1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích và dự báo khách du lịch quốc tế đến việt nam từ năm 2005 đến 2010

121 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cùng với việc phát triển các sản phẩm du lịch có chất lượng, tăng cường xúc tiến quảng bá thì việc phân tích và dự báo thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, từ đó đề

Trang 1

*****************************

NINH XUÂN KHANH

PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM TỪ NĂM 2005 ĐẾN 2010

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐỖ VĂN PHỨC

HẢI PHÒNG, 11/2004

Trang 2

Mục lục Trang

L ỜI MỞ ĐẦU……… 1

PH ẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NHU C ẦU THỊ TRƯỜNG……… 3

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NHU CẦU TH Ị TRƯỜNG……… 3

1.1.1 Kinh doanh trong kinh t ế thị trường……… ……… 3

1.1.2 Nội dung dự báo nhu cầu của thị trường……… 5

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO NHU CẦU THỊ TRƯỜNG……… 15

1.2.1 X ử lý số liệu thống kê trong phân tích và dự báo………… 15

1.2.2 Các phương pháp dự báo kinh tế - xã hội……… 19

PH ẦN 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG KHÁCH QUỐC T Ế ĐẾN VIỆT NAM NĂM 1992 – 2004……… 31

2.1 KHÁCH DU LỊCH VÀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH……… 31

2.1.1 Khách du lịch và phân loại khách du lịch……… 31

2.1.2 Nhu cầu của khách du lịch……… 37

2.1.3 Phương pháp thu hút khách du lịch……… 39

2.2 TIỀM NĂNG CỦA DU LỊCH VIỆT NAM ……… 42

2.2.1 S ự hấp dẫn của các sản phẩm du lịch Việt Nam………… 42

2.2.2 Ti ện nghi cơ sở vật chất kỹ thuật……… 44

2.2.3 Kh ả năng tiếp cận và thông tin hình ảnh của sản phẩm du lịch Vi ệt Nam……… 45

2.2.4 Ti ềm năng của các công ty du lịch lữ hành Việt Nam …… 47

2.2.5 Cơ chế chính sách khai thác các thị trường khách ……… 48

2.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA………. 49

2.3.1 Tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt nam………… 49

a V ề số lượng khách quốc tế đến Việt Nam……… 50

b Doanh thu, cơ sở vật chất của ngành……… 60

Trang 3

2.3.2 Phân tích các yếu tố tác động tới lượng khách du lịch quốc tế

đến Việt Nam……… 70

a Chiến tranh, khủng bố và dịch bệnh……… 70

b Tự do hoá đi lại……… 71

c S ản phẩm du lịch……… 72

d Ch ất lượng phục vụ……… 75

e Giá cả các hàng hoá dịch vụ……… 76

f Thu nhập ngày càng tăng……… 77

g Nh ận thức về tác dụng của du lịch được nâng cao………… 77

h Tuyên truyền quảng cáo……… 78

PH ẦN 3: DỰ BÁO KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM NĂM 2005 - 2010 ……… 79

3.1 PHÂN TÍCH, D Ự BÁO THÀNH PHẦN, TÍNH CHẤT, MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN TỚI LƯỢNG KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005 – 2010………. 79

a Vấn đề khủng bố……… 80

b Vấn đề dịch bệnh……… 83

c Vấn đề tự do hoá đi lại……… 85

d Thu nhập ngày càng tăng……… 86

e Nhận thức về tác dụng của du lịch được nâng cao…… 87

3.2 D Ự BÁO THỊ TRƯỜNG KHÁCH QUỐC TẾ 2005 - 2010 ……… 88

3.2.1 D ự báo thị trường khách quốc tế ……… 88

3.2.2 M ột số nhận xét……… 95

3.3 M ỘT SỐ KIẾN NGHỊ ……… 96

K ẾT LUẬN ……… 110

Trang 4

L ời mở đầu

Du lịch Việt Nam trong những năm gần đây kể từ khi có thay đổi chính sách của Đảng và Nhà nước đã thu được những kết quả khả quan, đem

lại thu nhập đáng kể cho đất nước

Phát triển du lịch quốc tế và nội địa đã trở thành một chính sách quan

trọng của Đảng và Nhà nước ta vì ngành du lịch không chỉ đem lại những lợi ích kinh tế mà còn góp phần tăng cường mối quan hệ kinh tế quốc tế, củng

cố hoà bình, thúc đẩy giao lưu văn hoá giữa các nước, nâng cao đời sống vật

chất của nhân dân

Từ năm 1992 đến nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng nhanh chóng với tốc độ trung bình 21,9%/năm Đây là một thành công đáng

kể đối với ngành du lịch Việt Nam Tuy nhiên, cùng với việc phát triển các

sản phẩm du lịch có chất lượng, tăng cường xúc tiến quảng bá thì việc phân tích và dự báo thị trường khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, từ đó đề ra

những quyết định và xây dựng các giải pháp cũng có ý nghĩa hết sức quan

trọng, góp phần đảm bảo du lịch Việt Nam phát triển bền vững, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Việc phân tích và dự báo nhu cầu thị trường có khả năng giúp cho việc

nhận biết lượng khách thực tế đến Việt Nam, lượng khách trong thời gian

tới, Việc áp dụng các phương pháp và mô hình dự báo còn có thể giúp ích cho việc lựa chọn các quyết sách và các giải pháp phù hợp Như vậy, việc phân tích và dự báo lượng khách quốc tế đến Việt Nam là rất quan trọng, không những đem lại cho ta cái nhìn tổng quát về số lượng khách đến Việt Nam mà còn hoạch định ra các quyết sách, đề ra các giải pháp để ngành du

lịch Việt Nam phát triển cao và ổn định

Đề tài “Phân tích và dự báo khách du lịch quốc tế đến Việt Nam từ năm 2005 đến 2010” được thực hiện với mục tiêu áp dụng lý thuyết phân

tích và dự báo vào thị trường khách quốc tế đến Việt Nam, hình thành bức tranh tổng quan về thị trường này, trên cơ sở đó sẽ hình thành chiến lược

Trang 5

kinh doanh du lịch hợp lý nhằm pháp triển cao và ổn định thị trường khách

Phần 2: Phân tích tình hình thị trường khách quốc tế đến Việt Nam năm 1992 – 2004

2.1 Khách du l ịch và thu hút khách du lịch

2.2 Tiềm năng của du lịch Việt Nam

2.3 Phân tích tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong thời gian qua

Phần 3: Dự báo khách du lịch quốc tế đến Việt Nam năm 2005 – 2010 3.1 Phân tích, dự báo thành phần, tính chất, mức độ tác động của các yếu tố cơ bản tới lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2005 –

2010

3.2 Dự báo thị trường khách quốc tế 2005 – 2010

3.3 Một số kiến nghị

Kết luận

Để hoàn thành đề tài, tôi xin trân trọng cảm ơn Phó giáo sư, Tiến sỹ

Đỗ Văn Phức, tập thể Vụ lữ hành, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Tổng

cục du lịch Việt Nam và các thầy cô giáo đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Tuy nhiên, do trình độ có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm, hướng dẫn của các thầy cô giáo

Trang 6

PH ẦN 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH

1.1 Nh ững vấn đề cơ bản về phân tích và dự báo nhu cầu thị trường.

1.1.1 Kinh doanh trong kinh t ế thị trường:

Để tồn tại và phát triển, con người đã sáng lập ra nền kinh tế, sáng tạo

ra thị trường nhằm mục đích phát triển nhanh, có hiệu quả hoạt động kinh tế

Nền kinh tế là một phương thức (thể chế, cơ chế định hướng, điều khiển và cách thức) tiến hành các hoạt động kinh tế chủ yếu Thị trường là nơi gặp gỡ

và di ễn ra quan hệ mua bán (trao đổi) giữa người có và người cần hàng hoá

Loài người đã trải qua các nền kinh tế từ thấp đến cao:

- N ền kinh tế tự nhiên: Tự cung tự cấp

- N ền kinh tế hàng hoá giản đơn: Là nơi tiến hành hàng đổi hàng là

chính

- N ền kinh tế thị trường tự do: Là nơi tiền đã xuất hiện và trở thành

hàng hoá đặc biệt - vật trung gian cho trao đổi, kinh tế tư nhân phát triển

mạnh mẽ,…

- N ền kinh tế thị trường hiện đại: Các công ty cổ phần và công ty đa

quốc gia phát triển mạnh mẽ; sản xuất kinh doanh được tiến hành trên cơ sở công nghệ thiết bị hiện đại; thông tin, sản phẩm sáng tạo, uy tín, dịch vụ,…

trở thành hàng hoá đặc biệt và chiếm tỷ trọng cao Cơ cấu phát triển kinh tế

là công nghiệp 20%, nông nghiệp 10% và dịch vụ 70%

Như vậy, nền kinh tế thị trường có đặc trưng cơ bản là hàng hoá, là tự

do kinh doanh hàng hoá trong khuôn khổ pháp luật Do mưu cầu lợi ích và tự

do kinh doanh nên trong kinh tế thị trường cạnh tranh diễn ra quyết liệt Từ

đó ta có thể nhận thấy, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hoạt động chủ

yếu theo quy luật cạnh tranh đáp ứng nhu cầu hàng hoá

Trong nền kinh tế thị trường, con người phải tiến hành một loạt hoạt

động trong đó hoạt động kinh doanh là hoạt động trọng tâm Hoạt động kinh

Trang 7

doanh ở đây được hiểu là việc đầu tư, tổ chức chi nhằm vào việc thoả mãn nhu c ầu của người khác để có thu nhằm thoả mãn nhu cầu của chính mình

Doang nghiệp là đơn vị tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh, tổ

chức làm kinh tế Doanh nghiệp có thể kinh doanh sản xuất, kinh doanh thương mại và kinh doanh dịch vụ Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp tiến hành kinh doanh là tham gia cạnh tranh Doanh nghiệp nào cạnh tranh thành công thì tồn tại và phát triển còn doanh nghiệp nào không thành công thì đổ vỡ, phá sản

Do đó, doanh nghiệp hiện nay muốn thành công thường xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp Chiến lược kinh doanh phụ thuộc

chủ yếu vào các yếu tố sau:

Như vậy, để có chiến lược kinh doanh đúng đắn, trước hết doanh nghiệp phải tiến hành đầu tư, nghiên cứu, dự báo cụ thể định lượng tương đối chính xác nhu cầu của thị trường, đối thủ cạnh tranh và năng lực của doanh nghiệp Luận văn xin được tập trung nghiên cứu về nhu cầu của thị trường - để góp phần hình thành nên chiến lược kinh doanh du lịch đúng đắn, tăng lượng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010

Nhu cầu của thị trường là nhu cầu của cả cộng đồng người nên rất đa

dạng và phong phú, luôn biến động Do đó, từ nhu cầu của con người ta có

thể nhận biết được phần lớn nhu cầu của thị trường Người ta có thể nhận

biết

CHIẾN LƯỢC (K Ế HOẠCH) KINH DOANH

K ết quả dự báo

nhu c ầu thị trường K đối thủ cạnh tranh ết quả dự báo các K ết quả dự báo năng l ực của doanh

Trang 8

được nhu cầu của thị trường bằng cách dựa vào khái niệm sau đây: Nhu cầu

c ủa con người là những gì cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người Khi dự báo nhu cầu của thị trường chúng ta cần xét đến nhận thức,

khả năng thanh toán của người tiêu dùng; giai đoạn của chu kỳ sống sản

phẩm và động thái cơ cấu chất lượng Trong thực tế và lý luận, chúng ta nhiều khi chưa quan tâm đúng mức nhu cầu của con người mà trong kinh tế

thị trường chúng lại là những hàng hoá rất đáng giá kinh doanh Càng ngày, các hoạt động như: trò chơi điện tử, ca nhạc, thể thao, dịch vụ các loại… Thoả mãn nhiều tinh thần của con người và con người sẵn sàng chi trả tiền thoả đáng để thoả mạn nhu cầu ở mức cao Để hình thành một phương án kinh doanh hiệu quả, chúng ta cần phải nắm bắt các loại nhu cầu của thị trường, tổng số và động thái của từng loại nhu cầu Việc nhận biết được các

vấn đề của nhu cầu thị trường thì chúng ta phải tiến hành phân tích và dự báo nhu cầu của thị trường

1.1.2 Nội dung dự báo nhu cầu thị trường:

Phân tích dự báo nhu cầu thị trường là một công cụ, một công việc không thể thiếu được trong hoạt động của các chủ thể tổ chức, doanh nghiệp, đồng thời nó cũng rất cần thiết cho các nhà quản lý nhằm hoạch định các chính sách kinh tế vi mô sao cho phù hợp, thúc đẩy sự phát triển của địa phương

Phân tích và dự báo nhu cầu thị trường là sự vận dụng tất cả những tri

thức khoa học của xã hội loài người để nhận biết một cách đầy đủ, chính xác

sự tồn tại, xu thế vận động và phát triển của một nhu cầu thị trường; làm rõ

và nhận thức đúng bản chất của nhu cầu thị trường đó; xác định mọi tác động qua lại của các yếu tố bên trong và bên ngoài của nhu cầu đến sự tồn tại, vận động và phát triển của nhu cầu thị trường đó

Dự báo là một thuật ngữ được sử dụng cách đây rất lâu, khi con người

bắt đầu quan tâm đến thiên nhiên và mong muốn biết nó sẽ xảy ra như thế nào trong tương lai, để chống lại nó hoặc sử dụng nó vì sự phát triển của xã

Trang 9

hội loài người Thuật ngữ dự báo có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Pro” (nghĩa

là trước) và “grosis” (nghĩa là biết), “progrosis” có nghĩa là biết trước Dự báo xu thế phát triển của nhu cầu thị trường là việc dự đoán quá trình tiếp theo trong những khoảng thời gian khác nhau nối tiếp với hiện tại như: Ngắn

hạn, trung hạn hoặc dài hạn, trên cơ sở những thông tin thống kê hiện tượng,

sự vật trong quá khứ và bằng các phương pháp dự báo thích hợp

Từ cổ xưa, dự báo đã được áp dụng trong cuộc sống hàng ngày, nhưng mang nặng màu sắc thần bí, thể hiện ở các câu tiên tri, lời bói toán Ngay từ

thời cổ Hy Lạp, người ta đã phân chia dự báo thành các lĩnh vực:

- Các hi ện tượng tự nhiên như: Thời tiết, nhật thực, nguyệt thực,…

- Các hi ện tượng xã hội: Sự xuất hiện và kết thúc các cuộc chiến tranh,

sự hưng thịnh hay suy vong của một thể chế chính trị,…

- Các hi ện tượng về đời sống xã hội: khả năng giàu có, bệnh tật, sinh

tử …

Suốt nhiều thế kỷ, dự báo không được vận dụng một cách khoa học và không có tính thiết thực, bởi vì đây là thời kỳ triết học duy tâm chiếm lĩnh trong tư duy nhận thức thế giới

Đến thế kỷ XVI, XVII khi các môn học tự nhiên như toán học, vật lý, hoá học và thiên văn học phát triển, các dự báo có tính khoa học mới dần được xuất hiện

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và nhận

thức con người không chỉ dự báo thông qua kinh nghiệm mà tiến đến sử

dụng các thành tựu của khoa học để chinh phục, khám phá các hiện tượng thiên nhiên

Ngày nay, dự báo được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực khoa học,

kỹ thuật, kinh tế, chính trị và xã hội với nhiều loại và phương pháp dự báo khác nhau Nhiều kết quả của dự báo đã được các nhà quản lý sử dụng làm

cơ sở để điều chỉnh kịp thời chủ trương chính sách, mục tiêu hoạt động sản

Trang 10

xuất, kinh doanh, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, phát triển sản phẩm, đầu tư

mở rộng sản xuất nhằm đạt lợi ích cao nhất

Như vậy, dự báo từ thần bí kinh nghiệm đã phát triển thành môn khoa

học độc lập, đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định, xây dựng chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp và nói rộng hơn là chiến lược kinh doanh của cả 1 ngành kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Mỗi quốc gia, cộng đồng lãnh thổ hay một tổ chức, doanh nghiệp đều

gắn liền với một môi trường nhất định Môi trường này được xác định thông qua các yếu tố về chính trị; các yếu tố xác định mức độ phát triển kinh tế - xã

hội; các yếu tố thuộc về nguồn nhân lực; các yếu tố thuộc về nguồn tài nguyên thiên nhiên và một số yếu tố khác Nói cách khác, trong quá trình tồn

tại, vận động và phát triển, mỗi tổ chức, doanh nghiệp đều chịu tác động của

một tập rất nhiều các yếu tố Sự tác động của các yếu tố đó làm cho các tổ

Các y ếu tố chính tr ị

Nhóm áp l ực

c ủa xã hội

Các y ếu tố khác

Trang 11

chức, doanh nghiệp phát triển theo nhiều xu hướng khác nhau Khi phân tích,

dự báo nhu cầu thị trường thì môi trường trong đó doanh nghiệp tồn tại và phát triển có vai trò rất quan trọng Mặc dù các nhân tố bên trong như: Cơ

cấu tổ chức, bộ máy, năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý điều hành

và nhân viên là những yếu tố quyết định nhưng chúng lại bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố bên ngoài của môi trường Mối tác động qua lại của môi trường đến sự tồn tại, vận động và phát triển của nhu cầu thị trường được mô tả khái quát trong sơ đồ 1.1

Dự báo nhu cầu thị trường có thể được tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau Song thường gặp một số loại hình chủ yếu sau :

- Dự báo tổng thể, vĩ mô sự vận động và phát triển của nhu cầu thị trường

- Dự báo sự vận động và phát triển của từng bộ phận với quan niệm bộ

phận là một hệ con của nhu cầu thị trường và chịu tác động của bộ phận khác

- Dự báo khả năng hay thời gian đạt được các chỉ tiêu của nhu cầu thị trường nhất định, cả về số lượng cũng như chất lượng

- Dự báo cho từng khoảng thời gian (trên 25 năm, 20 năm, 15 - 10 năm, 5 năm hay hàng năm, hàng tháng) nhằm phục vụ cho các nhà hoạch định

chính sách xây dựng các chính sách, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn

và ngắn hạn, v.v

Việc dự báo nhu cầu của thị trường cần phải tuân theo một số nguyên

tắc cơ bản sau:

Nguyên t ắc liên hệ biện chứng: Tất cả các nhu cầu thị trường đều được

đặt trong một môi trường nhất định, do vậy khi phân tích và dự báo nhu cầu

thị trường ta phải đặt hiện tượng trong mối tác động qua lại của các yếu tố

lẫn nhau Trong đó cần nhận thức rõ đâu là yếu tố bên trong, đâu là yếu tố

Trang 12

bên ngoài để xác định đúng và đưa ra được kết quả phân tích chính xác, trên

cơ sở đó thấy hết các nhân tố sẽ xuất hiện trong tương lai

Nguyên t ắc kế thừa lịch sử: Các nhu cầu thị trường vận động và phát

triển luôn chứa đựng trong nó những nhân tố kết quả của quá khứ và trạng thái trong tương lai Phân tích, đánh giá hiện tại và dự báo sự phát triển trong tương lai của nhu cầu thị trường chỉ có thể có cơ sở vững chắc nếu như ta nhìn rõ được bản chất của các vấn đề trong quá khứ Quá khứ chính là cái đã

có để xem xét Tương lai là cái mong ước Sự mong ước chỉ trở thành hiện

thực nếu nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc của quá khứ

Nguyên t ắc tôn trọng đặc thù của đối tượng dự báo: Mỗi nhu cầu thị

trường đều có những nét đặc trưng riêng của nó Nhờ những nét đặc trưng riêng này mà ta có thể phân biệt được hiện tượng đang nghiên cứu với những

hiện tượng khác Do vậy khi phân tích và dự báo, ta phải tôn trọng những nét đặc trưng đó, đặc biệt là trường hợp những nét đặc trưng đã trở thành quy

luật, ví dụ tỷ lệ giữa nam và nữ trên thế giới, phong tục tập quán, đời sống văn hoá của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ

Mô tả tối ưu nhu cầu thị trường trong quá trình dự báo: Trong tập các

thông tin mô tả hiện tượng, chúng ta cần tối ưu hoá các thông tin đó thông qua nhiều phương pháp xử lý khác nhau để tìm ra mô hình tối ưu nhất Một nhu cầu thị trường chứa đựng trong nó rất nhiều yếu tố Việc phân tích các

yếu tố đó không thể mang tính liệt kê Chúng ta phải tìm ra được các thông tin, các chỉ tiêu và mô tả liên hệ mối biện chứng của chúng với các yếu tố khác, đồng thời lựa chọn các thông số cũng như phương pháp để xử lý các thông tin đó sao cho chi phí ở mức thấp nhất

Nguyên t ắc tương tự của hiện tượng dự báo: Theo nguyên tắc này, khi

phân tích, dự báo một nhu cầu thị trường chúng ta có thể so sánh nó với các nhu cầu thị trường tương tự của một địa phương, một vùng hay một nước khác để có thể tìm ra những nhân tố phát triển tương tự cũng như các yếu tố đảm bảo cho sự phát triển của hiện tượng mà ta quan tâm Sử dụng nguyên

Trang 13

tắc này sẽ giúp cho việc phân tích và dự báo đạt hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian hơn Trong một số trường hợp nguyên tắc này cho phép ta sử dụng các

mô hình toán học, các phương pháp thống kê toán học để phân tích và dự báo quy luật và phát triển của nhu cầu thị trường có tính tương tự nhau

Nguyên t ắc hệ thống: Lý thuyết hệ thống quan niệm mỗi nhu cầu thị

trường là một hệ thống mở, đặt trong mối quan hệ trao đổi với môi trường bên ngoài bằng nhiều kênh khác nhau Tổ chức được xem như là một tập hợp

của nhiều đối tượng, chủ thể khác nhau, trao đổi với nhau cả những nội dung

và thuộc tính của chúng

Trên cở sở các nội dung, môi trường tác động và các nguyên tắc của

dự báo nhu cầu thị trường, chúng ta đã có cái nhìn tổng quát về dự báo nhu

cầu của thị trường Dưới đây là một vài nét về công tác dự báo ở Việt nam ta

Ở Việt Nam, công tác dự báo đã được triển khai từ những năm đầu của

thập kỷ 70 Trong một thời gian dài, dự báo được coi là một công cụ phục vụ đắc lực cho công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch Về mặt tổ

chức, đã hình thành nhiều cơ quan nghiên cứu dự báo như: Ban điều khiển

học trực thuộc Thủ tướng Chính phủ trong thập kỷ 70; Trung tâm Phân tích

Hệ thống thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương; Ban Dự báo

và Phân tích Kinh tế Vĩ mô - Viện Chiến lược Phát triển thuộc Bộ Kế hoạch

và Đầu tư; Viện Khoa học Việt Nam thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, sau này là Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường và nay là Bộ Khoa học và Công nghệ

Về phương pháp và công nghệ dự báo, nói chung ở nước ta đến nay các

cơ quan nghiên cứu dự báo đã và đang vân dụng các phương pháp thuộc các nhóm phương pháp sau đây:

- Phương pháp mô hình hoá: Bao gồm nhiều loại mô hình cụ thể như: Mô

hình kinh tế lượng, mô hình lịch sử, mô hình nhân tố, mô hình tối ưu, mô hình cân bằng tổng quát, mô hình tương tự,…

Trang 14

- Phương pháp chuyên gia: Dựa trên việc thu thập và xử lý các ý kiến

đánh giá của các chuyên gia giỏi, có nhiều kiến thức và kinh nghiệm

- Phương pháp kết hợp giữa mô hình hoá và lâý ý kiến đánh giá của chuyên gia theo quy trình ti ệm cận lặp

Trên bình diện kinh tế vĩ mô, các mô hình thường được vận dụng để phân tích chính sách và dự báo kinh tế là các mô hình kinh tế lượng vĩ mô và các mô hình cân bằng tổng quát Tuy nhiên, trong thưòi gian qua, mô hình được sử dụng phổ biến vẫn là mô hình kinh tế lượng vĩ mô Vì vậy, việc đánh giá công tác dự báo kinh tế vĩ mô ở Việt Nam có thể được xem xét chủ

yếu qua việc vận dụng mô hình kinh tế lượng vi mô theo các giai đoạn sau đây:

Giai đoạn trước năm 1986

Mô hình kinh tế lượng đầu tiên của Việt Nam được xây dựng thử nghiệm bởi Ban điều khiển học trực thuộc Thủ tướng Chính phủ năm 1974 –

1975 Mô hình này được xây dựng cho nền kinh tế miền Bắc giai đoạn

1957 – 1975 Sau ngày thống nhất đất nước, nền kinh tế chuyển sang giai đoạn mới, việc nghiên cứu kinh tế lượng bị dừng lại do cơ sở dữ liệu bị thay đổi

Mô hình kinh tế lượng vĩ mô đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng tại Trung tâm Phân tích hệ thống – Viện nghiên cứu Quẩn lý kinh tế Trung ương năm 1983 – 1984 Mô hình này dựa trên tư tưởng mô hình của Ban điều khiển học Tuy nhiên mô hình cũng chỉ mô tả hoạt động của khu vực

sản xuất vật chất Mô hình này có quay mô rộng mở hơn và nó được sử dụng

để phân tích kinh tế và dự báo xu hướng phát triển, song chưa được dùng để

mô phỏng sự thay đổi chính sách

Giai đoạn 1986 -1992

Việc xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô trong giai đoạn này bắt đầu có sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế Năm 1988, Trung tâm phân tích hệ thống- Viện Quản lý Kinh tế Trung ương đã phối hợp với

Trang 15

VIện Khoa học Việt Nam xây dựng mô hình kinh tế lượng cho giai đoạn 1976-1988 Năm 1989, Trung tâm Phân tích hệ thống lại tiếp tục xây dựng

mô hình kinh tế lượng vĩ mô với sự trợ giúp tài chính của ESCAP Mô hình này là mô hình đầu tiên được thực hiện với sự trợ giúp phần mềm chuyên dụng TSP Đặc điểm của các mô hình trong giai đonạ này là chúng vẫn được xây dựng theo số liệu của Hệ thống sản phẩm vật chất (MPS) của nền kinh tế kế hoạch hoá trước đây Điểm đặc biệt của mô hình năm

1989 (gồm 103 biến số) là khối giá cả được chia ra hai loại giá: Giá trên thị trường tự do và giá theo quy định của Nhà nước Các nhà xây dựng mô hình đã cố gắng đưa vào mô hình khối ngân sách Nhà nước, khối giá cả… song bản thân nền kinh tế chưa chuyển đổi nên các mô hình này cũng chỉ phản ánh các đặc trưng của nền kinh tế trong giai đoạn bắt đầu chuyển đổi Vì vậy, các mô hình kinh tế lượng vĩ mô nhằm mục tiêu phân tích cơ chế nhiều hơn là mục tiêu dự báo

Giai đoạn từ 1993 đến nay

Các mô hình kinh tế lượng vĩ mô xây dựng giai đoạn này đã sử dụng

Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA) thay cho hệ thống số liệu MPS Mô hình đầu tiên xây dựng thử nghiệm trên cơ sở hệ thống số liệu SNA là mô hình trong khuôn khổ đề tài 92-98-233/ĐT (Nguyễn Văn Quỳ) Mô hình này cũng áp dụng đầy đủ các bước kỹ thuật xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ

mô theo kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường Mô hình đã

thực hiện được một số kết quả có ý nghĩa như phân tích chính sách tác động

của tỷ giá hối đoái, chính sách thuế và vốn vay nước ngoài,… Tuy nhiên, do

số liệu còn chưa đầy đủ nên mô hình còn mô tả khối đầu tư sản xuất theo đặc điểm của hệ thống MPS

Khắc phục nhược điểm của mô hình năm 1993 trong khuôn khổ chương trình KX-03 năm 1995, Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Ttrung ương đã thiết lập mô hình kinh tế lượng vĩ mô kết hợp các khối cung, cầu và

Trang 16

đã có những đóng góp cho việc đánh giá chính sách và dự báo kinh tế Việt Nam vào những năm 1990 (Nguyễn Văn Quỳ – 1995)

Song song với việc xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô ở Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, một số cơ quan khác cũng đã thực

hiện một số nghiên cứu bước đầu về xây dựng mô hình kinh tế lượng vĩ mô song chỉ dừng lại ở mặt đóng góp về phương pháp luận Năm 1997, được

quỹ Nippon tài trợ, Viện chiến lược Phát triển cũng đã xây dựng một số mô hình kinh tế lượng vĩ mô theo bên cầu Tuy nhiên, các mô hình đó mới chỉ

dừng ở mô hình hạt nhân và còn cần được mở rộng cho khu vực tiền tệ, thu

nhập,….và các tác động có thể có từ nhiều biến bên ngoài Đây là điều đặc

biệt quan trọng vì ngoài những mối liên kết nội tại, nền kinh tế Việt Nam ngày càng trở nên nhạy cảm đối với những biến động kinh tế của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới Một ví dụ có thể thấy rõ là tác động

của cuộc khủng hoảng Đông á đối với nền kinh tế Việt Nam trong mấy năm qua

Mô hình kinh tế lượng hàng năm của Việt Nam phục vụ cho các dự báo ngắn hạn được các nhà nghiên cứu thuộc Viện Chiến lược Phát triển xây

dựng từ năm 1997 với sự hỗ trợ của các chuyên gia Nhật Bản Mô hình này

có tất cả cả 58 phương trình, trong đó có 25 phương trình hành vi và 33 phương trình định nghĩa Đến năm 2001, mô hình này tiếp tục được các nhà nghiên cứu chỉnh lý và cập nhật nhằm mô phỏng tác động của dòng vốn FDI

và thương mại đối với tăng trưởng kinh tế Mô hình này có 16 phương trình hành vi và 23 phương trình định nghĩa

Mô hình kinh tế vĩ mô theo quý được nhóm chuyên gia của Vụ Tổng

hợp Kinh tế quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đàu tư xây dựng nhằm phục vụ công tác mô phỏng chính sách và dự báo ngắn hạn Mô hình có tổng số 35 phương trình, trong đó gồm 14 phương trình hành vi và 21 phương trình định nghĩa

Năm 1999, nhóm Phân tích Chính sách và Dự báo Kinh tế (Viện Kinh

tế Đức (DIW) xây dựng thử nghiệm tiếp một mô hình kinh tế lượng vĩ mô

Trang 17

dạng cấu trúc áp dụng cho Việt Nam nhằm dự báo mô phỏng chính sách kinh

tế 1998 (Võ Trí Thành, Rudolf Zwiener và một số tác giả) Mô hình được xây dựng trên cơ sở khung hạch toán tổng thể nền kinh tế Việt Nam, nên cơ

sở dữ liệu có tính cập nhật và nhất quán khá cao Mô hình đã ước lượng được GDP theo ngành theo giá so sánh năm 1994, đưa thu nhập thành một

khối quán trọng và giải thích xu thế biến động về thu nhập khả dụng của các

hộ gia đình Các biến ngoại sinh sử dụng trong mô hình như tỷ giá , đầu tư

trực tiếp nước ngoài, cung tiền tệ, sản lượng và giá dầu thô, đầu tư Nhà nước

và một số mục khác của sử dụng cuối cùng Như vậy, mô hình đã cố gắng tính đến tương đối đầy đủ khả năng tác động của các cú “sốc” chính sách và

“sốc” từ bên ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, mô hình vẫn

cần được hoàn thiện tiếp nhằm phục vụ cho công tác phân tích chính sách và

dự báo kinh tế cho Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi, khu vực Nhà nước đang chiếm một vai trò quan trọng hơn so với khu vực này ở các nước khác

Hoạt động dự báo được thực hiện ở các cơ quan của Chính phủ và các Bộ

Bộ kế hoạch và Đầu tư có nhiệm vụ xây dựng dự thảo chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch tổng thể, kế hoạch 5 năm cũng như các kế hoạch hàng năm

Với mục tiêu phục vụ công tác dự báo và mô phỏng chính sách, ngoài

mô hình kinh tế lượng, các cơ quan và các Viện nghiên cứu của Việt Nam đã xây dựng thêm các mô hình khác như: Mô hình cân bằng tổng quát và mô hình tăng trưởng kinh tế tối ưu trọng cung…

Mô hình cân bằng tổng quát năm ngành được các chuyên gia Nhật

Bản kết hợp với chuyên gia Việt Nam xây dựng vào năm 1996 trong khuôn

khổ dự án của NIPPON Mục đích của mô hình này là mô phỏng kế hoạch 5 năm 1996-2000, sau đó mô hình được điều chỉnh và cập nhất bởi các chuyên gia của Viện Chiến lược Phát triển phục vụ mô phỏng các kịch bản của kế

hoạch 5 năm 2001-2005

Trang 18

Mô hình Cân bằng tổng quát 24 ngành mô phỏng mối quan hệ giữa

giảm đói nghèo và tăng trưởng kinh tế của kế hoạch 5 năm 2001-2005 được xây dựng trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu của Việt Nam- Nhật Bản năm

2000

Mô hình cân bằng tổng quát (CGE VNT01) đựpc xây dựng nhằm đánh giá hiệu quả và tác động của tự do hoá thương mại theo những điều kiện để gia nhập AFTA và WTO đối với nền kinh tế Việt Nam

Mô hình tăng trưởng kinh tế tối ưu trọng cung, mô hình tăng trưởng

tối ưu nhiều giai đoạn và nhiều ngành để phân tích tiềm năng tăng trưởng dài

hạn của Việt Nam được các chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam cùng xây

dựng từ năm 1996 trong khuôn khổ dự án NIPPON Mô hình đã được các nhà nghiên cứu thuộc Viện Chiến lược Phát triển điều chỉnh và cập nhật dữ lilệu để mô phỏng tiềm năng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đến năm

2010

Như vậy, dự báo là một vấn đề rất quan trọng để nắm bắt nhu cầu của

thị trường, hình thành nên chiến lược kinh doanh để doanh nghiệp hay một ngành đạt được mục tiêu của mình Để việc dự báo nhu cầu của thị trường đạt kết quả tốt, chúng cần thực hiện nghiên cứu và thực hiện các phương pháp dự báo, qua đó có cái nhìn tổng quát về những vấn đề chúng ta cần dự báo trong tương lai

1.2 các phương pháp dự báo nhu cầu thị trường

1.2.1 X ử lý số liệu thống kê trong phân tích và dự báo

Về nguyên lý, dự báo xu hướng của một nhu cầu thị trường là dựa vào

số liệu thống kê sự vận động, phát triển của hiện tượng đó trong quá khứ và dùng các phương pháp thích hợp để dự đoán hiện tượng trong tương lai Vì

vậy số liệu thống kê có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và là yếu tố cần và

đủ để việc phân tích và dự báo thực hiện được với kết quả cao Thực tế cho

thấy ở Việt Nam, trong nhiều năm qua công tác thống kê chưa được nhận

thức và quan tâm đúng mức nên các số liệu thống kê về một số ngành có chính xác chưa cao

Trang 19

Để nâng cao chất lượng của phân tích và dự báo nhu cầu thị trường,

vấn đề quan trọng là phải có được nguồn số liệu thống kê tin cậy, trung thực

Nếu các con số thống kê đưa ra không phản ánh đúng bản chất của hiện tượng và đã bị sửa đổi theo ý muốn chủ quan của người thu thập và công bố

số liệu thống kê, thì mọi quá trình phân tích, dự đoán chỉ là hình thức Xử lý

số liệu trong khi phân tích dự đoán không phải là làm lại con số đó mà chỉ

nhằm làm cho con số đó chính xác hơn, đúng hơn và loại trừ được những sai

số ngẫu nhiên Đó là cách xử lý mang tính chất khoa học thống kê, không

phải theo ý muốn chủ quan của người điều chỉnh Sau đây là một số cách xử

lý số liệu thống kê khi tiến hành phân tích, dự báo

Đồng nhất số liệu

* Đồng nhất đơn vị đo

* Đồng nhất cách tính các chỉ tiêu liên quan đến giá cả

* Đồng nhất khoảng thời gian thu thập số liệu

* Đồng nhất các số liệu liên quan đến từng vấn đề thuộc nhu cầu thị trường dùng để phân tích

* Đồng nhất cách phân tích các số liệu kinh tế theo một mốc tính toán

* Sử dụng thống nhất một hệ thống các chỉ tiêu để tính toán hay phải chuyển đổi về cùng một hệ thống

Loại bỏ các sai số do kỹ thuật thu thập số liệu thống kê

Thông thường với các sai đó do kỹ thuật thu thập số liệu thống kê gây

ra, có thể sử dụng nhiều cách khác nhau để xử lý, như dùng phương pháp toán học Ví dụ xét một tập các số liệu thống kê về một nhu cầu thị trường theo thời gian là {xi} (i = 1, 2, 3, , n) Giả sử số x* là số liệu nghi ngờ có sai

số, ta có thể sử dụng công thức tính giá trị tới hạn t* (giá trị t* được gọi là giá

trị tới hạn, phụ thuộc vào xác suất tin cậy và số lần xác định các số liệu

thống kê Nếu giá trị t* lớn hơn giá trị cho trong bảng tính sẵn, thì số liệu x*

có sai số và ta loại bỏ số liệu đó Bảng giá trị tới hạn α được tính sẵn và in

ệu thống kê) Để xem xét số liệu này được sử dụng, loại bỏ

Trang 20

hay phải thay bằng giá trị trung bình của tập {xi}, trước hết ta tính giá trị t*

bằng công thức:

s

x x

n 1 i i

x x ( 1 n

1

1 i

Nếu giá trị của t* lớn hơn các giá trị cho trong bản tới hạn α thì giá trị x* bị

loại trừ ra khỏi tập các số liệu thống kê

Lo ại trừ một số yếu tố ngoài giả thiết: Để đảm bảo tính liên tục của

các số liệu đôi khi ta cần phải loại trừ một số yếu tố ngoài giả thiết bằng một trong các phương pháp sau :

+ Phương pháp mở rộng khoảng thời gian

Khi số liệu thống kê thu được chi tiết hoá trong khoảng thời gian quá

hẹp, tính quy luật và tính ngẫu nhiên rất khác nhau, ta có thể mở rộng khoảng thời gian thông qua việc tính trung bình các đại lượng đó trong khoảng thời gian rộng hơn và coi đó là số liệu đặc trưng cho nhu cầu thị trường đó trong khoảng thời gian đã được mở rộng Ví dụ từ số liệu thống kê

sản lượng bán được từng ngày, tuần, ta có thể mở rộng khoảng thời gian theo tháng, quý

+ Phương pháp bình quân số trượt

Việc tính bình quân số trượt có thể giúp cho việc phân bổ các yếu tố

ngẫu nhiên tốt hơn Hay nói cách khác, bình quân số trượt giúp chúng ta tính

Trang 21

lại hệ thống số liệu thống kê đã có thành hệ thống số liệu thống kê mới có

chứa điều hoà hơn các yếu tố ngẫu nhiên

Bi ến đổi số liệu thống kê thô ban đầu sang một số chỉ tiêu khác

+ Trung bình s ố học: Là đại lượng xác định giá trị trung bình của một

tập các số liệu thống kê có tần suất xuất hiện số liệu đó như nhau (thông thường chỉ có một lần) Số trung bình của một tập hợp {xi} (i = 1, 2, 3, , n) bao gồm giá trị của x là x, được xác định bằng biểu thức (1.2)

+ Trung bình s ố học gia truyền: Trong trường hợp số liệu thống kê mô

tả một hiện tượng nào đó xuất hiện với tần số khác nhau thì trung bình của

tập số liệu thống kê {xi} với tần suất xuất hiện của xi là mi được xác định

n 1 i i i

m

m x

x

x x x x

n 1 i i n

n 1 n 4 3 2 1

nhập quốc dân và một số chỉ tiêu khác nữa

+ Trung bình c ủa một tập số liệu thống kê cho theo thứ tự thời gian:

Được sử dụng khi ta muốn tính số liệu trung bình của một đại lượng nào đó trong một khoảng thời gian nhất định, chẳng hạn trung bình của tháng,

Trang 22

quý hay năm, song chúng ta lại chỉ có số liệu của từng thời điểm xác định

của hiện tượng đó Đại lượng trung bình theo thời gian được tính theo công

thức sau :

1 n

x 2

1

x x x 2

1

+ + +

n là số liệu thống kê được (không có tính chất lặp lại, và là các số tự nhiên)

+ Các đại lượng so sánh: Đó là tỷ số nhằm so sánh giá trị của đại

lượng phân tích tại thời điểm nghiên cứu so với các thời điểm khác (năm gốc hay năm kế hoạch), hoặc so sánh giữa các bộ phận cấu thành khác nhau của

hiện tượng quan tâm Có thể sử dụng một số chỉ tiêu so sánh sau :

- Độ gia tăng tuyệt đối giữa hai thời kỳ :

1 i

x

i

1 i

i = +

- Tỷ lệ tăng trưởng bình quân hình học

Trong thực tế tỷ lệ tăng trưởng bình quân hình học rất hay được sử

dụng để tính tỷ lệ tăng trưởng trung bình của các năm, từ năm thứ nhất cho đến năm thứ n so với năm gốc (năm số 0)

Tỷ lệ này được xác định theo công thức :

n n 1 i i n

n 1 n 3 2

=

− α = α α

α α α

=

Nếu thay giá trị của α tính theo công thức (1.8) ta có :

- Tốc độ gia tăng tuyệt đối: Tốc độ gia tăng tuyệt đối của giá trị tại năm thứ (i + 1) so với năm thứ i được xác định bằng biểu thức sau :

Trang 23

n 0

x x

i

i 1 i i 1 i

x x

0

0 i i 1 i

=

1.2.2 Các p hương pháp dự báo nhu cầu thị trường

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay có khoảng 130 phương pháp hay cách tiếp cận để dự báo nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã

hội loài người, trong đó có rất nhiều phương pháp dự báo nhu cầu của thị trường Tuỳ theo từng lĩnh vực cụ thể mà người ta lựa chọn phương pháp dự báo thích hợp để nhận được những kết quả tin cậy Nhìn chung chất lượng

của kết quả dự báo phụ thuộc vào cách lựa chọn phương pháp dự báo Tuy nhiên việc phân chia các loại dự áo cũng chỉ là tương đối, nhưng về nguyên

tắc có thể chia thành những nhóm phương pháp sau :

* Phương pháp dự báo bằng mô hình hoá thống kê

* Phương pháp trọng số điều hoà

* Phương pháp dự báo tương tự hay còn gọi là phương pháp kịch

bản

* Phương pháp dự báo bằng ý kiến chuyên gia - Gọi tắt là phương pháp chuyên gia

* Phương pháp nội suy và ngoại suy

* Phương pháp dự báo sử dụng phần mềm tin học

Với bất kỳ phương pháp nào, kết quả dự báo chỉ là tương đối Kết quả

dự báo phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tác động mà trong một phương pháp chúng ta không thể xem xét được Bài viết dưới đây đi nghiên cứu sâu

về phương pháp mô hình hoá thống kê và phương pháp chuyên gia để dự báo lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn tới

Trang 24

Phương pháp mô hình hoá thống kê: là loại mô hình được sử dụng

rộng rãi nhất trong dự báo, đó là công cụ chủ yếu để phân tích và dự báo

Dựa trên cơ sở các số liệu thống kê về quá khứ và hiện tại, người ta tiến hành xây dựng các mô hình toán kinh tế nhằm miêu tả các đặc trưng nổi bật, xu hướng vận động và phát triển của hiện tượng để từ đó xác định được các số

liệu dự báo về sự vận động và phát triển của hiện tượng trong tương lai Nhiều mô hình toán thống kê có sử dụng hàm sản xuất của Cobb-Douglass,

của Klein đã được áp dụng thành công trong nhiều nước kinh tế phát triển như Mỹ, các nước Tây Âu

Trong phương pháp mô hình hoá thống kê, vấn đề chọn hàm dự báo có

ý nghĩa rất quan trọng Giả sử cần phải dự báo sự thay đổi của chỉ tiêu Y đặc trưng cho nhu cầu thị trường (ví dụ lượng khách quốc tế, sản lượng khai thác than hay số tấn vận tải, sản lượng hàng hoá tiêu thụ.v.v ) trong tương lai Thông qua số liệu thống kê có được của nhu cầu này (số đo các chỉ tiêu nói trên) có thể cho thấy chỉ tiêu quan tâm Y phụ thuộc vào một số yếu tố được đặc trưng bằng các biến số độc lập x1, x2, x3 , xn Trên nguyên tắc mối quan

hệ giữa chỉ tiêu Y và tập biến {xi} được mô tả bằng hàm số :

Y = F(x1, x2, x3,…, xn ) + ξ (1.13) Trong đó :

Y là đại lượng quan tâm dự báo trong mối quan hệ phụ thuộc vào

tập các biến số {xi} (i = 1 đến n)

ξ: Là sai số của dự báo Trong đó mức độ sai số của quyết định

mức độ chính xác của hàm dự báo

* Các tiêu chu ẩn để lựa chọn hàm dự báo :

1 Sai số chuẩn của hàm là nhỏ nhất, nghĩa là hàm dự báo với các giá

trị tính được và số liệu thống kê thu được có độ lệch nhỏ nhất Để xác định tiêu chuẩn này, trong thống kê có sử dụng công thức:

2

* i i

2 n 1

Trang 25

Giá trị của Su phải đạt giá trị nhỏ nhất, trong đó: yi là giá trị thống kê; y*i là giá trị tính theo lý thuyết; n là số giá trị thống kê có được

2 Hệ số tương quan bội đủ lớn, nghĩa là mối quan hệ giữa y và {xi}

phải đủ chặt chẽ để nó thể hiện đúng mối quan hệ của hàm số y với tập {xi}

Hệ số tương quan r được xác định bằng công thức :

S

S 1

2 i

2 n

1

Hàm tương quan y là hàm phụ thuộc theo thời gian Hàm số mô tả sự

vận động và phát triển của hiện tượng kinh tế - xã hội theo thời gian có dạng :

(1.17) f(t)

y *

ylà giá trị trung bình của tập số liệu thống kê đã có và được tính như sau:

n

y y

n 1 i i

=

=

Việc xác định dạng cụ thể xu thế vận động phát triển của hiện tượng

tuỳ thuộc vào số liệu thống kê thu thập được, hay nói khác đi phụ thuộc vào

bản chất của hiện tượng Trong trường hợp đơn giản, với sự phụ thuộc của y theo t là sự tăng dần đều đặn (hay giảm đều đặn), ta có thể chọn sự phụ thuộc này là sự phụ thuộc tuyến tính, nếu chưa tính đến sai số thì phương trình biểu

2

* i

i - y ) (y

Trong đó: y ị thực nghiệm (thống kê) tại thời điểm t = i;

Trang 26

y*i là giá trị tính theo (1.18) cũng tại thời điểm đó

Từ (2.18) ta có công thức tính S như sau :

[y i - (a bt i )]2

=

S ∑ + → tiến tới cực tiểu (1.19) Trong đó {yi} và {ti} là các tập số liệu thống kê của biến số y và t

Hàm S đạt giá trị cực tiểu khi đạo hàm riêng bậc nhất của S theo các biến số

a, b bằng 0 (khi đó coi t và y là tham số, không đổi theo a, b) Bằng các phép

tính, ta có thể tính được hệ số a và b của phương trình (1.19) :

(1.20)

y

) (

)

t

y t n

i

n

Thay giá trị của a, b vào công thức (2.18), tính được giá trị lý thuyết của mối

tương quan y = f(t) Giá trị lý thuyết này đưa vào bảng trên để so sánh với

giá trị thống kê của hàm số đó

Thông thường nếu lựa chọn hàm số này, ta có thể mô tả tập các giá trị

thống kê thành bảng để dễ dàng xác định các hệ số a, b của (1.18)

Để kiểm tra lại độ phù hợp của giá trị tính toán theo hàm số (1.18) với giá trị

thống kê của hiện tượng đã có, ta sử dụng hệ số hồi quy ϕ2 được xác định

bằng biểu thức :

2 i

Trang 27

(1.21) )

y y (

) y - (y

n 1 i

2 i

1 i

2

* i i 2

Giá trị của ϕ2 được xác định trong khoảng từ 0 đến 1 Tức 0≤ ϕ2 ≤ 1 Tuy nhiên trong thực tế khó có trường hợp ϕ2 = 0 (giá trị lý thuyết bằng số liệu

thống kê)

Khi giá trị của ϕ2 tăng và tiến gần đến 1, thì mức độ phù hợp của hàm (2.18) với thống kê càng sai lệch Trong trường hợp đó, cần tìm hàm số khác

và làm lại từ đầu như đã nêu ở trên

Để xác định chính xác khoảng giá trị dự báo, cần tính toán thêm giá trị sai số của giá trị dự báo Hiện nay có khá nhiều công thức dùng để tính sai số

dự báo, một trong số đó như sau :

(1.22) )

(t

) (t + 1 2) - 1)(n - (n

) y - (y t

=

i

2 p 2

* t t n

, e

y b y a

2 - n

y S

2 e

∑ − ∑ − ∑

=

Trong đó tαn là giá trị biến Strudent, phụ thuộc vào độ tin cậy α cũng như số

lần quan sát (giá trị này được tra bảng Student Các đại lượng khác như đã

chỉ dẫn ở trên

Giá trị chỉ tiêu dự báo được xác định trong khoảng cho phép sau :

(1.24) S

y

y * e t

* Nếu số liệu thống kê thu được ít (thời điểm ngắn), thì xác suất

độ tin cậy α càng lớn, sai số càng cao

Trang 28

* Khi α cố định, nếu số liệu thống kê thu được nhiều (khoảng thời gian rộng) thì càng cho kết quả cao, sai số thấp

* Nếu hàm số chọn càng sát với hệ thống số liệu thống kê (tương quan chặt) thì kết quả dự báo càng có độ chính xác càng cao

Sau khi tính toán những giá trị trên, muốn biết độ phù hợp của kết quả

dự báo với thực tế, chúng ta phải tính độ tương quan r; kiểm tra tự tương quan của các biến; kiểm tra sai số chuẩn để khẳng định hàm số chọn là thích

hợp với hiện tượng đang dự báo

Trong trường hợp hàm số được chọn không phải là hàm tuyến tính như đã mô tả mà có thể là hàm : Y = ln (a+bt); Y = e(a+bt), v.v thì cần phải chuyển (hay dùng các thuật toán để chuyển) các dạng hàm đó về dạng hàm tuyến tính bằng cách nâng lên luỹ thừa; Logarit hoá cả hai về, v.v Sau khi

đã tính toán giống như trên, ta đưa các kết quả về giá trị của chỉ tiêu nghiên

cứu bằng phép logarit hoá hay đổi logarit

Khi áp dụng phương pháp mô hình hoá, người ta thường chú ý đến các nhân tố chủ yếu của hiện tượng, còn những lệ thuộc và phụ thuộc không quan trọng khác có thể bỏ qua Đây cũng là hạn chế cơ bản của phương pháp,

do vậy khi sử dụng phương pháp này chúng ta cần tìm thêm các kết quả dự báo bằng các phương pháp khác để so sánh kiểm chứng và điều chỉnh thì kết

luận đưa ra mới mang tính chính xác cao Say đây, chúng ta tiến hành nghiên

cứu phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia: Dự báo bằng phương pháp chuyên gia là

phương pháp được ứng dụng từ lâu trong hoạt động quản lý Nhà nước và trong việc ban hành các quyết định quản lý liên quan đến các hiện tượng kinh tế - xã hội cũng như nhiều trường hợp khác Ngày nay phương pháp chuyên gia được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau như: Hội nghị tư

vấn; phương pháp thăm dò ý kiến; thăm dò dư luận; phương pháp lấy ý kiến các chuyên gia Nhiều quyết định quản lý của Nhà nước đã được đưa ra trên

Trang 29

cơ sở thăm dò ý kiến của các chuyên gia và đã rất thành công trên nhiều lĩnh

vực

Quốc gia nào trên thế giới cũng tôn trọng các ý kiến chuyên gia, ý kiến của

các nhà hoạt động quản lý trên các lĩnh vực khác nhau để đưa ra các quyết định quản lý đúng Nguyên tắc chung của phương pháp dự báo dựa trên ý

kiến chuyên gia được miêu tả bằng sơ đồ hình 2.2

Các bước tiến hành dự báo của phương pháp dự báo chuyên gia, được mô

tả trong sơ đồ hình 2.3

Nội dung của phương pháp dự báo chuyên gia gồm 3 phần sau :

* Lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia trên một số lĩnh vực kinh tế - xã hội nhất định

* Đánh giá các ý kiến của các chuyên gia phân tích, dự báo trên đồng thời bổ sung thêm, phân tích thêm các phương án đã được tập

Các phươn

g

ngh ị

Ý ki ến của các nhà qu ản lý

Phương án quyết định

Hình 2.2 Sơ đồ chung phương phápchuyên gia

Trang 30

* Lựa chọn phương án tối ưu và ra quyết định

Xác định các nhóm chuyên gia

Về nguyên lý, chuyên gia tham gia dự báo bằng phương pháp chuyên gia là

những người có chuyên môn sâu, kinh nghiệm rộng trên lĩnh vực cần nghiên

cứu Họ là những nhà chuyên môn chủ chốt của các ngành và am hiểu sự phát triển của ngành trong quá khứ, hiện tại, những mâu thuẫn đang tồn tại trong quá trình phát triển và những xu hướng phát triển của hiện tượng trong tương lai Những chuyên gia được mời sẽ được chia thành hai nhóm

+ Nhóm chuyên gia tổng hợp: Có nhiệm vụ phân tích kết quả nghiên cứu của các chuyên gia khác, đánh giá và lựa chọn phương án do các chuyên gia khác

kiến nghị Số lượng người trong nhóm này thường tuỳ thuộc vào quy mô của

(gọi tắt là nhóm chuyên gia tổng hợp)

Chuyên gia phân tích, d ự báo và

đề xuất các phương án dự báo (2)

(gọi tắt là nhóm chuyên gia dự báo)

Hiện tượng kinh tế xã hội cần phân tích và

dự báo xu thế vận động và phát triển

án

(nhóm chuyên gia

Phương án

l ựa chọn (mang tính

t ối ưu của

t ập thể chuyên gia)

Chuyển cho các nhà

quản lý

Hình 2.3 Các bước tiến hành dự báo của phương pháp

Trang 31

vấn đề dự báo mà có thể từ 5 - 11 người Song họ phải là những người hiểu nhau, có đồng quan điểm trên các lĩnh vực quan trọng

+ Nhóm chuyên gia dự báo: Có nhiệm vụ phân tích, dự báo các phương án

phản ảnh xu thế vận động và phát triển của hiện tượng trong tương lai Việc

lựa chọn và mời các chuyên gia tham gia nhóm chuyên gia dự báo có thể có nhiều cách khác nhau, song thường sử dụng hai cách chủ yếu sau :

- Ban đầu nhóm chuyên gia tổng hợp mới khoảng 10 - 15 người sau đó đề nghị mỗi người giới thiệu thêm khoảng 2 - 3 người Như vậy sẽ có khoảng

30 - 45 chuyên gia dự báo

- Các chuyên gia tự giới thiệu mình tham gia

Nguyên tắc chung: Càng đông số chuyên gia tham gia càng có nhiều ý kiến phân tích và do đó càng có nhiều phương án dự báo được đưa ra Nhưng số lượng này sẽ bị giới hạn bởi khả năng về tài chính và giới hạn về thời gian Nhóm chuyên gia tổng hợp tiến hành phân tích và quyết định mời chuyên gia nào tham gia Có hai phương pháp để xác định năng lực của các chuyên gia trước khi quyết định mời họ tham gia

* Phương pháp chuyên gia tự đánh giá năng lực của mình theo các thang điểm

* Phương pháp đánh giá theo tiêu chuẩn khách quan

Kết hợp hai phương pháp xác định năng lực của các chuyên gia mời tham gia

dự báo, ta có thể sử dụng công thức sau :

3

2 K K

) 2 ( (1) i i

i K

i là điểm của chuyên gia (i) theo phương pháp 2

+ Để xác định số chuyên gia thực sự được mời, có thể tính hệ số năng lực trung bình của nhóm chuyên gia trong tập thể chuyên gia mời Số điểm trung bình của tập m chuyên gia mời được xác định bằng công thức :

Trang 32

m

K K

m 1 i i m

=

=

Để lựa chọn chuyên gia tham gia nhóm chuyên gia dự báo, ta có thể chọn

những chuyên gia có Ki ≥ Km Trong trường hợp có kinh phí, ta có thể mở

rộng khoảng hệ số năng lực để mời chuyên gia tham gia nhóm dự báo

Ngoài hai phương pháp trên, ta có thể sử dụng phương pháp chuyên gia tự đánh giá các chuyên gia khác Nội dung của phương pháp này cũng dựa vào các chuyên gia để chọn các chuyên gia Những chuyên gia nào được nhiều chuyên gia khác chọn được coi là chuyên gia có năng lực cao Song phương pháp này ít được sử dụng vì tính phức tạp của các vấn đề nằm trong tâm lý người được hỏi ý kiến Thông thường các chuyên gia có mối quan hệ với nhau và họ không muốn đưa ai ra khỏi danh sách cả, mà trong nhiều trường

hợp, họ đưa thêm người khác vào

T ổ chức lấy ý kiến của các chuyên gia trong nhóm chuyên gia dự báo: Đây

là công việc quan trọng nhất của phương pháp chuyên gia và cũng là một trong những hoạt động khó khăn nhất của phương pháp này Trong bước này nhóm chuyên gia tổng hợp cần tiến hành các công việc sau :

* Xây dựng nội dung cần xin ý kiến chuyên gia dự báo: Bằng cách lập các câu hỏi khác nhau liên quan đến hiện tượng đang tiến hành dự báo nhằm xác định được xu thế vận động phát triển của nó trong tương lai

* Tổ chức lấy ý kiến của các chuyên gia dự báo: do nhóm chuyên gia

tổng hựp thực hiện theo các cách sau :

(1) Phương pháp phỏng vấn: Là phương pháp nhanh nhất, đơn giản nhất để

nhận được ý kiến của các chuyên gia dự báo về xu thế vận động và phát triển

của hiện tượng quan tâm Có thể chọn các hình thức phỏng vấn trực tiếp, qua điện thoại, qua thư điện tử (E-Mail), v.v Để đạt kết quả tốt, cần chọn đúng chuyên gia để phỏng vấn

(2) Phương pháp hội thảo: Được coi là phương pháp vận dụng trí tuệ tập thể

để nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của những vấn đề cùng quan tâm

Trang 33

Để đạt kết quả hội thảo tốt những người tổ chức phải tạo ra được bầu không khí gợi mở, có dẫn dắt, có tổng kết, có suy nghĩ của những người tham gia (3) Phương pháp lấy ý kiến chéo: Theo phương pháp này, nhóm chuyên gia

dự báo trong từng nhóm sẽ trao đổi, thảo luận và nêu các quan điểm, ý kiến khác nhau về các xu thế vận động và phát triển của hiện tượng Sau một số

lần tổng hợp, phân tích, xử lý nhóm chuyên gia tổng hợp sẽ có được những thông tin chung nhất Phương pháp này tuy có thể cho nhiều thông tin nhất nhưng cần phải có nhiều thời gian

(4) Phương pháp Delphi: Đây là phương pháp hỏi đi hỏi lại nhiều lần để tìm

ra được sự đánh giá, trả lời đạt độ tập trung, thống nhất cao Phương pháp Delphi được sử dụng khi không thể tổ chức các cuộc hội thảo hay phỏng vấn

Nội dung của phương pháp này thể hiện thông qua hệ thống các câu hỏi được thiết kế để hỏi các chuyên gia về một vấn đề mang tính chất chuyên ngành Các chuyên gia được hỏi phải vận dụng kinh nghiệm của mình về

một lĩnh vực để trả lời các câu hoỉ hoặc lựa chọn một phương án nào đó Sau

mỗi lần các chuyên gia tổng hợp phân tích các câu trả lời và tìm ra các vấn

đề chưa nhất trí để xin ý kiến lần tiếp theo qua một số lần cần thiết, kết quả thu được sẽ đạt độ thống nhất cao Để phương pháp này có hiệu quả, vấn đề quan trọng là phải nêu ra được các câu hỏi để các chuyên gia dự báo có thể định lượng đánh giá; phải có con đường cung cấp thông tin đầy đủ cho nhóm chuyên gia dự báo; các câu hỏi đưa ra dưới dạng mở để yêu cầu giải thích Phương pháp Delphi được áp dụng khá rộng rãi, nhưng cần nhiều thời gian

vì sự thống nhất chậm có được Và sự tác động môi trường có thể làm thay đổi quan điểm của người dự báo

* Xử lý ý kiến chuyên gia :

Có nhiều cách khác nhau để xử lý các ý kiến của các chuyên gia dự báo ví dụ như:

+ Xử lý theo các đặc trưng của phương án mà chuyên gia dự báo cung cấp theo các chỉ số như trung vị, phân vị để xác độ độ hội tụ của các ý kiến

Trang 34

+ Xử lý dựa vào điểm (hạng) của phương án theo sơ đồ ma trận Phương án nào có điểm cao nhất là phương án cần được quan tâm nhiều nhất

L ựa chọn phương án tối ưu và ra quyết định

Trong tập các phương án của nhóm chuyên gia dự báo đưa ra, nhóm chuyên gia tổng hợp lựa chọn ra một phương án tối ưu để chuyển cho các nhà quản

lý ra quyết định Phương án được chọn phải mang tính tối ưu của tập thể chuyên gia

Phương pháp chuyên gia có đặc điểm nổi bật là sự vận dụng rộng rãi

những đánh giá về lượng của các dự báo Song phương pháp này có nhược điểm lớn là sự không cân đối về thành phần các nhóm chuyên gia được hỏi ý

kiến có trình độ chuyên môn thường rất khác nhau và không phải lúc nào cũng cao Hơn nữa trong điều kiện Việt Nam hiện nay việc tạp hợp được đủ

số lượng cá nhân chuyên gia đáp ứng các tiêu chuẩn đặt ra không phải là điều dễ thực hiện

Như vậy, chúng ta đã nghiên cứu khái quát chung về dự báo và phương pháp dự báo phổ biến nhất, đó là phương pháp mô hình hoá thống kê

và phương pháp chuyên gia Trên cơ sở việc nghiên cứu lý thuyết dự báo nói chung và các phương pháp dự báo nói riêng, chương hai sẽ tiến hành nghiên

cứu về thực trạng tình hình du khách tới thị trường Việt Nam, qua đó sẽ tiến hành dự báo lượng khách quốc tế đến thị trường Việt Nam giai đoạn 2005 -

2010 đồng thời có những kiến nghị nhằm thu hút du khách quốc tế tới Việt nam trên cơ sở dự báo trên

Trang 35

PH ẦN 2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TH Ị TRƯỜNG KHÁCH QU ỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM NĂM 1992 – 2004

2.1 Khách du l ịch và thu hút khách du lịch:

2.1.1 Khách du lịch và phân loại khách du lịch:

Khách du lịch là yếu tố quan trọng nhất để ngành du lịch hoạt động

và phát triển Chỉ khi có khách, ngành du lịch mới bán được sản phẩm của mình, không có khách thì hoạt động du lịch trở nên vô nghĩa Đứng trên góc độ thị trường thì cầu du lịch chính là yêu cầu của khách du lịch về hàng hoá và dịch vụ, còn cung du lịch là sự cung cấp sản phẩm của các nhà kinh doanh du lịch cho du khách Có rất nhiều khái niệm khác nhau

về khách du lịch Tuy nhiên, trước khi tìm hiểu khái niệm khách du lịch, chúng ta tìm hiểu khía niệm của du lịch

Theo pháp lệnh du lịch Việt nam, Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định Xuất

phát từ đây, chúng ta đi tìm hiểu một số khái niệm về khách du lịch của một số tổ chức và các nhà khoa học

Nhà kinh tế học người Áo Jozep Stander định nghĩa: “ Khách du lịch

là những hành khách đặc biệt, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi những mục đích kinh tế”

Nhà kinh tế người Anh Olgilvi lại khẳng định: Để trở thành khách du lịch phải hội đủ một số đặc điểm: phải đi xa nhà dưới thời gian là một năm Ở đó phải tiêu tiền mà mình kiếm được ở nơi khác Khách du lịch

nói chung bao gồm khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa

Theo định nghĩa của Hội nghị quốc tế về Du lịch ở Hà Lan năm 1989: “Khách du lịch quốc tế là những người đi hoặc sẽ đi tham quan mọt

Trang 36

đất nước khác với các mục địch khác nhau trong khoảng thời gian nhiều nhất là ba tháng, nếu trên ba tháng phải được cấp giấy phép gia hạn Sau khi kết thúc thời gian tham quan, lưu trú, khách du lịch bắt buộc phải rời khỏi nước đó để đi đến nước khác hoặc trở về”

Do vậy, những người được coi là khách du lịch quốc tế bao gồm: những người đi vì lý do sức khoẻ, giải trí; những người đi để tham gia các hội nghị, hội thảo, thế vận hội… những người đi tham gia các cuộc hành trình trên biển dài ngày Những người không được coi là khách du lịch quốc tế gồm: những người sang nước khác không theo hợp đồng có tính chất dài ngày; những người nhập cư ở lại; những cư dân vùng biên giới và những người cư trú ở một nước, làm việc ở nước khác; học sinh, sinh viên học trong các trường nội trú

Khách du lịch nội địa là những người đi xa nhà với khoảng cách ít nhất là 50 dặm vì các lý do khác nhau trừ khả năng thay đổi chỗ làm việc trong khoảng thời gian cùng ngày hoặc qua đêm Những người không được coi là khách du lịch nội địa, nhân viên làm việc trên các phương tiện vận chuyển dân dụng; những người thay đổi địa điểm làm việc; học sinh, sinh viên nội trú

Trong pháp lệnh Du lịch vừa được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội X

thông qua và chủ tịch nước đã công bố thì: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”

Như vậy, chúng ta có thể hiểu, khách du lịch chính là người đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí hoặc kết hợp công việc với các nhu cầu này Trên thực tế, khách du lịch rất đa dạng và phong phú về quốc tích, lứa tuổi, nhu cầu Chúng ta cần phân loại khách để tìm hiểu, nắm rõ hơn đối tượng khách đang khai thác và đối tượng khách cần hướng vào trong

Trang 37

tương lai Qua nghiên cứu thị trường khách nguồn, có thể đưa ra những biện pháp hữu hiệu hơn trong khai thác và phù hợp với khả năng của doanh nghệp, của ngành du lịch quốc gia Có nhiều cách phân loại khách theo đặc điểm quốc tịch, mục đích chuyến đi, nguồn khách đến, giới tính, động cơ đi du lịch

Phân loại theo quốc tịch:

Cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, nhu cầu du lịch của các

du khách thuộc nhiều quốc gia cũng tăng lên đáng kể Dịch vụ du lịch xuất hiện đầu tiên ở châu âu - nơi có nền kinh tế phát triển nhất thế giới, sau đó hoạt động du lịch phát triển dần sang các nước thuộc châu á, châu Mỹ, châu úc,… Đến nay, hoạt động du lịch là hoạt động không thể không có của hầu hết các quốc gia trên thế giới, hầu hết các du khách quốc tế đến từ rất nhiều nới trên thế giới

Khách đến từ các quốc gia, từ các vùng khác nhau mang theo nền văn hoá riêng của dân tộc mình Chính sự khác nhau đó đã dẫn đến sự khác nhau về thói quen tiêu dùng: do đó phải có những thay đổi phù hợp trong phục vụ Do vậy, đất nước đón khách du lịch quốc tế phải có những thay đổi nhất định đồng thời cũng phải gìn giữ những bản sắc riêng của mình, đay chính là một trong những yêu cầu để thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế

Phân loại theo mục đích của chuyến đi

Mọi hoạt động của con người đều có mục đích Tìm hiểu được mục đích của khách để mà qua đó kích thích tiêu dùng sản phẩm du lịch của quốc gia là việc làm rất khó Thông thường người ta chia thị trường khách nguồn thành các nhóm chủ yếu:

- Khách công vụ: Đây là khách vào một nước để đi làm việc kết hợp

du lịch Họ đến nhằm giải quyết công việc như cung cấp hàng hoá, ký kết hợp đồng, tìm thị trường … Đặc điểm của đối tượng này thường là đến

Trang 38

thành phố, nơi có hoạt động kinh tế sôi nổi, thời gian lưu lại ngắn, khả năng thanh toán cao, ít chịu tác động giá và thời vụ, thích yên tĩnh

- Khách du lịch thuần tuý: Loại khách này thường đến những điểm có tiềm năng du lịch, có tài nguyên du lịch Họ thích các hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động văn hoá thể thao, rất nhạy bén với giá cả và chịu tác động của thời vụ du lịch Đối tượng khách này có thể là khách du lịch thăm thân nhân, nghiên cứu, chữa bệnh, lễ hội…

Phân loại theo nguồn khách đến

Khách đến theo nhiều nguồn khác nhau, có thể là trực tiếp cũng có thể là gián tiếp từ các hãng lữ hành, các đại lý du lịch, các hãng hàng không… Ngày nay có rất nhiều các tổ chức tham gia vào thị trường gửi khách do đó việc phân loại nguồn khách sẽ giúp thấy được vai trò của các

tổ chức trung gian, từ đó sẽ thiết lập mối quan hệ hợp tác với các cơ quan gửi khách Đối với một quốc gia, một tổ chức kinh doanh du lịch có thể sử dụng các kênh phân phối sau:

Sơ đồ 1.1.1: Các kênh phân phối sản phẩm du lịch

Trang 39

- Kênh 1 (Kênh ngắn trực tiếp): khách liên hệ trực tiếp với tổ chức

cung cấp sản

hãng lữ hành, các đại lý du lịch, các hãng hàng không, thường là khách đi theo chương trình du lịch

phòng đại diện, chi nhánh, bạn hàng của nước ngoài, thường là khách quốc tế và thương gia

là tổ chức hay cơ quan nhà nước, chủ yếu là khách công vụ

- Kênh 5 (Kênh dài): Khách đến đất nước thông qua các hãng lữ hành, các đại lý du lịch, các hãng hàng không của cả hai nước nhận và gửi khách

Phân loại theo giới tính

Hành vi tiêu dùng của con người bị ảnh hưởng của giới tính Nữ giới thường có những hành vi tiêu dùng khác hẳn với nam giới trong chuyến du lịch Họ mua nhiều hàng lưu niệm hơn, họ quan tâm đến cách bài trí phòng và quan tâm đến giá cả… Các cơ sở kinh doanh du lịch của quốc gia nên quan tâm đến vấn đề này vì theo xu hướng hiện nay khách du lịch thường là nữ

Phân loại theo động cơ đi du lịch và hành động (phân loại của Cohen):

Cohen đã tìm ra những nét cơ bản về tâm lý xã hội của các loại khách du lịch Cách phân loại của Cohen dựa trên động cơ đi du lịch của khách và các hành động tương hỗ của họ với điểm đến du lịch Cách phân loại này có tác dụng cho những nhà kinh doanh du lịch mau chóng tìm hiểu được những nhu cầu của khách hàng Cohen phân thành 4 loại khách như sau:

Trang 40

Bảng 1: Phân loại khách du lịch của Cohen

1 Khách du lịch đại trà đi có tổ chức:

Tính mạo hiểm thấp Họ thường

mua tour trọn gói đã có sẵn, được

hướng dẫn đến điểm du lịch mà ít

có quan hệ với người địa phương,

với văn hoá địa phương Muốn duy

trì môi trường bao quanh họ trong

chuyến đi

Du lịch có tổ chức:

Kinh doanh đều đặn

v ới ngành du lịch- hãng điều hành tour,

lữ hành, khách sạn

và điều hành vận

chuyển

Tính quen thuộc

Tính khác lạ

2 Khách du lịch đại trà đi lẻ:

Tương tự như nhóm trên nhưng linh

hoạt hơn và có cơ hội để xây dựng

theo sự lựa chọn cá nhân Tuy nhiên

tour vẫn được ngành du lịch tổ chức

và môi trường bao quanh bảo vệ họ

khỏi trải nghiệm thực tế của điểm du

lịch

1 Nhà “thám hiểm”:

Chuyến đi du lịch được tổ chức độc

lập và họ mong đợi thoát khỏi dường

mòn lối cũ Tuy hiên họ tìm cơ sở lưu

trú tiện nghi và giao thông tin cậy khi

môi trường bao quanh bị bỏ rơi, bị lâm

vào cảnh khó khăn

Du lịch không có tổ chức:

Du lịch cá nhân, hợp đồng với ngành du lịch chỉ khi rất cần thiết hoặc bắt buộc

2 “Người đánh lưới”:

Từ chối liên hệ với ngành du lịch

và các chuyến đi muốn càng xa nhà,

càng xa sự thân quen thì càng tốt

Không có lộ trình được định sẵn, họ

sống với nhiều người địa phương, trả

tiền theo cách của họ và chìm đắm

trong văn hoá của địa phương

Ngày đăng: 11/11/2018, 16:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w