiến lược tăng trưởng tập trung:
Đây là nhóm chiến lược chủ đạo đặt trọng tâm vào việc cải tiến sản
phẩm hiện tại để bán trên thị trường hiện tại hoặc thị trường mới Nhà quản trị
chiến lược các doanh nghiệp quyết định chọn chiến lược này khi họ muốn tiếp
tục theo đuổi ngành kinh doanh chủ lực hiện tại, các điều kiện thuộc môi
Trang 31trường cho phép thực hiện như: các nhà thiết kế sản phẩm có khả năng cải
tiến hoặc thiết kế sản phẩm mới, tốc độ tăng trưởng nhu cầu sản phẩm tiếp tục
gia tăng
03 phương án chiến lược tăng trưởng tập trung là:
+ Chiến lược thâm nhập thị trường: là giải pháp tăng trưởng doanh số
lợi nhuận cho doanh nghiệp bằng cách bán sản phẩm hiện đang sản suất trên
chính thị trường hiện tại thông qua nỗ lực Marketing (điều chỉnh giá cả mở
rộng mạng lưới bán hàng, tăng cường quảng cáo, khuyến mại, truyền thông,
chào hàng )
+ Chiến lược phát triển thị trường: là giải pháp tăng trưởng doanh số,
lợi nhuận cho doanh nghiệp bằng cách bán sản phẩm hiện đang sản xuất trên
thị truờng mới Thị trường mới có thể là: khu vực địa lý mới, đối tượng khách
hàng mục tiêu mới, công dụng mới của sản phẩm
+ Chiến lược phát triển sản phẩm: là giải pháp tăng cường doanh số, lợi
nhuận cho doanh nghiệp bằng cách phát triển các loại sản phẩm mới để bán
trên thị trường hiện tại Sản phẩm mới có thể là: cải tiến sản phẩm hiện đang
sản xuất, mô phỏng sản phẩm từ các nguồn bên ngoài, sản xuất sản phẩm mới
hoàn toàn (Bộ phận R & D thiết kế, mua bản quyền )
- Chiến lược tăng trưởng hội nhập: Đây là nhóm chiến lược thích hợp
với các chiến lược đang kinh doanh các ngành kinh tế mạnh, còn khả năng
tăng trưởng nữa nếu liên kết hay hội nhập với các ngành phù hợp với mục tiêu
và các chiến lược dài hạn đang thực hiện Chiến lược này cho phép củng cố vị
thế ngành hàng chủ chốt và phát huy đầy đủ hơn khả năng kỹ thuật của doanh
nghiệp
Các phương án chiến lược hội nhập căn bản:
+ Chiến lược hội nhập về phía sau: là giải pháp tăng trưởng bằng cách
tham gia vào các ngành cung ứng yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp (chủ yếu
Trang 32là cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp) Chiến lược này nên lựa chọn khi
ngành cung ứng đang tăng trưởng nhanh có nhiều lợi nhuận tiềm tàng hoặc
doanh nghiệp khó khăn trong việc lựa chọn nhà cung cấp (ví dụ: thiếu nhà
cung cấp nguyên liệu ổn định, phù hợp nhu cầu phục vụ sản xuất) Hội nhập
về phía sau có thể thực hiện theo hình thức: đầu tư mới, mua cổ phần, mua
toàn bộ doanh nghiệp cung ứng, liên doanh
+ Chiến lược hội nhập hàng ngang: là giải pháp tăng trưởng bằng cách
tham gia với các doanh nghiệp cùng ngành, kết hợp thế mạnh của nhau để
cùng phát triển Chiến lược này nên lựa chọn khi các doanh nghiệp riêng lẻ
trong một ngành không đáp ứng tốt nhu cầu thị trường, hoặc phải cạnh tranh
với các đối thủ nước ngoài trên thế yếu Tuỳ theo mối tương quan so sánh ,
doanh nghiệp có thể liên doanh, mua cổ phần với các doanh nghiệp cần gia
nhập Chiến lược hội nhập hàng ngang được thực hiện nhằm giúp các bên
tham gia đều có lợi, tạo sức tăng trưởng cho ngành kinh tế
+ Chiến lược hội nhập về phía trước: là giải pháp tăng trưởng bằng
cách tham gia vào ngành tiêu thụ sản phẩm hiện đang sản xuất của doanh
nghiệp Hội nhập về phía trước cần thực hiện khi ngành tiêu thụ sản phẩm
đang có tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng thu được nhiều lợi nhuận hoặc
hàng hoá của đoanh nghiệp khó khăn trong khâu tiêu thụ như: tồn kho với giá
rị lớn, thường xuyên ngừng sản xuất Đặc biệt đối với doanh nghiệp sản xuất
nguyên liệu hội nhập về phía trước được xem là giải pháp tăng khả năng đa
dạng hoá sản phẩm, trách rủi ro trong cạnh tranh, tăng lợi nhuận Hình thức
hội nhập về phía trước có thể là đầu tư mới, mua lại toàn bộ hay một phần
doanh nghiệp khác, liên doanh
- Chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá: Đây là nhóm giải pháp tăng
trưởng bằng cách tham gia vào các ngành liên quan với ngành đang hoạt động
hoặc ngành khác Doanh nghiệp chỉ nên lựa chọn chiến lược đa dạng hoá khi:
Trang 33thị trường sản phẩm ở giai đoạn chín muồi hoặc suy thoái, doanh nghiệp dư
vốn kinh doanh, tăng khả năng thâm nhập thị trường quốc tế, nhanh chóng
nắm bắt công nghệ mới
Các phương án chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá căn bản:
+ Chiến lược đa dạng hoá đồng tâm: là giải pháp tăng trưởng bằng cách
phát triển sản phẩm mới để bán trên thị trường mới, sản phẩm này có liên
quan đến công nghệ sản xuất hiện tại và với các hoạt động Marketing của
doanh nghiệp Đa dạng hoá đồng tâm thực hiện có hiệu quả khi: nhãn hiệu
hàng hoá đang sản xuất có uy tín, khách hàng mục tiêu hiện tại có nhu cầu
mua sắm sản phẩm khác trong đời sống, tiết kiệm chi phí cố định của doanh
nghiệp Đa dạng hoá đồng tâm có thể thực hiện bằng cách: đầu tư, mua lại
toàn bộ hoặc cổ phần doanh nghiệp khác, liên doanh
+ Chiến lược đa dạng hoá hàng ngang: là giải pháp tăng trưởng bằng
cách phát triển sản phẩm mới, không liên quan đến công nghệ sản xuất hiện
tại, nhưng đáp ứng bổ sung nhu cầu hiện tại của khách hàng mục tiêu Sản
phẩm mới này được bán trên cùng kênh phân phối, gia tăng đáp ứng nhu cầu
hiện tại Doanh nghiệp có thể đa dạng hoá hàng ngang bằng cách: mua lại,
đầu tư mới, liên doanh chiến lược này thực hiện có hiệu quả khi môi trường
kinh tế, văn hoá, xã hội biến động theo chiều hướng thuận lợi, nhu cầu con
người đòi hỏi được đáp ứng bằng nhiều dạng sản phẩm khác nhau, bản thân
+ Chiến lược đa dạng hoá hỗn hợp: là giải pháp tăng trưởng bằng cách
phát triển sản phẩm mới để bán trên thị trưòng mới, không liên quan đến công
nghệ sản xuất và thị trường hiện tại Chiến lược này được thực hiện nhằm hạn
chế rủi ro trong ngành kinh doanh hiện tại như: tính thời vụ trong sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, môi trường kinh doanh có nhiều nguy cơ, bản thân doanh
nghiệp có nhiều điểm yếu, hoặc doanh nghiệp có dư vốn kinh doanh đa
Trang 34dạng hoá sản phẩm có thể thực hiện bằng đầu tư mới, thực hiện chiến lược
hướng ngoại
- Chiến lược suy giảm: doanh nghiệp chủ động giảm tốc độ tăng trưởng
so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành theo các mức độ thích ứng từng giai
đoạn (áp dụng riêng cho từng chủng loại sản phẩm) Doanh nghiệp thực hiện
chiến lược suy giảm để củng cố lại cơ cấu tổ chức các ngành kinh doanh sau
mỗi thời kỳ tăng trưởng nhanh hoặc ngành hiện tại không còn cơ hội tăng
trưởng lâu dài, lợi nhuận biên sản phẩm ở mức thấp, nền kinh tế quốc gia bị
khủng hoảng, môi trưòng kinh doanh có cơ hội khác hấp dẫn hơn
Các phương án chiến lược suy giảm cơ bản:
+ Chiến lược cắt giảm chi phí
+ Chiến lược thu hồi vốn đầu tư
+ Chiến lược thu hoạch
+ Chiến lược giải thể
- Chiến lược hướng ngoại: Đây là nhóm chiến lược biện pháp, hỗ trợ
các chiến lược tăng trưởng mà doanh nghiệp lựa chọn Các loại chiến lược
hướng ngoại có thể lựa chọn như:
+ Chiến lược hợp nhất: hai hoặc nhiều doanh nghiệp thoả thuận sát
nhập với nhau để hình thành một doanh nghiệp mới, có tên mới, có cơ cấu tổ
chức mới phát hành chứng khoán mới, nhiệm vụ mục tiêu có những thay đổi
thích hợp
Lý do chủ yếu cần hợp nhất là các doanh nghiệp muốn tạo ra một sức
mạnh tổng hợp từ doanh nghiệp hợp nhất để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị
trường trong và ngoài nước
+ Chiến lược mua lại doanh nghiệp khác: giải pháp này thực hiện khi
doanh nghiệp mua lại toàn bộ, một vài đơn vị kinh doanh của đơn vị khác để
thu hút, bổ sung thêm cá lĩnh vực hoạt động mà doanh nghiệp đang tiến hành
Trang 35Chiến lược mua lại thường được các công ty có thế mạnh về tài chính sử dụng
để thâm nhập thị trường mới nhanh chóng, hoặc thu tóm đối phương từ chiến
lược liên doanh trước đó
- Chiến lược liên doanh: giải pháp này cần thực hiện khi một doanh
nghiệp riêng lẻ không thể thực hiện tốt công việc nào đó, cần sự hợp lực của
hai hay nhiều doanh nghiệp với nhau Trong chiến lược liên doanh, quyền sở
hữu của các đối tác không thay đổi, có 3 hình thức liên doanh:
+ Liên doanh quốc tế: đây là hình thức 1 doanh nghiệp hoặc một tập
đoàn liên doanh với doanh nghiệp quốc gia khác Hình thức này là con đường
hợp pháp để cạnh tranh ở nước sở tại, vừa cần thiết để vượt qua hàng rào
chính trị và văn hoá
+ Liên doanh nhằm thực hiện một chiến lược có lợi cho 2 bên, nếu thực
hiện riêng lẻ, không có doanh nghiệp nào đủ khả năng tài chính (khắc phục
điểm yếu của các bên liên doanh)
+ Liên doanh để kết hợp các nguồn lực mạnh của các doanh nghiệp
riêng lẻ đạt mục tiêu chung
- Chiến lược điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế:
thành tích dưới khả năng tiềm tàng, chưa phát huy được các điểm mạnh, chưa
nắm bắt được các cơ hội thị trường và phải cạnh tranh trong thế yếu cần thực
hiện chiến lược điều chỉnh đê nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành và từng
doanh nghiệp
Các chiến lược điều chỉnh có thể lựa chọn:
+ Điều chỉnh các biện pháp tác nghiệp: chiến lược này thực hiện khi
doanh nghiệp có hệ thống chiến lược, mục tiêu phù hợp môi truờng, nhưng
các chính sách, chương trình hành động chưa đạt hiệu quả mong muốn Biệm
Trang 36pháp tác nghiệp cần điều chỉnh có thể thuộc bộ phận: Marketing, nhân sự, tài
chính, kỹ thuật- sản xuất
+ Điều chỉnh mục tiêu, chiến lược hiện tại: Nếu hệ thống mục tiêu và
các chiến lược hiện tại không còn thích nghi với môi trưòng kinh doanh Hội
đồng quản trị thực hiện chiến lược điều chỉnh này
+ Điều chỉnh cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp có thể điều
chỉnh để mở đường cho việc thực hiện các mục tiêu và chiến lược lâu dài có
hiệu quả Việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức liên quan đến việc xác định lại nội
dung các công việc cần thực hiện, phân cấp, phân quyền, trách nhiệm và
quyền hạn, mối quan hệ giữa các bộ phận và các cấp trong tổ chức, tiêu chuẩn
lựa chọn nhà quản trị
- Chiến lược thu hút lao động giỏi: Đây là giải pháp thu hút lao động
giỏi có cả Đức lẫn Tài, nếu thu nhận được đối tượng này, doanh nghiệp có
được kho tàng trí thức phong phú và hữu hiệu để thực hiện có hiệu quả các
khâu công việc trong quá trình hoạt động Doanh nghiệp thực hiện chiến lược
thu hút lao động giỏi bằng chính sách tuyển mộ, sử dụng đãi ngộ con người
hợp lý Đây là nền tảng thực hiện có hiệu quả các chiến lược kinh doanh khác
của doanh nghiệp Các doanh nghiệp nổi tiếng, có uy tín lâu đời ở các nước
thực hiện khá tốt chiến lược này Thu hút và giữ được lao động giỏi lâu dài sẽ
tạo ra nguồn sức mạnh vô giá cho doanh nghiệp, tạo lợi thế trong mọi hoạt
động
Tóm lại: Các phương án chiến lược trình bày ở trên thường được các
doanh nghiệp lựa chọn áp dụng cho từng SBU (Strategic Business Unit) và có
thể chọn lựa nhiều giải pháp chiến lược kết hợp đan xen trong cùng 1 thời kỳ
Trên thực tế, khi phác thảo các phương án chiến lược có thể lựa chọn để áp
dụng cho tổ chức, nhà quản trị khó tìm ra phương án hoàn hảo một cách tuyệt
đối vì mỗi phương án đều phụ thuộc vào các yếu tố thuộc môi trường kinh
Trang 37doanh bên trong và bên ngoài theo các mức độ và chiều hướng khác nhau Do
đó, nhiệm vụ tiếp theo của nhà quản trị là tiến hành dánh giá, so sánh các
phương án đã được phác thảo Việc phân tích đánh giá này có thể sử dụng các
kỹ thuật toán học, kết hợp với kinh nghiệm, khả năng phán đoán của các nhà
quản trị của tổ chức, các chuyên gia
1.3.6 Lựa chọn phương án khả thi
Sau khi đã đánh giá, so sánh các phương án chiến lược, nhà quản trị sẽ
quyết định lựa chọn các phương án khả thi Các phương án này phù hợp với
nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức, đồng thời phù hợp với môi trường bên ngoài
và tình hình nội bộ, nhất là phù hợp với các nguồn lực của tổ chức Khâu lựa
chọn phương án khả thi rất quan trọng vì các chương trình hành động các kế
hoạch tác nghiệp được triển khai kế tiếp đều dựa vào các phương án này Cho
nên, quá trình hoạch định các kế hoạch chiến lược nói chung và lựa chọn
phương án chiến lược có thể áp dụng cho tổ chức hoặc doanh nghiệp nói riêng
đòi hỏi các nhà quản trị vận dụng cả khoa học lẫn nghệ thuật trong quản trị
Về mặt lý thuyết, các giải pháp chiến lược sau khi đã hoạch định xong nhà
quản trị cấp cao sẽ phổ biến để nhà quản trị cấp trung gian, cấp cơ sở hiểu và
triển khai hoạch định các loại kế hoạch tác nghiệp và liên quan như: chương
trình hành động, các kế hoạch xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc hiết bị,
tuyển dụng, thiết kế sản phẩm mới
1.4 Phương pháp để xây dựng chiến lược kinh doanh
1.4.1 Phương pháp ma trận Hofer
Một trong những cạnh của ma trận Hofer là các giai đoạn chu kỳ tuổi
thọ của khu vực (5 giai đoạn), cạnh thứ hai là vị thế cạnh tranh của doanh
nghiệp trong khu vực đã cho Trình tự xây dựng ma trận Hofer như sau:
Trang 38- Xác lập vị trí mỗi đơn vị trên hình tròn chu kỳ tuổi thọ khu vực bằng
cách tạo nên một ma trậnu 15 vùng, mỗi một vòng tròn tương ứng cho một
đơn vị chiến lược của doanh nghiệp (SBU) Độ lớn của vòng tròn thể hiện thị
phần của đơn vị chiến lược đo bằng lượng bán hàng trên tổng thu nhập của
doanh nghiệp Phần gạch đậm chéo trong vòng tròn thể hiện thị phần của đơn
vị chiến lược đối với nhóm các sản phẩm đã cho hoặc là thị phần của đơn vị
chiến lược khu vực
Trang 39Thực chất của phương pháp này là phân tích những mặt mạnh (S-
Strengths), những mặt yếu (W- Weaknesses), các cơ hội (Opportunities) và
các nguy cơ (T - Threats), phối hợp các mặt đó để xác định, lựa chọn chiến
lược kinh doanh phù hợp cho doanh nghiệp
Một ma trận SWOT gồm 9 ô, trong đó có 4 chữ chứa đựng các yếu tố
quan trọng (S, W, O, T), 4 ô chiến lược( SO, WO,ST, WT) và 1 ô luôn luôn
để trống
Để lập ma trận SWOT cần thực hiện qua 8 bước sau:
Bước 1: Liệt kê các cơ hội chính
Bước 2: Liệt kê các mối đe doạ chủ yếu bên ngoài công ty
Bước 4: Liệt kê những điểm yếu tiêu biểu của nội bộ doanh nghiệp
Bước 5: Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và đề xuất
phương án chiến lược SO thích hợp Chiến lược này phát huy điểm mạnh để
tận dựng cơ hội
Bước 6: Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và đề xuất
phương án chiến lược WO thích hợp Chiến lược này khắc phục điểm yếu
bằng cách tận dụng cơ hội
Bước 7: Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và đề xuất
phương án chiến lược ST thích hợp Chiến lược này lợi dụng thế mạnh của
mình để đối phó với nguy cơ đe doạ từ bên ngoài
Bước 8: Kết hợp điểm yếu bên trong với mối đe doạ bên ngoài và đề
xuất phương án chiến lược WT, chiến lược này nhằm tối thiểu tác dụng của
điểm yếu và phòng thủ trước các mối đe doạ từ bên ngoài
Trang 40Phối hợp WT
Giảm thiểu các điểm yếu
và tìm cách tránh mối đe doạ
Quá trình này tạo thành 4 cặp chiến lược phối hợp
- Phối hợp SO- Chiến lược maxi- maxi:
Là chiến lược sử dụng những điểm mạnh bên trong của tổ chức để tận
dụng các cơ hội bên ngoài để bành trướng rộng và phát triển đa dạng hoá
- Phối hợp ST- Chiến lược maxi - mini
Là chiến lược sử dụng các điểm mạnh của tổ chức để tránh khỏi hiểm
hoạ, giảm đi tác động của của những nguy cơ đe doạ tình huống này thể hiện
nhiều cản trở từ các điều kiện bên ngoài
- Phối hợp WO- Chiến lược mini- maxi
Là chiến lược nhằm cải thiện những điểm yếu bên trong bằng cách tận
dụng các cơ hội bên ngoài
- Phối hợp WT- Chiến lược mini - mini