Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là một chiến lược và chiến thuật tài chính, điều quan trọng là các nhà quản trị sử dụng các chiến thuật này như thế nào để hoạt động của doanh nghiệp
Trang 1ĐÀM PHƯƠNG LAN
SÔNG CÔNG THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TR ẦN TRỌNG PHÚC
HÀ NỘI - 2004
Trang 2Lời nói đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
rong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường luôn luôn biến động, từ đó xuất hiện những cơ hội
có thể đem lại lợi nhuận cũng như rủi ro cho doanh nghiệp Trong xu thế tất yếu của hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế thì muốn tồn tại
và phát triển các doanh nghiệp không những phải đủ sức mạnh cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước mà phải đủ lực cạnh tranh quốc tế Muốn vậy các doanh nghiệp phải chấp nhận luật chơi chủ yếu dựa vào quy luật của nền kinh tế thị trường Quá trình hội nhập là tất yếu đối với tất cả các nước muốn phát triển kinh tế trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay Trong cùng một sân chơi, một môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp phải biết khẳng định mình bằng cách luôn tự làm mới mình, biết phân tích nhận rõ các đối thủ thực
và đối thủ tiềm ẩn để cạnh tranh trên các phương diện, bởi trong môi trường
đó luật pháp được đặt ra cho các doanh nghiệp áp dụng là như nhau, các
doanh nghiệp cần phải tôn trọng luật pháp, tôn trọng các hiệp ước, các thoả thuận đã ký, đồng thời cũng phải tôn trọng các đối thủ cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là động lực bên trong thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng Trong những điều kiện đó, các nhà quản trị phải nhận thức được rằng nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là công việc vừa bức xúc, vừa lâu dài, là nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành của ban quản trị và sự nỗ lực, phấn đấu của chính bản thân doanh nghiệp Để thực hiện được điều đó thì công tác làm đổi mới các hoạt động của doanh nghiệp mà đi đầu là công tác tái cấu trúc tài chính
T
Trang 3luôn là bước đi đầu tiên trong công tác hoạch định đối với các doanh nghiệp thành công trên thị trường Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp là một chiến lược và chiến thuật tài chính, điều quan trọng là các nhà quản trị sử dụng các chiến thuật này như thế nào để hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả nhất,
ty Diesel Sông Công và qua nghiên cứu thị trường Việt nam để tiến hành tái cấu trúc tài chính tại Công ty Diezen Sông công Thái Nguyên nhằm phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia và khu vực
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:
Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác tái cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp nói chung
Vận dụng để tái cấu trúc tài chính ở các doanh nghiệp và ứng dụng tại Công ty Diezel Sông Công Thái nguyên
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Các tài liệu nghiên cứu
- Nhóm các tài liệu nghiên cứu liên quan đến phương pháp nghiên cứu khoa học
- Nhóm các tài liệu về tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp
Trang 4- Nhóm các tài liệu về kế toán tài chính và kế toán quản trị
- Nhóm các tài liệu về các văn bản pháp luật: các luật thuế, luật doanh nghiệp, chế độ kế toán tài chính trong hệ thống các văn bản pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam
4.2 Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát: thông qua trao đổi với các chuyên viên tài chính của Công ty Diesel Sông Công để nắm bắt được cơ chế tài chính, phương pháp dự báo các chỉ tiêu tài chính và quá trình tái cấu trúc tài chính
mà Công ty đã áp dụng
- Phương pháp điều tra: theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài tiến hành điều tra, thu thập số liệu liên quan đến tình hình tài chính và công tác tái cấu trúc tài chính của Công ty
- Phương pháp phân tích hệ thống: dựa trên 2 công cụ cơ bản là quy nạp và diễn dịch
- Phương pháp mô hình: dự báo tài chính, kiểm tra
- Phương pháp thống kê phân tích
5 Nội dung cơ bản của đề tài:
Tên đề tài " Tái cấu trúc tài chính tại Công ty Diesel Sông công Thái nguyên"
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu làm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lý luận về tài chính và tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp Phần 2: Phân tích thực trạng tình hình tài chính của Công ty Diesel Sông
Công Thái nguyên
Phần 3: Vận dụng tái cấu trúc tài chính tại Công ty Diesel Sông Công Thái
nguyên
Trang 5Phần 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH VÀ TÁI CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Doanh nghiệp và vấn đề tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Hiện nay trên phương diện lý thuyết đã có khá nhiều định nghĩa thế nào
là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó một nội dung nhất định với một giá trị nhất định Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi một định nghĩa được xét trên một hoặc một số tiêu thức khác nhau và đứng trên
nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước thông qua luật pháp và chính sách thuế
Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản
phẩm với giá thành của sản phẩm ấy (M.Francois Peroux)
Trang 6Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu
vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được (kinh tế doanh nghiệp - D.Larua.A Caillat )
Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức và nhân
sự
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa, nhưng dù xem xét doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau, song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp
Từ cách nhìn nhận như trên có thể phát biểu về định nghĩa doanh
nghiệp như sau: "Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy
tụ các phương tiên về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối
đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội"
1.1.2 Lý thuyết cạnh tranh - Cơ sở tái cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp
Trước xu thế toàn cầu hoá trong kinh doanh đang từng ngày, từng giờ tạo nên những áp lực cạnh tranh hết sức gay gắt, tạo ra nhiều áp lực đối với các doanh nghiệp trên các lĩnh vực như chất lượng sản phẩm, chiến lược cạnh tranh, tiềm lực tài chính đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới và
Trang 7không ngừng cải tiến nhằm nâng cao hiệu năng quản trị, nâng cao vị thế cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển bền vững Quá trình hội nhập đã đặt các doanh nghiệp vào một môi trường chung mà trong đó, quy luật thị trường, quy luật cạnh tranh, các hiệp ước, các thoả thuận giữa các doanh nghiệp được đặt lên vị trí cao khi tham gia hoạt động Trong môi trường đó không chỉ có các đối thủ thực sự doanh nghiệp cần phải tìm hiểu mà còn có các đối thủ tiềm ẩn có sức cạnh tranh lớn có thể quyết định tới sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp có liên quan
Năm 1990, Giáo sư Michael Porter ở trường ĐH kinh doanh Harvard cùng các cộng sự đã nghiên cứu sự vận động, phát triển và thành công của hơn 100 ngành công nghiệp của 10 nước trên thế giới đã cho ra đời “Lý thuyết kim cương” - lý thuyết mới về sức cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày nay Ông cho rằng có bốn phẩm chất tổng quát tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia trên thương trường quốc tế Đó là:1 các yếu tố trời cho; 2 Sức cầu nội địa; 3 Sự tồn tại hay thiếu vắng của các ngành công nghiệp có tính hỗ trợ hay liên quan; 4 Chiến lược, cơ cấu cùng sức cạnh tranh nội địa của các công ty Bốn phẩm chất này được ví như bốn đỉnh cacbon tạo nên viên kim cương của lý thuyết
Thứ nhất là các yếu tố trời cho Đây là yếu tố hiện hữu, có thật và đã
có trong hiện tại mỗi doanh nghiệp Chúng được chia ra thành hai loại: căn bản (basic) và tiên tiến (advanced) Yếu tố căn bản gồm có những yếu tố sản xuất: tài nguyên, địa lý, nhân chủng học Yếu tố tiên tiến gồm cơ sở hạ tầng
về viễn thông, tay nghề, các phương tiện nghiên cứu, kỹ năng, công nghệ Các yếu tố tiên tiến đóng vai trò quan trọng trong lợi thế cạnh tranh bởi chúng là kết quả của sự đầu tư của chính quyền và dân chúng
Thứ hai là sức cầu nội địa Nó rất quan trọng để thúc đẩy lợi thế cạnh
tranh Các doanh nghiệp thường nhạy bén với nhu cầu khách hàng ở sát mình
Trang 8Nhu cầu nội địa sẽ thúc đẩy doanh nghiệp phải đáp ứng, phải cạnh tranh về mặt chất lượng và đổi mới Nhu cầu nội địa tạo nên sức mạnh cho sản phẩm, các sản phẩm phải khẳng định được chính mình ngay tại thị trường nội địa, phải tạo được niềm tin ngay trong giới tiêu dùng nội địa, khi đó phát triển ra thị trường thế giới mới có sức cạnh tranh Trong điều kiện hội nhập các sản phẩm có sức tiêu thụ và mức độ tin tưởng cao ở ngay sân nhà, sẽ hội nhập và đạt đỉnh cao dù ở bất cứ thị trường nào mà không sợ bị hoà tan với các sản phẩm cùng loại Các doanh nghiệp sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh nếu người tiêu dùng nội địa tỏ ra khó tính trong việc chọn hàng Điện thoại di động của Nokia hay của Ericsson đã tràn ngập thế giới là vì đòi hỏi không ngừng của người tiêu thụ nội địa vùng Bắc Âu
Thứ ba là sự tồn tại hay thiếu vắng của các ngành công nghiệp có tính hỗ trợ hay liên quan Yếu tố này sẽ giúp cho doanh nghiệp có lợi thế
cạnh tranh Đây là hiệu ứng tiếp nối trong sản xuất (lịnage effect) Các lợi ích thu được từ một sự đầu tư vào các yếu tố tiên tiến của một ngành nào đó mà ngành này lại hỗ trợ hay có liên quan đến một ngành khác thì ngành sau này
sẽ được hưởng lợi từ ngành trước Các doanh nghiệp nếu tận dụng được yếu
tố này sẽ luôn làm mới sản phẩm của mình bằng chính các sản phẩm hỗ trợ Thí dụ, sự dẫn đầu về công nghệ chất bán dẫn của mỹ vào những năm giữa thập kỷ 1980 đã thúc đẩy việc sản xuất máy vi tính cá nhân cùng một loạt các sản phẩm điện tử cao cấp Hệ quả của việc này là các ngành công nghiệp thành công trong một nước sẽ dính chùm vào nhau
Thứ tư là chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh nội địa của các doanh nghiệp Phẩm chất này ảnh hưởng nhiều đến lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp Khi các Công ty bị buộc phải cạnh tranh để giành khách hàng
trong nước thì họ cũng bị thúc đẩy phải nâng cao chất lượng, giảm giá thành, cải tiến quản lý khi ấy họ sẽ có sức cạnh tranh với bên ngoài Lý thuyết
Trang 9Marketing hiện đại cũng đã chỉ ra rằng để sản phẩm có sức cạnh tranh và ngày càng nâng cao sức cạnh tranh thì người chủ cần phải biết tự làm lạc hậu sản phẩm của mình khi người tiêu dùng thấy sản phẩm đó đã cũ Đây chính là một chiến lược marketing của các doanh nghiệp nổi tiếng trên thế giới Hãng Nokia là một điển hình Phần Lan là xứ lạnh lẽo, đi lại khó khăn, nhu cầu về điện thoại cao; do đó có nhiều hãng nhỏ cung cấp về dịch vụ này Cũng do điều kiện địa lý việc kéo dây đặt cột cho điện thoại tốn kém, và nhu cầu về điện thoại không dây tăng cao Nokia thoạt đầu là một tổ hợp sản xuất vỏ xe, dụng vụ điện và họ bèn đi vào lĩnh vực này Vì dân Phần lan quen dùng điện thoại của hãng nào rẻ nhất, bất kể là của Motorola, Ericsson hay bất kể cả ai, Nokia bị buộc phải cạnh trnah về giá thành và công nghệ Kết quả là họ đã thành công vượt trội Đây chính là đỉnh cacbon thứ tư được sinh ra từ 3 đỉnh
cacbon kia đồng thời nó cũng là đỉnh làm nổi bật chúng
Đến đây các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng mỗi quốc gia có ý tưởng khác nhau về quản trị kinh doanh và điều này tác động ít nhiều vào việc tạo nên lợi thế cạnh tranh
Hoạt động của doanh nghiệp, phương pháp quản lý và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu dựa trên cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Ngược lại các quyết định chủ yếu về tài chính có thể ảnh hưởng lớn đến kế hoạch hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vấn đề tài chính liên quan đến mọi hoạt động của doanh nghiệp vì các quyết dịnh quản lý hầu như được đưa
ra sau những cân nhắc kỹ càng về tài chính Việc quản lý tài chính ở doanh nghiệp được thực hiện với "3 nguyên tắc vàng":
• Không bao giờ để thiếu tiền (đảm bảo năng lực thanh toán)
• Đưa ra các quyết định đầu tư đúng (hiệu quả cao)
• Đưa ra các quyết định tài trợ hợp lý (chi phí sử dụng vốn thấp)
Trang 10Với 3 nguyên tắc này đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải có khả năng đưa ra được các quyết định phù hợp với mục đích và mục tiêu của doanh nghiệp đồng thời phải có khả năng tổ chức thực hiện các mục tiêu đó
Mặt khác hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và kinh tế hội nhập luôn luôn biến động và phức tạp kéo theo hàng loạt các vấn đề mà doanh nghiệp phải tính tới : nhu cầu thị trường, khả năng của các đối thủ cạnh tranh, tình hình chính trị, xã hội trong nước và của thế giới, nội lực của doanh nghiệp Trong điều kiện ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh nhất là khi nền kinh tế đất nước hội nhập vào AFTA thì tình cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn Để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển được thì bản thân doanh nghiệp cần phải có những chính sách đầu
tư thích hợp và một hệ thống các giải pháp đồng bộ từ chính sách đầu tư thích hợp; áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất
và chất lượng; sử dụng có hiệu quả đồng vốn Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên tái lập toàn bộ các mặt hoạt động của mình Tài chính với chức năng nhạy cảm nhất so với các yếu tố khác của quá trình sản xuất là một điểm nút rất quan trọng cần phải tái cơ cấu một cách hợp lý để định hướng cho các yếu tố sắp xếp lại sau
Quá trình tái cấu trúc tài chính trong doanh nghiệp tuân theo vòng tròn PDCA (chu trình W Edwards Deming) - tái cấu trúc không ngừng như sau :
Trang 11P: Tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp và sử dụng nghiên cứu này trong việc hoạch định tài chính (lập kế hoạch)
D: Tiến hành hoạch định tài chính (tái cấu trúc tài chính)
C: Kiểm tra quá trình tái cấu trúc tài chính so sánh với kế hoạch đã đặt
ra (kiểm tra)
A: Thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích điều chỉnh những sai sót (hành động)
1 2 Tài chính và phân tích tình hình tài chính trong doanh nghiệp
1.2.1 Vai trò của tài chính hỗ trợ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là mối quan hệ giá trị giữa các doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Về bản chất, tài chính doanh nghiệp
là mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Về hình thức tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hoá của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của Doanh nghiệp Vai trò của tài chính trong doanh nghiệp được thể hiện:
Thứ nhất, tài chính là cơ sở vật chất cần thiết trực tiếp tạo ra tiềm lực
tài chính để doanh nghiệp nâng can khả năng cạnh tranh của mình Thông qua quá trình động viên, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính, Nhà nước
có thể thay đổi chính sách động viên, phân phối nguồn lực tài chính trong doanh nghiệp, từ đó tác động, điều chỉnh tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, góp phần kiềm chế hoặc kích thích năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp
Trang 12Thứ hai, tài chính tác động làm thay đổi tiêu chí đánh giá khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp Để nâng cao khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp phải xác định được lợi thế vốn có của mình so với những đối thủ khác Những lợi thế đó được biểu hiện thông qua đánh giá các tiêu chí cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Tài chính, thông qua sự vận động của các luồng tiền tệ, có thể làm thay đổi các tác nhân liên quan đến quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm,
từ đó làm thay đổi các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ ba, thông qua sử dụng các đòn bẩy kích thích, tài chính vừa tạo ra
động lực, vừa tạo ra áp lực thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh bằng cách gắn lợi ích kinh tế của từng chủ thể cạnh tranh với việc đạt được các tiêu chí cạnh tranh Đây là vai trò vốn có của tài chính, chiếm ưu thế hơn các công cụ kinh tế khác
Vai trò quan trọng của tài chính trong việc thúc đẩy và nâng cao năng lực cạnh tranh là ở chỗ, tác động của công cụ này có ảnh hưởng sâu rộng đến hầu hết các hoạt động kinh tế, xã hội, đến đầu tư và tiêu dùng, có thể trực tiếp
và gián tiếp ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các chủ thể trong quá trình phát triển cạnh tranh
1.2.2 Phân tích cơ cấu tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Phân tích chung về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Kỹ năng phân tích tài chính đóng vai trò quan trọng đối với nhiều đối tượng rộng rãi khác nhau, bao gồm các nhà đầu tư, những người cho vay và các cơ quan quản lý nà nước Nhưng không ở nơi nào có tầm quan trọng hơn
là ở tại các doanh nghiệp Bất kể ngành nghề kinh doanh, quy mô doanh nghiệp ra sao, các nhà quản trị doanh nghiệp đều cần trang bị kỹ năng này để
có thể chuẩn đoán chính xác hướng đi của doanh nghiệp và dự đoán được hệ quả tài chính từ các hoạt động của mình
Trang 13Mỗi nhà phân tích khác nhau, tuỳ theo mục đích, họ có thể phân tích đánh giá trên một khía cạnh nào đó về bức tranh tài chính của doanh nghiệp theo các phương pháp phân tích khác nhau Một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến là đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua từng báo cáo tài chính, sau đó liên kết các chỉ tiêu trên các báo cáo để đánh giá toàn diện về tình hình tài chính của doanh nghiệp Để đưa
ra một sự đánh giá trung thực, khách quan về thực trạng tài chính hay những
dự đoán tài chính cho tương lai đòi hỏi nhà phân tích không những phải nắm vững về báo cáo tài chính, phương pháp phân tích, mà còn phải am hiểu về đặc điểm của từng ngành, thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp
Để thấy được một cách rõ hơn về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, ta cần đi sâu xem xét sự phân bổ về tỷ trọng của tài sản, nguồn vốn, cũng như sự biến động từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán để đánh giá sự phân bổ tài sản, nguồn vốn có hợp lý hay không và xu hưởng biến động của nó như thế nào Việc đánh giá khái quát tình hình tài chính thường được thực hiện thông qua việc so sánh các số liệu, chỉ tiêu tổng thể trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh
1.2.2.2 Phân tích các báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính Trong đó, bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh cung cấp những thông tin rất hữu ích cho việc đánh giá sức mạnh tài chính, khả năng thanh khoản, rủi ro và lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng các báo cáo này không thể cho người xem xác định được các điểm mạnh, điểm yếu của một doanh nghiệp mà phải thông qua việc tính toán các chỉ số tài chính Việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp được thực hiện trên cơ sở phân tích tổng quát và phân tích chi tiết từng chỉ tiêu
Trang 14Phương pháp phân tích chung tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp là phương pháp so sánh mức tăng trưởng các chỉ tiêu tổng thể trên bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh Đầu tiên là so sánh tổng tài sản cuối kỳ và đầu năm, sự so sánh này có thể cho thấy sự thay đổi về quy
mô hoạt động của doanh nghiệp cũng như khả năng huy động vốn của doanh nghiệp Tiếp theo là sự so sánh về doanh thu, chi phí, lợi nhuận các hoạt động trên báo cáo kết quả kinh doanh, điều đó cho thấy quy mô hoạt động đồng thời có thể đưa ra những nhận xét ban đầu về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên tài sản, nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận, chi phí tăng giảm
do rất nhiều nguyên nhân, do vậy cần phải đi sâu xem xét, phân tích mối quan
hệ và sự biến động của các khoản mục trong Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh, xem xét sự biến động của mỗi khoản mục và so sánh sự thay đổi tỷ trọng mỗi khoản mục giữa các kỳ khác nhau Khi so sánh mức độ thay đổi mỗi khoản mục tài sản hoặc nguồn vốn bằng số chênh lệch tuyệt đối cũng như số tỷ lệ, có thể thấy được về số lượng, qui mô của mỗi khoản mục cũng như thấy được những khoản mục có sự thây đổi nổi bật Sự thay đổi lớn của mỗi khoản mục nào đó so với mức thay đổi chung của các khoản mục khác luôn luôn phải được quan tâm xem xét kỹ trong quá trình phân tích Các
tỷ trọng được xem xét:
+ Tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn
Sự tăng hay giảm tỷ trọng này phản ánh sự tăng hay giảm tính tự chủ
về tài chính của doanh nghiệp Tỷ trọng nguồn vốn sở hữu càng thấp, sự phụ thuộc về tài chính của doanh nghiệp vào các khách hàng và chủ nợ càng cao,
về nguyên tắc sự gia tăng tỷ trọng này so với lúc ban đầu hoạt động kinh doanh là tốt Tổng nguồn vốn chủ sở hữu cũng như tỷ trọng nguồn vốn chủ sở
T ỷ trọng nguồn vốn
CSH/T ổng nguồn vốn Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Trang 15hữu phụ thuộc vào lượng vốn góp nhờ liên doanh liên kết và phụ thuộc vào kết quả kinh doanh cũng như chính sách phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp
+ Tỷ suất đầu tư tài sản cố định: tỷ suất này phản ánh tình hình trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật, trang bị tài sản cố định hiện tại của doanh nghiệp, cho thấy tỷ trọng tài sản cố định đơn vị đang sử dụng so với toàn bộ tài sản Tỷ suất này tăng cho thấy năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp
+ Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định: tỷ suất này cho thấy tỷ lệ về vốn chủ
sở hữu dùng để trang bị cho tài sản cố định Doanh nghiệp có khả năng về tài chính vững vàng và lành mạnh thì tỷ suất này thường > 1 Sẽ mạo hiểm khi doanh nghiệp phải đi vay ngắn hạn để mua sắm tài sản cố định, vì tài sản cố định thể hiện năng lực kinh doanh lâu dài nên không thể thu hồi nhanh chóng được
Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp các thông tin hữu ích cho việc đánh giá sức mạnh tài chính, khả năng thanh khoản, rủi ro và lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng thật không dễ dàng để có thể xác định một cách chính xác những điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp mà chỉ bằng cách xem xét các báo cáo này Thông qua phân tích các chỉ sổ tài chính, ta có thể đánh giá khá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, đồng thời các chỉ số tài chính còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp qua nhiều giai đoạn và
so sánh với các doanh nghiệp khác trong ngành hoặc so sánh với giá trị trung bình ngành
Tỷ số phản ánh khả năng thanh toán
Để biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh hay không, từ đó dự đoán khả năng tồn tại, phất triển, cần xem xét đến khả năng
Trang 16thanh toán của doanh nghiệp Nếu mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp sẽ
đi dần đến bờ vực của sự phá sản, phải tự giải thể vì vỡ nợ Khả năng thanh
toán là khả năng chi trả các khoản nợ bằng tiền vốn của doanh nghiệp Bởi vậy để có khả năng thanh toán kịp thời các khoản nợ, doanh nghiệp phải duy trì một mức luân chuyển vốn hợp lý để đáp ứng kịp thời các khoản nợ ngắn hạn, duy trì các loại hàng tồn kho để đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi Ta có thể sử dụng một số hệ số khả năng thanh toán để đánh giá sau:
1 Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn (The Current Ratio - R c )
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động đối với nợ ngắn hạn Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn là tỷ lệ giữa tài sản lưu động với các khoản nợ ngắn hạn, nợ ngắn hạn là các khoản nợ mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả trong khoảng một thời gian ngắn (thường là dưới một năm)
Ngoài việc căn cứ vào hệ số R c để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp là tốt hay xấu, ta cũng cần xét đến các yếu tố sau:
+ Bản chất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Cơ cấu tài sản lưu động
+ Hệ số vòng quay của một số tài sản lưu động
Tài sản lưu động của doanh nghiệp phụ thuộc vào bản chất kinh doanh,
do đó khi nghiên cứu tính hợp lý của hệ số thanh toán ta cũng cần nghiên cứu ngành kinh doanh của doanh nghiệp đó Khi giá trị của tỷ số này giảm cho thấy khả năng trả nợ của doanh nghiệp giảm và mức độ rủi ro khánh tận tài chính đã gia tăng, khi giá trị của tỷ số này cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh khoản cao Tuy nhiên khi giá trị của tỷ số này quá cao thì chứng tỏ
R c = Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Trang 17việc quản trị tài sản của doanh nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, hay nợ phải thu hoặc hàng hoá tồn kho Mặt khác khi Rc < 1 chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho các loại tài sản
cố định Chiến lược tài trợ này đặt doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản bởi không có sự phù hợp về thời gian đáo hạn giữa nợ ngắn hạn và tài sản cố định Trong nhiều trường hợp tỷ số này khôna gphản ánh chính xác khả năng thanh khoản, bởi nếu hàng hoá tồn kho là những loại hàng hoá khó bán thì doanh nghiệp rất khó biến chúng thành tiền để trả nợ Bởi vậy, ta cần quan tầm tới tỷ số thanh toán nhanh
2 Hệ số thanh toán nhanh (The Quick Ratio - R q )
Hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng thanh khoản thực sự của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng chuyển đổi các loại tài sản lưu động thành tiền để đáp ứng những yêu cầu thanh toán cần thiết
Do các loại tồn kho có khả năng thanh khoản thấp bởi việc biến chúng thành tiền có thể mất khá nhiều thời gian nên không được tính vào tỷ số này Giá trị tỷ số này càng cao thì mức độ rủi ro khánh tận của doanh nghiệp càng thấp, song hiệu quả quản trị tài chính của doanh nghiệp cũng càng thấp Bởi những tài sản này không tạo ra lợi nhuận, hay có thể sinh lời thấp cho doanh nghiệp
3 Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt
Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt so sánh mối quan hệ giữa vốn bằng tiền
Trang 18Vốn bằng tiền trong chỉ tiêu này có thể bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn nếu sự chuyển hoá các khoản đầu tư chứng khoán trở thành tiền một cách dễ dàng, thuận lợi và nhanh chóng
Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt là một tiêu chuẩn khắt khe hơn tỷ lệ thanh toán nhanh, nó đòi hỏi cần phải sẵn có tiền để thanh toán
4 Hệ số thanh toán lãi vay
Chi phí lãi vay là một khoản chi tương đối ổn định và có thể tính toán trước Khoản tiền mà doanh nghiệp dùng để chi trả lãi vay là thu nhập trước thuế và lãi vay
Tỷ số này dùng để đánh giá khả năng đảm bảo chi trả lãi nợ vay đối với các khoản nợ dài hạn và mức độ an toàn có thể có của ngươì cung cấp tín dụng Ngoài ra người ta còn quan tâm tới khả năng chi trả nợ vay (gốc và lãi):
5 Tỷ lệ tự tài trợ và tỷ lệ nợ
Tỷ lệ tự tài trợ thể hiện mối quan hệ so sánh giữa nguồn vốn chủ sở hữu với tổng nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng Tỷ lệ nợ so sánh giữa nợ phải trả và nguồn vốn đang sử dụng:
Tỷ lệ tự tài trợ + Tỷ lệ nợ = 1
Hệ số chi trả lãi vay =
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Chi phí lãi vay
Hệ số chi trả nợ gốc và lãi vay Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Chi phí lãi vay
Trang 19Cả hai tỷ lệ này đều cho thấy khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp Khi tỷ lệ tự tài trợ càng cao (nghĩa là tỷ lệ nợ càng thấp) cho thấy mức
độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp càng cao, ít bị ràng buộc bởi các chủ
nợ, hầu hết tài sản của doanh nghiệp được đầu tư bằng nguồn vốn chủ sở hữu
Các chỉ tiêu phản ánh tình hình luân chuyển vốn
6 Tỷ số vòng quay hàng tồn kho (Inventory R I )
Tỷ số vòng quay hàng tồn kho đo lường mối quan hệ giữa doanh số bán
và mức tồn kho của các loại thành phẩm, nguyên vật liệu
Độ lớn của tỷ số này phụ thuộc vào các yếu tố như: ngành kinh doanh, mức tiêu thụ sản phẩm, tính mùa vụ, thời điểm nghiên cứu
Giá trị của tỷ số này càng cao càng cho thấy doanh nghiệp hoạt động đang có hiệu quả trong chừng mực có liên quan đến hàng dự trữ Ngược lại giá trị của tỷ số thấp chứng tỏ rằng giá trị của các loại hàng tồn kho quá cao
so với doanh số bán và số ngaỳ hàng nằm trong kho càng cao, khi đó hiệu quả quản trị ngân quỹ lưu động của doanh nghiệp càng thấp bởi ngân quỹ lưu động bị tồn đọng trong hàng hoá quá lâu
Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần
Vốn lưu động bình quân
Trang 209 Tỷ số vòng quay toàn bộ tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn hiện
có của doanh nghiệp, được tính bằng quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và tổng số tài sản
10 Tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, được tính bằng quan hệ so sánh giữa doanh thu thuần và vốn chủ sở hữu
Các chỉ tiêu phản ánh tình hình công nợ
11 Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả
12 Vòng luân chuyển các khoản phải thu
Vòng luân chuyển các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp Trong đó doanh thu thuần bao gồm doanh thu thuần bán hàng, thu nhập hoạt động tài chính và thu nhập khác Các khoản phải thu bình quân được tính bằng bình quân các khoản phải thu đầu kỳ và cuối kỳ Vòng quay các khoản phải thu cao chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, điều này nhìn chung là tốt vì doanh nghiệp
Vòng quay toàn bộ tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Doanh thu thuần Vòng quay vốn chủ sở hữu = Doanh thu thuần
Vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ các khoản phải thu so
với các khoản phải trả
Tổng nợ phải thu
Tổng nợ phải trả
Vòng quay các khoản phải thu = Các khoDoanh thu thuản phải thu bình quân ần
Trang 21không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu Tuy nhiên, nếu vòng luân chuyển quá cao thì đồng nghĩa với kỳ thanh toán ngắn, do đó có thể ảnh hưởng tới khối lượng sản phẩm tiêu thụ
13 Kỳ thu tiền bình quân (Average Collection Period - ACP)
Kỳ thu tiền bình quân là số ngày bình quân mà 1 VND hàng hoá bán ra được thu hồi Kỳ thu tiền bình quân được xác định:
Kỳ thu tiền bình quân nhằm đánh giá việc quản lý của doanh nghiệp đối với các khoản phải thu do bán chịu Số ngày trong kỳ thu tiền bình quân thấp chứng tỏ doanh nghiệp không bị đọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản nợ “khó đòi” Ngược lại nếu tỷ số này cao, doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn động nợ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị phần thông qua bán hàng trả chậm, trả góp hay tài trợ cho các chi nhánh đại lý nên dẫn tới số ngày thu tiền bình quân cao
Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
14 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (Net profit Margin on Sales)
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lợi của một đồng doanh thu thuần,
nó được xác định bằng quan hệ so sánh giữa lợi nhuận sau thuế với doanh thu thuần:
Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả hay ảnh hưởng của chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (Net Return on assets Ratio - R
ACP = Khoản phải thu
Doanh thu bán chịu bình quân
Trang 22Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản đo lường khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp, được xác định:
16 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời của vốn chủ sở hữu, được xác định bằng quan hệ so sánh giữa lợi nhuậu sau thuế và vốn của chủ sở hữu:
Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu là một chỉ tiêu phổ biến nhất dùng để
đo lường tình hình tài chính của các doanh nghiệp Có thể nói sự nghiệp của phần lớn các nhà đầu tư và các nhà quản lý cao cấp thăng trầm theo sự lên xuống của ROE ở doanh nghiệp họ bởi hiệu quả của đồng vốn các chủ sở hữu được thể hiện ngay trong ROE Công việc của các nhà quản trị là phân tích và điều khiển các chỉ tiêu này sao cho đạt được hiệu quả nhất Cũng bởi các chỉ tiêu tài chính có mối quan hệ tương tác qua lại lẫn nhau, một yếu tố không thể xoay chuyển được tình hình kinh doanh, do vậy các yếu tố ảnh hưởng tới tính hiệu quả của đồng vốn cũng cần được các nhà quản trị quan tâm
Sơ đồ phân tích tài chính
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế
Trang 23TS x TS
DTT x DTT
LN
Sự biến động về mức sinh lời của vốn chủ sở hữu được phân tích dựa trên sự biến động của ba nhân tố: lợi nhuận biên, vòng quay tài sản và đòn cân tài chính
1 3 Tái cấu trúc tài chính là sự phù hợp các mục tiêu cụ thể
1.3.1 Một số khái niệm
1.3.1.1 Cơ cấu tài chính
Cơ cấu tài chính là cách thức mà Doanh nghiệp cung cấp tài chính cho các tài sản của mình Như vậy cơ cấu tài chính là toàn bộ tài sản của Doanh nghiệp xét về góc độ nguồn hình thành tài sản
1.3.1.2 Cơ cấu vốn
Cơ cấu vốn là các khoản tài trợ thường xuyên được thể hiện chủ yếu bởi các khoản nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, cổ phần đại chúng nhưng không kể các khoản tín dụng ngắn hạn Như vậy cơ cấu vốn của một Doanh nghiệp chỉ
là một phần cơ cấu tài chính của Doanh nghiệp đó
1.3.1.3 Hoạch định tài chính
Hoạch định tài chính là việc dự kiến chi tiết các chỉ tiêu tài chính trong
hệ thống quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp cần thực hiện trong tương lai, từ đó xác lập nguồn vốn đảm bảo cho các chỉ tiêu tài chính được thực hiện nhằm cung cấp thông tin phù hợp cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc điều hành và quản lý kinh doanh để đưa ra được những quyết định đúng đắn nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp có hiệu quả cao và đạt được mục tiêu đã xây dựng
Thực chất hoạch định tài chính là lập các kế hoạch tài chính, là xây dựng các mục tiêu cần đạt được trong kỳ kế hoạch và xác định các bước thực hiện để đạt được mục tiêu
Trang 241.3.2 Nhu cầu hoạch định tài chính
Mục đích của các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp trong điều hành
và quản lý kinh doanh là sử dụng thông tin kinh tế để đề ra quyết định đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả cho hoạt động của doanh nghiệp Trong hệ thống thông tin kinh tế đó thf những thông tin liên quan đến hoạch định tài chính như: dự báo doanh thu, dự báo chi phí, dự báo kết quả hoạt động kinh doanh,
dự báo bảng cân đối kế toán… là những thông tin thực sự cần thiết cho các quyết định của nhà quản trị
Thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung thì hầu như các chỉ tiêu kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận… đều được hoạch định tổng thể và được giao từ trên xuống cho doanh nghiệp Kết quả là làm giảm tính linh hoạt, năng động và tính tích cực trong cạnh tranh Chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải đối mặt với thị trường đòi hỏi cần phải chủ động, linh hoạt và tích cực hơn trong cạnh tranh, lấy thị trường làm điểm xuất phát để tìm hiểu, lập kế hoạch mục tiêu kinh doanh cho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra Hoạt động của doanh nghiệp nếu không có chiến lược, không có sách lược sẽ không vững chắc lâu dài Như vậy có thể thấy rằng, trong điều kiện nền kih tế thị trường các doanh nghiệp muốn kinh doanh lâu dài, hoạt động ổn định và vững chắc cần phải có chiến lược hoạch định tổng thể và hạch định cho từng thời kỳ
1.3.3 Sự cần thiết phải tái cấu trúc toàn diện các mặt hoạt động cho phù hợp với các động thái kinh tế mới của nền kinh tế xã hội
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và kinh tế hôịi nhập luôn luôn biến động phức tạp kéo theo hàng loạt các vấn đề mà doanh nghiệp phảo tính tới như: nhu cầu thị trường, khả năng của các dối thủ trong nước và ngoài nước, tình hình chính trị, xã hội trên
Trang 25thế giới, nội lực của doanh nghiệp như vốn, tài sản, lao động, uy tín… Trong điều kiện ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh, nhất là khi nền kinh tế đất nước hội nhập vào AFTA thì tính cạnh tranh càng khốc liệt hơn Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần phải có nhiều chính sách đồng bộ từ chính sách đầu tư thích hợp, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất và chất lượng, sử dụng có hiệu quả đồng vốn, tinh giảm bộ máy quản lý, cải tiến phương pháp bán hàng… tất cả đều nhằm làm giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng nhằm kích thích người mua
từ đó củng cố thị trường hiện có, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh… đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên tái lập toàn bộ các mặt hoạt động của mình
Tái cấu trúc toàn bộ các mặt hoạt động trong doanh nghiệp bắt nguồn
từ tái cấu trúc tài chính , bởi mọi hoạt động của doanh nghiệp suy cho cùng cũng là vì mục tiêu tài chính và xuất phát cũng từ tài chính
Tái cấu trúc tài chính là việc thiết lập lại cơ cấu các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện trong tương lai gần, đồng thời xác lập nguồn vốn đảm bảo cho các chỉ tiêu đó được thực hiện nhằm cung cấp thông tin cho các nhà quản trị, điều hành doanh nghiệp đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn đem lại hiệu quả cao và đạt được mục tiêu trong kinh doanh
Thực chất của tái cấu trúc tài chính là việc xây dựng các kế hoạch tài chính dựa trên cơ sở phân tích cơ cấu tài chính hiện tại, xây dựng các mục tiêu cần đạt được trong kỳ kế hoạch và các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đó.
Xuất phát từ nhu cầu liên tục cải thiện Liên tục cải thiện là nền móng cho sự thành công trên thương trường Nhu cầu của khách hàng không đứng yên mà liên tục thay đổi, mục đích của doanh nghiệp là đáp ứng được yêu cầu
Trang 26của thị trường Do vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp là cơ
sở xuất phát để đề ra các quyết định đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả đối với hoạt động của doanh nghiệp? Tồn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sẽ luôn phải đối mặt với thị trường, đòi hỏi cần phải chủ động, linh hoạt và tích cực hơn trong cạnh tranh, lấy thị trường làm điểm xuất phát để tìm hiểu, lập kế hoạch mục tiêu, kinh doanh cho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra
Trong điều kiện nền kinh tế đất nước hội nhập vào AFTA với nhiều thách thức và cơ hội đặt ra cho các doanh nghiệp, thì sức cạnh tranh của các doanh nghiệp đòi hỏi phải được nâng cao Thị phần của doanh nghiệp bị thu hẹp hay rộng hơn phụ thuộc vào năng lực quản trị của các nhà quản trị doanh nghiệp, phụ thuộc vào khả năng nắm bắt thời cơ, vận dụng thời cơ, khả năng hoạch định các chiến lược tổng quát và cụ thể cho doanh nghiệp, đồng thời còn phụ thuộc vào nhận thức sự cần thiết phải thường xuyên tái lập các mặt hoạt động mà đi dầu là hoạt động tài chính
1.3.4 Trình tự tái cấu trúc tài chính
Trình tự tái cấu trúc tài chính được xuất phát từ thực trạng của doanh nghiệp, thực tế tình hình thị trường, điều kiện và khả năng của doanh nghiệp được các nhà quản trị phân tích đánh giá, tiến hành lập dự toán (hoạch định) tài chính Quá trình này được tiến hành từ cấp quản trị cơ sở, lập và trình lên cấp quản trị cấp trên Ở cấp này, nhà quản trị căn cứ vào dự toán tài chính cấp dưới lập đồng thời kết hợp với phân tích doanh nghiệp một cách toàn diện theo một thể thống nhất với tầm bao quát lớn để xây dựng kế hoạch thiết lập lại cấu trúc tài chính của toàn doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
1.4 Dự báo tài chính
Trang 27Dự báo là một phương pháp khoa học dựa vào sự phân tích toàn diện quá khứ và hiện tại để đưa ra những tiên đoán cho tương lai với những giả thiết nào đó Dự báo có nhiệm vụ làm rõ khung cảnh ở tương lai với những nét cơ bản nhất, làm rõ xu thế phát triển và quy luật vận động của các hiện tượng, sự vật trong tương lai
Trong dự báo tài chính có nhiều phương pháp dự báo đã được sáng tạo
ra, sử dụng những kỹ năng khá tinh vi hoặc được đánh giá theo trực giác của người dự báo, các phương pháp khác nhau có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau và giữa chúng có sự khác biệt khá lớn về cả chi phí và cách thức tiến hành Tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của từng doanh nghiệp để vận dụng các phương pháp dự báo khác nhau sao cho phù hợp Việc lựa chọn phương pháp dự báo phụ thuộc vào yêu cầu về mức độ chính xác của dự báo vào khả năng thực hiện dự báo cuả doanh nghiệp Người ta có thể chia các phương pháp dự báo thành 3 nhóm:
Dự báo bằng phương pháp tương tự: căn cứ vào hiện tượng, sự vật
tương tự xảy ra để dự báo các sự vật, hiện tượng có liên quan
Phương pháp chuyên gia: dựa vào ý kiến đánh giá của các chuyên
gia, xử lý các ý kiến đó để đưa ra dự báo Tuỳ theo mức độ quan trọng của dự báo để chọn các chuyên gia có kinh nghiệm khác nhau
Dự báo bằng phương pháp thống kê toán học: là phương pháp dựa
vào số liệu thống kê và các ứng dụng toán học trong thống kê để xử lý số liệu,
từ đó đưa ra kết quả dự báo
Ta có thể tham khảo một số hương pháp dự báo sau:
Phương pháp dự báo bình quân ∑
=
n
t t
Y
1
Trang 28Phương pháp này được áp dụng đối với những doanh nghiệp có quy luật tiêu thụ trong một khoảng thời gian nhất định nào đó Theo phương pháp này đòi hỏi số lượng thống kê phải đủ lớn
Phương pháp dự báo trung bình cộng
Phương pháp trung bình cộng là phương pháp kết hợp của phương pháp giản đơn và phương pháp bình quân Số khoảng thời gian thường được chọn n
= 3 đến 5 Khi đó, mức dự báo ở kỳ (t + 1) sẽ là:
3
2 1 1
+ + +
+ +
= t t t t
Y Y Y
Phương pháp dự báo bình quân di động
Phương pháp bình quân di động là phương pháp kết hợp của phương pháp giảm đơn và phương pháp trung bình Khi muốn dự báo doanh số của kỳ tiếp theo, chúng ta có thể sử dụng số liệu của những kỳ quá khứ gần nhất để
dự báo với công thức:
Trong đó- Yt: doanh thu dự báo
Yt: doanh thu kỳ hiện tại
N: số điểm dữ liệu quá khứ
Phương pháp dự báo bình quân di động có trọng số
Trong phương pháp bình quân di động sự ảnh hưởng của n số liệu mới nhất đến kết quả dự báo như nhau Nhưng theo phép tư duy logic thì bao giờ yếu tố hiện tại cũng ảnh hưởng nhiều đến tương lai Các sự kiến, yếu tố càng
Yt + 1 = 1
n (yt + yt - 1 + yt - 2 + + yt - n + yt - n + 1)
Yt + 1 = 1
n (yt + yt - 1 + yt - 2 + + yt - n + yt - n + 1)
Trang 29xa quá khứ thì mức độ ảnh hưởng đến tương lại càng giảm dần Để đảm bảo tăng độ chính xác của dự báo, người ta dụng phương pháp bình quân di động
có trọng số
Theo phương pháp bình quân di dộng có trọng số, với mỗi số liệu trong quá khứ, ta gán cho một hệ số cụ thể thể hiện mức độ ảnh hưởng của nó đến kết quả dự báo Cụ thể:
i t n
i i t
Phương pháp dự báo bình phương cực tiểu
Giả sử rằng có số liệu thống kê doanh thu theo thời gian:
Tại thời điểm t1 có doanh thu Y1
Tại thời điểm t2 có doanh thu Y2
Tại thời điểm tn có doanh thu Yn
Giả sử mối quan hệ trên là tuyến tính thì Y = at + b với a, b là hằng số
Vấn đề đặt ra là trên cơ sở số liệu thống kê đó sao cho tổng sai lệch của
số thống kê là nhỏ nhất:
2 1
1
(Y at b S
Trang 30Để giải bài toán này ta lấy đạo hàm riêng của S theo a và b, ta có hệ phương trình:
) (
2
1
b at Y a
S
i n
S
i n
2 1
i i n
i
t b t a Y t
1 1
n
i i n
i i
Đây là hệ phương trình bậc nhất 2 ẩn số a và b, giải ra ta có kết quả a và b Sau đó tiến hành kiểm nghiệm lại qua hệ số tương quan
( )( )
y t
n
i
i i ty
s ns
y y t t r
n
i i
n
i i
∑
=
=
( )2 1
2
n
t t s
n
i i t
2
n
y y s
n
i i y
∑
=
−
=
Nếu rty= 0,65 đến 1 là tin cậy được
Mục tiêu của các tổ chức sản xuất kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận
“Dự toán tài chính” thường được xem như là “kế hoạch lợi nhuận” Mục tiêu của dự báo tài chính là căn cứ vào thực trạng hoạt động của doanh nghiệp để
dự báo tài chính cho doanh nghiệp trong ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn nhằm hoạch định và kiểm soát kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh với hình thức kết quả là các báo cáo tài chính dự toán: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Để đảm bảo tính chính xác của các báo cáo dự toán các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp không thể bỏ qua khâu dự toán mức doanh thu đạt được kỳ kế hoạch Doanh thu bán hàng là điểm khởi đầu của hầu hết các báo cáo tài chính
1.4.1 Dự báo doanh thu
Trang 31Dự toán doanh thu tiêu thụ là khởi đầu và là cơ sở cho mọi dự toán Do vậy, dự toán doanh thu phải dựa trên cơ sở số lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến Để dự kiến được sản lượng tiêu thụ, doanh nghiệp phải phân tích các điểm sau:
- Tình hình tiêu thụ các kỳ kế toán trước
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh tiêu thụ sản phẩm
- Chính sách giá cả sản phẩm, khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ
- Chính sách quảng cáo, khuyến mại
- Xu hướng phát triển kinh tế của ngành, lĩnh vực doanh nghiệp hoạt động
- Thu nhập của người tiêu dùng
- Các chính sách chế độ, thể lệ của Nhà nước
- Dự kiến những biến động về kinh tế, xã hội trong và ngoài nước
1.4.2 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dự toán
1.4.2.1 Phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh số
Phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu là một phương pháp khá đơn giản Về cơ bản nó dựa trên giả thiết cho rằng với các chi phí khả biến và hầu hết đối với tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ
sự biến động của doanh thu
Bước thứ nhất là xem xét các dữ liệu lịch sử để xác định các khoản
mục trong báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thay đổi theo tỷ lệ với doanh thu trong quá khứ
Bước thứ hai là dự báo doanh thu Bởi vì có rất nhiều khoản mục sẽ
được kết nối một cách trực tiếp, hữu cơ với doanh thu do đó nó cần phải được
dự báo càng chính xác càng tốt
Dự toán doanh thu Dự toán sản
phẩm tiêu thụ Đơn giá bán sản phẩm
Trang 32Bước thứ ba là dự báo các khoản mục trong báo cáo kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh theo doanh thu dự báo mới nhất
Doanh thu thuần của các mặt hoạt động trong doanh nghiệp bao gồm:
- Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Doanh thu thuần của hoạt động tài chính
- Doanh thu thuần của hoạt động khác
1.4.2.2 Phương pháp chi tiêu kế hoạch
Phương pháp chi tiêu theo kế hoạch được xây dựng dựa trên những thông tin liên quan đến thời kỳ tương lai mà doanh nghiệp sẽ xây dựng báo cáo dự kiến cho nó Tính hợp lý của phương pháp này là tỷ lệ các khoản mục được kỳ vọng sẽ có thay đổi so với quá khứ Do đó, hiển nhiên là ban lãnh đạo doanh nghiệp phải quyết định cần dành bao nhiêu nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu đề ra, điều đó có nghĩa là cần phải lập dự toán
các chỉ tiêu chi phí trong tương lai căn cứ vào doanh thu đã được dự báo
Dự toán giá vốn hàng bán
Để xây dựng giá vốn hàng bán người ta căn cứ vào số liệu của các dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung dự toán Những dự toán này được bắt đầu từ dự toán sản xuất của doanh nghiệp Việc lập dự toán sản xuất đảm bảo lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu thụ và duy trì một mức tồn kho dự trữ thành phẩm cuối kỳ một cách hợp lý
Qsx = Qt + Qc - Qd Trong đó
Qsx: khối lượng sản phẩm sản xuất dự toán
Qt: khối lượng sản phẩm tiêu thụ dự toán
Qc: nhu cầu sản phẩm tồn kho cuối kỳ
Trang 33Qd: nhu cầu sản phẩm tồn kho đầu kỳ
Trong trường hợp mức dự trữ hàng tồn kho không được lập kế hoạch một cách cẩn thận, mức tồn kho cuối kỳ có thể thừa gây nên sự thiếu vốn không cần thiết và lãng phí các chi phí bảo quản Ngược lại nếu không hoạch định hợp lý mức dự trữ có thể quá thấp buộc hệ thống sản xuất phải nỗ lực với những chi phí tốn kém trong kỳ tiếp theo và doanh thu có thể bị giảm sút
vì không đủ khả năng giao dịch đúng lịch
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xây dựng dựa trên cơ sở
dự toán sản xuất và định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Việc thu mua nguyên vật liệu cần phải đảm bảo cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu cho nhu cầu sản xuất sản phẩm theo dự toán sản xuất đã được lập; đồng thời phải đảm bảo một mức tồn kho tối thiểu hợp lý đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục không bị gián đoạn Mức tồn kho nguyên vật liệu nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm nguyên vật liệu, tính thời vụ của nguyên vật liệu, xu hướng biến động của giá cả nguyên vật liệu
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Nhu cầu nhân công trực tiếp phụ thuộc vào kế hoạch sản xuất, do đó,
dự thảo chi phí nhân công trực tiếp cũng phải xuất phát từ dự toán sản xuất
Để lập dự toán chi phí nhân công tực tiếp, ta phải định mức thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm và xác định đơn giá cho một giờ công lao động Định mức thời gian lao động trực tiếp để hoàn tất một đơn vị sản phẩm trải qua nhiều giai đoạn, ta có thể tính định mức
Dự toán CPNVLTT
Dự toán
sản xuất CPNVLTT Định mức
D ự toán NVL dùng cho sx
Trang 34thời gian cho từng công việc rồi tổng cộng các định mức để hoàn tất sản phẩm.Đơn giá cho một giờ công lao động bao gồm lương và các khoản phụ cấp tính cho một giờ lao động
Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí thuộc phạm vi phân xưởng ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, bao gồm: lương phải trả cho nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí vật liệu, công
cụ dụng cụ trong phân xưởng, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí năng lượng dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác sử dụng cho hoạt động sản xuất trong phân xưởng Dự toán chi phí sản xuất chung được lập theo dự toán biến phí sản xuất chung và dự toán định phí sản xuất chung
Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Khi lập dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp người
ta thường tiến hành dựa vào định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho từng đơn vị sản phẩm tiêu thụ
Dự toán chi phí và thu nhập hoạt động tài chính và hoạt động khác
- Dự toán hoạt động tài chính là dự toán các hoạt động có liên quan đến đầu tư tài chính như chứng khoán, cho vay, kinh doanh bất động sản…
- Dự toán hoạt động khác là dự toán các hoạt động không xảy ra thường xuyên trong doanh nghiệp như hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản, được
phạt hoặc bị phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế
1.4.2.3 Phương pháp kết hợp
Là phương pháp kết hợp giữa hai phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu và phương pháp chi tiêu theo kế hoạch Trong đó những chỉ tiêu nào có khuynh hướng tỷ lệ với doanh thu và không phải tốn nhiều công sức để dự
Dự toán chi phí
NC trực tiếp Dsự toán SP ản xuất Định mức thời gian SX 1SP Định mức đơn
giá một giờ công
Trang 35toán giá trị tương lai thì áp dụng phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu Còn những chỉ tiêu có những biến động lớn so với tỷ lệ trên doanh thu của chúng trong quá khứ thì ta có thể áp dụng phương pháp chi tiêu theo kế hoạch như: giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, các chi phí và thu nhập hoạt động tài chính và hoạt động khác
1.4.3 Bảng cân đối kế toán dự toán
Trong thực tiễn quản lý tài chính doanh nghiệp luôn luôn nảy sinh nhu cầu dự báo để định hướng cho những bước đi trong tương lai bằng việc chỉ ra một bảng cân đối kế toán dự toán Đối với phần lớn các nhà quản trị kinh doanh, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì thú vị hơn bảng cân đối kế toán do bó cáo kết quả cho biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp, Nhưng đối với các nhà quản trị tài chính thì ngược lại Khi mục tiêu của công việc là ước tính nguồn tài chính cần thiết trong tương lai, các báo cáo thu nhập chỉ được quan tâm ở một mức độ nào đó khi mà nó còn ảnh hưởng tới bảng cân đối kế toán Đối với các nhà quản trị tài chính, bảng cân đối kế toán là quan trọng hơn cả Để lập bảng cân đối kế toán dự toán thường có 3 phương pháp cơ bản: phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu, phương pháp sử dụng các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng của doanh nghiệp
và phương pháp kết hợp
1.4.3.1 Phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu
Đây là phương pháp dự báo ngắn hạn, đơn giản nhưng đòi hỏi phải có
sự hiểu biết rõ về quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời phải hiểu tính quy luật của mối quan hệ giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm với tài sản, lợi nhuạn cần phân phối của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán dự toán được lập theo phương pháp này được tiến hành theo các bước sau:
Trang 36Bước 1 - Tính số dư các tài khoản trên bảng cân đối kế toán của năm báo
cáo
Bước 2 - Lựa chọn những khoản chịu sự biến động trực tiếp và quan hệ chặt
chẽ với doanh thu cần đạt được trong năm
- Dùng tỷ lệ phần trăm đó để ước tính nhu cầu sử dụng vốn kinh doanh, dựa trên dự toán tiêu thụ (dự toán doanh thu tiêu thụ)
Bước 3 - Lập kế hoạch huy động vốn kinh doanh trên cơ sở kết quả kinh
doanh thực tế
1 4.3.2 Phương pháp sử dụng các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng
Theo phương pháp này người ta căn cứ vào các chỉ tiêu tài chính đặc trưng đã được xây dựng cho tương lai, từ đó xác định các chỉ tiêu trong bảng cân đối tài chính dự kiến
1.4.3.3 Phương pháp kết hợp
Để lập bảng cân đối kế toán dự toán ngườu ta cũng có thể sử dụng kết hợp cả hai phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu và phương pháp sử dụng các nhóm tỷ số tài chính đặc trưng:
Bước 1 - Xác định tỷ lệ phần trăm doanh thu của các chỉ tiêu trên bảng cân
đối kế toán: các khoản mục phần tài sản và các khoản mục phần nợ phải trả tăng tự động theo doanh thu (phải trả người cung cấp, phải trả, phải nộp Nhà nước )
Bước 2 - Xác định tổng số nguồn vốn hiện có đảm bảo cho toàn bộ tài sản, từ
đó tìm phần chênh lệch giữa Tài sản và Nguồn vốn hiện có Phần chênh lệch
đó là nhu cầu vốn cần đáp ứng
Nhu cầu vốn cần đáp ứng bằng nguồn bên trong hay bên ngoài phụ thuộc vào các quyết định tài chính về hạn mức các tỷ số tài chính mà nhà quản trị tài chính mong muốn cho tương lai Dựa theo đó để xây dựng Bảng cân đối kế toán dự kiến theo nhiều phương án khác nhau
Trang 37Bên cạnh đó ta có thể tiến hành dự báo trên máy vi tính Bằng cách này
công tác dự báo đơn giản hơn để có thể đưa ra được các báo cáo tài chính theo yêu cầu và phục vụ tốt hơn cho công tác phân tích Ta chứng minh phương pháp này bằng việc trình bày qua chương trình excel: (xem phụ lục số 1)
Trang 38Chương II
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY DIEZEN SÔNG CÔNG
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Diesel Sông công
Công ty Diezen Sông Công(DISOCO) thuộc Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp – Bộ Công Nghiệp, đóng tại phường Lương Châu, thị
xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Công ty Diezen Sông Công là một công trình hữu nghị do nhà nước Liên Xô (cũ ) giúp đỡ Việt Nam dây dựng bắt đầu khởi công từ tháng 2 năm 1976 Đến ngày 25 tháng 4 năm 1980 Nhà máy Diezen Sông Công được thành lập theo quyết định số 118/chất lượng - CB của Bộ trưởng Bộ cơ khí và luyện kim, bắt đầu sản xuất nhằm khai thác các hạng mục xây dựng đã hoàn thành và kết thúc cơ bản việc xây lắp vào tháng
12 năm 1988 Sau đó do yêu cầu sản xuất kinh doanh, nhà máy được thành lập lại và đổi tên thành công ty Diezen Sông Công theo quyết định số 268 QD/TCNSĐT ngày 22- 5- 1993 của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp nặng, được
Sở Kế Hoạch & Đầu tư tỉnh Bắc Thái (cũ) cấp giấy phép kinh doanh số
109438 ngày 26 tháng 3 năm 1995
Với tổng diện tích là 17 ha trong đó diện tích nhà xưởng chiếm 3/4, Công
ty Diezen Sông Công được trang bị dây chuyền thiết bị đồng bộ sản xuất động
cơ Diezen lớn duy nhất ở nước ta (công suất 55, 60 ,80 mã lực) DISOCO còn được cấp bản quyền sản xuất động cơ 4 - 8 mã lực theo thiết kế và công nghệ của Italia Nhiệm vụ ban đầu là sản xuất động cơ Diezen 50 cv(gọi tắt là D50
và D50 L) phục vụ phát triển cơ giới hoá nông nghiệp và các ngành kinh tế khác(như để lắp máy kéo MTZ 50 và máy thuỷ loại nhỏ) Hiện nay, nhằm tận dụng hết năng lực to lớn và đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường,
Trang 39DISOCO đã sản xuất các động cơ Diezen từ 50 –105 cv, động cơ Diezen nhỏ 6- 15 cv, động cơ xăng 6- 8 cv, máy thuỷ từ 50 –105 cv, đặc biệt công ty mạnh dạn chuyển sang sản xuất thép xây dựng φ6 - φ25 phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu
DISOCO có nhiều loại thiết bị chuyên dụng đặc biệt dùng cho ngành
cơ khí: búa máy 2T, 10T, máy dập 1600T, máy đúc áp lực 400T, 1100T, các dây chuyền đúc liên tục, gia công sécmăng từ phôi rời từng chiếc, gia công các loại tay biên, trục khuỷu, trục cam, Các công đoạn sản xuất bơm cao áp và vòi phun, dây chuyền lắp ráp động cơ với hệ thống kiểm tra hiện đại Với năng lực có thể đạt được 4500 T vật rèn, 10000T vật đúc và hàng ngàn tấn phụ tùng một năm, DISOCO đã đáp ứng các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, ngư nghiệp, các loại phụ tùng cho ngành dầu khí, xi măng, điện, giao thông vận tải và chương trình nội địa hoá các sản phẩm ôtô, xe máy của các công ty liên doanh
Tổng vốn đầu tư ban đầu khoảng 46 triệu rúp chuyển nhượng do Liên
Xô viện trợ Tính đến thời điểm 31/12/2003 công ty có số vốn và tài sản như sau:
- Tài sản cố định và đầu tư dài hạn 290.650.396.669 đồng
- Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn 92.531.003.228 đồng
- Nguồn vốn kinh doanh 274.139590.488 đồng
Trong những năm gần đây công ty đã đầu tư nhiều thiết bị hiện đại của Italia, Thuỵ Sĩ, Đài Loan, để phục vụ cho công tác sản xuất các sản phẩm mới của công ty Nhờ làm tốt công tác marketing mà sản phẩm của công ty đã được bán rộng rãi trong nước trên khắp thị trường trong nước nhờ một mạng lưới bán hàng đại lý ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam và một phần sản phẩm sản xuất ra được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài được khách hàng ưa chuộng
Trang 40Công ty có quan hệ liên doanh, liên kết hợp tác với:
- Nhà máy Motor Minsk Belarus chế tạo động cơ điezen 50 –105 cv
- Hãng Lombasdini – Italia chế tạo động cơ xăng 6- 8 cv
- Hợp tác với hãng Sunity - Interprise - Taiwan chế tạo động cơ 6- 15cv
- Liên doanh với hãng ô tô Ford - Mx chế tạo ôtô du lịch, xe tải
- Công ty có quan hệ thương mại với Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc
Công ty còn có quan hệ với nhiều ngân hàng như ngân hàng Công thương Thị xã Sông Công, ngân hàng đầu tư và phát triển Thái Nguyên, ngân hàng ngoại thương Việt nam
Trong điều kiện rất khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường, ngoài những mặt hàng chủ đạo của công ty như hiện nay, công ty không ngừng khai thác mọi nguồn lực và tiềm năng hiện có để tìm kiếm thị trường tiêu thụ, tích cực đẩy mạnh sản xuất do vậy giá trị doanh thu của công ty mỗi năm một tăng cụ thể như sau: