1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của công ty cổ phần xây dựng giao thông i thái nguyên

99 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 858,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, một trong các biện pháp quan trọng là xác định chính xác, đầy đủ lượng vốn bỏ ra, đảm bảo cung cấp đầy đủ lượn

Trang 1

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS - TS ĐỖ VĂN PHỨC

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Mục đích của mọi hoạt động là mang lại hiệu quả, hiệu quả càng cao thì hoạt động càng có ý nghĩa và mục đích của hoạt động là đúng đắn phù hợp Hiệu quả hoạt động nói chung mà trọng tâm là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, là nhân tố quyết định sự phát triển lâu dài bền vững của một quốc gia, của các nhà đầu tư, của các doanh nghiệp, là yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất trong sự tồn tại và phát triển

Tất cả các doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh doanh đều phải

bỏ ra một lượng vốn nhất định, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thu

về một kết quả nhất định So sánh giữa giá trị bỏ ra và kết quả thu về để đánh giá hiệu quả họat động kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng cao

Có nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, một trong các biện pháp quan trọng là xác định chính xác, đầy đủ lượng vốn bỏ ra, đảm bảo cung cấp đầy đủ lượng vốn này một cách có kế hoạch cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong trước mắt và trong một thời kỳ lâu dài Khi thực hiện các công việc trên, tức là thực hiện đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Hiện nay, việc đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh chưa được các doanh nghiệp quan tâm và hiểu biết đúng mức, rất nhiều các doanh nghiệp hết sức thụ động và lúng túng trong xây dựng và hoạch định chính sách đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển doanh nghiệp Các căn cứ, phương pháp, quy trình để xây dựng phương án đảm bảo tài chính còn có nhiều sai lệch, thiếu cơ sở do vậy dẫn đến phương án không đảm bảo và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, không đạt được các mục tiêu của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 3

Với tư cánh là một cán bộ quản lý của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên với mong muốn góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty cũng như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng giao

thông Tôi mạnh dạn đi sâu và nghiên cứu đề tài: “ Xây dựng phương án

đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên”

Hy vọng sự thành công của đề tài sẽ là tiền đề cho sự thành công các mục tiêu chiến lược phát triển của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên và là cơ sở cho các doanh nghiệp khác tham khảo, xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình

1 Những nội dung của đề tài

- Đánh giá thực trạng tình hình đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên hiện nay

- Xác định nhu cầu tài chính đảm bảo cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 giai đoạn năm 2006 – 2010

- Hoạch định hệ thống chính sách đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 giai đoạn năm 2006 –

2010

2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp đánh giá

- Phương pháp so sánh, số tuyệt đối, số tương đối

- Phương pháp biểu đồ, mô hình toán học

- Phương pháp dự báo và các phương pháp nghiên cứu khác

3 Kết cấu của luận văn

Trang 4

Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 phần:

Phần 1: Cơ sở lý luận về đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh

nghiệp

Phần 2: Phân tích thực trạng đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh

doanh của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên

Phần 3: Xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho chiến lược phát

triển của Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên

Trang 5

PHẦN I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO HOẠT

ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm hoạt động, cung ứng các sản phẩm hàng hóa và dịnh vụ trên thị trường với mục đích sinh lời

Trong nền kinh tế thị trường tiền đề để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh là phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định Quá trình hoạt động của doanh nhiệp là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó phát sinh các luồng tiền tệ gắn với hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các luồng tiền tệ bao hàm các luồng tiền tệ đi vào doanh nghiệp và các luồng tiền tệ xuất ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động các luồng tài chính của doanh nghiệp

Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế hợp thành các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu sau:

- Quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước: Quan hệ này được thể hiện trong việc Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp và doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác: Quan hệ này được biểu hiện cụ thể trong các quan hệ:

+ Quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác phát sinh trong việc mua bán tài sản, vật tư, hàng hóa dịch vụ

Trang 6

+ Quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác trong việc vay hoặc cho vay vốn hay đầu tư vốn

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với công nhân viên trong doanh nghiệp: quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương, thưởng , phạt với công nhân viên của doanh nghiệp

- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: được thể hiện trong việc quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp

Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra:

- Tài chính doanh nghiệp là một quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Các hoạt động liên quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ là các hoạt động tài chính của doanh nghiệp

- Các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và

sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp Việc tổ chức tài chính doanh nghiệp cũng là quá trình tổ chức tốt các mối quan hệ trên nhằm đạt các mục tiêu của doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp

Trước đây trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, do cơ chế quản lý tài chính bao cấp dẫn đến tình trạng tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước chỉ giữ một vai trò hết sức thụ động và yếu ớt

Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, hoạt động tài chính của doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại, phát triển và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, bởi những lẽ chủ yếu sau:

Trang 7

- Hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất

cả các hoạt động của một doanh nghiệp

- Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng lớn Do vậy, sự lựa chọn và sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn và việc sử dụng vốn hiện có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp

- Các thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp càng trở nên hết sức quan trọng và cần thiết cho người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp

để kiểm soát và chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:

- Huy động đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp cũng như nhu cầu đầu tư phát triển Vai trò tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn phương pháp và hình thức thích hợp huy động vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mới cho phép các doanh nghiệp huy động các nguồn vốn từ bên ngoài Do vậy vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng và liên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp

- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả

Trang 8

Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng vào việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời

và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp chớp được các cơ hội kinh doanh Mặt khác việc huy động tối đa số vốn hiện

có vào hoạt động kinh doanh có thể làm giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm được tiền trả lãi vay Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng hình thức thưởng, phạt vật chất một cách hợp

lý sẽ góp phần thức đẩy cán bộ công nhân viên gắn bó với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng tiền vốn

- Tài chính là một công cụ quan trọng kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời các tồn tại, vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh

1.1.3 Nội dung chủ yếu của đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp

Đảm bảo tài chính doanh nghiệp thường bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Tham gia đánh giá lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh

Trang 9

Việc xây dựng đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu là phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án tức là cần xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra, rủi ro có thể gặp phải và khả năng thu lời khi thực

hiện dự án Việc đánh giá phân tích bằng thước đo tài chính nhằm lựa chọn các dự án có mức sinh lời cao Vấn đề quan trọng ở đây là tài chính cần xem xét sử dụng vốn như thế nào? Trên cơ sở tham gia đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, tài chính doanh nghiệp tham gia định hướng phát triển doanh nghiệp Trong đó khi xem xét việc bỏ vốn đầu tư thực hiện dự án cần chú ý tới việc tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả kinh

tế cao trước mắt cũng như lâu dài

- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động các nguồn vốn đảm bảo đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp

Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đòi hỏi phải có vốn Tài chính doanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ hay nói cách khác phải trả lời câu hỏi cần bao nhiêu vốn? Bao hàm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn Và điều cực kỳ quan trong đối với tài chính doanh nghiệp là tổ chức huy động các nguồn vốn đảm bảo kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Điều đó có nghĩa

là phải trả lời câu hỏi lấy vốn từ đâu? Việc tổ chức huy động các nguồn vốn ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp để đi đến việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt Trong đó cần chú ý đến một số vấn đề chủ yếu như: Kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng các nguồn vốn

- Tổ chức sử dụng tốt vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi

và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Trang 10

Tài chính doanh nghiệp phải thường xuyên tìm biện pháp góp phần huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn bị ứ đọng Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán Đây là một vấn đề hết sức quan trọng trong công tác đảm bảo tài chính của doanh nghiệp

- Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp

- Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính

Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác định kỳ phải tiến hành phân tích tình hình tài chính củao doanh nghiệp Qua việc phân tích cần đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, những điểm mạnh và điểm yếu trong quản lý và dự báo trước tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó phục vụ đắc lực cho công tác điều chỉnh kinh doanh

- Thực hiện tốt việc kế hoạch hóa tài chính

Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch đảm bảo tài chính Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công việc cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường Quá trình thực hiện kế hoạnh tài chính cũng là quá trình ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu tài chính của doanh nghiệp

Trang 11

Nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, sau đây ta xem xét một số nhân tố chủ yếu dưới đây

a) Đặc điểm kinh tế của ngành

Mỗi ngành kinh tế có đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh không giống nhau Sự không giống nhau đó được phản ánh qua những dấu ấn khác nhau về mặt tài chính và cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp trong mỗi ngành

- Doanh nghiệp ngành công nghiệp

Đặc điểm tài chính của doanh nghiệp ngành công nghiệp là: Toàn bộ có thể chia thành nghiệu xí nghiệp đồng thời có thể hạch toán kết quả kinh doanh trong phạm vi từng xí nghiệp Vì là ngành có năng suất lao động cao, không những có thể trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác, nên nói chung các doanh nghiệp công nghiệp có kỹ thuật hiện đại Chu kỳ sản xuất của hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp đều ngắn (trừ ngành đóng tàu và một vài ngành

cơ khí khác ra) Do đó vốn sản phẩm dở dang không nhiều Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tiến hành thường xuyên Bởi vậy doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường hàng hóa và thị trường vốn

- Các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng

Đây là ngành công nghiệp đặc biệt, tài chính ngành xây dựng có những đặc điểm sau đây:

+ Vì thời gian thi công dài, nên phải tổ chức nghiệm thu và thanh toán theo từng phần khối lượng công việc chứ không nhất thiết phải chờ đến khi công trình hoàn thành mới thanh toán

+ Phần lớn số vốn của ngành xây dựng bỏ vào những công trình chưa hoàn thành Vì vậy phải cố gắng tập trung tiền vốn để rút ngắn thời gian thi công xây dựng Việc rút ngắn kỳ hạn thi công xây dựng có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiết kiệm vốn, tăng thêm lợi nhuận cho ngành xây dựng

Trang 12

- Các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp

Quá trình tăng trưởng sản phẩm của ngành nông nghiệp là quá trình tăng trưởng tự nhiên của cây trồng hoặc vật nuôi, vì vậy chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Khi điều kiện tự nhiên thuận lợi thì được mùa, bội thu Ngược lại khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì mất mùa, có khi mất trắng Do đó hiệu quả của tiền vốn bỏ ra trong nông nhiệp không ổn định như các ngành kinh tế khác

Tài sản cố định của ngành nông nghiệp ngoài máy móc thiết bị, nhà xưởng còn có cả cây, con Vì thế tài sản cố định của ngành nông nghiệp có thể tăng giá sau quá trình sử dụng Đòi hỏi chính sách quản lý tài chính của doanh nghiệp nông nghiệp có những đặc thù riêng

- Các doanh nghiệp thương mại dịch vụ

Chu kỳ kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp thương mại dịch vụ thường rất ngắn Vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ vốn kinh doanh, chủ yếu là vốn hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, vì thế vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp thường cao hơn các ngành khác

lý tài chính đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp

Trang 13

- Khấu hao tài sản cố định: Khấu hao được xem như là một khoản chi phí được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế doanh nghiệp, do đó nó được xem như là một yếu tố giúp doanh nghiệp tiết kiệm thuế Chính sách khấu hao tài sản cố định của nhà nước thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp

- Lãi vay: Về nguyên tắc, các doanh nghiệp chỉ vay khi hoạt động có hiệu quả cao, số lãi đạt được do sử dụng vốn vay phải lớn hơn lãi tiền vay phải trả Tuy nhiên theo quy định của nhà nước, cho phép các doanh nghiệp được tính khấu trừ lãi vay vào thu nhập chịu thuế làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, cho nên nó là yếu tố giúp công ty tiết kiệm thuế

c) Hệ thống tài chính

Trong lúc hoạt động, doanh nghiệp có lúc tạm thời thừa vốn, nhưng cũng có lúc tạm thời thiếu hụt vốn Việc giải quyết những nhu cầu thừa thiếu trên được thông qua hệ thống tài chính Tùy theo mức độ khác nhau nhưng hầu hết các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đều gắn liền với hệ thống tài chính bao gồm: Thị trường tài chính, các tổ chức tài chính và các công cụ tài chính

Khi doanh nghiệp thừa vốn, lãnh đạo doanh nghiệp cần quyết định nên đầu tư số vốn tạm thời dư ra vào thị trường tài chính hay vào các tổ chức tài chính nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tạm thời thiếu hụt vốn, cần quyết định nên tìm nguồn tài trợ từ thị trường tài chính hay

từ các tổ chức tài chính Ngoài ra doanh nghiệp còn phải quyết định xem xét nên đầu tư hay nên phát hành loại công cụ tài chính nào cho phù hợp Vì vậy đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn liền với hệ thống tài chính

1.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP

Trang 14

Để các mục tiêu chiến lược phát triển của doanh nghiệp thực hiện thành công, doanh nghiệp cần phải sử dụng đồng bộ một loạt các chính sách, trong

đó chính sách đảm bảo nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh là một chính sách hết sức quan trọng Để xây dựng chính sách đảm bảo tài chính cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp chính xác, đầy đủ, có tính thực thi ta phải dựa trên các căn cứ, cơ sở phù hợp đáng tin cậy, và có phương pháp tiên tiến tuân thủ theo quy trình

Vấn đề đầu tiên được đặt ra trong xây dựng chính sách đảm bảo tài chính là phải xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trên cở sở nhu cầu tài chính ta xây dựng phương án để đáp ứng nhu cầu

Xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp tức là xác định nhu cầu vốn kinh doanh cho hoạt động doanh nghiệp và các nguồn vốn đảm bảo theo một cơ cấu hợp lý

1.2.1 X ác định nhu cầu vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1.1 Vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tư liệu sản xuất được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu nhất định

Các đặc trưng của vốn kinh doanh bao gồm:

- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp

- Vốn phải vận động để sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 15

- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào kinh doanh

- Vốn phải có giá trị về mặt thời gian, điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả của đồng vốn

- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn

vô chủ và không ai quản lý

- Vốn được quan niệm như là một hàng hóa và là hàng hóa đặc biệt, có thể mua hoặc bán quyền sử dụng vốn trên thị trường, tạo nên sự giao lưu sôi động trên thị trường vốn, thị trường tài chính

- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện bằng tiền của các tài sản vô hình

Nội dung của vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định

Vậy: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng

trước về tài sản cố định; đặc điểm của nó là luân chuyển dần đần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng Vốn cố định của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh Việc đầu tư đúng hướng vào vốn cố định sẽ mang lại hiệu quả và năng suất cao trong kinh doanh, góp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và phát triển bền vững trong kinh tế thị trường

Trang 16

Trước khi bước vào kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng cần một số vốn

để đầu tư vào các tài sản trên, số tiền ứng trước về các tài sản đó được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu

từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư - hành hóa và quay lại hình thái tiền

tệ Vì trong quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành sự chu chuyển của tiền vốn

Do sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các

bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong kinh doanh

Tóm lại: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản

lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục

- Căn cứ vào công dụng của các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp thì vốn lưu động bao gồm các khoản vốn sau:

+ Vốn lưu động trong quá trình dự trữ

+ Vốn lưu động nằm trực tiếp trong quá trình sản xuất – kinh doanh + Vốn lưu động trong quá trình tiêu thụ

Trang 17

- Dựa theo hình thái biểu hiện và chức năng của các thành phần vốn lưu động có thể chia thành:

+ Vốn vật tư, hàng hóa

+ Vốn tiền tệ

Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng của từng loại vốn lưu động trong tổng

số vốn lưu động Nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp chúng ta thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm trong mỗi giai đoạn luân chuyển, từ đó xác định được trọng điểm quản lý vốn lưu động

1.2.1.2 Phương pháp xác định nhu cầu vốn kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp

a) Căn cứ xác định nhu cầu vốn kinh doanh

Xác định vốn kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp tức là xác định mức tài sản, nhu cầu tài sản bổ sung để đáp ứng thực hiện chỉ tiêu doanh thu và các tỷ số tài chính mục tiêu của kỳ kế hoạch Như vậy căn cứ để xác định nhu cầu vốn kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp được thông qua các chỉ tiêu sau:

- Doanh thu kỳ kế hoạch

- Các tỷ số tài chính kỳ kế hoạch

+ Các tỷ số khả năng thanh toán

Chỉ số lưu động (khả Tài sản lưu động

năng thanh toán hiện thời) Tổng nợ ngắn hạn

Chỉ số nhanh (khả Tài sản lưu động – Hàng tồn kho

năng thanh toán nhanh) Tổng nợ ngắn hạn

+ Các chỉ số quản lý tài sản

=

=

Trang 18

Vòng quay Doanh thu

Hàng tồn kho Tổng nợ ngắn hạn

Kỳ Khoản phải thu

thu nợ Doanh thu/360

Vòng quay Doanh thu

Khả năng Lợi nhuận trước thuế

thanh toán lãi vay Lãi vay

+ Các chỉ số khả năng sinh lợi

Lợi nhuận sau Lợi nhuận sau thuế

thuế trên doanh thu Doanh thu

Lợi nhuận trước Lợi nhuận trước thuế

thuế trên tài sản Tổng tài sản

Lợi nhuận sau Lợi nhuận sau thuế

thuế trên tài sản Tổng tài sản

Lợi nhuận sau Lợi nhuận sau thuế

Trang 19

thuế trên vốn cổ phần Tổng vốn góp cổ phần

Dựa trên chỉ tiêu doanh thu và các tỷ số tài chính nêu trên chúng ta xây dựng phương pháp xác định nhu cầu vốn cho kinh doanh của doanh nghiệp

b) Phương pháp xác định nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp

Phương pháp xác định nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện qua các bước sau đây:

Bước1: Xác định chỉ tiêu doanh thu kỳ kế hoạch (DTKH) cho các loại sản phẩm

Ta biết doanh thu tiêu thụ đòi hỏi phải có sự cân bằng nhất định với nhu cầu vốn của doanh nghiệp Do đó khi tăng doanh thu đòi hỏi phải có sự tăng nhu cầu vốn Tuy nhiên sự gia tăng doanh thu không nhất thiết dòi hỏi sự gia tăng cùng tỷ lệ của nhu cầu vốn mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và khả năng quản trị của doanh nghiệp

Căn cứ vào hiệu quả kinh doanh, môi trường kinh doanh, đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế của từng loại sản phẩm để xác định doanh thu của từng loại sản phẩm trong kỳ kế hoạch

Bước 2: Xây dựng chỉ tiêu doanh thu trên tổng nhu cầu vốn cho từng loại sản phẩm (vòng quay của tổng tài sản)

Ta có chỉ số:

Vòng quay tổng Doanh thu

tài sản (VQTTS) Tổng tài sản (Tổng nhu cầu vốn)

Căn cứ vào chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản kỳ trước , so sánh chỉ số

này với chỉ tiêu trung bình tiên tiến ngành của từng loại sản phẩm để xây dựng các chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản kỳ kế hoạch của từng loại sản phẩm

ở mức độ tin cậy nhất

Trang 20

Bước 3 Tính toán sự gia tăng của các khoản phải thu của kỳ kế hoạnh

so với kỳ trước của từng loại sản phẩm

Căn cứ vào các chỉ tiêu kỳ thu nợ kỳ trước , tính toán và dự báo khả năng thu nợ của từng loại sản phẩm để xây dựng các chỉ tiêu kỳ thu nợ kỳ kế hoạch

Sự gia tăng Kỳ thu nợ Kỳ thu nợ Doanh thu

khoản phải = kỳ kế hoạnh - kỳ trước x kỳ kế hoạch 360 (1.2) thu (GTKPT) (KTN KH) (KTN KT) (DT KH)

Đây là khoản chênh lệch gia tăng khoản phải thu giữa kỳ kế hoạch và

kỳ trước Nói cách khác đây là khoản chênh lệch vốn gia tăng bị khách hàng chiếm dụng của kỳ kế hoạch so với kỳ trước

Bước 4 Xác định nhu cầu vốn để đầu tư đổi mới tài sản cố định: Căn

cứ vào dây chuyền công nghệ hiện có, phân tích khả năng đáp ứng các mục tiêu của kế hoạch kỳ tới và chiến lược phát triển của doanh nghiệp, xác định

có phải sửa chữa, đầu tư mở rộng hay thay đổi dây chuyền công nghệ hay không Nếu có sự thay đổi phải tính toán xem xét các phương án hợp lý giữa mua mới hoặc thuê tài sản Nếu đầu tư mới, ta căn cứ vào nhu cầu cần thiết phải đổi mới các loại tài sản cố định của doanh nghiệp, giá bán dự báo của các tài sản đó và sau khi trừ đi phần giá trị thanh lý tài sản cũ thu hồi (nếu có)

Nhu cầu vốn Giá trị mua Giá trị thu

tài sản cố định = mới của tài - hồi của tài sản cố (1.3)

đầu tư (VTSCĐĐT) sản cố định định thanh lý

+ Tính toán nhu cầu vốn cố định kỳ kế hoạch

Nhu cầu vốn Doanh thu Vòng quay

cố định kỳ = dự kiến của : vốn cố định (1.4)

kế hoạch (VCĐKD) kỳ kế hoạch kỳ kế hoạch

Trang 21

Ta biết nhu cầu vốn cố định năm kế hoạch do phần vốn cố định còn lại sau khi đã thanh lý một số tài sản và một phần vốn cố định mới đầu tư tài sản đáp ứng do đó:

Phần vốn cố định Nhu cầu Phần vốn cố định

đầu tư mới đáp ứng = vốn cố định - kỳ trước còn lại sau (1.5) cho nhu cầu vốn cố định kỳ kế hoạch khi đã thanh lý tài sản

kỳ kế hoạch (VCĐBS)

Bước 5 Xác định tổng nhu cầu vốn

- Nhu cầu vốn cần cho kinh doanh các loại sản phẩm (VKD)

Bước 6: Xác định nhu cầu vốn bổ sung

Sau khi đã xác định được tổng nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kỳ kế hoạch, ta phải xác định được nhu cầu vốn

bổ sung là bao nhiêu? và nhu cầu vốn bổ sung này được đảm bảo bằng các nguồn như thế nào Vấn đề đặt ra là khi sử dụng vốn doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí và khoản chi phí này sẽ ảnh hưởng đến lãi của doanh nghiệp Mặt khác ta cũng cần phải xem xét khi sử dụng nguồn vốn bổ sung này nó ảnh hưởng như thế nào, có đảm bảo được các tỷ số tài chính mục tiêu hay không? các tỷ số tài chính này cho thấy doanh nghiệp đang ở mức nào?

Để giải quyết các vấn đề trên ta phải thiết lập được báo cáo tài chính cho kỳ kế hoạch của doanh nghiệp Thông thường người ta sử dụng phương pháp bảng cân đối dự toán để lập báo cáo tài chính cho kỳ kế hoạch

Trang 22

Phương pháp bảng cân đối dự toán được thực hiện qua các bước như sau:

* Lập báo cáo thu nhập cho kỳ kế hoạch

Mục đích của việc lập báo cáo thu nhập là để xác định phần lợi nhuận giữ lại mà doanh nghiệp có thể có trong kỳ hoạt động tới

- Ta biết khi doanh thu tăng lên thì cần được hỗ trợ bởi mức tài sản cao hơn, hoặc nói cách khác khi doanh thu tăng thì tài sản của doanh nghiệp nhất thiết phải tăng lên Doanh nghiệp cần nhiều tiền mặt hơn cho các nghiệp vụ, doanh thu tăng dẫn tới mở rộng diện và quy mô bán chịu làm khoản phải thu tăng lên, đồng thời hàng lưu kho sẽ tăng

- Mặt khác một khi tài sản tăng lên thi phần tài sản gia tăng cũng phải được cung cấp tài chính tương ứng, tức nguồn vốn của doanh nghiệp phải được đáp ứng

+ Trước hết ta dự kiến tỷ lệ tăng giá thành, khấu hao, thuế, tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu

+ Tỷ lệ cổ tức được xác định theo mục tiêu kế hoạch

+ Vì chưa biết vốn vay cần bổ xung, nên ta giả định lãi vay không tăng Trên cơ sở các dự kiến trên ta xác định được khoản lợi nhuận giữ lại để

bổ sung vốn (chưa tính đến yếu tố tăng lãi vay)

* Lập bảng cân đối dự toán cho kỳ kế hoạch

Theo đẳng thức kế toán:

Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu Khi doanh thu tăng lên thì các tài sản của doanh nghiệp như: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định cũng phải tăng lên; do đó phần nguồn vốn của doanh nghiệp cũng phải tăng tương ứng Ta xác định mức tăng của các nguồn vốn này

- Một số khoản mục có xu hướng tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu:

Trang 23

+ Doanh thu tăng đòi hỏi mua sắm nguyên vật liệu tăng làm cho khoản phải trả tăng lên

+ Doanh thu tăng làm cho các khoản nợ định mức (nợ định kỳ) cũng tăng lên

- Một số khoản mục có xu hướng tăng không cùng tăng tỷ lệ với doanh thu:

+ Lợi nhuận giữ lại cũng tăng nhưng không tăng cùng tỷ lệ tăng doanh thu vì:

Lợi nhuận giữ lãi mới = Lợi nhuận giữ lại cũ + Gia số + Tương tự các khoản vay nắn hạn, dài hạn, vốn cổ phần sẽ tăng nhưng không tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu, sự thay đổi của chúng phụ thuộc vào quyết đinh của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp

Ở bước này, các khoản mục phía nguồn vốn có xu hướng tăng cùng với

tỷ lệ tăng doanh thu được xác định tăng tương ứng; còn các khoản có xu hướng không tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu thì tạm giữ nguyên như kỳ trước ( sẽ điều chỉnh ở các bước sau)

Như vậy ở bước này, ta xác định được nhu cầu vốn bổ sung bằng sự chênh lệch giữa nhu cầu tài sản và vốn tự phát; phần vốn này sẽ được trang trải bằng các nguồn vốn huy động từ bên ngoài

* Dự kiến huy động vốn bổ sung

Việc huy động vốn bổ sung từ bên ngoài có nhiều hình thức, lựa chọn hình thức nào, Mỗi hình thức là bao nhiêu phải căn cứ dựa trên:

- Cơ cấu vốn mục tiêu

- Tỷ số lưu động của doanh nghiệp

- Thực trạng thị trường vốn vay

- Các quy chế vay nợ hiện hành

Trang 24

Vấn đề nảy sinh khi doanh nghiệp vay thêm vốn, lãi vay sẽ tăng, đồng thời nếu phát hành thêm cổ phiếu, tổng cổ tức sẽ tăng Điều này phải được phản ánh vào báo cáo thu nhập trong quá trình kế hoạch

* Điều chỉnh phản hồi

Từ các bước trên ta nhận thấy:

+ Tăng doanh thu dẫn tới tài sản tăng

+ Tăng tài sản dẫn tới cần thiết huy động vốn bổ sung

+ Huy động vốn bổ sung làm tăng thêm chi phí

+ Các chi phí tăng dẫn đến gia số lợi nhuận giữ lại giảm

Để giải quyết các vấn đề trên được gọi là quá trình điều chỉnh phản hồi Quá trình được tiến hành như sau:

- Tính lãi vay cho phần vốn bổ sung Khi lãi vay tăng lên sẽ làm thuế thu nhập giảm xuống

- Tính cổ tức bổ sung của phần vốn huy động thêm

- Phản ánh các thay đổi và xem xét ảnh hưởng

+ Các thay đổi sẽ dẫn tới gia số lợi nhuận giảm bao nhiêu và dẫn đến lợi nhuận giữ lại mới giảm bao nhiêu?

+ Khi lợi nhuận giữ lại giảm sẽ làm cho nguồn vốn giảm đi và mất cân bằng với tài sản Khoản chênh lệch này lại là phần vốn cần bổ sung thêm

- Tiếp tục phản ánh các thay đổi và xem xét ảnh hưởng

Quá trình điều chỉnh được tiếp tục thực hiện với phần vốn bổ sung mới sau một số lần điều chỉnh sự chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn nhỏ ở mức doanh nghiệp chấp nhận được thì kết thúc quá trình điều chỉnh Sau khi kết thúc quá trình điều chỉnh, xác định nhu cầu vốn bổ sung

Trang 25

Nhu cầu vốn bổ sung (NCVBS) = Tổng nhu cầu vốn kỳ kế hoạch – Tổng vốn hiện có(VHC) – Vốn tự phát gia tăng (VTPGT) – gia số lợi nhuận giữ lại (GSLNGL)

TNCVBS = TNCV - VHC – VTP GT – GSLNGL (1.8)

♦ Vốn tự phát là phần vốn mà doanh nghiệp có được một cách tự động nhờ các nghiệp vụ thường kỳ của hoạt động kinh doanh, bao gồm: Khoản phải trả khách hàng khi mua chịu, nợ tích lũy (tiền lương, thuế giữa các kỳ thanh toán)

♦ Gia số lợi nhuận giữ lại: Phần lợi nhuận hàng năm doanh nghiệp giữ lại nhằm tái đầu tư mở rộng sản xuất

* Phân tích kết quả dự báo

Từ kết quả của việc lập báo cáo thu nhập, báo cáo kế toán, ta tiến hành phân tích các chỉ số tài chính chủ yếu như:

+ Lợi nhuận sau thuế trên doanh thu

+ Lợi nhuận sau thuế trên tài sản

+ Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu

- So sánh các chỉ số tài chính của doanh nghiệp với các chỉ số năm trước, chỉ số trung bình ngành, chỉ số mục tiêu Từ đó nhận định về vị thế tài chính của doanh nghiệp và cần phải có biện pháp, phương hướng, chính sách quản lý để thay đổi các chỉ số tài chính không tốt, không phù hợp mục tiêu

Trang 26

Ngoài việc xác định tổng nhu cầu vốn và nhu cầu vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói trên, nhiều khi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần những thông tin nhanh chóng về nhu cầu vốn để có những quyết định phù hợp, các doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu vốn cố định và vốn lưu động như sau:

- Xác định nhu cầu vốn cố định

Nhu cầu vốn cố đinh được xác định như sau:

Trong đó: TVcđ là tổng nhu cầu vốn cố định

Vcđ là nhu cầu vốn kinh doanh

Vđt là nhu cầu vốn thay đổi công nghệ

Vcđ = Hệ số hàm lượng vốn cố định x Doanh thu kỳ kế hoạch

Hệ số hàm lượng vốn cố định

Hệ số hàm lượng Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ

vốn cố định Doanh thu trong kỳ

- Xác định nhu cầu vốn lưu động

Có nhiều phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động như phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu dự trữ, sản xuất, tiêu thụ, việc áp dụng phuơng pháp này đòi hỏi tiến hành tỉ mỉ, mất nhiều thời gian, đôi khi không chính xác Do vậy đa số các doanh nghiệp áp dụng phương pháp gián tiếp để xác đinh nhu cầu vốn lưu động

Nội dung cơ bản của phương pháp này là căn cứ vào số dư bình quân của vốn lưu động đã chiếm dùng ở kỳ trước, mức luân chuyển vốn lưu động ở

kỳ trước và các chỉ tiêu dự kiến xây dựng ở kỳ kế hoạch để xác định nhu cầu vốn lưu động kỳ kế hoạch

DT1

Vnc = Do (1± t%) (1.10)

DTo

=

Trang 27

Trong đó:

Vcn: Là nhu cầu vốn lưu đông kỳ kế hoạch

Do: là số dư bình quân của vốn lưu động năm trước

DT1: là doanh thu dự kiến kỳ kế hoạch

DTo: Là doanh thu kỳ trước

t%: là dự kiến phần trăm tăng (hay giảm) về tốc độ luân chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch so với kỳ trước

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được tính bằng công thức:

DT

L = (1.11)

V

Trong đó: L: là tốc độ luân chuyển vốn lưu động

DT: là doanh thu trong kỳ

V: là vốn lưu động bình quân trong kỳ

Sau khi xác định được nhu cầu vốn lưu động như trên, căn cứ vào

thống kê kinh nghiệm của các kỳ trước về tỷ lệ từng khoản vốn trong tổng số

vốn, ta xây dựng tỷ lệ các khoản vốn và tính ra từng loại vốn dự trữ, sản xuất,

tiêu thụ cho kỳ kế hoạch

1.2.2 Cơ cấu nguồn vốn và phương pháp đảm bảo nhu cầu tài chính cho

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.2.1 Cơ cấu nguồn vốn

Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở

hữu và nợ phải trả (nguồn vốn huy động ngoài doanh nghiệp)

Tỷ trọng giữa nguồn vốn huy động ngoài doanh nghiệp so với tổng số

nguồn vốn gọi là cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Nghiên cứu cơ cấu

Trang 28

nguồn vốn cho ta biết trong tổng số vốn đang sử dụng có bao nhiêu phần là vốn được huy động từ bên ngoài qua đó thấy được mức độ tham gia của vốn chủ sở hữu Một cơ cấu nguồn vốn hợp lý phản ánh được sự kết hợp hài hòa giữa các khoản vay nợ dài hạn, nợ ngắn hạn với các khoản vốn hình thành từ vốn góp (hoặc ngân sách), từ khấu hao và lợi nhuận để lại Vậy xem xét cơ cấu nguồn vốn cho ta biết nghệ thuật điều hành, sử dụng các khoản nợ đi vay của doanh nghiệp để làm tăng lợi nhuận Thông qua cơ cấu nguồn vốn, có thể

đo được sự đóng góp của vốn chủ sở hữu so với số nợ đi vay thông qua cơ cấu nguồn vốn cao hay thấp có thể biết được mức độ đảm bảo cho các khoản

nợ đi vay có khả năng hoàn trả đúng hạn hay không

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp,

cụ thể:

- Sự ổn định của doanh thu và lợi nhuận

Nếu doanh thu và lợi nhuận ổn định, doanh nghiệp sẽ chủ động trong việc tạo lập nguồn để trả các khoản nợ đến hạn, trả các khoản lãi vay, bổ sung vốn kịp thời Trong trường hợp này, tỷ trọng vốn huy động trong tổng số vốn của doanh nghiệp sẽ thấp

Ngoài nhân tố trên, còn có các nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp như đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất kinh doanh, doanh lợi vốn đạt được, mức độ chấp nhận rủi ro, quan hệ chủ nợ

1.2.2.2 Các chính sách tài chính của doanh nghiệp

Tùy theo tình hình tài chính cụ thể của từng doanh nghiệp, các chỉ số mục tiêu kỳ kế hoạch; doanh nghiệp chọn chính sách tài chính cho phù hợp

* Đối với vốn cốđịnh

- Để cung cấp vốn cố định cho nhu cầu vốn bổ sung của doanh nghiệp,

ta có thể lựa chọn hai hình thức là mua tài sản và thuê tài sản Việc lựa chọn

Trang 29

hình thức nào cho hợp lý doanh nghiệp phải cân nhắc, tính toán đến nhiều yếu

tố để đạt được các chỉ số tài chính mục tiêu

Thông thường, người ta so sánh giá trị hiện tại của chi phí mua với giá trị hiện tại của chi phí thuê tài sản trên cơ sở xác định dòng tiền của dự án mua và dòng tiền của dự án thuê tài sản để quyết định Nếu hình thức nào có giá trị hiện tại lớn hơn sẽ là hình thức để doanh nghiệp quyết định

Công thức tính giá trị hiện tại của các hình thức trên như sau:

(Ti – Si)

NPV = (1.12) (1 + r)i

Trong đó:

n: là thời gian hoạt động của dự án Ti: là các khoản thu của dự án kỳ thứ i (i = 1- n) Si: Là các khoản chi của dự án kỳ thứ i (i = 1- n) r: là tỷ lệ chiết khấu

- Căn cứ vào các chỉ tiêu của kỳ trước và mức độ tiên tiến của công nghệ mới ta xây dựng hệ thống chỉ tiêu việc sử dụng vốn cố định kiểm tra cho

kỳ kế hoạch

+ Để phân tích thực trạng tài sản cố định ta sử dụng chỉ tiêu:

Hệ số hao mòn Tổng giá trị còn lại của TSCĐ

tài sản cố định Tổng nguyên giá TSCĐ

+ Để đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định ta sử dụng chỉ tiêu Hiệu suất sử dụng Doanh thu trong kỳ

tài sản cố định Nguyên giá BQ TSCĐ trong kỳ

+ Hệ số hiệu suất sử dụng vốn cố định

Hiệu suất sử dụng Doanh thu trong kỳ

vốn cố định Số dư bình quân vốn cố định trong kỳ

Trang 30

vốn cố định Doanh thu trong kỳ

So sánh các chỉ tiêu này với năm trước, mức trung bình ngành, với lãi suất ngân hàng dể kiểm tra đánh giá, việc sử dụng vốn cố định

- Xây dựng phương pháp trích khấu hao tài sản cố định phù hợp đối với mỗi nhóm tài sản

* Chính sánh vốn lưu động

Chính sách vốn lưu động là tập hợp các chủ trương và biện pháp cơ bản của doanh nghiệp liên quan đến: Mức tài sản lưu động mục tiêu, tức là tổng giá trị của mỗi loại tài sản lưu động mà doanh nghiệp cần duy trì và cách thức cung cấp tài chính cho các tài sản lưu động đó

- Xác định giá trị của mỗi loại tài sản lưu động: Căn cứ vào chu kỳ vận động của tiền và các chỉ số tài chính mục tiêu để xác định giá trị của mỗi loại tài sản lưu động doanh nghiệp cần duy trì

- Các chính sách đầu tư vốn lưu động

+ Chính sách vốn lưu động “lỏng lẻo”: Là một chính sách theo đó người ta duy trì một khối lượng lớn tiền mặt, chứng khoán dễ bán và hàng lưu kho, đồng thời doanh thu bán ra được khuyến khích bằng các điều khoản bán chịu rộng rãi, do đó các khoản phải thu cũng tăng lên

Đây là một chính sách an toàn cho doanh nghiệp trước khả năng nhu cầu thị trường tăng lên đột ngột, tuy nhiên hiệu quả kinh doanh thấp

+ Chính sách vốn lưu động “chặt chẽ”: Là một chính sách người ta cố gắng duy trì một khối lượng hạn chế về tiền mặt, chứng khoán và hàng lưu kho, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các điều khoản bán chịu để giảm tới mức thấp nhất khoản phải thu

Đây là một chính sách có thể mang lại hiệu quả kinh doanh cao , nhưng đồng thời cũng là một chính sách rủi ro nếu có những biến động bất thường

Trang 31

+ Chính sách vốn lưu động “trung dung”: Là một chính sách theo đó người ta cố gắng duy trì mức đầu tư trung bình vào vốn lưu động, do đó lợi nhuận và rủi ro ở mức trung bình

Các doanh nghiệp phải căn cứ vào thực tế năng lực tài chính, vào môi trường kinh doanh, đặc điểm ngành nghề kinh doanh và dặc biệt là các tỷ

số tài chính mục tiêu để lựa chọn chính sách đầu tư hợp lý

- Các chính sách tài trợ vốn lưu động (chính sách cung cấp tài chính cho các tài sản lưu động)

Tài sản lưu động thường xuyên là các tài sản doanh nghiệp vẫn duy trì ngay cả trong một thời kỳ không cao điểm của hoạt động kinh doanh

Tài sản lưu động tạm thời là những tài sản thường biến đổi theo các biến động mang tính thời vụ hoặc chu kỳ của hoạt động kinh doanh

+ Chính sách mạo hiểm: Là một chính sách theo đó doanh nghiệp chấp nhận rủi ro bằng cách dùng các nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời và một phần tài sản lưu động thường xuyên

+ Chính sách bảo thủ: Là một chính sách theo đó doanh nghiệp dùng các nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho toàn bộ tài sản thường xuyên và một phần tài sản lưu động tạm thời Đây là một chính sách an toàn cho các hoạt động của các doanh nghiệp

+ Chính sách phối hợp kỳ hạn: Là một chính sách theo đó doanh nghiệp

cố gắng đến mức cao nhất nhằm phối hợp kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn, sao cho: Tài sản lưu động lâm thời được tài trợ bằng nợ ngắn hạn và tài sản lưu động thường xuyên, tài sản cố định được tài trợ bởi nợ dài hạn và vốn chủ

sở hữu

Việc doanh nghiệp lựa chọn chính sách tài trợ nào phải tuỳ thuộc và điều kiện tài chính cụ thể của từng doanh nghiệp và trong các thời kỳ nhất định để đạt được hiệu quả cao nhất

Trang 32

1.2.2.3 Phương pháp huy động nguồn vốn đảm bảo nhu cầu tài chính cho doanh nghiệp

Trên cơ sở xác định được nhu cầu vốn bổ sung cần thiết cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh này

Huy động vốn để đảm bảo nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp có thể thực hiện từ hai nguồn: Nguồn vốn từ bên trong và nguồn vốn

từ bên ngoài

a) Huy động nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp

Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn có thể huy động từ hoạt động bản thân doanh nghiệp Nhìn nhận về cơ bản lâu dài, nguồn vốn từ bên trong là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển vững chắc của một doanh nghiệp và cũng chính là sự thể hiện phát huy nội lực của doanh nghiệp Nguồn vốn bên trong bao gồm các nguồn sau:

- Tiền khấu hao cơ bản tài sản cố định

Việc trích khấu hao cơ bản TSCĐ là nhằm tái sản xuất giản đơn TSCĐ Với số tiền khấu hao cơ bản doanh nghiệp có thể sử dụng đầu tư đổi mới thiết

bị, công nghệ Doanh nghiệp tự xác định mức khấu hao phù hợp để tập trung vốn cần thiết cho kinh doanh

- Lợi nhuận để lại tái đầu tư

Đây là nguồn vốn quan trọng để mở rộng đầu tư của doanh nghiệp thông qua việc trích lập các quỹ tù lợi nhuận sau thuế Về lâu dài đây là nguồn vốn chủ yếu cho một doanh nghiệp tự đầu tư tăng trưởng

- Tăng vốn điều lệ bằng cách phát hành thêm cổ phiếu

- Giải phóng thu hồi nhanh vốn các tài sản vật tư ứ đọng không cần dùng

Trang 33

Huy động tối đa các nguồn vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh cũng

là biện pháp rất quan trọng trong việc huy động vốn Trong việc huy động vốn này cần quán triệt quan điểm là mọi tài sản hiện có của doanh nghiệp cần phải được huy động sử dụng, mọi đồng vốn không ngừng vận động và không ngừng sinh lời

b) Huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp

Nhìn chung huy động vốn bên trong của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay còn hạn chế Để đáp ứng nhu cầu về vốn doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài

- Những yếu tố cần xem xét khi huy động vốn từ bên ngoài

+ Những điểm lợi và bất lợi của hình thức huy động vốn: Thông thường mỗi hình thức huy động vốn đều đưa lại những lợi ích nhất định cho doanh nghiệp, đồng thời nó cũng có những hạn chế và đưa lại những điểm bất lợi Điều này đòi hỏi những người quản lý doanh nghiệp phải cân nhắc và xem xét trên nhiều mặt cụ thể để ra quyết định

+ Chi phí sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn: Việc huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn Điều đó đòi hỏi phải tính toán chi phí sử dụng vốn huy động từ các nguồn khác nhau Điều quan trọng là đánh giá được hiệu quả của đồng vốn huy động bỏ vào kinh doanh, cần tính đến yếu tố rủi ro có thể gặp phải Vấn đề chủ yếu để quyết định lựa chọn nguồn vốn huy động kinh doanh là so sánh chi phí sử dụng vốn

và hiệu quả vốn đầu tư mang lại Trong đó, cần tính đến chi phí cơ hội đầu tư

+ Kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp

- Những hình thức chủ yếu huy động vốn từ bên ngoài

+ Vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng

Trang 34

Đây là hình thức huy động vốn từ bên ngoài có tính chất truyền thống của các doanh nghiệp Hiện nay nguồn vốn này vẫn là nguồn vốn rất quan trọng của đa số doanh nghiệp

Việc sử dụng nguồn vốn này đưa lại cho doanh nghiệp những điểm lợi sau:

♦ Tăng thêm nguồn vốn cho doanh nghiệp mở rộng kinh doanh

♦ Lãi suất tiền vay được giới hạn ở mức độ nhất định, nếu doanh nghiệp kinh doanh tốt đạt được tỷ suất lợi nhuận trên vốn cao hơn lãi suất tiền vay thì

sẽ làm cho tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tăng lên

Những hạn chế và bất lợi của việc sử dụng hình thức huy động nguồn vốn này:

♦ Doanh nghiệp phải trả lợi tức tiền vay theo kỳ hạn, nếu tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không thuận lợi thì việc trả lợi tức tiền vay tăng thêm gánh nặng cho doanh nghiệp

♦ Doanh nghiệp phải hoàn trả tiền gốc đúng thời hạn Nếu doanh nghiệp

sử dụng tiền vay đầu tư sai hoặc sử dụng kém hiệu quả thì doanh nghiệp phải chịu rủi ro lớn

♦ Để được vay vốn, doanh nghiệp phải có dự án kinh doanh có tính khả thi và thể hiện khả năng thanh toán đúng hạn, có tài sản thế chấp đảm bảo đồng thời chịu sử kiểm soát của ngân hàng và các tổ chức tín dụng

+ Mua thiết bị trả chậm của các hãng cung cấp thiết bị

+ Thực hiện liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác

Hình thức này giúp cho doanh nghiệp khai thác được tiềm năng sẵn có

mở rộng được hoạt động kinh doanh Để có được đối tác liên doanh thì kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả hoặc trong tương lai phải thu được hiệu quả Mặt khác doanh nghiệp phải xác định được chiến lược kinh doanh

và giữ được tín nhiệm trên thị trường

Trang 35

+ Huy động vốn vay của cán bộ công nhân viên doanh nghiệp

Huy động theo hình thức này tạo cho doanh nghiệp có thêm vốn hoạt động kinh doanh Tuy nhiên , thường chỉ doanh nghiệp có dự án đầu tư khả thi và mức thu nhập của công nhân viên không quá thấp mới có khả năng thực hiện hình thức huy động này

Hình thức huy động này có ưu thế:

♦ Doanh nghiệp có thể chủ động hơn trong việc vay và sử dụng tiền vay, tránh được những thủ tục phức tạp trong việc vay vốn ngân hàng

♦ Làm cho công nhân viên gắn bó hơn với doanh nghiệp và người lãnh đạo doanh nghiệp có trách nhiệm có trách nhiệm hơn trong việc sử dụng vốn

Tuy vậy, hình thức huy động vốn này cũng có những điểm hạn chế:

♦ Khối lượng vốn huy động bị hạn chế trong một giới hạn nhất định

♦ Thường chỉ những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có phương án đầu tư khả thi mới có khả năng thực hiện hình thức huy động này

+ Thuê tài sản

Trong hoạt động kinh doanh, thuê tài sản là một phương thức giúp cho doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động kinh doanh của mình Có hai phương thức giao dịch chủ yếu: Thuê vận hành và thuê tài chính

+ Huy động vốn bằng phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát hành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp thanh toán số lợi tức

và tiền vay vào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữ trái phiếu

Doanh nghiệp là người phát hành và với tư cách là người đi vay Thông qua việc bán trái phiếu ra công chúng doanh nghiệp có thể thực hiện vốn vay trung hạn và dài hạn để đầu tư phát triển Người mua trái phiếu với tư cách là người cho vay

Trang 36

Việc huy động vốn bằng phát hành trái phiếu của doanh nghiệp còn rất hạn chế Tuy nhiên khi thị trường chứng khoán phát triển thì trái phiếu sẽ trở thành công cụ quan trọng để doanh nghiệp huy động thêm vốn đầu tư qua thị trường Thực hiện huy động vốn bằng phát hành trái phiếu có thể đưa lại những lợi ích cho doanh nghiệp, đồng thời nó cũng đưa lại những điểm bất lợi nhất định cho doanh nghiệp Điều đó đòi hỏi người quản lý doanh nghiệp phải cân nhắc trước khi đi đến quyết định sử dụng công cụ này

Sử dụng trái phiếu để huy động vốn có thể đưa lại những điểm lợi chủ yếu sau:

♦ Phát hành trái phiếu có thể cho phép doanh nghiệp huy động vốn với một số lượng lớn và dài hạn Phát hành trái phiếu cũng là hình thức doanh nghiệp đi vay vốn, nhưng khác với vay vốn của ngân hàng là doanh nghiệp vay vốn của đông đảo công chúng

♦ Nếu doanh nghiệp có dự án đầu tư khả quan và triển vọng tốt trong kinh doanh thì việc phát hành trái phiếu giúp cho doanh nghiệp huy động được vốn đầu tư, mặt khác giúp cho doanh nghiệp đạt được tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu ở mức cao

♦ Khi thị trường chứng khoán phát triển, việc huy động vốn bằng phát hành trái phiếu có thể giúp cho những doanh nghiệp kinh doanh tốt có uy tín

có thể thuận lợi huy động vốn với chi phí sử dụng vốn thấp hơn

Bên cạnh những điểm lợi, việc phát hành trái phiếu cũng có thể đưa lại những điểm bất lợi cho doanh nghiệp như sau:

♦ Phát hành trái phiếu cũng là một hình thức vay nợ Do vậy huy động vốn bằng hình thức này sẽ làm cho hệ số nợ của doanh nghiệp tăng lên

♦ Sử dụng trái phiếu buộc doanh nghiệp có nghĩa vụ trả tiền lãi trái phiếu cho người chủ sở hữu trái phiếu đúng kỳ hạn Nếu tình hình kinh doanh

và tài chính của doanh nghiệp thiếu ổn định thì sẽ làm tăng thêm khó khăn

Trang 37

cho doanh nghiệp nhất là vào thời kỳ phải trả tiền vay tình hình tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp trong tình trạng suy giảm

♦ Sử dụng trái phiếu là sử dụng nợ trong một thời gian dài, vì thế tác động của nó đến sự hoạt động của doanh nghiệp có sự không ổn định, Việc sử dụng trái phiếu có thể doanh nghiệp tăng vốn kinh doanh thực hiện các dự án đầu tư, nếu việc đầu tư của doanh nghiệp đúng hướng thì nó góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, nhưng nếu việc đầu tư bị sai lầm hoặc khi tình hình thị trường thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho doanh nghiệp thì việc phải trả lợi tức và hoàn trả một số nợ lớn sẽ trở thành một gánh nặng cho doanh nghiệp

Trang 38

PHẦN II

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

XÂY DỰNG GIAO THÔNG 1 THÁI NGUYÊN

2.1 CÁC ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG GIAO THÔNG 1 THÁI NGUYÊN

Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên là một đơn vị xây dựng cơ bản thuộc ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, được hình thành và phát triển qua các thời kỳ như sau:

- Năm 1694 ủy ban hành chính tỉnh Thái Nguyên ký quyết định thành lập đội công trình cầu đường

- Năm 1968, hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên sát nhập, ủy ban hành chính tỉnh Bắc Thái ký quyết định thành lập Công ty cầu đường Bắc Thái

- Năm 1976 tách ra thành tách ra thành hai đơn vị là Đội cầu Bắc Thái

và xí nghiệp xây dựng đường Bắc Thái

- Năm 1992, khi tỉnh Bắc Thái tách ra làm 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thì xí nghiệp xây dựng đường Bắc Thái được đổi tên thành Công ty công trình giao thông 1 Thái Nguyên

- Thực hiện chủ trương sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước của Chính phủ Công ty công trình giao thông 1 Thái Nguyên chuyển đổi hình thức sở hữu từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần Ngày 01/01/2004 Đại hội đồng cổ đông sáng lập thành lập Công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên Công ty được cấp giáy phép kinh doanh và bắt đầu hoạt động theo luật doanh nghiệp từ 01/01/2004 với các ngành nghề sau:

- Xây dựng các công trình giao thông

Trang 39

- Sản xuất các loại vật liệu xây dựng

- San lấp mặt bằng

- Khai thác khoáng sản

- Cung ứng vật tư, thiết bị ngành giao thông

- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp

- Xây dựng các công trình thủy lợi

- Xây lắp điện dân dụng và công nghiệp

- Kinh doanh bất động sản và cơ sở hạ tầng

- Tư vấn khảo sát thiết kế các công trình giao thông

Khi chuyển sang hình thức Công ty cổ phần và sau một năm hoạt động, hiện nay quy mô và cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần xây dựng giao thông

1 Thái Nguyên như sau:

+ Ban kiểm soát: Do đại hội đồng cổ đông bầu ra gồm 3 thành viên có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty

Trang 40

Đại hội đồng cổ đông

Sơ đồ tổ chức công ty cổ phần xây dựng giao thông 1 Thái Nguyên

+ Giám đốc công ty: Do HĐQT bầu ra – là thành viên hội đồng quản trị điều hành các hoạt động kinh doanh của Công ty theo chủ trương, kế hoạch của HĐQT Giúp việc cho giám đốc gồm có 2 phó giám đốc và 4 phòng chức năng

Các phòng chức năng có chức năng tham mưu, giải quyết các nhiệm vụ

do giám đốc ra lệnh, giúp giám đốc trong việc điều hành sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp, đội thi công

+ Các xí nghiệp, đội thi công; Có 3 xí nghiệp và 6 đội thi công thực hiện trực tiếp nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty theo cơ chế khoán

Ngày đăng: 11/11/2018, 16:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w