1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý sản xuất công nghiệp bắc ninh

141 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của Đề tài Công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vị trí đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau: - Công ngh

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Phần 1 Cơ sở lý luận của phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao

chất lượng cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp 8 1.1 Các đặc điểm của sản xuất công nghiệp 8 1.1.1 Đặc điểm sản phẩm công nghiệp 14 1.1.2 Đặc điểm về công nghệ sản xuất 15 1.1.3 Nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp 17 1.1.4 Lao động trong sản xuất công nghiệp 18 1.1.5 Đặc điểm của mức độ đầu tư và thời gian chuẩn bị 19 1.1.6 Đặc điểm kinh tế – xã hội của sản xuất công nghiệp 21 1.1.7 Đặc điểm phát triển công nghiệp Việt Nam 21 1.2 Nội dung và tính chất những công việc mà cán bộ quản lý sản

xuất công nghiệp phải đảm nhiệm, hoàn thành 23 1.2.1 Vai trò, vị trí, nhiệm vụ của cán bộ quản lý sản xuất công

1.2.2 Nội dung và tính chất những công việc của cán bộ quản lý

sản xuất công nghiệp 28 1.3 Phương pháp đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản

xuất công nghiệp 46 1.3.1 Hệ thống đánh giá 48 1.3.2 Các phương pháp đánh giá 52

Phần 2 Phân tích hiện trạng chất lượng cán bộ quản lý sản xuất

công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

56

2.1 Công nghiệp Bắc Ninh 56 2.1.1 Thực trạng công nghiệp Bắc Ninh 62 2.1.2 Kết quả đạt được và những đóng góp của ngành công nghiệp

Bắc Ninh 1997-2003 68

Trang 3

2.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh

Bắc Ninh từ trước đến nay 71 2.2.1 Chất lượng cán bộ quản lý nhà nước về sản xuất công nghiệp

của tỉnh Bắc Ninh 75 2.2.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp sản xuất

2.2.3 Nhận xét về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công

nghiệp tỉnh Bắc Ninh 82 2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán

bộ quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh từ trước đến nay

84

Phần 3 Một số đề xuất, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc

3.3.1 Hoàn thiện cơ chế đảm bảo điều kiện làm việc cho cán bộ

quản lý sản xuất công nghiệp Bắc Ninh 111 3.3.2 Hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ quản lý sản xuất công

3.3.3 Hoàn thiện cơ chế đãi ngộ cán bộ quản lý sản xuất công

Trang 4

Phần 4 Kết luận 120

Trang 5

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Công nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vị trí đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau:

- Công nghiệp là một bộ phận hợp thành cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ, do những đặc điểm vốn có của nó Trong quá trình phát triển kinh tế lên nền sản xuất lớn công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế đó

- Mục tiêu cuối cùng của nền sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, công nghiệp là ngành không những chỉ khai thác tài nguyên, mà còn tiếp tục chế biến các loại nguyên liệu nguyên thuỷ được khai thác và sản xuất từ các loại tài nguyên khoáng sản, động thực vật thành các sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người

- Sự phát triển của công nghiệp là một yếu tố có tính quyết định để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá toàn bộ nền kinh tế quốc dân Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên nền sản xuất lớn, tuỳ theo trình độ phát triển của ngành công nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế, xuất phát từ những điều kiện và đặc điểm cụ thể của mỗi nước, mỗi thời kỳ cần phải xác định đúng đắn vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, hình thành phương án cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ và định hướng từ chuyển dịch cơ cấu đó một cách có hiệu quả Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc tổ chức nền kinh tế, nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế –xã hội của mỗi nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng

định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự

Trang 6

chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là sự nghiệp vĩ đại của toàn Đảng,

toàn dân ta nhằm “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt

đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta

cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Để sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có chiến lược và chính sách kinh tế – xã hội phù hợp theo từng giai đoạn nhằm huy động sức mạnh tổng hợp, phát huy mọi nguồn lực và tiềm năng; cả nhân lực và vật lực, cả nội lực và ngoại lực, cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, truyền thống và hiện đại Tựu trung lại chính là phát huy tối đa nhân tố con người, nguồn lực con người cho sự phát triển nhanh và bền vững

Từ xưa đến nay, loài người luôn tìm cách, đổi mới cách thức sản xuất công nghiệp nhằm đạt được hiệu quả cao bền lâu Con người đã khẳng định rằng, sản xuất công nghiệp chỉ đạt được hiệu quả cao khi nó được hoạch định, được đảm bảo

về mặt tổ chức, được điều phối, được kiểm tra-tức là được quản lý một cách nghiêm túc, khoa học, tựu chung là phải được quản lý một cách chuyên nghiệp Một doanh nghiệp dù quy mô lớn, mức độ trang thiết bị hiện đại, nguồn vốn to lớn đến đâu, nhưng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất điều hành kém, thiếu nhân cách thì không thể làm cho doanh nghiệp ổn định và phát triển được

Nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, Bắc Ninh có đất đai màu mỡ với nhiều làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống nổi tiếng, có điều kiện giao thông thuận lợi (đường bộ, đường sông, đường sắt) nối liền với các trung tâm kinh tế quan trọng Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, Bắc Ninh là vùng đất văn hiến, có nhiều di tích lịch sử-văn hoá-cách mạng, có tiềm năng phát triển du lịch-dịch vụ Bắc Ninh

Trang 7

hiện nay đang được các nhà đầu tư đánh giá khu vực có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp, dịch vụ Mặt dầu vậy, Bắc Ninh có một số khó khăn lớn:

- Là tỉnh đất chật, người đông (1.217 người/km2), sản xuất nông nghiệp vẫn

là chủ yếu và mang nặng tính thuần nông

- Là tỉnh có ít tài nguyên khoáng sản, cơ sở hạ tầng thấp kém, cơ sở sản xuất công nghiệp còn ít và nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, chưa khai thác hết tiềm năng du lịch, dịch vụ

- Điểm xuất phát về kinh tế sau khi tách tỉnh thấp, cơ cấu kinh tế còn lạc hậu

so với nhiều tỉnh ở đồng bằng châu thổ Sông Hồng

Trong những năm qua, ngành công nghiệp tỉnh Bắc Ninh đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá nhanh góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh Tuy nhiên, đó mới chỉ là kết quả bước đầu, nhưng đồng thời ngành công nghiệp cũng bộc lộ nhiều mặt còn hạn chế, trong đó đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp đang là một vấn đề nổi cộm

Những năm tới, để đạt được những mục tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh đã đề ra, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý mà ngành công nghiệp giữ vai trò chủ đạo, nhằm thực hiện được mục tiêu đến năm 2015 Bắc Ninh cơ bản là tỉnh sản xuất công nghiệp thì việc nghiên cứu những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp là phù hợp với chủ trương của Tỉnh Đảng bộ và yêu cầu khách quan của tỉnh Nó không những là một vấn đề có tính chất thời sự, bức xúc về mặt lý luận và còn có ý nghĩa rất lớn về mặt thực tiễn

2 Mục đích của đề tài

Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp Bắc Ninh, xây dựng tiêu chuẩn, hoàn thiện cơ chế đầu tư đào tạo bồi dưỡng và cơ chế bảo đảm các điều kiện làm việc, đánh giá, đãi ngộ đội ngũ cán bộ quản lý sản

Trang 8

xuất công nghiệp góp phần nâng cao chất lượng cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp của tỉnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Bắc Ninh (bao gồm cán bộ quản lý Nhà nước về sản xuất công nghiệp

và cán bộ quản lý các loại hình doanh nghiệp công nghiệp)

- Phạm vi nghiên cứu: Các chính sách, biện pháp kinh tế, tổ chức để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp cơ bản nhất, phương pháp truyền thống để nghiên cứu, đó là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Ngoài phương pháp cơ bản trên, luận văn còn sử dụng phương pháp thống

kê, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra phân tích để xem xét, đánh giá các

số liệu, tình hình Phương pháp thực chứng, tiếp cận hệ thống cũng được sử dụng để

so sánh, đánh giá các sự kiện

5 Những phát hiện và đề xuất của đề tài

- Góp phần hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh nói riêng

- Tập hợp và phân tích những số liệu về đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp ở cơ quan quản lý nhà nước về công nghiệp và nhiều loại hình doanh nghiệp công nghiệp của tỉnh Bắc Ninh

- Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng, làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ sản xuất công nghiệp Bắc Ninh

Trang 9

- Tổng hợp và nêu lên những kinh nghiệm đào tạo, tuyển dụng và điều hành sản xuất của cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp trong và ngoài nước và kiến nghị khả năng áp dụng những kinh nghiệm đó vào tỉnh Bắc Ninh

- Đưa ra một số biện pháp cơ bản nhằm hoàn thiện về tiêu chuẩn, đào tạo, bố trí sử dụng và chế độ đãi ngộ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

6 Nội dung luận văn

- Tên đề tài: Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ quản lý sản xuất công nghiệp Bắc Ninh

- Nội dung: Ngoài phần mở đầu, Luận văn gồm 4 phần:

P hần 1: Cơ sở lý luận của phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp

Phần 2: Phân tích hiện trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công

nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Phần 3: Một số đề xuất, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Phần 4: Kết luận

Để hoàn thành bản luận văn này, tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của PGS TS Đỗ Văn Phức và các thầy cô giáo, các đồng chí lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Công nghiệp Bắc Ninh và đồng nghiệp trong địa bàn tỉnh Hy vọng rằng Luận văn sẽ có sự đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp của tỉnh trong thực tiễn, nhằm đáp ứng các phương hướng, mục tiêu, yêu cầu của sản xuất công nghiệp của tỉnh trong giai đoạn

2004 – 2015

Trang 10

PHẦN 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ QUẢN LÝ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

1.1 Các đặc điểm của sản xuất công nghiệp

Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội Công nghiệp bao gồm ba loại hoạt động chủ yếu:

- Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thuỷ;

- Sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội;

- Khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt

Để thực hiện được ba hoạt động cơ bản đó, dưới sự tác động của phân công lao động xã hội trên cơ sở của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, trong nền kinh tế quốc dân hình thành hệ thống các ngành công nghiệp:

- Khai thác tài nguyên khoáng sản, động, thực vật;

- Các ngành sản xuất và chế biến sản phẩm;

- Và các ngành công nghiệp dịch vụ sửa chữa

Hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp Tính chất tác động của loại hoạt động này là cắt đứt các đối tượng lao động ra khỏi môi trường tự nhiên

Chế biến là hoạt động làm thay đổi hoàn toàn về chất của các nguyên liệu nguyên thuỷ, để tạo ra các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến thành sản phẩm cuối cùng đưa vào tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng trong đời sống Quá trình chế biến từ một loại nguyên liệu có thể tạo ra được một loại sản phẩm tương ứng;

Trang 11

và cũng có thể một loại sản phẩm nào đó được tạo ra từ những loại nguyên liệu khác nhau Sản phẩm trung gian là các sản phẩm được coi là nguyên liệu cho quá trình sản xuất công nghiệp tiếp theo Sản phẩm cuối cùng là các sản phẩm đã ra khỏi quá trình sản xuất công nghiệp để đưa vào sử dụng trong sản xuất hoặc tiêu dùng trong đời sống

Sửa chữa là một hoạt động không thể thiếu được nhằm khôi phục, kéo dài tuổi thọ của các tư liệu lao động trong các ngành sản xuất và kéo dài thời gian sử dụng của các sản phẩm dùng trong đời sống Công nghiệp sửa chữa là hình thức có sau so với công nghiệp khai thác và chế biến Lúc đầu các hoạt động này được thực hiện ngay trong các ngành công nghiệp khai thác, chế biến và trong đời sống sinh hoạt của dân cư, do lực lượng lao động chính trong các ngành và lĩnh vực đó thực hiện Sau đó, do sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành sản xuất, dịch vụ, do sự phát triển đa dạng hoá của sản phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt, hoạt động sửa chữa được tách thành một ngành chuyên môn hoá thực hiện dịch vụ sửa chữa có tính chất xã hội

Từ những nội dung trên, có thể hiểu công nghiệp là một ngành kinh tế lớn thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, bao gồm một hệ thống các ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp, mỗi ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp đó lại bao gồm nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình khác nhau

Một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý ngành công nghiệp là tổ chức, sắp xếp hoạt động sản xuất công nghiệp thành các lĩnh vực, các loại hình sở hữu và thành các ngành có đặc trưng chuyên môn hoá, để hình thành các đối tượng quản lý có đặc trưng khác nhau, từ đó tổ chức hợp lý và có hiệu quả quá trình chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý Để thực hiện được điều đó, cần phải có các phương pháp phân loại sản xuất dựa trên những căn cứ khoa học nhất định Trong các hoạt động quản lý công nghiệp thường được thực hiện một số phương pháp chủ yếu sau đây để phân loại công nghiệp:

Trang 12

- Phân loại công nghiệp thành hai ngành sản xuất tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng:

Căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm người ta chia công nghiệp thành các ngành sản xuất tư liệu sản xuất (nhóm A) và các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng (nhóm B) Ngoài ra, người ta còn sắp xếp các cơ sở sản xuất công nghiệp vào hai nhóm ngành tương ứng là ngành công nghiệp nặng (sản phẩm chính là tư liệu sản xuất) và công nghiệp nhẹ (tư liệu tiêu dùng) Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong việc vận dụng quy luật tái sản xuất mở rộng để xây dựng mô hình cơ cấu công nghiệp phù hợp cho mỗi nước, trong mỗi thời kỳ phát triển của nền kinh tế

- Phân loại công nghiệp thành hai nhóm ngành: khai thác và chế biến

Căn cứ chủ yếu của sự phân loại này là tính chất khác nhau của sự biến đổi đối tượng lao động, do sự tác động của lao động và công dụng sản phẩm của hai loại hoạt động trên

Công nghiệp khai thác có nhiệm vụ cắt đứt đối tượng lao động ra khỏi môi trường tự nhiên, tạo thành các loại nguyên liệu nguyên thuỷ, công nghiệp chế biến làm thay đổi về chất của các đối tượng lao động là nguyên liệu nguyên thuỷ thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến thành các loại sản phẩm cuối cùng

Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện cân đối trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, cân đối giữa khai thác tài nguyên và chế biến tài nguyên trong nền kinh tế của mỗi quốc gia

- Phân loại công nghiệp thành các ngành công nghiệp chuyên môn hoá hẹp Phương pháp phân loại này được dựa vào các đặc trưng kỹ thuật sản xuất giống nhau hoặc tương tự nhau để sắp xếp các đơn vị sản xuất kinh doanh thành các ngành công nghiệp chuyên môn hoá

Trang 13

Ngành công nghiệp chuyên môn hoá là tổng hợp các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mà hoạt động sản xuất chủ yếu của chúng có những đặc điểm kỹ thuật sản xuất giống nhau hoặc tương tự nhau:

+ Cùng thực hiện một phương pháp công nghệ hoặc công nghệ tương tự (cơ,

lý, hoá hoặc sinh học)

+ Sản phẩm được sản xuất từ một loại nguyên liệu hay nguyên liệu đồng loại

+ Sản phẩm có công dụng cụ thể giống nhau hoặc tương tự nhau

Trong ba đặc điểm trên, đặc điểm về công dụng cụ thể là đặc điểm quan trọng nhất

Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong xây dựng các mô hình cơ cấu cân đối liên ngành, đặc biệt đối với các sản phẩm chủ yếu, quan trọng của công nghiệp, trong việc lựa chọn các hình thức tổ chức mối liên hệ sản xuất giữa các ngành

- Phân loại công nghiệp dựa vào sự khác nhau về quan hệ sở hữu, hình thức

tổ chức sản xuất xã hội và trình độ kỹ thuật của sản xuất công nghiệp

Theo các phương pháp này, hình thành các loại hình công nghiệp như: công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh với các loại hình sở hữu khác nhau: công nghiệp lớn, vừa và nhỏ, thủ công nghiệp…

Các phương pháp phân loại này có ý nghĩa lớn trong việc hoạch định các giải pháp xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, trong việc tổ chức sản xuất và đầu tư vào việc ứng dụng khoa học và công nghệ trong công nghiệp

Hệ thống Phân ngành công nghiệp trong Bảng phân ngành kinh tế quốc dân (ISIC)

Trang 14

Việc phân ngành kinh tế quốc dân dựa trên nguyên tắc xuất phát từ đặc điểm phân công lao động xã hội, biểu hiện sự khác nhau về quy trình công nghệ của các hoạt động kinh tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ

Ở nước ta, ngày 27/10/1993, Chính phủ đã ra Nghị định số 75/CP ban hành

hệ thống ngành kinh tế quốc dân bao gồm 20 ngành cấp I Nghị định này được Tổng cục Thống kê cụ thể hoá thành các ngành cấp II, III và IV Từ năm 1994, Việt Nam

áp dụng hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân theo chuẩn quốc tế (ISIC), theo đó, ngành công nghiệp được phân chia thành 3 ngành cấp I ký hiệu là C, D và E; 30 ngành cấp II, 75 ngành cấp III và 143 ngành cấp IV:

* Ngành công nghiệp khai thác mỏ (C)- (từ ngành 10-14)

Bao gồm 5 ngành cấp II, 10 ngành cấp III và 12 ngành cấp IV Ngành công nghiệp khai thác mỏ gồm các hoạt động sau:

- Khai thác các chất có sẵn trong thiên nhiên gồm: các chất rắn như than đá, quặng kim loại đen, quặng kim loại màu, đá, cát, sỏi, cao lanh, khai thác muối mỏ Các chất ở dạng lỏng như: dầu thô Các chất ở dạng khí như khí tự nhiên Khai thác bằng hầm lò lộ thiên hay giếng ngầm

- Các hoạt động phụ trợ được thực hiện gắn liền với hoạt động chính trong một mỏ khai thác như xay, nghiền, mài, đánh bóng, làm sạch, tuyển chọn và làm giàu khoáng vật mà không làm thay đổi thành phần hóa học của quặng

- Hoạt động thu gom than cứng, than non và than bùn

- Sản xuất than bánh hoặc nhiên liệu rắn có chứa than cứng, than non, than bùn

* Ngành công nghiệp chế biến (D)- (từ ngành 15 đến 37)

Ngành công nghiệp chế biến gồm các hoạt động làm thay đổi về mặt lý, hoá học của vật liệu hoặc làm thay đổi các thành phần cấu thành của nguyên vật liệu, bán thành phẩm thành các sản phẩm mới Các hoạt động đó có thể tiến hành bằng

Trang 15

máy móc hoặc thủ công, trong nhà máy hoặc ở tại nhà của người thợ và sản phẩm làm ra được bán buôn hay bán lẻ

Ngành công nghiệp chế biến thể hiện trình độ kỹ thuật tiên tiến của mỗi nước nên trong các chỉ tiêu phân loại là nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển người ta chọn tỷ trọng công nghiệp chế biến trong tổng sản phẩm trong nước chứ không phải tỷ trọng của toàn ngành công nghiệp

Ngoài những hoạt động được kể ở trên (từ ngành 15-37), ngành công nghiệp chế biến bao gồm cả các hoạt động lắp ráp sản phẩm, gia công các chi tiết và làm các công việc xử lý và tráng phủ kim loại, các công việc xử lý cơ học thông thường trên cơ sở nhận gia công như: sơn, tôi, in, mạ, đánh bóng, nhuộm màu hoặc các hoạt động chuyên môn khác trên kim loại Các hoạt động này được phân vào cùng nhóm với sản xuất sản phẩm đó Hoạt động lắp ráp, gia công được coi là ngành công nghiệp chế biến là những hoạt động lắp ráp gắn liền với quá trình tạo ra sản phẩm được xếp vào cùng ngành công nghiệp chế biến.v.v

* Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước (E) - (ngành 40-41) Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước gồm các hoạt động sau:

- Hoạt động sản xuất tập trung, truyền tải và phân phối điện để bán cho các đơn vị sản xuất kinh doanh và các hộ gia đình Nguồn điện có thể là thuỷ điện, nhiệt điện, điện nguyên tử, năng lượng mặt trời, thuỷ triều Nó bao gồm cả điện do các xưởng điện (nằm trong các xí nghiệp) sản xuất ra bán cho bên ngoài cũng như cấp cho xí nghiệp chủ quản

- Hoạt động sản xuất nhiên liệu khí ga là sản phẩm của ga được chế biến từ khí cácbon của than hoặc trộn lẫn giữa ga chế biến với ga tự nhiên hoặc với xăng, với các chất khác và phân phối nhiên liệu khí bằng hệ thống đường ống dẫn tới các

hộ gia đình, các cơ sở sản xuất kinh doanh và các đối tượng sử dụng khác

Trang 16

- Hoạt động sản xuất và phân phối nước nóng và hơi nước cho mục đích sưởi ấm, làm nhiệt năng và cho các mục đích khác

- Hoạt động khai thác, lọc và phân phối nước (không phải nước nóng) cho các hộ gia đình, cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và những người tiêu dùng khác

Hệ thống ngành công nghiệp cấp II theo bảng phân ngành 1994 (ISIC) (Phụ

- Hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân (ISIC) xuất phát từ đặc điểm quy trình công nghệ để phân chia thành các ngành khác nhau

- Hệ thống ngành kinh tế quốc dân (ISIC) được phân loại chi tiết từ ngành cấp I đến ngành cấp IV Trong từng ngành công nghiệp cấp I căn cứ theo đặc điểm

kỹ thuật công nghệ mà hệ thống phân ngành phân chia tới các ngành cấp II, cấp III

và cấp IV ở tất cả các ngành

Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội, nền kinh tế chia thành nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng Sự phân ngành sản xuất trong xã hội chủ yếu dựa trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất, đó là sự tổng hợp của hai mặt: Mặt kỹ thuật sản xuất và mặt kinh tế – xã hội của sản xuất, mỗi ngành đều có những đặc điểm khác nhau về các yếu tố sản xuất và sản phẩm

1.1.1 Đặc điểm sản phẩm công nghiệp

Trang 17

Sản phẩm công nghiệp là kết quả (đầu ra) của quá trình sản xuất trong các doanh nghiệp công nghiệp Sản phẩm công nghiệp là tổng hợp các dạng đặc điểm vật lý, hoá học có thể quan sát và được tập hợp trong một hình thức đồng nhất, là vật mang giá trị sử dụng có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu

Theo quan điểm kinh tế hàng hoá, sản phẩm công nghiệp chứa đựng các thuộc tính hàng hoá Nó không chỉ là sự tổng hợp các đặc điểm lý học, hoá học và giá trị sử dụng, mà còn là vật mang giá trị trao đổi hay giá trị

Theo quan điểm marketing, sản phẩm công nghiệp là một tập hợp đặc trưng vật chất và đặc trưng phi vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường Theo quan điểm này thì:

- Đặc điểm vật chất của sản phẩm công nghiệp bao gồm: kiểu dáng, chất lượng, màu sắc, khẩu vị, kết cấu, bao bì, nhãn mác

- Đặc điểm tâm lý của sản phẩm công nghiệp bao gồm: tên gọi, biểu tượng, thẩm mỹ

- Sản phẩm công nghiệp gắn với nhu cầu thị trường Một sản phẩm công nghiệp đáp ứng một nhu cầu Đối với doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, thể hiện một nhu cầu tìm thấy trên trị trường Đối với người mua, nó là cái mà khách hàng mong muốn để thoả mãn nhu cầu của mình

Có nhiều cách phân loại sản phẩm công nghiệp theo:

- Tính chất sử dụng: Hàng hoá công cộng và hàng hoá tư nhân

- Quan hệ với thu nhập: Hàng bình thường và hàng hoá xa xỉ

- Khả năng thay thế lẫn nhau: Hàng bổ sung và hàng hoá thay thế

- Tuổi thọ: Hàng lâu bền và hàng không lâu bền

- Tần số mua: Hàng mua thường xuyên và không thường xuyên

- Mức độ chế biến: Sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng

- Khách hàng mua: Sản phẩm là tư liệu sản xuất và sản là vật phẩm tiêu dùng

Trang 18

Theo cách phân loại này, nếu khách hàng mua là các doanh nghiệp sản xuất hoặc các doanh nghiệp cung ứng vật tư thì thông thường đó là các tư liệu sản xuất Còn khách hàng là các cá nhân tiêu dùng cuối cùng hay các nhà bán buôn, bán lẻ phục vụ cho cá nhân thì thông thường đó là những vật phẩm tiêu dùng

Sản xuất công nghiệp là hoạt động sản xuất duy nhất tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế Đặc điểm này cho thấy vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất đó

Sản phẩm công nghiệp đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng với nhiều loại công dụng khác nhau; có thể chỉ là những đồ vật sử dụng hàng ngày như đồ dùng thiết yếu: quần áo, thực phẩm qua chế biến đến những máy móc, thiết bị với nhiều chi tiết phức tạp như máy tính điện tử, robot

Sản phẩm công nghiệp được sản xuất đòi hỏi phải có mức độ chính xác cao như những máy công cụ, thiết bị y tế Chỉ có sản phẩm công nghiệp mới có trị giá cao như vũ khí, phương tiện vận tải

1.1.2 Đặc điểm về công nghệ sản xuất

Trong công nghiệp, chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp

cơ lý hoá của con người, làm thay đổi các đối tượng lao động thành các sản phẩm thích ứng với nhu cầu con người; trong khi đó, sản xuất nông nghiệp lại bằng phương pháp sinh học là chủ yếu, trong hoạt động lao động sản xuất, các phương pháp cơ lý hoá, (làm đất, chăm sóc, thuỷ lợi ) chỉ là những tác động tạo điều kiện môi trường sinh thái để phương pháp sinh học được thực hiện, làm biến đổi đối tượng lao động là cây trồng, vật nuôi, hình thành và phát triển, tạo ra các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người Đặc điểm về công nghệ sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức sản xuất và ứng dụng khoa học – công nghệ thích ứng với mỗi ngành

Trang 19

Công nghệ là yếu tố cơ bản của sự phát triển công nghiệp Nó gồm bốn thành phần cơ bản, tác động đồng bộ qua lại với nhau để tạo nên một loại sản phẩm hoặc một loại dịch vụ nào đó:

+ Công cụ, máy móc thiết bị, vật liệu (Phần cứng của công nghệ)

+ Thông tin, phương pháp, quy trình, bí quyết

+ Tổ chức, thể hiện trong thiết kế tổ chức, liên kết, phối hợp quản lý

+ Con người

(Ba bộ phận sau gọi là phần mềm công nghệ)

Đổi mới công nghệ trong công nghiệp sẽ thúc đẩy và phát triển các ngành mới đại diện cho tiến bộ khoa học-công nghệ Dưới tác động của đổi mới côngnghệ,

cơ cấu ngành sẽ đã dạng, phong phú và phức tạo hơn; các ngành có hàm lượng khoa học-công nghệ cao sẽ phát triển nhanh hơn so với các ngành truyền thống hao tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng Tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ trong công nghiệp sẽ cho phép nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên liệu nhờ vậy sẽ tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Tiến bộ khoa học-công nghệ, đổi mới công nghệ sẽ giải quyết được các nhiệm vụ bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện sống và làm việc, giảm lao động nặng nhọc, độc hại, biến đổi cơ cấu lao động theo hướng nâng cao tỷ trọng lao động chất xám, lao động có kỹ thuật, giảm lao động phổ thông, lao động giản đơn

1.1.3 Nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp

Nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp là đối tượng lao động, đã trải qua lao động của con người để khai thác hoặc sản xuất ra nó

Trong công nghiệp có nhiều loại nguyên liệu Tuỳ theo mục đích nghiên cứu

và những căn cứ khác nhau có các cách phân loại chủ yếu sau:

Trang 20

- Căn cứ vào vai trò tham gia cấu thành nên thực thể của sản phẩm, nguyên liệu được chia thành:

+ Nguyên liệu chính tạo thành thực thể sản phẩm, như bông tạo thành sợi, để

từ sợi tạo thành thực thể của vải; kim loại tạo thành thực thể của máy móc, thiết bị

+ Vật liệu phụ bao gồm nhiều loại, có loại được thêm vào nguyên liệu chính dẫn đến làm thay đổi tính chất của nguyên liệu chính; cũng có loại vật liệu phụ tạo điều kiện cho sự hoạt động bình thường của tư liệu lao động và hoạt động lao động của con người

- Căn cứ vào nguồn tạo thành, nguyên liệu được phân thành:

+ Nguyên liệu “công nghiệp” gồm nguyên liệu khoáng sản (với hai đặc điểm

cơ bản là không có khả năng tài sinh và thường được phân bố trong lòng đất) và nguồn nguyên liệu tổng hợp và nhân tạo (có khả năng mở rộng vô hạn về quy mô và những đặc tính kỹ thuật, dựa trên cơ sở các thành tựu khoa học công nghệ chế biến)

+ Nguồn nguyên liệu do các ngành nông, lâm, ngư nghiệp khai thác và sản xuất ra: là các loại nguyên liệu “động thực vật” với những đặc điểm cơ bản là có khả năng tái sinh, song tốc độ tái sinh lại phụ thuộc vào môi trường tự nhiên cũng như khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong các ngành này; nó được phân bố rộng khắp trên trái đất

Ngoài ra, nguồn nguyên liệu cũng còn được phân tích và xem xét ở khía cạnh nguồn nguyên liệu trong nước và nguồn nguyên liệu nhập khẩu

Nguyên liệu - đối tượng của quá trình sản xuất công nghiệp được vận động theo một quá trình liên tục qua nhiều khâu Quá trình đó được bắt đầu từ khi nguyên liệu còn là đối tượng lao động trong môi trường tự nhiên, qua khai thác và sản xuất, được đưa vào chế biến qua nhiều giai đoạn tạo ra những sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất công nghiệp

Đặc điểm về sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất: Các đối tượng lao động của quá trình sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng thể này chuyển sang các sản phẩm có công dụng thể hoàn toàn khác

Trang 21

Hoặc một loại nguyên liệu sau quá trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm

có các công dụng hoàn toàn khác nhau Trong khi đó, đối tượng lao động của sản xuất nông nghiệp bao gồm các động vật và thực vật sau quá trình sản xuất chỉ có sự thay đổi về lượng là chủ yếu Đặc điểm này của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn rất thiết thực trong việc tổ chức quá trình sản xuất và chế biến, trong việc khai thác và sử dụng tổng hợp nguyên liệu

Một số yêu cầu cơ bản đối với việc bảo đảm và sử dụng hợp lý và tiết kiêm nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp:

- Khai thác và sử dụng tốt các nguồn lợi để đảm bảo số lượng, chủng loại, chất lượng nguyên liệu nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất công nghiệp, về quy mô, cơ cấu, tốc độ, trình độ kỹ thuật cũng như hiệu quả kinh tế-xã hội

- Bảo đảm sự đồng bộ, liên tục, thông suốt, có hiệu quả kinh tế-xã hội giữa các khâu: sản xuất, chế biến, sử dụng nguyên liệu, vừa đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp, vừa góp phần bảo vệ, sử dụng tốt tài nguyên, môi trường

- Bảo đảm và nâng cao hiệu quả kinh tế ở các khâu khai thác, sản xuất và chế biến, sử dụng nguyên liệu ở cả hình thái hiện vật và giá trị

- Bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp trong tạo nguồn nguyên liệu và sử dụng chúng, đồng thời nâng cao vai trò Nhà nước trong định hướng tạo nguồn và

sử dụng, trong xây dựng và thực hiện các chính sách đảm bảo nguồn nguyên liệu, cũng như sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp

1.1.4 Lao động trong sản xuất công nghiệp

Các nguồn lực dùng cho sản xuất công nghiệp gồm: Thiết bị, nguyên liệu là đầu vào sản xuất; đất đai và các tài nguyên khác là nguồn lực tự nhiên; nguồn lực lao động là đầu vào nhân tạo, trong đó, nguồn lực lao động có vai trò rất quan trọng, nhiều khi quyết định sự phát triển

Lực lượng lao động là tài sản quan trọng nhất của doanh nghiệp Lao động trong sản xuất công nghiệp đòi hỏi phải có các yếu tố: Kỹ năng, kỹ xảo của người

Trang 22

lao động, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ đào tạo và những khả năng khác của người lao động

Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm với nhiều công nghệ khác nhau, đòi hỏi có nhiều loại lao động Tuỳ theo mục đích, người ta có thể phân loại lao động theo chức năng; theo giới tính; theo độ tuổi; theo trình độ văn hoá; theo trình độ chuyên môn lành nghề hoặc lao động theo nghề

Do đặc điểm của sản xuất công nghiệp, lao động sản xuất công nghiệp phải

có tính đồng bộ cao; chất lượng lao động cao hơn ngành nông nghiệp, dịch vụ Lao động phải được qua đào tạo: quy trình kỹ thuật sản xuất, nội quy của doanh nghiệp mới có thể tham gia vào quá trình sản xuất, thời gian đào tạo tuỳ theo vị trí công việc đòi hỏi

1.1.5 Đặc điểm của mức độ đầu tư và thời gian chuẩn bị

Đầu tư trong sản xuất công nghiệp là sử dụng tiền vốn, tài nguyên để sản xuất sản phẩm công nghiệp trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận

và lợi ích kinh tế-xã hội

Đầu tư trong sản xuất công nghiệp có những đặc điểm chính sau:

- Phải có vốn đầu tư (vốn bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác) Vốn có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay (dài hạn, trung hạn, ngắn hạn)

- Thời gian tương đối dài, thường từ hai năm trở lên, có thể đến 50 năm nhưng tối đa cũng không quá 70 năm Do đặc điểm thời gian dài, nên cần phải có tầm nhìn xa, đồng thời phải xác định rằng, đầu tư sản xuất công nghiệp có nhiều rủi

ro, không thể bỏ qua quy luật thay đổi giá trị của đồng tiền theo thời gian dưới tác động của lãi suất nguồn vốn

Trang 23

- Lợi ích do dự án mang lại được thể hiện trên hai mặt: Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) và lợi ích kinh tế-xã hội (thường đựoc gọi là lợi cíh kinh tế-biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế-xã hội) Lợi ích tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng

Dựa và lợi ích tài chính, nhà đầu tư có thể ra quyết định có đầu tư hay không, dựa vào lợi ích kinh tế-xã hội, Nhà nước sẽ ra được quyết định có cấp giấy phép đầu

tư cho nhà đầu tư hay không

Có nhiều cách phân loại đầu tư trong sản xuất công nghiệp như: Đầu tư trực tiếp; Đầu tư gián tiếp; Đầu tư trong nước; Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Đầu tư

ra nước ngoài; Đầu tư mới; Đầu tư theo chiều sâu; Đầu tư phát triển; Đầu tư dịch chuyển

Quá trình đầu tư được phân thành 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Cần giải quyết các công việc sau: Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư; Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, tiêu thụ sản phẩm; Xem xét các khả năng huy động các nguồn vốn và lựa chọn hình thức đầu tư; Lựa chọn địa điểm; Lập Dự án đầu tư; Thầm định Dự án đầu tư; Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản quyết định đầu tư của cơ quan có thẩm quyền

- Giai đoạn thực hiện đầu tư: Bao gồm các công việc sau: Xin cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, bao gồm cả mặt nước, mặt biển, thềm lục địa; Chuẩn bị mặt bằng xây dựng; Chọn thầu tư vấn khảo sát thiết kế; ẩm định thiết kế; Đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp; Xin giấy phép xây dựng, giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có); Ký các hợp đồng thực hiện dự án; Thi công công trình; Lắp đặt thiết bị; Tổng nghiệm thu công trình

- Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác: Gồm các công việc sau: Kết thúc xây dựng và bàn giao công trình; Bảo hành công trình; Vận hành, đưa công trình vào sản xuất kinh doanh

Trang 24

1.1.6 Đặc điểm kinh tế – xã hội của sản xuất công nghiệp

- Do các đặc điểm về mặt kỹ thuật của sản xuất nêu ở trên, trong qúa trình phát triển, công nghiệp luôn luôn là ngành có điều kiện phát triển về kỹ thuật, tổ chức sản xuất; lực lượng sản xuất phát triển nhanh ở trình độ cao, nhờ đó mà quan

hệ sản xuất có tính tiên tiến hơn

Do đặc điểm kỹ thuật của sản xuất, trong quá trình sản xuất, công nghiệp đào tạo ra được một đội ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tác phong lao động “công nghiệp” Đội ngũ lao động đó trong giai cấp công nhân luôn luôn là bộ phận tiên tiến trong cộng đồng dân cư của mỗi quốc gia

- Cũng do đặc điểm kỹ thuật sản xuất về công nghệ và sự biến đổi của đối tượng lao động, trong công nghiệp có điều kiện và cần thiết phải phân công lao động ngày càng sâu, tạo điều kiện, tiền đề để phát triển nền sản xuất hàng hoá ở trình độ và tính chất cao hơn nông nghiệp Nghiên cứu các đặc điểm về mặt kinh tế – xã hội của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thiết thực trong tổ chức sản xuất, trong việc phát huy vai trò chủ đạo của công nghiệp đối với các ngành kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia

1.1.7 Đặc điểm phát triển công nghiệp Việt Nam

Quá trình phát triển công nghiệp Việt Nam kể từ 1945 đến nay đã trải qua nhiều thời kỳ với những đặc điểm và điều kiện rất khác nhau Song những đặc điểm chung nhất của cả quá trình đó là:

- Công nghiệp Việt Nam được phát triển từ một điểm xuất phát quá thấp, lạc hậu xa so với các nước phát triển

- Công nghiệp Việt Nam có một thời kỳ dài phát triển trong điều kiện đất nước có chiến tranh và bị chia cắt thành hai miền

- Công nghiệp Việt Nam phát triển trong giai đoạn thế giới có đầy biến động

Trang 25

- Công nghiệp nước ta trải qua một thời kỳ dài vận hành nền kinh tế theo cơ

chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, đang chuyển dần sang nền kinh tế

hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà

nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự đổi mới về cơ chế quản lý đòi hỏi tổ chức và sắp xếp lại ngành công nghiệp để quá trình sản xuất kinh doanh thích ứng với điều kiện của nền kinh tế thị trường

Bốn đặc điểm cơ bản nêu trên đã tác động tổng hợp đến nhiều lĩnh vực của quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp ở nước ta, chi phối đến việc hoạch định đường lối và các giải pháp phát triển công nghiệp trong các thời kỳ phát triển công nghiệp Việt Nam

Trong quá trình phát triển nền kinh tế nước ta theo định hướng XHCN, công nghiệp luôn giữ vai trò chủ đạo Vai trò chủ đạo của công nghiệp được hiểu là: trong quá trình phát triển nền kinh tế, công nghiệp là ngành có khả năng tạo ra động lực và định hướng sự phát triển các ngành kinh tế khác lên nền sản xuất lớn Vai trò chủ đạo đó được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

- Ngành công nghiệp có những điều kiện để tăng nhanh tốc độ phát triển khoa học, công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học- công nghệ đó vào sản xuất,

có khả năng và điều kiện sản xuất hoàn thiện nên lực lượng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành kinh tế khác Do quy luật “quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”, Công nghiệp có được hình thức quan hệ sản xuất tiên tiến Tính tiên tiến về các hình thức quan hệ sản xuất, sự hoàn thiện nhanh về các mô hình tổ chức sản xuất đã làm cho công nghiệp có khả năng định hướng cho các ngành kinh tế khác tổ chức sản xuất đi lên

nền sản xuất lớn theo “hình mẫu”, theo “kiểu” của công nghiệp

- Công nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm làm chức năng tư liệu lao động trong các ngành kinh tế Do đó nó có vai trò quyết định trong việc cung cấp

Trang 26

các yếu tố đầu vào để xây dựng cơ sở vật chất cho toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân

- Công nghiệp là một trong những ngành đóng góp một phần quan trọng vào việc tạo ra thu nhập quốc dân, tích luỹ vốn để phát triển nền kinh tế Do đó, nó có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những nhiêm vụ có tính chất chiến lược của nền kinh tế - xã hội như: tạo việc làm cho hàng vạn lao động mỗi năm, xoá bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi.v.v

- Trong quá trình phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay, Đảng có chủ trương “coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”, giải quyết cơ bản về vấn đề lương thực, cung cấp nguyên liệu động, thực vật để phát triển công nghiệp và đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hoá nhằm tạo ra những tiền đề để thực hiện công nghiệp hoá Để thực hiện được những nhiệm vụ cơ bản đó, công nghiệp có vai trò quan trọng trong cung cấp các yếu tố đầu vào “nước, phân, cần, giống” bằng những công nghệ ngày càng hiện đại để phát triển nông nghiệp, gắn công nghiệp chế biến với nông nghiệp, phát triển công nghiệp nông thôn, đưa nông nghiệp lên nền sản xuất hàng hoá

1.2 nội dung và tính chất những công việc mà cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp phải đảm nhiệm, hoàn thành

Thuật ngữ “quản lý” có nhiều khái niệm, mỗi khái niệm về quản lý là do cách nhận biết, cách hiểu, cách phát biểu về bản chất của quản lý theo quan điểm hoặc phương pháp tiếp cận Sau đây là một số khái niệm về quản lý:

- Quản lý là lo liệu (lo toan)

- Quản lý là tác động đến con người (tập thể con người) nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác

- Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền

Trang 27

- Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động (sự nghiệp) chung được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu qủa cao, bền lâu và không ngừng phát triển

Từ những đặc điểm chung, có thể thiểu rằng: Quản lý là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường

- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất

là một đối tượng bị quản lý chịu các tác động của chủ thể quản lý tạo ra các khách thể có quan hệ gián tiếp với chủ thể quản lý

- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng bị quản lý và chủ thể quản lý Mục tiêu này là các căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các tác động

- Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động

- Chủ thể quản lý có thể là một người, nhiều người, một thiết bị, còn đối tượng bị quản lý có thể là con người (một hoặc nhiều người); giới sinh vật hoặc phi sinh vật

- Khách thể quản lý là các yếu tố tạo nên môi trường của hệ thống

Hình 1.1 Logic của khái niệm quản lý

Chủ thể quản lý

Đối tượng quản

ý

Mục tiêu Khách thể

quản lý

Trang 28

Quản lý kinh tế (quản lý hoạt động kinh doanh) là thực hiện những thao tác

tư duy, trí tuệ trước, trong và sau quá trình đó; là nghiên cứu, tìm hiểu để đi đến chính thức quyết định lựa chọn trước lĩnh vực, mặt hàng kinh doanh, các yếu tố, phương thức tiến hành kinh doanh và tổ chức thực hiện các quyết định đó

Quản lý kinh tế có những đặc điểm sau:

- Quản lý kinh tế bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý

- Quản lý kinh tế bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và mối liên hệ ngược

- Quản lý kinh tế có khả năng thích nghi

- Quản lý kinh tế vừa là một khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật

- Quản lý kinh tế gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng

Quản lý kinh tế có ba nhiệm vụ tổng quát sau:

1 Ra các quyết định chiến lược và chiến thuật, chính thức ban hành các chủ trương, chính sách quan trọng

2 Hướng dẫn, cho tiến hành và phối hợp các hoạt động thừa hành

3 Kiểm tra, đánh giá các kết quả bộ phận và kết quả chung

Cụ thể hơn, quản lý kinh tế là thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

1 Thường xuyên theo dõi, nhận định chiều hướng thay đổi của thời cuộc, của môi trường, của thị trường…, dự đoán những điều cần thiết có liên quan, đề ra chiến lược cho cộng đồng

2 Trên cơ sở chiến lược xây dựng các loại kế hoạch, chương trình hành động

cụ thể cho từng giai đoạn, cho từng mặt, từng mảng công tác; xác định ngân sách; quy định các chuẩn mực đánh giá và hệ thống các biện pháp kiểm tra

3 Tác động lên những người tham gia và hệ thống tổ chức để khả năng, năng lực của từng con người, của cả tập thể, cộng đồng được sử dụng tốt nhất

Trang 29

4 Tìm kiếm các sáng kiến nhằm khắc phục những sai lầm, lệch lạc, thúc đẩy hệ thống tổ chức phát triển không ngừng

5 Tạo cơ hội, điều kiện để người dưới quyền không ngừng được phát triển Phải hoàn thành tốt đồng thời các nhiệm vụ thì mới thực sự là quản lý

Quản lý kinh tế một cách khoa học thực sự có vai trò, tác dụng sau đây:

1 Định hướng đúng cho toàn bộ hệ thống và cũng cho từng người thừa hành bằng chiến lược phát triển, kế hoạch, chương trình hoạt động, triển vọng, các cơ hội…

2 Giúp cho các công việc bộ phận và toàn bộ hoạt động chung diễn ra liên tục, nhịp nhàng vì được bảo đảm các điều kiện nhân-tài-vật lực cần thiết, hướng dẫn phương pháp hoạt động, đôn đốc kịp thời…

3 Giảm thiểu các trục trặc, ngừng trệ do hoạt động được chuẩn bị trước, do

có các biện pháp kiểm tra phát hiện và kịp thời xử lý các sai lầm, lệch lạc

4 Bằng sự ràng buộc thông minh, tế nhị giữa ăn với làm và giám sát khôn khéo từ nhiều phía , quản lý làm cho mọi người gắn bó với cơ quan (doanh nghiệp), tích cực sáng tạo khi thực hiện công việc được giao

5 Chuẩn bị được các tiền đề, điều kiện cho các cá nhân và cho toàn bộ cơ quan (doanh nghiệp) phát triển trong tương lai

1.2.1 Vai trò, vị trí, nhiệm vụ của cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp

a Đối với cán bộ quản lý nhà nước về ngành công nghiệp

Cán bộ quản lý nhà nước về ngành công nghiệp là những người làm việc trong bộ máy quản lý nhà nước về ngành công nghiệp hoặc liên quan đến các lĩnh vực hoạt động công nghiệp

Trong đội ngũ công chức quản lý nhà nước về công nghiệp được phân thành

ba nhóm cơ bản với nội dung, đặc trưng công việc khác nhau:

+ Nhóm các nhà hoạch định chính sách công nghiệp

+ Nhóm các chuyên gia phân tích, tổng hợp, chuẩn bị phương án sơ bộ, từng mặt cho các nhà hoạch định chính sách

Trang 30

+ Nhóm các nhân viên nghiệp vụ-kỹ thuật là những người giúp việc về mặt

kỹ thuật quản lý như những thư ký, quản trị văn phòng, kỹ thuật viên máy tính trực tiếp chuẩn bị tư liệu, thông tin phục vụ cho chuyên gia và các nhà quyết định chính sách

- Vai trò: Là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp; bởi vì chính họ là người trực tiếp đưa ra và chỉ đạo thực hiện Địa phương muốn phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp đều phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo nói chung và cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp của địa phương nói riêng

- Vị trí:

+ Sử dụng được các nguồn lực, quy tụ được sức người, sức của; tận dụng các thời cơ để phát triển ngành

+ Đưa ra thực thi các quyết định quản lý

+ Là người đại diện cho mọi lợi ích kinh tế có liên quan đến sự tồn tại và phát triển trước mắt cũng như lâu dài của hệ thống, của địa phương, của những người dưới quyền

- Nhiệm vụ:

+ Tổ chức hệ thống quản lý ngành công nghiệp hợp lý nhất với những mục tiêu rõ ràng, hiện thực và khoa học với một cơ chế vận hành hợp lý và hiệu quả có tính tới mọi sự biến động của môi trường

+ Điều hành hệ thống vận hành, góp phần hoàn thành mục tiêu về phát triển kinh tế của địa phương

b Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

Cán bộ quản lý doanh nghiệp sản xuất công nghiệp là những người trực tiếp điều hành hoạt động của doanh nghiệp

- Vai trò: Là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Trang 31

Cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp là người phải đảm nhiệm, hoàn thành

04 loại công việc (1, 2, 3, 4) sau đây:

Trang 32

1 2 3 4

= + + +

Hình 1.2.Sơ đồ hệ thống quản lý

a Lập kế hoạch sản xuất công nghiệp

Lập kế hoạch là quá trình phác hoạ, dự kiến một hoạt động trong tương lai

Lập kế hoạch hoạt động là quá trình tìm hiểu lựa chọn trước hoạt động, các yếu tố cho hoạt động và phương thức tiến hành hoạt động

Đảm bảo

tổ chức cho SX công

Điều phối sản xuất công nghiệp

Kiểm tra

Phân hệ đường lối chiến lược, kế hoạch

Phân hệ lập pháp, thể chế, lập quy

Bộ

máy

điều hành

Đối tượng quản

lý Quyết định, biện pháp quản lý

Trang 33

Sản phẩm của quá trình lập kế hoạch là bản kế hoạch Bản kế hoạch thường

có tên của hoạt động cụ thể và bao gồm các nội dung như:

- Mục đích và các mục tiêu của hoạt động;

- Nội dung, quy mô, địa điểm, thời gian hoạt động, người chủ trì các phần việc chính ;

- Thành phần và toàn bộ kinh phí

Như vậy, có thể tách tương đối thành ba mặt của quá trình lập kế hoạch Đó là: Kế hoạch hoá mục đích, các mục tiêu (xây dựng cây mục tiêu); Kế hoạch hoá chương trình hành động; Kế hoạch hoá các nguồn lực

Bản kế hoạch gồm có ba phần tương đối riêng biệt nhưng liên quan mật thiết với nhau Đó là phần kế hoạch mục đích và các mục tiêu, phần kế hoạch (chương trình) hành động và phần kế hoạch các nguồn lực (kế hoạch tài chính)

Khi xây dựng phần kế hoạch này phải dự kiến, dựa vào hai phần kế hoạch kia Và vì thế mà có nhiều phương án kế hoạch, và vì thế mà việc lập kế hoạch trong thực tế gặp nhiều khó khăn,trở ngại Mặt khác, do phải dự báo, dự kiến nhiều thứ liên quan biến động phức tạp trong tương lai nên không thể có kế hoạch hoàn

toàn chính xác

Bản kế hoạch được sử dụng cho nhiều công việc quan trọng sau nó, đó là:

- Kế hoạch là cơ sở, căn cứ cho việc chuẩn bị trước, đầy đủ, đồng bộ các điều kiện, nguồn lực phục vụ các hoạt động của quá trình sản xuất

- Kế hoạch đưa ra các nhiệm vụ, mốc, chuẩn cụ thể cho việc điều hành, cho

tổ chức thực hiện quá trình sản xuất

- Kế hoạch sản xuất là cơ sở cụ thể cho việc xây dựng và triển khai các biện pháp kiểm tra tất cả các yếu tố, các hoạt động thành phần, các loại chi phí, các sản phẩm của quá trình sản xuất

Trang 34

Tiến hành sản xuất không được dự định trước, không được lên phương án trước thì khó hoặc không tập trung được các nguồn lực, không nỗ lực tối đa, các điều kiện không được chuẩn bị tốt dẫn đến trục trặc nhiều, lãng phí nhiều, hiệu quả thấp

Những cơ sở, căn cứ cần thiết cho việc lập kế hoạch:

- Những cơ hội, nguy cơ, sức ép mà ta nên hoặc phải có hoạt động ứng phó trong tương lai gần hoặc tương lai xa (làm rõ sự cần thiết phải tiến hành hoạt động)

- Sẽ có những ai cùng tham gia hoạt động ứng phó như ta, cùng với ta trong cùng một tương lai, họ có gì ưu thế hoặc thất thế so với ta

- Khả năng đáp ứng, ứng phó tương đối chắc chắn tối đa của ta về số lượng, chất lượng, giá và thời hạn hoàn hành

Trong nền kinh tế thị trường, chỉ cần dự đoán sai lớn ở một trong 3 mặt nêu trên là nguy hiểm, dễ đi đến tổn thất to lớn, đổ vỡ Cần có được các thông tin cần thiết và phương pháp dự đoán tương đối chính xác từng mặt nêu trên

Chiến lược là một loại kế hoạch đặc biệt Chỉ khi có chiến lược phát triển

(chiến lược sản xuất kinh doanh) mới xây dựng được các kế hoạch cụ thể Trong kinh tế thị trường các biến động nhiều và diễn ra với tốc độ nhanh Do vậy, việc hoạch định chiến lược nhằm tạo cơ sở cho việc chuẩn bị trước là rất quan trọng Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện có cạnh tranh việc định hướng chiến lược và điều chỉnh chiến lược kịp thời, có cơ sở thường đem lại những lợi ích

to lớn

Để có nguyên liệu xây dựng chiến lược doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đầu tư cho công tác dự báo nhu cầu của thị trường, dự báo về các đối thủ cạnh tranh

và về năng lực của chính bản thân doanh nghiệp trong cùng một tương lai

Quy trình lập kế hoạch: Quy trình lập kế hoạch gồm các bước như: Nhận

biết (nhận thức) cơ hội, nguy cơ, sức ép; Tập hợp, kiểm định các cơ sở, căn cứ (tiền đề); Xây dựng các phương án kế hoạch; Chính thức lựa chọn, quyết định kế hoạch

Trang 35

Hình 1.3.Quy trình lập kế hoạch

Tóm lại, lập kế hoạch sản xuất công nghiệp với mục đích là có được bản kế hoạch sản xuất làm cơ sở cho việc chuẩn bị trước mọi vấn đề cần thiết cho sản xuất

Bản kế hoạch sản xuất chỉ được sử dụng khi nó đảm bảo chất lượng Chất lượng

của bản kế hoạch sản xuất công nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của các căn cứ phải sử dụng khi lập kế hoạch Nếu đủ ba căn cứ, mỗi căn cứ tương đối chính xác là điều đảm bảo quan trọng nhất của chất lượng kế hoạch sản xuất công nghiệp

Chất lượng của kế hoạch sản xuất công nghiệp phản ánh trình độ lập kế hoạch – trình độ tìm hiểu, lựa chọn sản phẩm công nghiệp, các yếu tố cho hoạt động

và phương cách tiến hành sản xuất công nghiệp trong tương lai

Để có cơ sở, căn cứ tin cậy cho việc hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp sản xuất chúng ta phải đầu tư thoả đáng cho công tác dự báo nhu cầu của thị trường, các đối thủ cạnh tranh và năng lực của bản thân doanh nghiệp trong cùng một thời điểm ở tương lai

b Đảm bảo tổ chức cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

Nhiều nhà khoa học thống nhất cho rằng, đảm bảo tổ chức cho hoạt động đông người bao gồm:

- Lựa chọn, thiết lập và không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý

- Xác định và không ngừng nâng cao chất lượng của cơ cấu nhân lực

Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý bao gồm các cấp, các bộ phận, các đối tượng quản lý và các quan hệ trực thuộc, phối hợp giữa chúng Ở mỗi cấp quản lý có một thủ trưởng toàn quyền và chịu trách nhiệm toàn bộ về kết quả hoạt động của cấp đó

Tìm hiểu cụ thể, thu thập thông tin, kiểm định dữ liệu

Xây dựng các phương án kinh doanh

Cân nhắc, chính thức lựa chọn một phương án

Hình thành

ý tưởng kinh

doanh

Trang 36

Các bộ phận như ban, phòng được thiết lập để giúp cho thủ trưởng cùng cấp về nghiệp vụ quản lý hàng ngày khi khối lượng công việc của các nghiệp vụ đó đủ lớn

Một số kiểu loại cơ cấu tổ chức quản lý điều hành phổ biến sau đây :

1 Kiểu tổ chức quản lý trực tuyến: Đây là cơ cấu tổ chức giản đơn nhất, trong đó thường có hai cấp thủ trưởng không có bộ phận, người giúp việc Trong cơ cấu tổ chức quản lý này các thủ trưởng con được thiết lập để quản lý toàn diện trực tiếp Lãnh đạo, điều hành các thủ trưởng con là một thủ trưởng cấp trên

Kiểu cơ cấu tổ chức quản lý này thường được áp dụng khi quy mô và độ phức tạp quản lý tăng vượt quá khả năng của một người nhưng chưa lớn lắm, người

ta không muốn phân chia quyền lực cho người bên ngoài và cần các thủ trưởng có kiến thức toàn diện, tổng hợp Cơ cấu này hạn chế việc sử dụng các chuyên gia có

trình độ cao theo chuyên môn Kiểu cơ cấu tổ chức quản lý này được sử dụng nhiều trong kinh tế gia đình quy mô nhỏ và vừa

Hình 1.4 Sơ đồ kiểu tổ chức quản lý trực tuyến

2 Kiểu tổ chức quản lý theo chức năng: Theo cơ cấu này, nhiệm vụ quản lý được phân chia cho các bộ phận riêng biệt theo chức năng quản lý và hình thành nên những nhà lãnh đạo được chuyên môn hoá, chỉ đảm nhận thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định Các bộ phận quản lý cấp dưới nhận mệnh lệnh từ nhiều phòng ban khác nhau

Giám đốc doanh nghiệp sản xuất

Quản đốc phânxưởng Quản đốc phânxưởng 3 Quản đốc phânxưởng 1

Các đối tượng

quản lý Các đối tượng quản lý Các đối tượng quản lý

Trang 37

Cơ cấu này thu hút được các chuyên gia vào giải quyết các vấn đề chuyên môn, giảm bớt gánh nặng quản lý cho người lãnh đạo Tuy nhiên do đối tượng quản

lý phải chịu sự lãnh đạo của nhiều thủ trưởng khác nhau, kiểu cơ cấu này làm suy yếu chế độ thủ trưởng

Hình 1.5 Sơ đồ kiểu tổ chức quản lý theo chức năng

3 Kiểu tổ chức quản lý trực tuyến - chức năng là kiểu cơ cấu kết hợp của hai

cơ cáu trên, trong đó có nhiều cấp quản lý và các bộ phận nghiệp vụ giúp việc cho các thủ trưởng cấp trung và cấp cao Thủ trưởng trực tuyến (theo chiều dọc) là người có quyền cao nhất trong quá trình điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả điều hành ở cấp mình phụ trách Các bộ phận chức năng được thành lập để giúp các thủ trưởng trực tuyến về theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện về mặt nghiệp vụ quản lý như: lập kế hoạch, tổ chức cán bộ, thống kê, kế toán Các

bộ phận chức năng không có quyền ra lệnh, chỉ huy đối với các thủ trưởng cấp dưới

Kiểu cơ cấu tổ chức này phát huy được các ưu điểm của cơ cấu trực tuyến là phân quyền để chỉ huy kịp thời và các ưu điểm của cơ cấu chức năng là chuyên sâu nghiệp vụ: đảm bảo cơ sở, căn cứ cho việc ra quyết định, hướng dẫn thực hiện các quyết định

Trang 38

Hình 1.6 Sơ đồ kiểu tổ chức quản lý trực tuyến-chức năng

4 Kiểu tổ chức quản lý theo ma trận: Các tập đoàn, hãng lớn đều tổ chức bộ máy hoạt động theo kiểu này Trong cơ cấu quản lý theo ma trận, cấp quản lý cấp dưới vừa chịu sự quản lý theo chiều dọc từ trên xuống dưới, đồng thời chịu sự quản

lý theo chiều ngang

Ưu điểm của cơ cấu tổ chức này là: Định hướng theo kết qủa cuối cùng rõ ràng; Phát huy được sức mạnh của các chuyên gia ở các lĩnh vực chuyên môn; Xác định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích

Nhược điểm: Có sự mâu thuẫn về quyền hạn trong tổ chức; Có nguy cơ không đồng nhất về mệnh lệnh theo chiều dọc và theo chiều ngang

Hình 1.7 Sơ đồ kiểu tổ chức quản lý theo ma trận

Mỗi kiểu cơ cấu tổ chức quản lý có ưu, nhược điểm riêng, được sử dụng trong trường hợp nhất định Khi quy mô và tính phức tạp của phân hệ đối tượng

Trang 39

quản lý tăng thì quy mô của bộ máy quản lý cũng tăng theo Quy mô của bộ máy quản lý khi cần thiết thì phải tăng nhưng mức độ mạch lạc, nhanh chóng trong việc hình thành và triển khai biện pháp quản lý, hiệu quả quản lý không được giảm

Các bước xây dựng bộ máy quản lý:

- Bước 1: Xác định nhu cầu quản lý

- Bước 2: Lựa chọn kiểu cơ cấu tổ chức quản lý

- Bước 3: Xác định quy mô của Bộ máy quản lý điều hành

- Bước 4: Thiết lập các bộ phận chức năng (giúp việc về nghiệp vụ quản lý)

- Bước 5: Quy định nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn - trách nhiệm của từng cấp, từng bộ phận của bộ máy quản lý; quan hệ trực thuộc giữa các cấp hoặc quan

hệ phối hợp giữa các bộ phận trong bộ máy quản lý

Bộ máy quản lý được hình thành phải đáp ứng yêu cầu sau :

- Đảm bảo việc hình thành và triển khai các quyết định (các biện pháp) quản

Việc tăng hoặc giảm quy mô của bộ máy quản lý phải căn cứ vào nhu cầu quản lý, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, trình độ trang bị máy móc, phương tiện cho hoạt động quản lý

Trang 40

Cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp được hình thành phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

- Đảm bảo việc hình thành và triển khai các quyết định các biện pháp quản lý sát đúng và hiệu lực nhất

- Đảm bảo một cấp dưới, một người thừa hành chỉ chịu sự lãnh đạo, sự chỉ huy trực tiếp của một thủ trưởng cấp trên

- Đảm bảo quan sát được hệ thống quyền lực và chịu trách nhiệm trong quá trình ra quyết định, trong quản lý

Phân giao quyền hạn trong bộ máy quản lý doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

Phân giao quyền hạn về cơ bản là sự phân công lao động trong quản lý, là sự giành cho thuộc cấp, cho bộ phận nghiệp vụ được tham gia hoặc chủ trì ra các quyết định nhằm triển khai các hoạt động được phân công Phân công giao quyền hạn còn được hiểu là sự uỷ quyền, đảm bảo công cụ cho thuộc cấp chủ động trong việc triển khai các chức trách quy định

Khi phân giao quyền hạn trong bộ máy quản lý doanh nghiệp phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đảm bảo phù hợp với chức trách đã quy định cho thuộc cấp

- Đảm bảo đi đôi, tương xứng với trách nhiệm

- Đảm bảo thuận biến với trình độ, độ tin cậy của thuộc cấp

- Đảm bảo đi đôi, tương xứng với thông tin, sự giám sát, kiểm tra, đánh giá và khen (chê)

- Đảm bảo công bố chính thức, trình bầy rõ ràng

Về cơ cấu nhân lực cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp:

Ngày đăng: 11/11/2018, 16:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w