1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạch định chiến lược phát triển cho tổng công ty xây dựng bạch đằng giai đoạn 2005 2010

117 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, Tổng công ty xây dựng Bạch đằng đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng các chiến lược phát triển trên cơ sở phân tích các tác động bên ngoài và bên trong doanh

Trang 1

-

TRẦN THỊ THANH THẢO

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHO TỔNG CÔNG TY

XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG GIAI ĐOẠN 2005-2010

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN TH Ị NGỌC THUẬN

HÀ NỘI - 2004

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong hội nhập kinh tế thế giới, Xây dựng là một trong những ngành được các nước quan tâm vì ảnh hưởng rất lớn đến thu hút đầu tư nước ngoài, quyết định chất lượng và hiệu quả đầu tư Khi tham gia hội nhập, ngành Xây dựng có thuận lợi cũng như thế mạnh là một lực lượng lao động lớn, thông minh, nhanh nhạy, cần cù đặc biệt là lực lượng công nhân kỹ thuật Việc mở cửa thị trường và giảm bớt sự phân biệt trong đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du nhập, chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, công trình đặc biệt là các công trình đòi hỏi công nghệ cao

Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp xây dựng còn bộc

lộ nhiều hạn chế Để khắc phục những hạn chế này, không thể một sớm một chiều, nhưng đối với các doanh nghiệp thì hầu như không còn thời gian, do đó bản thân họ phải có sự lỗ lực vượt bậc, nhanh chóng thực hiện đổi mới, tăng cường chuyên môn hoá, hợp tác hoá, đa dạng hóa sản phẩm để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao, có như vậy mới không bị “thua trên sân nhà” và cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia hội nhập Hiện nay, Bộ Xây dựng đã hoàn thiện xong phương án lộ trình hội nhập của Ngành, ngoài lộ trình gia nhập ASEAN, tham gia diễn đàn APEC đã được thực hiện, phương án đàm phán gia nhập WTO, phương án đàm phán khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung quốc của Ngành cũng đã được chuẩn

bị xong Bên cạnh đó, Bộ cũng xác định cần nhanh chóng điều chỉnh và ban hành các thể chế, chính sách và đặc biệt tiếp tục hoạch định các bước đi thích hợp trong tiến trình hội nhập nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp

Cũng giống như các doanh nghiệp xây dựng khác của Ngành trong tiến trình tham gia hội nhập, Tổng công ty xây dựng Bạch đằng cũng không trách khỏi các cơ hội và các nguy cơ đe doạ Đồng thời Tổng công ty phải tự xem xét đánh giá lại hoạt động kinh doanh của mình để có thể phát huy được các mặt mạnh và khắc phục các mặt còn yếu kém Chính vì vậy, Tổng công ty xây dựng Bạch đằng đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng các chiến lược phát triển trên cơ sở phân tích các tác động bên ngoài và bên trong

doanh nghiệp.Do đó tôi đã lựa chọn đề tài “ Hoạch định chiến lược phát

Trang 3

triển cho Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng giai đoạn 2005-2010” làm luận

văn tốt nghiệp của mình

Luận văn bao gồm 4 phần ngoài lời mở đầu và kết luận:

Phần I: Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược

Phần II: Tổng quan về ngành Xây dựng

Phần III: Phân tích các căn cứ xây dựng chiến lược phát triển cho Tổng công

ty Xây dựng Bạch đằng giai đoạn 2005-2010

Phần VI: Hoạch định chiến lược phát triển chiến lược Tổng công ty Xây

dựng Bạch đằng giai đoạn 2005-2010

Giới hạn nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung vào việc phân tích các nhân tố có tính chất môi trường bên trong và bên ngoài Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng, trên

cơ sở đó hoạch định chiến lược phát triển cho Tổng công ty Cho nên những thông tin được đề cập trong luận văn là những thông tin về môi trường bên ngoài doanh nghiệp như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ

lệ thất nghiệp… và các thông tin về thực trạng hoạt động của Tổng công ty hiện tại và giai đoạn tới Cơ sở lý thuyết để đưa ra chiến lược là lý thuyết về hoạch định chiến lược

Phương pháp nghiên cứu

Luận chủ yếu sử dụng lý thuyết về hoạch định chiến lược và sử dựng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, phương pháp chuyên gia, phương pháp dự báo, các kiến thức

về Marketing…

Trang 4

MỤC LỤC

Lời mở đầu

Phần I: Cơ sở lý thuyết về hoạch định chiến lược kinh doanh

I.Khái niệm về quản trị chiến lược

II.Hoạch định chiến lược

1 Khái niệm hoạch định chiến lược

2 Quy trình hoạch định chiến lược

2.1 Xác định mục tiêu

2.2 Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

2.3 Phân tích và lựa chọn chiến lược

Phần II: Tổng quan về ngành Xây dựng

I.Lịch sử hình thành và phát triển của ngành Xây dựng

II.Vai trò của ngành Xây dựng trong giai đoạn hiện nay

III.Sự cần thiết phải xây dựng chiến lược cho ngành Xây dựng

IV.Chương trình hành động của ngành Xây dựng trong giai

đoạn 2005-2010

Phần III: Phân tích các căn cứ xây dựng chiến lược kinh doanh cho

Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng giai đoạn 2005-2010

A Giới thiệu tổng quan về Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng

I.Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty

II.Cơ cấu tổ chức quản lý và kết quả hoạt động của Tổng công

ty Xây dựng Bạch đằng trong một số năm gần đây

III.Mục tiêu chiến lược phát triển của Tổng công ty Xây dựng

Bạch đằng trong giai đoạn 2005-2010

B,Phân tích các căn cứ xây dựng chiến lược phát triển của Tổng

công ty Xây dựng Bạch đằng

I,Phân tích môi trường kinh tế

1.Phân tích ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng

2.Phân tích ảnh hưởng của tỷ lệ lạm phát

3.Phân tích ảnh hưởng của tỷ thất nghiệp, việc làm

4.Phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi lãi xuất và tỷ giá

5.Phân tích ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài

Trang 5

II.Phân tích ảnh hưởng của điều kiện chính trị, văn hoá, xã hội

1 Môi trường chính trị

2 Môi trường văn hoá xã hội

III Phân tích ảnh hưởng của điều kiện công nghệ

IV.Phân tích ảnh hưởng của đối thủ cạnh tranh

1.Đối thủ cạnh tranh hiện tại

2.Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

V.Phân tích ảnh hưởng của nhà cung cấp

VI.Phân tích ảnh hưởng của khách hàng

VII.Phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi chính sách luật pháp

1.Mục tiêu chiến lược

2.Nội dung của các chiến lược phát triển

2.1.Chiến lược tổng quát

2.1.1.Chiến lược tăng trưởng tập trung

2.1.2.Chiến lược bằng con đường đa dạng hoá

2.1.3.Chiến lược tăng trưởng qua liên doanh liên kết

2.2.Chiến lược chức năng

2.2.1.Chiến lược tài chính

2.2.2.Chiến lược marketing

2.2.3.Chiến lược đầu tư phát triển

2.2.4.Chiến lược phát triển nguồn nhân lực

2.2.5.Chiến lược về khoa học công nghệ

II.Những giải pháp thực hiện chiến lược

1.Giải pháp thực hiện tăng trưởng tập trung

2.Phương án sắp xếp lại tổ chức sản xuất

Trang 6

Tài liệu tham khảo 112

Trang 7

PHẦN I:

cơ sở lý luận về hoạch định

chiến lược kinh doanh PHẦN I:

cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh

I.KHÁI NIỆM VỀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC

Các quan niệm quản trị đã có từ lâu, nhưng các lý thuyết quản trị bao gồm những tư tưởng được sắp xếp thành hệ thống và được nghiên cứu trên cơ

sở phân tích khoa học phải chờ đến những năm cuối thế kỷ 19 và sang đầu thế

kỷ 20 mới xuất hiện thực sự với trường phái quản trị theo khoa học (Scientific Manegement) do Fredrick Winslow Taylor (1856-1915) đề ra đầu tiên ở Bắc

Mỹ Tiếp theo đó là trường phái quản trị hành chính tổng quát của Henri Fayol (1841-1925) và các tác giả khác Hai trường phái này hợp thành các lý thuyết quản trị cổ điển.Các thập niên 30 đến 60 lại có nhiều lý thuyết gia thuộc trường phái quản trị tâm lý xã hội như Mary Parker Follet, McGregor, Abraham Maslow, Sau đại chiến thế giới thứ hai, trường phái định lượng trong quản trị lại ra đời do Henbert Simom đại diện Thập niên 60 trở đi là sự

nở rộ của các lý thuyết quản trị hiện đại bao gồm rất nhiều cách tiếp cận khác nhau trong ngành quản trị học nói chung Đây cũng là thời kỳ các nhà hoạch định chiến lược chú trọng đến việc xây dựng các chiến lược kinh doanh căn

cứ vào các công cụ hoạch định chiến lược theo ma trận danh mục vốn đầu tư (portfolio matrix)như các ma trận BCG,GE, Nhưng chủ yếu của công tác hoạch định trong thập niên 60 là xây dựng các kế hoạch theo chu kỳ hàng năm chưa phải là quản trị chiến lược đúng nghĩa Phải chờ đến giữa thập niên

70 thì ngành quản trị chiến lược mới hình thành thực sự theo đúng yêu cầu cạnh tranh trong các hoạt động kinh doanh hiện đại Có tác giả quan niệm

Trang 8

dựng, tổ chức thực hiện và đánh giá các quyết định tổng hợp giúp cho doanh nghiệp có thể đạt đựơc các mục tiêu của mình

Một số tác giả lại định nghĩa quản trị chiến lược doanh nghiệp là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp

Quản trị chiến lược còn được hiểu là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép doanh nghiệp đat được các mục tiêu đã đề ra

Mộ số tác giả các lại định nghĩa: quản trị chiến lược là phương thức quản trị nhằm định hướng chiến lược và phối hợp các chức năng quản trị trong qua trình phát triển lâu dài của doanh nghiệp trên cơ sở phân tích và dự báo môi trường kinh doanh một cách toàn diện

Vậy, có thể định nghĩa quản trị chiến lược doanh nghiệp là tổng thể các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, điều chỉnh chiến lược kinh doanh diễn ra lặp đi lặp lại theo hoặc không theo chu kỳ thời gian nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp luôn tận dụng được mọi cơ hội, thời cơ cũng như hạn chế hoặc xoá bỏ được các đe doạ, cạm bẫy trên con được thực hiện các mục tiêu của mình

Quản trị chiến lược phải toát lên đặc trưng rất cơ bản là lấy hoạch định chiến lược làm hạt nhân của toàn bộ hoạt động quản trị doanh nghiệp Hơn thế nữa quản trị chiến lược còn bao hàm cả nghĩa tổ chức thực hiện mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách toàn diện theo tầm chiến lược, luôn luôn biết nhìn xa trông rộng khi ra mọi quyết định quản trị chiến lược

Khái niệm quản trị chiến lược cũng phản ánh nội dung chủ yếu của quá trình quản trị chiến lược bao gồm ba giai đoạn: hoạch định chiến lược, tổ chức thực hiện chiến lược và kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chiến lược

II.HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC

1.Khái niệm hoạch định chiến lược:

Hoạch định chiến lược là qua trình sử dụng các phương pháp, công cụ

và kỹ thuật thích hợp nhằm xác định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

và từng bộ phận của doanh nghiệp trong thời kỳ chiến lược xác định

Trang 9

Bản chất của hoạch định chiến lược là xây dựng bản chiến lược cụ thể trong một thời kỳ xác định nào đó Mặc dù cùng xác định mục tiêu và giải pháp của DN trong một thời kỳ cụ thể song giữa hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch không giống nhau Điểm khác nhau cơ bản giữa chúng trước hết là phương pháp xây dựng: xây dựng bản kế hoạch chủ yếu dựa vào quá khứ và kinh nghiệm còn hoạch định chiến lược lại không chỉ dựa vào các dữ kiện quá khứ, hiện tại mà phải đặc biệt dựa trên cơ sở dự báo tương lai Từ đó dẫn đến sự khác biệt về bản chất giữa chiến lược và kế hoạch: kế hoạch hoàn toàn mang tính chất tĩnh và thích ứng còn chiến lược hoàn toàn mang tính chất động và tấn công

2.Qui trình hoạch định chiến lược:

2.1.Xác định mục tiêu:

Mục tiêu chiến lược là sự cụ thể hoá mục đích của doanh nghiệp về hướng, qui mô, cơ cấu và tiến trình triển khai theo thời gian Trong cơ chế thị trường nhìn chung các doanh nghiệp theo đuổi ba mục đích chủ yếu là sự tồn tại, phát triển và đa dạng hoá Hệ thống mục tiêu chiến lược còn thể hiện các mong muốn phải đạt tới các kết quả cụ thể nhất định trong thời kỳ chiến lược

Có rất nhiều cách phân loại mục tiêu chiến lược:

*Nếu xét theo tính thứ bậc thì hệ thống mục tiêu được chia thành mục tiêu cao cấp và mục tiêu thứ cấp

-Mục tiêu cao cấp thường là tối đa hoá lợi nhuận Đây là mục tiêu bao trùm, lâu dài, xuyên suốt sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

-Mục tiêu thứ cấp nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu cao cấp trên cơ sở cân bằng giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn như thị phần, năng suất

*Nếu xét theo tính chất cụ thể hệ thống mục tiêu chia thành mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể:

-Mục tiêu tổng quát mang tính chất khái quát, đảm bảo sự phát triển chung của DN như mục tiêu tồn tại, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, trách nhiệm xã hội của DN, hạn chế rủi ro

-Mục tiêu cụ thể mô tả các kết quả cụ thể mà doanh nghiệp phải đạt được trong thời kỳ cụ thể như khả năng sinh lời, doanh thu, thị phần, chất lượng

*Nếu xét theo phạm vi có mục tiêu cấp doanh nghiệp và mục tiêu cấp bộ phận

Trang 10

*Nếu xét theo thời gian thì hệ thống mục tiêu chia thành mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn

2.2.Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Môi trường kinh doanh được hiểu là tổng thể các yếu tố, các nhân tố bên ngoài và bên trong vận động tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp Có thể coi môi trường kinh doanh là giới hạn không gian mà ở đó doanh nhgiệp tồn tại và phát triển Sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào bao giừ cũng là quá trình vận động không ngừng trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động

Các nhân tố cấu thành môi trường kinh doanh luôn luôn tác động theo các chiều hướng khác nhau, với các mức độ khác nhau đến hoạt động SXKD của từng DN Có các nhân tố tác động tích cực ảnh hưởng tốt đến hoạt động SXKD của DN ngược lại cũng có những nhân tố tác động tiêu cực ảnh hưởng xấu đến hoạt động SXKD của DN Những nhân tố tác động tích cực có thể là các nhân tố bên ngoài tạo ra các cơ hội, thời cơ kinh doanh hoặc là các nhân

tố bên trong, các điểm mạnh của DN so với đối thủ cạnh tranh Còn những nhân tố tác động tiêu cực có thể là các nhân tố bên ngoài tạo ra cạm bẫy đe doạ hoạt động của DN hoặc là các nhân tố bên trong phản ảnh điểm yếu của

DN so với đối thủ cạnh tranh Để hoạch định chiến lược hoặc ra các quyết định kinh doanh, các nhà quản trị không thể không chú ý nghiên cứu, phân tích và dự báo môi trường kinh doanh

2.2.1.Phân tích ảnh hưởng của môi trường bên ngoài

2.2.1.1.Các nhân tố của môi trường bên ngoài

a,Môi trường kinh tế

Thực trạng nền kinh tế thế giới và trong nước cùng với xu hướng trong tương lai có ảnh hưởng đến thành công và chiến lược của một doanh nghiệp

Trước hết là các yếu tố kinh tế thế giới tác động mạnh mẽ đến HĐKD của các doanh nghiệp ở các nước tham gia vào quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá Khi nền kinh tế thế giới ở vào thời kỳ thịnh vượng biểu hiện thông qua các chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển như GDP, nhịp độ tăng trưởng kinh

tế, thu nhập quốc dân bình quân đầu người hàng năm thì cầu tiêu dùng tăng nhanh, đa dạng hơn Điều này kích thích trực tiếp tăng cầu các yếu tố sản xuất, phát triển kỹ thuật công nghệ tạo động lực, cơ hội cho các doang

Trang 11

nghiệp phát triển SXKD Khi nền kinh tế khu vực và thế giới rơi vào khủng hoảng do tính chất toàn cầu hoá nên mọi cuộc khủng hoảng đều có tính chất dây chuyền và ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp Mức độ ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào tính chất, qui mô của từng cuộc khủng hoảng

và các đối tượng doanh nghiệp cụ thể Ví dụ cuộc khung hoảng tài chính tiền

tệ năm 97-99 bắt đầu từ Thái lan rồi lan sang khu vực Đông Nam á, Đông á làm ảnh hưởng đến nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp của Việt nam như ngành du lịch, đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, nó cũng là cơ hội cho một số doanh nghiệp biết chớp thời cơ kinh doanh

Không những thế các nhân tố kinh tế quốc dân có vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động SXKD của các doanh nghiệp Các nhân tố chủ yếu có ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động SXKD là các chỉ tiêu biểu hiện trạng thái phát triển của nền kinh tế trong nước: tốc độ tăng trưởng, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát Thật vậy, tốc độ tăng trưởng khác nhau của nền kinh tế trong các giai đoạn thịnh vượng, suy thoái, phục hồi sẽ ảnh hưởng đến chi tiêu dùng Khi nền kinh tế trong nước tăng trưởng với mức độ cao sẽ tác động đến nền kinh tế theo hai hướng Một là, tăng thu nhập của các tầng lớp dân cư, làm tăng khả năng thanh toán cho các nhu cầu của họ Điều này dẫn tới đa dạng hoá các loại cầu và xu hướng phổ biến lầ tăng cầu Hai là, tăng hiệu quả kinh doanh của các DN nhờ khả năng tăng sản lượng và mặt hàng Điều này tạo khả năng tích luỹ vốn nhiều hơn, tạo cơ hội cho các DN đầu tư mở rộng làm cho môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến giảm chi tiêu dùng đồng thời làm tăng các lực lượng cạnh tranh Bởi vì khi nền kinh tế bị sa sút sẽ gây ra chiến tranh giá cả trong các ngành sản xuất, đặc biệt là các ngành đã trưởng thành

Mức lãi suất là một nhân tố quan trọng quyết định mức cầu cho các sản phẩm của DN và tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp đến các hoạt động nhập khẩu từ đó tác động đến các hoạt động liên quan đến xuất nhập khẩu như mua NVL, máy móc thiết bị, bán sản phẩm Do đó nếu nhà nước có chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái hợp lý sẽ tạo cơ hội tốt cho các DN phát triển hoạt động kinh doanh ngược lại có thể sẽ là những nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực cho

sự phát triển của DN

Trang 12

Tỷ lệ lạm phát, mức độ thất nghiệp sẽ tác động trực tiếp đến cả hai mặt sản xuất và tiêu dùng Khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ tác động xấu đến tiêu dùng làm cho cầu tiêu dùng các loại SP (dịch vụ) giảm Đồng thời làm giảm lượng vốn đầu tư cho kinh doanh vì các dự án đầu tư trở nên mạo hiểm hơn và nưh vậy lạm phát là mối đe doạ đối với DN Thất nghiệp luôn là vấn đề lớn tác động tiêu cực trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của DN và cả xã hội

b.Môi trường công nghệ:

Đây là loại nhân tố có ảnh hưởng lớn trực tiếp cho chiến lược kinh doanh đặc biệt tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực, ngành cũng như nhiều DN Xu thế phát triển công nghệ hiện nay có ảnh hưởng mang tính chất dây chuyền: sự thay đổi công nghệ này kéo theo sự thay đổi của công nghệ khác, xuất hiện sản phẩm mới, vật liệu mới Trong phạm vi môi trường kinh tế trong nước, nhân tố công nghệ cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng, mang tính chất quyết định đến khả năng cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh của DN Nếu các DN trong nước muốn vươn lên, tạo khả năng cạnh tranh để có thể đứng vững và vươn ra thị trường khu vực và quốc

tế thì không thể không chú ý nâng cao khả năng nghiên cứu và phát triển công nghệ, không chỉ là chuyển giao, làm chủ công nghệ nhập ngoại mà còn phải

có khả năng sáng tạo được kỹ thuật công nghệ tiên tiến

Công nghệ mới thúc đẩy hoạt động kinh doanh của DN phát triển theo hướng tăng nhanh tốc độ, đảm bảo sự ổn định bền vững trong hoạt động và bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên cần chú ý là xu hướng ảnh hưởng của

nó đối với các ngành các DN khác nhau là khác nhau nên phải phân tích tác động trực tiếp của nó đến hoạt động kinh doanh của DN thuộc ngành cụ thể nhất định

c.Môi trường văn hoá-xã hội:

Văn hoá-xã hội ảnh hưởng một cách chậm chạp song rất sâu sắc đến hoạt động kinh doanh của mọi DN Các vấn đề về phong tục tập quán, lối sống, trình độ dân trí, tôn giáo tín ngưỡng có ảnh hưởng rất sâu sắc đến cơ cấu cầu của thị trường Nhân tố này tác động trực tiếp và rất mạnh mẽ đến hoạt động của các DN trong ngành du lịch, ngành sản xuất các sản phẩm may mặc Văn hoá-xã hội còn tác động tực tiếp đến việc hình thành môi trường văn hoá doanh nghiệp, văn hoá nhóm cũng như thái độ cư xử, ứng xử của các

Trang 13

nhà quản trị, nhân viên tiếp xúc với các đối tác kinh doanh cũng như khách hàng

d,Môi trường tự nhiên:

Các nhà chiến lược luôn phải quan tâm đến các nhân tố thuộc môi trường tự nhiên Các nhân tố này bao gồm các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác, các điều kiện về địa lý như địa hình, đất đai, thời tiết, khí hậu ở trong nước cũng như từng khu vực Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng

ở mức độ khác nhau, cường độ khác nhau đối với từng loại DN ở các địa điểm khác nhau và nó cũng có tác động theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực

e,Môi trường chính trị:

Môi trường chính trị bao gồm các nhân tố chủ yếu phản ánh thay đổi chính trị thế giới và khu vực như vấn đề toàn cầu hoá, hình thành mở rộng hay phá bỏ các hiệp ước liên minh đa phương và song phương (liên minh Châu âu, khối ASEAN ) Các nhân tố này tác động tích cực và tiêu cực đến hoạt động của các DN ở mỗi quốc gia Tuy nhiên xu hướng và mức độ tác động của chúng đến các hoạt động SXKD của từng DN lại không giống nhau

Ví dụ: việc mở rộng liên minh Châu âu sẽ đem lại cơ hội mở rộng thị trường cho nhiều DN đang sản xuất và xuât khẩu sản phẩm sang khối này Song nó không chỉ tạo ra cơ hội mà còn gây ra nguy cơ, thách thức đối với hoạt động kinh doanh của các DN sản xuất cùng mặt hàng với các nước sắp trở thành thành viên của liên minh Châu âu

Không chỉ sự thay đổi chính trị thế giới, từng khu vực mà ngay cả sự thay đổi thể chế chính trị của một nước cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhiều DN ở các nước khác đang có quan hệ làm ăn kinh tế với nước đó Và đối với các DN trong một quốc gia thì sự thay đổi chính trị của quốc gia đó ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của họ.Nếu nền chính trị của quốc gia đó luôn đảm bảo sự ổn định, sự nhất quán về quan điểm chính sách lơn luôn là sự hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho các DN trong nước tiếp cận với khoa học-kỹ thuật hiện đại và tạo cơ hội để mở rộng kinh doanh,nâng cao hiệu quả kinh doanh

g.Môi trường luật pháp và quản lý nhà nước về kinh tế:

Trang 14

Luật pháp của mỗi quốc gia là nền tảng tạo ra môi trường kinh doanh

và tác động trực tiếp đến hoạt động ở thị trường của nước đó.Thực vậy, quốcgia nào ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng và được áp dụng vào cuộc sống là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng, tạo cơ hội cho các DN cạnh tranh lành mạnh;thiết lập mối quan hệ đúng đắn, bình đẳng giữa người sản xuất và người tiêu dùng; buộc người sản xuất phải làm ăn chân chính, có trách nhiệm với xã hội Còn ngược lại sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh và các hoạt động kinh doanh của DN

Tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không không chỉ phụ thuộc vào luật pháp mà còn phụ thuộc vào việc quản lý nhà nước về kinh tế Nếu các cơ quan quản lý nhà nước làm tốt công tác dự báo để điều tiết đúng đắn các hoạt động đầu tư, không để ngành hay vùng kinh tế nào phát triển theo hướng cung vượt cầu; thực hiện tốt sự phát triển độc quyền, kiểm soát độc quyền; quản lý tốt các DN nhà nước, không tạo ra sự khác biệt đối xử giữa DNNN và các loại hình DN khác; xử lý tốt các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ tỷ giá hối đoái sẽ tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của các DN và tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh bình đẳng

Ngoài ra các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế sẽ tạo ra

sự ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể

do đó sẽ tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các DN thuộc ngành, vùng kinh tế nhất định chiến lược

h,Môi trường cạnh tranh ngành:

Trong một lĩnh vực kinh doanh bao gồm nhiều DN khác nhau và họ có thể đưa ra các sản phẩm, dịch vụ giống nhau hoặc tương tự có thể thay thế cho nhau cùng thoả mãn những nhu cầu tiêu dùng cơ bản như nhau Do đó nhiệm vụ của các nhà chiến lược phải phân tích và phán đoán các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xác định các cơ hội và đe doạ đối với DN của họ Theo M.Porter môi trường cạnh tranh ngành bao gồm 5 yếu tố cơ bản:

Trang 15

h1,Các đối thủ cạnh tranh hiện tại của DN: bao gồm toàn bộ các DN đang kinh doanh cùng ngành nghề và cùng khu vực thị trường với ngành nghề kinh doanh của DN Số lượng, quy mô, sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh trong ngành đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN Nếu các đối thủ cạnh tranh càng yếu, DN càng có cơ hội để tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận Ngược lại khi các đối thủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá là rất khó Tuy nhiên cần chú ý rằng mức độ ảnh hưởng của các đối thủ cạnh tranh còn gắn với thị trường bộ phận: thông thường chỉ các đối thủ ở cùng khu vực thị trường bộ phận mới ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhau Và phạm trù thị trường bộ phận rộng hay hẹp lại tuỳ thuộc vào đặc điểm sản phẩm, dịch vụ và các điều kiện địa hình, cơ sở hạ tầng

Điều gì ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh? Theo M.Porter, ông đưa ra tám điều kiện ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh hiện tại:

-Số lượng đối thủ cạnh tranh nhiều hay ít

-Mức độ tăng trưởng của ngành là nhanh hay chậm

-Chi phí lưu kho hay chi phí cố định cao hay thấp

-Các đối thủ cạnh tranh có đủ ngân sách để khác biệt hoá sản phẩm hay chuyển hướng kinh doanh hay không

-Năng lực sản xuất của đối thủ cạnh tranh có tăng hay không và tăng ở mức

độ nào

-Tính chất đa dạng sản xuất kinh doanh của đối thủ ở mức độ nào

-Mức độ kỳ vọng của các đối thủ cạnh tranh vào chiến lược kinh doanh của

họ

-Sự tồn tại của rào cản rời bỏ ngành

h2,Các đối thủ tiềm ẩn (cạnh tranh tiềm ẩn)

Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các DN hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết định gia nhập ngành Đây là đe doạ của các DN hiện tại do đó các DN hiện tại cố

S ản phẩm thay thế

Trang 16

gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn gia nhập ngành Bởi vì càng nhiều DN có trong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn, thị trường và lợi nhuận bị chia sẻ, vị trí của doanh nghiệp bị thay đổi Mức độ thuận lợi hay khó khăn cho việc gia nhập ngành của các đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Theo M.Porter, những nhân tố tác động đến quá trình tham gia thị trường của các đối thủ mới là:

*Các rào cản thâm nhập thị trường: là những trở ngại cho việc tham gia vào ngành, khi rào cản càng cao thì cơ hội gia nhập thị trường của người mới càng khó và ngược lại Những rào cản đó bao gồm:

-Tiết kiệm quy mô

-Khác biệt hoá sản phẩm

-Nhu cầu về vốn

-Chi phí chuyển dịch

-Khó thâm nhập mạng phân phối

*Sự chống trả của các nhà sản xuất hiện tại: khi các đối thủ hiện tại có những hành động khá mạnh để không cho những người mới gia nhập thì khả năng gia nhập sẽ thấp do

-Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm

-Các doanh nghiệp có nguồn lực lơn để đấu tranh

-Các doanh nghiệp đầu tư lớn vào đó

-Mức tăng trưởng của thị trường thấp

Theo M.Porter các nhân tố sau sẽ tác động trực tiếp và tạo ra sức ép từ phía nhà cung cấp tới hoạt động mua sắm, dự trữ và tuyển dụng lạo động của DN:

Trang 17

-Số lượng nhà cung cấp nhiều hay ít

-Tầm quan trọng của các yếu tố đầu vào cụ thể đối với hoạt động của DN hay nói cách khác có sản phẩm nào thay thế không

-Sản phẩm của nhà cung cấp có là đầu vào quan trọng cho DN không

-Sản phẩm của nhà cung cấp có đặc biệt hay là khách hàng có chụi chi phí chuyển đổi không

-Khả năng nhà cung cấp cung cấp các sản phẩm mà ngành (doanh nghiệp) hiện đang cung cấp

h4,Sức ép của người mua (khách hàng)

Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm dịch

vụ do doanh nghiệp cung cấp Đối với mọi DN khách hàng không chỉ là khách hàng hiện tại mà phải tính đến cả khách hàng tiềm ẩn Nếu người mua

có nhiều quyền mặc cả, họ có thể ép giá xuống thấp, mặc cả để mua hàng có chất lượng cao hơn hay dịch vụ tốt hơn hoặc họ còn kích thích các đối thủ chạy đua với nhau để xem ai có thể cho họ giá thấp nhất Điều gì làm cho khách hàng có quyền như thế, các nguyên nhân đó là:

-Người mua mua khối lượng lớn sản phẩm của doanh nghiệp

-Sản phẩm khách hàng mua chiếm một phần lớn chi phí cố định hay đầu vào của họ

-Khách hàng cũng có quyền mặc cả khá lớn nếu sản phẩm họ mua là chuẩn và không mang tính khác biệt

-Khách hàng sẽ có nhiều quyền mặc cả nếu họ gặp ít chi phí chuyển đổi

-Khách hàng có quyền mặc cả đối với nhà cung cấp nếu họ có khả năng và nguôn lực để tự sản xuất được sản phẩm mà họ hiện đang mua

-Sản phẩm của DN không quan trọng đối với chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ của người mua

-Khách hàng có quyền mặc cả nếu họ có đầy đủ thông tin về yêu cầu sản phẩm, giá thực cảu thị trường và chi phí của nhà cung cấp

h5, Sản phẩm thay thế: là các sản phẩm khác có thể thoả mãn cùng nhu cầu của người tiêu dùng Đặc điểm cơ bản của nó thường có các ưu thế hơn sản phẩm bị thay thế ở các đặc trưng riêng biệt như tốt hơn, hoàn thiện hơn Sản phẩm thay thế là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến quá trình

Trang 18

khả năng tăng số loại sản phẩm thay thế Càng nhiều sản phẩm thay thế xuất hiện bao nhiêu sẽ càng tạo ra sức ép lớn đến hoạt động tiêu thụ của DN bấy nhiêu

2.2.1.2.Quá trình đánh giá môi trường bên ngoài

Việc đánh giá môi trường bên ngoài thực hiện qua nhiều bước, từ thu thập thông tin tới việc đánh giá về các lực lượng kinh tế, các nhân tố thuộc về

xã hội, văn hoá, các nhân tố thuộc về chính trị, nhân tố khoa học công nghệ, các nhân tố cạnh tranh Nó cũng bao gồm cả việc đánh giá mức độ liên kết giữa các đối thủ cạnh tranh, đánh gía về những nguồn thông tin có thể thu thập, đánh giá về phương thức xử lý thông tin, công nghệ thông tin đang xử

dụng Công tác đánh giá môi trường bên ngoài không thể thiếu việc dự báo

Dự báo là các xem xét, nhận xét, đánh giá về xu hướng và các sự kiện trong tương lai dựa trên những giả định và phương pháp dự báo Có nhiều phương pháp dự báo được chia thành ba nhóm chính: nhóm các phương pháp mô hình (mô hình kinh tế lượng, mô hình I/O, mô hình tối ưu hoá ), nhóm các phương pháp chuyên gia và nhóm các phương pháp kết hợp hai loại trên

2.2.2.Phân tích ảnh hưởng của môi trường bên trong

2.2.2.1.Các nhân tố của môi trường bên trong

Đánh giá tác động môi trường bên trong doanh nghiệp là nghiên cứu những gì thuộc về bản thân doanh nghiệp tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động SXKD với những đặc trưng mà nó tạo ra thường được gọi là những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp Cũng vẫn với mục đích là tạo thông tin cơ sở cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh và công tác thực hti chiến lược trong quá trình quản trị chiến lược nhưng đối tượng xem xét ở đây nằm trong tầm hoạt động, kiểm soát của DN Những nhân tố chính đại diện trong qua trình đánh giá môI trường nội bộ là: công tác marketing, tài chính- kế toán, khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển, nhân lực

a.Công tác marketing:

Có thể hiểu marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả

mãn những nhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi (Philip Kotler) Mục tiêu của công tác marketing là thoả mãn các nhu cầu và mong muốn của khách hàng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, đảm bảo cung cấp sản phẩm (dịch vụ) ổn định với chất lượng theo yêu cầu của sản xuất và giá cả

Trang 19

phù hợp giúp doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn Nội dung cụ thể của hoạt động marketing phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của doanh nghiệp:doanh nghiệp sản xuất có

hoạt động marketing khác với hoạt động marketing ở doanh nghiệp thương mại, xây lắp Do đó thông tin về marketing thường gồm hai loại là thông tin thường xuyên và thông tin đột xuất về marketing.Thông tin thường xuyên gắn với số lượng sản phẩm bán ra, doanh thu, thị phần, chi phí cho hoạt động quảng cáo Thông tin đột xuất về marketing thường gắn với tính hấp dẫn của ngành, quy mô, tốc độ tăng trưởng thị trường; cường độ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp…

b.Công tác tài chính kế toán

Tình hình tài chính tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển của DN Mọi hoạt động đầu tư, mua sắm, dự trữ cũng như khả năng thanh toán của DN ở mọi thời điểm đều phụ thuộc vào khả năng tài chính Khi đánh giá tình hình tài chính DN cần tập trung vào các vấn đề chủ yếu như: cầu về vốn và khả năng huy động vốn, việc phân bổ vốn, hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp đánh giá vị thế…

Không những thế còn phải xem xét đánh giá tác động của công tác kế toán tại DN Những con số được thống kê, tổng hợp, phân tích do bộ phận này cung cấp có được phổ biến cho các bộ phận có nhu cầu sử dụng chúng hay không Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tài chính kế toán được tính toán như thế nào? mức độ chính xác của các chi tiêu ảnh hưởng lớn đến quá trình

ra các quyết định và mục tiêu trong quản trị chiến lược…

Nói chung bộ phận chức năng về tài chính kế toán chịu trách nhiệm chính về nguồn lực đầu vào của quá trình SXKD Trước hết là việc tìm kiếm nguồn vốn, thứ đến là việc kiểm soát chế độ chi tiêu tài chính thông qua các

hệ thống kiểm soát nội bộ kết hợp với kiểm toán

c.Tác động của khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển

Khả năng sản xuất là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến hoạt động SXKD Khả năng sản xuất thường tập trung chủ yếu vào các vấn đề năng lực sản xuất như: quy mô, cơ cấu, trình độ kỹ thuật sản xuất…Các nhân tố trên

Trang 20

ứng về sản phẩm Đây là một trong các điều kiện không thể thiếu tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

Nghiên cứu và phát triển là hoạt động có mục đích sáng tạo sản phẩm (dịch vụ) mới và khác biệt hoá sản phẩm; sáng tạo cải tiến hoặc áp dụng công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật; sáng tạo vật liệu mới…Nghiên cứu và phát triển không chỉ giúp doanh nghiệp củng cố được vị trí hiện tại mà nó còn giúp doanh nghiệp vươn tới vị trí cao hơn trong ngành.Do đó những thông tin về nghiên cứu và phát triển rất cần thiết cho việc phân tích và dự báo chiến lược d.Nguồn nhân lực

Nhân lực là lực lượng lao động sáng tạo của doanh nghiệp Toàn bộ lực lượng lao động của DN bao gồm cả lao động quản trị, lao động nghiên cứu và phát triển, lao động kỹ thuật trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất Đây là nhân tố tác động rất mạnh và mang tính chất quyết định đến mọi hoạt động của DN.Chính vì vậy doanh nghiẹp cần chú trọng đảm bảo số lượng, chất lượng và cơ cấu của các loại lao động: các nhà quản trị cấp cao, các nhà quản trị cấp trung, cấp thấp; đội ngũ các thợ cả, nghệ nhân và công nhân có tay nghề cao Các thông tin cần thu thập để hoạch định chiến lược không chỉ

là những thông tin về nguồn nhân lực hiện tại mà còn là những dự báo các nguồn nhân lực tiềm ẩn Để làm được điều đó cần có các thông tin dự báo ở giai đoạn tương lai thích hợp về quy mô, đặc điểm của thị trường lao động gắn với lực lượng lao động, thông tin về năng lực và chi phí kinh doanh sử dụng lao động

e.Cơ cấu và nề nếp tổ chức

Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá, được giao những trách nhiệm và quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp Các doanh nghiệp luôn phảI chú trọng hai vấn đề chính là luôn đánh gía đúng thực trạng cơ cấu tổ chức trên cả hai mặt là hệ thống tổ chức và cơ chế hoạt động của nó và khả năng thích ứng của

cơ cấu tổ chức trước các biến động của môi trường kinh doanh NgoàI ra doanh nghiệp phải chú ý đánh giá hiệu quả của cơ cấu tổ chức thông qua các chỉ tiêu: tốc độ ra quyết định, tính kịp thời và độ chính xác của các quyết định…Khi tiến hành tìm hiểu các thông tin về cơ cấu tổ chức các nhà hoạch

Trang 21

định chiến lược còn cần xem xét đến các thông tin về nề nếp tổ chức của doanh nghiệp

2.2.2.2.Quá trình đánh giá môi trường bên trong

Quá trình đánh giá môi trường bên trong thường tương ứng cùng kúc với quá trình thực hiện đánh giá môi trường bên ngoài Quá trình này cũng bao gồm việc thu thập thông tin và đánh giá về công tác markting, tài chính

kế toán, nhân lực Từ đó xác định được điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp Mô hình dùng để đánh gía môi trường nội bộ là ma trận IFE (Internal Factor Evaluation Matrix) Đây là công cụ cho việc hoạch định chiến lược, tổng kết và đánh giá lại những mặt mạnh và mặt yếu trong các lĩnh vực chức năng của doanh nghiệp

2.3.Phân tích và lựa chọn chiến lược

2.3.1Bản chất:

Mục tiêu của việc phân tích và lựa chọn chiến lược chính là việc thiết lập lên các mục tiêu dài hạn và tạo ra các chiến lược thay thé, lựa chọn ra trong số đó một vài chiến lược để theo đuổi Phân tích và lựa chọn chiến lược nhằm định ra hàng loạt các hành động mà nó có thể giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu Chiến lược hiện tại, các mục tiêu và sứ mạng, kết hợp với đánh giá bên ngoài và đánh giá nội bộ là cơ sở để đưa ra các chiến lược

Với các phần trên doanh nghiệp có thể thu thập được các thông tin về môi trường bên trong và bên ngoài một cách có hệ thống Các thông tin có thể

là thông tin về cạnh tranh, thông tin về nguồn nhân lực, thông tin về nhgiên cứu và phát triển, thông tin về tài chính… Từ đó,tổng hợp được các kết quả phân tích và đánh giá môi trường kinh doanh và sắp xếp theo xu hướng và mức độ tác động của chúng.Tiếp đó là việc sử dụng các mô hình lựa chọn, xem xét tới các giai đoạn nhập dữ liệu, kết nối các dữ liệu và thông tin phân tích được và sản phẩm cuối cùng thu được sẽ là các chiến lược cần theo đuổi.Các mô hình như ma trận SWOT,SPACE,BCG,IFE cần được vận dụng

để có được những đánh gía định lượng chính xác hơn

2.3.2.Các mô hình phân tích:

2.3.2.1.Ma trận BCG (BOSTON CONSULTING GROUP)

Nhóm tư vấn Boston đã đi từ việc quan sát các doanh nghiệp đa dạng

Trang 22

có thể chuyển giao và phối hợp các nguồn lực Ma trận BCG sử dụng hai chỉ tiêu là: tốc độ tăng trưởng của thị trường và thị phần tương đối

Trong ma trận BCG thị phần tương đối là thị phần của doanh nghiệp so với người dẫn đầu trong ngành hay so với người thứ hai nếu doanh nghiệp là người đứng đầu và được thể hiện ở trục hoành Đó là tỷ số giữa doanh số của doanh nghiệp so với doanh số của đối thủ cạnh tranh nguy hiểm nhất.Bên trái

là các hoạt động có thị phần tương đối nhỏ hơn 1 có nghĩa là các hoạt động này có đối thủ cạnh tranh lớn hơn nó Bên phải là tất cả các hoạt động có vị trí thống lĩnh trên thị trường.Trục tung phản ánh tốc độ tăng trưởng của thị trường hàng năm.Phần trên biểu thị tốc độ tăng trưởng thị trường lớn hơn 10%, phần dưới có tốc độ tăng trưởng nhỏ hơn 10% Như vậy ma trận BCG được chia thành 4 ô, mỗi ô ứng với một loại hoạt động liên quan đến một chiến lược cho trước: ô ngôi sao, ô thế đôi ngả, ô điểm chết, ô bò sữa

Mặc dù ma trận BCG đơn giản song có hạn chế là chỉ sử dụng hai chỉ tiêu đơn

để mô tả hai chiều của ma trận và cũng chỉ chia mỗi trục thành hai mức cao

và thấp.Mặt khác, thị phần và tăng trưởng có thể không tương xứng với mức

độ quan trọng của nó được thể hiện trong ma trận và việc cân đối dòng luân chuyển tiền không quan trọng như lợi nhuận

Hoặc: Rơi vào điểm chết

-Bảo toàn thị phần tương đối

- Đầu tư có tính chất bảo vệ -T ập trung trọng điểm vào việc

c ực đại hóa Cash flow

Điểm chết

-Tối thiểu hoá đầu tư, tiếp tục

SX khi Cash flow còn d ương

-Bán,thanh lý n ếu Cash flow âm

Trang 23

Để hình thành các ý tưởng chiến lược trên cơ sở cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu cần sử dụng ma trận SWOT (S=Strenghts, W=Weaknesses, O=Opportunities, T=Threats) Đây là ma trận mà một trục

mô tả các điểm mạnh, điểm yếu; trục kia mô tả các cơ hội, nguy cơ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời kỳ xác định chiến lược Các ô là giao điểm của các ô tương ứng mô tả các ý tưởng chiến lược nhằm tận dụng cơ hội, khai thác điểm mạnh, hạn chế nguy cơ cũng như khắc phục điểm yếu Cơ sở để hình thành các ý tưởng chiến lược của ma trận SWOT là

ma trận thứ tự ưu tiên cơ hội, nguy cơ và bảng tổng hợp phân tích và đánh giá môi trường bên trong doanh nghiệp Những nhân tố được sắp xếp theo thứ tự

ưu tiên sẽ được đưa vào các hàng và cột của ma trận này

MA TRẬN SWOT SWOT

Cơ hội (O)

Chiến lược sử dụng điêm mạnh để vượt qua

Giảm thiểu các điểm yếu tránh khỏi đe doạ (W/T)

Trang 24

PHẦN II

TỔNG QUAN VỀ NGÀNH

XÂ Y DỰNG

PHẦN II: TỔNG QUAN NGÀNH XÂY DỰNG

Việc khôi phục kinh tế sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi năm 1954, ở Miền Bắc cần có lực lượng chuyên trách đảm nhiệm việc xây dựng đất nước.Ngày 24/9/1958 Nhà nước đã quyết định tách Bộ Thuỷ lợi-Kiến trúc thành hai Bộ Thuỷ lợi và Bộ Kiến trúc được giao nhiệm

vụ xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội theo kế hoạch Nhà nước Ngành Xây dựng được hình thành từ đó, ngoài lực lượng xây dựng của Bộ Kiến trúc còn có thêm lực lượng xây dựng của các Bộ,ngành Trung Ương và các địa phương trong cả nước

Trong suốt 45 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng ngành Xây dựng không ngừng lớn mạnh trên cả ba lĩnh vực thi công xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng, qui hoạch và phát triển đô thị Khi ngành Xây dựng mới thành lập, lực lượng chỉ có vài nghìn công nhân; gần chục kỹ sư công chính và kiến trúc sư Nhưng ngày nay, lực lượng xây dựng cả nước đã phát triển lên tới hàng chục vạn công nhân lành nghề; hàng vạn kỹ sư, kiến trúc sư, cán bộ trung cấp kỹ thuật với hàng trăm giáo sư, tiến sĩ khoa học kỹ thuật Lúc mới thành lập chỉ có một trường trung cấp (được tách ra từ trường Cao đẳng Giao thông Công chính), một lớp hoạ viên, một lớp công nhân trắc địa, một trường nghiệp vụ và một lớp đại học Kiến trúc.Ngày nay, đã có hàng chục trường trung cấp, hai trường đại học là trường Đại học Kiến trúc Hà nội

và trường đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh

Khi chuyển đổi nền sản xuất từ chế độ tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường và tổ chức sắp xếp lại lực lượng sản xuất theo cơ chế đổi mới, đa

Trang 25

dạng hoá các ngành sản xuất kinh doanh, ngành Xây dựng cũng gặp phải không ít khó khăn chủ yếu tập trung vào ba vấn đề nhạy cảm nhất của Doanh nghiệp Xây dựng là kinh tế, tổ chức và nhân sự Vì mô hình bộ máy quản lý ngành Xây dựng từ Trung ương đến địa phương trong một thời gian dài bị chi phối bởi cơ chế tập trung bao cấp, có số lượng biên chế rất đông nhưng chất lượng lao động không đồng đều, kém hiệu quả Khi thực hiện cơ chế Thị trường, các Doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao như thi công xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng thì tự xoay sở thích ứng được nhưng các đơn vị kinh tế hành chính sự nghiệp thuộc lĩnh vực quản lý đô thị và quản lý nhà đất ít có khả năng sinh lợi nhuận thì gặp rất nhiều khó khăn Song nhờ sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ và sự cố gắng chung của toàn thể cán bộ công nhân viên chức ngành Xây dựng, các khó khăn trên cũng dần được khắc phục

và bắt đầu phát triển có hiệu quả

Nếu nói đóng góp cụ thể của ngành Xây dựng thì cho thấy có ba thành tựu lớn sau đây:

*Xây dựng cho đất nước một đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật xây dựng lành nghề đông đảo, có trình độ chuyên môn cao, đủ sức hoàn thành các nhiệm vụ thi công xây lắp; phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng; xây dựng và phát triển đô thị đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước

*Xây dựng cho đất nước được một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật vững mạnh để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, đời sống xã hội, giao thông vận tải, thuỷ lợi, an ninh, quốc phòng đưa đất nước từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu

*Tạo ra cho đất nước nhiều trung tâm kinh tế, đô thị đó là các thành phố, thị

xã, thị trấn ở cả 3 miền Bắc Trung Nam; khắp các vùng đồng bằng, miền núi, miền biển góp phần thay đổi bộ mặt của đất nước trên con đường Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

II.VAI TRÒ CỦA NGÀNH XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY:

Năm 2003 Việt nam đã đạt được rất nhiều thành tựu về kinh tế, khoa học công nghệ, ngoại giao, xuất nhập khẩu làm đổi thay cuộc sống của người dân từ đô thị đến miền núi cao, biên giới, hải đảo Đối với ngành Xây

Trang 26

xây dựng ngày càng phong phú, nhiều kết quả nghiên cứu đã ứng dụng thành công vào thực tiễn Nhưng dấu ấn lớn nhất đối với ngành Xây dựng là Luật Xây dựng đã được Quốc Hội thông qua nhờ sự nỗ lực làm việc bền bỉ của bao người trong sự chờ đợi trông mong của nhân dân cả nước

Kỷ niệm 45 năm ngày truyền thống ngành Xây dựng và Đại hội 10 công đoàn ngành Xây dựng Việt nam hàng nghìn cuộc vận động, thi đua được phát động trên khắp các công trường, cơ quan, nhà máy.Tin vui liên tiếp đưa

về từ các công trình lớn như: Hầm đường bộ qua đèo Hải Vân, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, công trình thuỷ điện Sê San 3, nhà máy xi măng Hải Phòng…đến các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, các sở xây dựng, viện nghiên cứu…Chỉ cách đây mấy năm, liệu có ai tin nổi chuyện một đội quân gồm các chuyen gia tư vấn từ nước chuyên xử lý sự cố hầm đường bộ phải chịu đầu hàng trước sự phức tạp về địa chất công trình tại hầm đường bộ qua đèo Hải Vân Thế mà bằng phương án của mình những người xây dựng Việt nam đã xử lý thành công, tiết kiệm cho Nhà nước hàng triệu USD Hay như khu liên hợp thể thao quốc gia Mỹ Đình-Hà Nội cũng do các doanh nghiệp Việt nam thi công chỉ trong vòng 14 tháng, góp phần quyết định vào thành công rực rõ của đại hội thể thao Đông Nam Á (SEAGAMES 22)

Cùng với những công trường sôi động là cuộc sống bình yên nơi đô thị Dẫu hình ảnh kiến trúc đô thị chưa được như mong muốn nhưng dù là người khó tính nhất đến thăm các thành phố, thị xã của chúng ta hôm nay cũng phải công nhận sự đổi mới dần đi vào quy củ, nề nếp Hàng loạt các thành phố, thị

xã như Bắc Ninh, Đà Nẵng, Ninh Bình, Vũng Tàu,…đã gặt hái được những thành công bước đầu trong công tác quy hoạch tạo động lực phát triển kinh tế –xã hội cho các vùng miền, cải thiện đáng kể đời sống vật chất, tinh thần của người dân.Đó chính là kết quả sự định hướng, chỉ đạo đúng đắn của Bộ Nhằm đổi mới và tạo bước đột phá trong hoạt động của ngành, Bộ Xây dựng

đã chọn ba lĩnh vực trọng tâm là: quy hoạch xây dựng; quản lý chất lượng xây dựng; sắp xếp đôi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Nhà nước Các tổng công ty bằng nội lực và quyết tâm của mình đã vươn lên trong hiện đại hoá và cạnh tranh, kinh doanh đa ngành trên cơ sở phát triển ngành chuyên môn sâu của mình để vững vàng chuyển từ vị trí ‘làm thuê” trở thành

Trang 27

“chủ đầu tư” hàng loạt các dự án lớn về xi măng, thuỷ điện, cầu đường, công trình hạ tầng kỹ thuật, xây dựng khu đô thị mới, khu công nghiệp

Thành công vượt bậc của việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước,thí mô hình công ty mẹ – công ty con, đã tạo điều kiện về vốn, sở hữu,

mô hình quản lý góp phần đưa giá trị sản lượng toàn ngành tăng bình quân 14,5% (năm 2003 ngành công nghiệp-xây dựng dẫ đóng góp vào GDP 39,9

%) Chúng ta đã tự sản xuất được 90 % vật liệu xây dựng, 55 – 60 % thiết bị cho nhà máy gạch Tuy nen, tấm lợp… các mặt hàng vật liệu xây dựng còn được xuất khẩu ra 26 nước, nhiều thương hiệu đã có uy tín trên thương trường quốc tế

Mặc dù chúng ta đã gặt hái được nhiều thành công cả trong lĩnh vực quản lý nhà nước lẫn sản xuất kinh doanh nhưng vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong quy hoạch xây dựng Hàng chục căn nhà cao 4-5 tầng phải cưỡng chế phá bỏ vì không tuân theo quy hoạch, những vụ tai nạn chết người, những căn nhà sập đổ ở thành phố Hồ Chí Minh, Buôn Mê Thuột… quy hoạch xây dựng chi tiết phục vụ trực tiếp việc xây dựng và quản lý xây dựng theo quy hoạch triển khai còn rất chậm Tình trạng quy hoạch thiếu hiện thực, xây dựng không phép, trái phép còn khá phổ biến Trật tự xây dựng còn lỏng lẻo, vai trò

cá nhân và vai trò của chủ đầu tư chưa được làm rõ khiến tình trạng lãng phí thất thoát chưa được đẩy lùi

III.SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHO NGÀNH XÂY DỰNG

Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng, ngành Xây dựng đã có bước phát triển về mọi mặt Nhiều lĩnh vực hoạt động xây dựng như khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng đã có bước trưởng thành vượt bậc, có thể thiết kế, thi công các công trình coa qui mô lớn, yêu cầu kỹ thuật cao Hoạt động xây dựng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng các công trình công nghiệp, đan dụng và hạ tầng kỹ thuật Hệ thống văn bản pháp qui về xây dựng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, kịp thời phục vụ công tác quan lý Nhà nước về xây dựng

Tuy nhiên, cho tới nay hoạt động xây dựng vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế Hiện tượng xây nhà ở không phép, trái phép vẫn còn diễn ra phổ biến

Trang 28

xây dựng theo quy hoạch chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức; việc đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình còn nhiều khiếu kiện; tình trạng xây dựng lộn xộn, lấn chiếm đất công làm ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường đô thị chưa được xử lý triệt để Nguyên nhân của tình trạng này là do công tác lập quy hoạch chưa được tiến hành đồng bộ, kịp thời, thị trường xây dựng phát triển nhanh chóng nhưng lại thiếu cơ chế quản lý

phù hợp; công tác quản lý nhà nước còn phân tán, chồng chéo, không thống nhất thậm trí có lúc có nơi còn buông lỏng; hệ thống văn bản pháp quy về xây dựng còn thiếu đồng bộ, hiệu lực pháp lý thấp mới chỉ dừng lại ở cấp độ Nghị định chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý toàn diện các hoạt động xây dựng

Từ những bức xúc trên, luật Xây dựng vừa được Quốc hội thông qua là văn bản pháp lý cao nhất có ý nghĩa to lớn, đáp ứng nhưng đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội, thể chế hoá các quan điểm của Đảng, đáp ứng những nguyện vọng của nhân dân, luật hoá các qui phạm trước đó đã đi vào cuộc sống, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển ngành Xây dựng, tạo khuôn khổ pháp lý cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng phát triển mạnh

mẽ Mặt khác, luật Xây dựng còn góp phần nâng cao vai trò trách nhiệm quản

lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển và quản lý thị trường xây dựng; hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng thất thoát, lãng phí, kém chất lượng trong hoạt động xây dựng, khắc phục tình trạng yếu kém trong quản lý đầu tư, lập quy hoạch và quản lý xây dựng theo quy hoạch Không những thế luật Xây dựng còn khắc phục tình trạng chồng chéo, không đồng bộ, hiệu lực pháp lý thấp của những văn bản hiện hành về lĩnh vực xây dựng Đồng thời là cơ sở định hướng cho sự phát triển của ngành Xây dựng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2010-2020

Có thể thấy rằng trong giai đoạn hiện nay ngành Xây dựng cần phải xây dựng cho mình một chiến lược phù hợp vừa góp phần thúc đẩy, lành mạnh hoá hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế vừa đáp ứng đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Trong nghị quyết đại hội

toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ ra rằng cần đổi mới cơ bản công tác xây

Trang 29

dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và điều chỉnh mạnh cơ cấu kinh tế Cụ thể:

• Nâng cao chất lượng quy hoạch: sớm ban hành Nghị định về công tác quy hoạch, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất giữa quy hoạch chung của cả nước, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành và quy hoạch vùng Rà soát việc quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp; chú trọng xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và và nhỏ phục vụ công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp

và nông thôn gắn với bảo vệ môi trường

• Công bố rộng rãi các chiến lược và quy hoạch để các doanh nghiệp tự quyết định lựa chọn đầu tư kinh doanh Quy định rõ trách nhiệm thực hiện quy hoạch và kiểm tra giám sát việc thực hiện quy hoach; rà soát, bổ sung điều chỉnh các quy hoạch và triển khai lập các quy hoạch mới theo yêu cầu điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển của đất nước

• Tăng cường đầu tư cho công tác lập và quản lý chiến lược, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn Chú trọng quản lý kiến trúc đảm bảo xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, trật tự, kỷ cương

Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch có chính sách điều chỉnh mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư và cơ cấu lao động trong từng ngành, từng vùng theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá nhằm phát huy lợi thế so sánh gắn với thị trường trong nước và thế giới

IV.CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA NGÀNH XÂY DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN 2005-2010

Thực hiện nghị quyết Đại hội đảng lần thứ IX, các nghị quyết của Hội nghị ban chấp hành Trung ương đảng lần III về chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2002-2007, Bộ Xây dựng đã đề ra chương trình hành động trong giai đoạn tới như sau:

1.Công tác quản lý Nhà nước và phát triển ngành

1.1.Công tác xây dựng văn bản pháp quy pháp luật nhằm tạo hành lang pháp

lý phục vụ công tác quản lý xây dựng

Trang 30

Để triển khai nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ tới của Chính phủ, chương trình hành động của Bộ Xây dựng hướng tới những nội dung sau: 1.1.1Hoàn thiện về cơ bản một số văn ban pháp quy pháp luật mạng tính chất khung, tạo hành lang pháp lý trong công tác quản lý Xây dựng, định hướng cho công tác đổi mới cơ chế quản lý ngành

Bộ tập trung chỉ đạo việc nghiên cứu soát xét và đề xuất cơ chế chính sách quản lý nhà nước Ngành xây dựng để trình Chính phủ ban hành, nhằm thống nhất quản lý các hoạt động trong xây dựng như: quy hoạch kiến trúc, quản lý đầu tư xây dựng, quản lý phát triển nhà (nhà ở và các loại nhà phục

vụ cho hoạt động quản lý, sản xuất-kinh doanh), quản lý phát triển các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị Trước mắt hoàn thành việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật như:Hoàn thành luật xây dựng và các Nghị định hướng dẫn thực hiện luật xây dựng; Nghị định về quan lý quy hoạch xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng, hợp đồng giao nhận thầu trong xây dựng, quản lý chất lượng công trình xây dựng Hoàn thiện Nghị định về quản

lý đầu tư và xây dựng (sửa đổi, bổ sung Nghị định 52/CP và 12/CP và các QPPL khác)

1.1.2.Ban hành theo thẩm quyền một số văn bản hướng dẫn thực hiện công tác quản lý nhà nước ngành Xây dựng

Trọng tâm là việc hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật

do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành; quy định các điều kiện hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế, giám sát xây dựng, chỉ đạo quản lý xây dựng theo quy hoạch, quản lý sử dụng các loại nhà, quản lý xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, các hình thức quản lý hợp đồng và thanh toán trong xây dựng, các hoạt động thẩm định, hoạt động bảo hiểm xây dựng

1.1.3.Ban hành hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật:

-Ban hành đồng bộ hệ thống các cơ chế chính sách quản lý giá trong các lĩnh vực: Kiến trúc quy hoạch, thị trường bất động sản, đô thị, phát triển vật liệu xây dựng, hạ tầng kỹ thuật, xây dựng

-Ban hành đồng bộ các hệ thống định mức kinh tế- kỹ thuật trong ngành Xây dựng (khoảng 20.000 định mức)

Trang 31

-Thoả thuận để các Bộ, ngành, địa phương ban hành các loại định mức kinh tế-kỹ thuật chuyên ngành và các loại định mức phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương

1.2.Công tác xây dựng và phát triển ngành:

Mục tiêu của Bộ trong giai đoạn này là tập trung chỉ đạo hoàn thành từng bước những chiến lược, định hướng lớn của Ngành được Chính phủ, Thủ tướng chính phủ phê duyệt như: Định hướng phát triển hệ thống đô thị Việt nam đến năm 2020; chiến lược bảo vệ môi trường ngành Xây dựng Đồng thời nghiên cứu đề xuất những dịnh hướng, biện pháp lớn trong công tác đầu

tư phát triển ngành:

1.2.1.Tăng cường vai trò của công tác quy hoạch trong định hướng phát triển:

Đổi mới mạnh mẽ công tác quy hoạch kiến trúc, xây dựng nền kiến trúc hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới, tập trung chỉ đạo thực hiện định hướng phát triển đô thị và chương trình khung thực hiện định hướng kiến trúc Việt nam đến năm 2020 Trong giai đoạn 2005-2010 phấn đấu thực hiện các mục tiêu sau:

-Hoàn thành công tác quy hoạch 5 vùng trong tổng số 10 vùng kinh tế cả nước (Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Vùng kinh tế trọng điểm nam bộ và Đông nam bộ, Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ và Trung trung bộ, sơ đồ quy hoạch xây dựng vùng Tây bắc, sơ đồ quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu long)

-Hoàn thành việc quy hoạch xây dựng 570 thị trấn, điều chỉnh quy hoạch chung cho khoảng 40 đô thị, tỉnh lị Lập quy hoạch xây dựng quản lý đất đai

và hành lang giao thông cho 16 trục giao thông quốc gia liên vùng Quy hoạch xây dựng vùng ngoại ô cho khoảng trên 10 đô thị từ loại 2 trở lên trong cả nước Trong giai đoạn trước mắt Bộ sẽ tập trung chỉ đạo vào một số nhiệm vụ như: Định hướng quy hoạch xây dựng phục vụ cho các dự án trọng điểm lớn của nhà nước như dự án thuỷ điện Sơn la, dự án cụm khí- điện- đạm Cà mau

-Hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ về phân loại và cấp quản lý

đô thị, từng bước hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết và điều lệ quản lý xây dựng theo quy hoạch Nghiên cứu quy hoạch và định hình hệ thống các khu công nghiệp trong cả nước làm cơ sở để triển khai các dự án

Trang 32

1.2.2.Đẩy mạnh chương tình phát triển nhà ở, hạ tầng kỹ thuật tại các đô thị

và các điểm dân cư nông thôn

-Hoàn thiện cơ bản công tác bán nhà ở thuộc quyền sở hữu của nhà nước cho các bộ đang thuê và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở

-Hoàn thiện việc thực hiện chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng

Chỉ đạo tổ chức triển khai xây dựng và thực hiện một số chương trình: +Chương trình cải tạo và nâng cấp các khu chung cư cao tầng tại các đô thi lớn đang bị xuống cấp, hư hỏng, không an toàn

+Chương trình đầu tư xây dựng nhà ở cho sinh viên (khoảng350.000 m2) chủ yếu tại một số thành phố lớn tập trung các trường đại học

+Chương trình xây dựng nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp tập trung, dự kiến khoảng 1 triệu m2 ,tập trungtại 1 số tỉnh như TP Hồ Chí Minh,

Hà nội, Hải phòng phục vụ cho khoảng 300.000 công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp, trong đót trên 150.000 người gặp khó khăn về chỗ ở +Chương trình xây dựng các khu dân cư phục vụ cho việc di dời, giải toả để nâng cấp đô thị

-Hoàn thành chương tình phát triển nhà ở cụm, tuyến dân cư vùng ngập lụt Đồng bằng sông Cửu long (bao gồm 1043 cụm tuyến dân cư và khoảng 1.000.000.000 căn nhà an toàn trong điều kiện lũ lụt) Triển khai xây dựng chương trình phát triển nhà ở tại vùng bão lũ Miền trung, Tây nguyên và miền núi phía Bắc

b.Chương trình phát triển hạ tầng kỹ thuật

-Đến năm 2007 phấn đấu 80% dân số đô thị được cấp nước với tiêu chuẩn

80-100 lít/người/ngày Các đô thị từ thị xã trở lên được phủ kín hệ thống cấp

Trang 33

nước sạch Tại Hà nội và TP Hồ chí minh đạt tiêu chuẩn 120lít/người/ngày Các đô thị loại 2 nằm trong hành lang phát triển kinh tế đảm bảo 85-90% dân số được cấp nước theo tiêu chuẩn 120-140lít/người/ngày Phấn đấu khoảng 60% dân số tại các thị trấn, thị tứ được cấp nước với tiêu chuẩn 60lít/người/ngày

100 Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thoát nước mưa, nước thải cho tất cả các đô thị từ loại 2 trở lên; triển khai từng bước xây dựng hệ thống thoát nước cho các đô thị loại 3,4 khi có điều kiện

-Đồng bộ hoá hệ thống cấp nước, thoát nước cho các khu đô thị mới, các dự

án khu dân cư và khu công nghiệp, đặc biệt là việc triển khai đồng bộ công tác xử lý nước thải, môi trường, trồng cây xanh, chiếu sáng đối với các khu công nghiệp

-Đảm bảo thu gom được 75-90% chất thải rắn tại các đô thị Tại các đô thị lớn phấn đấu giảm tỷ lệ thất thoát nước xuống dưới 30%, từng bước hình thành

cơ sở hạ tầng kỹ thuật mang tính chất vùng liên tỉnh

1.2.3.Tập trung chỉ đạo công tác quản lý và đầu tư phát triển vật liệu xây dựng, cơ khí xây dựng

-Mục tiêu phấn đấu của ngành Xây dựng giai đoạn 2005-2010 nhằm đạt được những mục tiêu sau:

• Sản lượng xi măng đạt : 30-32 triệu tấn

và lĩnh vực cấp nước Sản xuất được một số loại máy móc thiết bị thi công

trong xây dựng như: máy xúc, máy ủi, trạm trộn bê tông công suất lớn

-Đầu tư xây dựng một số nhà máy sản xuất bông sợi thuỷ tinh, vật liệu cách nhiệt, một số sản phẩm gỗ nhân tạo, vật liệu nhẹ phục vụ cho nhu cầu xây dựng Xây dựng một số nhà máy sản xuất thép hình, gia công chế tạo các sản phẩm cơ khí xây dựng

Trang 34

Để thực hiện các mục tiêu trên, trong giai đoạn tới Bộ sẽ tập trung chỉ đạo vào các vấn đề sau:

-Chỉ đạo triển khai quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp xi măng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 164/QĐ-TTg ngày 18/11/2002)

-Hoàn thành việc quy hoạch phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng đến năm

2010, định hướng đến năm 2020 Trước mắt là điều chỉnh quy hoạch phát triển VLXD tại 8 vùng kinh tế trong cả nước, tiếp tục triển khai cho các tỉnh, thành phố trong đó tập trung vào những vùng, những tỉnh có thế mạnh và điều kiện phát triển VLXD

-Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành sản xuất một số nhà máy xi măng, VLXD Tiếp tục chỉ đạo triển khai đầu tư xây dựng các dây chuyền sản xuất xi măng và trạm nghiền xi măng theo quy hoạch đã đượ Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và các nhà máy san xuất VLXD mới Xây dựng

hệ thống kho cảng phục vụ công tác cung ứng xi măng

-Nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị nhà nước những cơ chế, chính sách và biện pháp trong hoạt động sản xuất-kinh doanh-xuất nhập khẩu VLXD

-Chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu công nghiệp VLXD do các đơn

vị trongg ngành làm chủ đầu tư Triển khai xây dựng một số khu công nghiệp VLXD mới phục vụ cho các dự án trọng điểm của nhà nước

-Phối hợp với một số Bộ, Ngành và địa phương điều tra, tham dò, đánh giá trữ lượng và quản lý khai thác nguồn tài nguyên VLXD trong cả nước

1.3.Nâng cao năng lực huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả đầu tư

Mục tiêu của Bộ trong giai đoạn này chỉ đạo các doanh nghiệp thuộc bộ chuyển hướng đầu tư vào các lĩnh vực là thế mạnh của mình; huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các lĩnh vực thuộc ngành quản lý đồng thời phát huy hiệu quả các nguồn vốn của các nước, các tổ chức quốc tế tài trợ trong các dự án hạ tầng kỹ thuật bao gồm:

-Nâng cao năng lực kinh doanh và mở rộng đầu tư vào các dự án phát triển nhà ở, các khu công nghiệp, các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật, các dự án VLXD; mở rộng đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp như điện, cầu, đường giao thông và các ngành khác

Trang 35

-Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tài trợ song phương và đa phương của các nước và các tổ chức quốc tế như WB, ADB, EC

-Tiếp tục triển khai có hiệu quả và mở rộng các chương trình dự án của các nước và tổ chức tài trợ trong các lĩnh vực: dự án cấp nước cho thành phố, thị xã,dự án phát triển đô thị vừa và nhỏ và nhà ở cho các tỉnh miền Trung -Nghiên cứu các cơ chế chính sách khuyến khích đối với các thành phần kinh

tế hợp tác, hợp tác xã,tư nhân tham gia đầu tư vào các lĩnh vự thuộc ngành quản lý: sản xuất VLXD, cấp nước, thu dọn và xử lý rác thải

1.4.Phát triển kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

-Xây dựng chương trình và lộ trình của ngành Xây dựng gia nhập WTO, thực hiện các cam kết AFTA và hiệp định thương mại Việt-Mỹ trong các lĩnh vực

tư vấn, xây dựng, san xuất VLXD; chuẩn bị các phương án cam kết về dịch

vụ, hàng hoá và đầu tư trong khuôn khổ khu vực mậu dịc tự do ASEAN- Trung quốc

-Xây dựng chiến lược xuất nhập khẩu VLXD, trước mắt là kế hoạch nhập khẩu clinker, xi măng để đảm bảo nhu cầu xi măng cho nhu cầu xây dựng trong một vài năm tới; định hướng cho công tác nhập khẩu các loại VLXD mói và công nghệ, trang thiết bị cho nhu cầu đổi mới, tăng công suất trong lĩnh vực xây dựng, sản xuất VLXD, cơ khí xây dựng

-Đầu tư cho makerting mở rộng thị trường tiêu thụ một số loại sản phẩm VLXD đang được thị trường nước ngoài chấp nhận

-Nghiên cứu khả năng các doanh nghiệp Việt nam liên doanh liên kết với các doanh nghiệp thuộc khối ASEAN hoạt động tại thị trường các nước trong khối về lĩnh vực xây dựng, sản xuất VLXD, chú trọng đến lĩnh vực đào tạo tư vấn thiết kế

-Nghiên cứu đề xuất các chương trình hợp tác về khoa học công nghệ, đào tạo với các nước thuộc khối APEC,ASEM,ASEAN trong lĩnh vực xây dựng

1.5.Phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

-Phối hợp với các UBND các Tỉnh, Thành phố xác định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các sở xây dựng, Sở giao thông công chính, Sở quy hoạch kiến trúc và Sở địa chất cho phù hợp với đặc điểm, năng lực thực hiện và nhu cầu

Trang 36

Bộ đến các địa phương Thành lập thêm một số Trung tâm và Viện quy hoạch tại các địa phương

-Tiếp tục tổ chức việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần

-Xây dựng và áp dụng, mở rộng cơ chế hoạt động, quy chế tài chính cho mô hình Công ty mẹ-con, công ty TNHH một thành viên thuộc ngành Xây dựng, hình thành tập đoàn kinh tế mạnh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh xi măng

1.6.Phát triển khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, tăng khả năng cạnh tranh và phát triển kinh tế-xã hội

Tập trung chỉ đạo, xây dựng chương trình KHCN và hoàn chỉnh hệ thống các tiêu chuẩn quy phạm trong quản lý xây dựng bao gồm:

-Triển khai thực hiện chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mang tính khả thi, phù hợp với thực tiễn quản lý xây dựng, tập trung vào một số lĩnh vực:nâng cao năng lực tư vấn, thiết kế và giám sát chất lượng xây dựng; phát triển cơ khí xây dựng, làm chủ các loại công nghệ xây dựng hiện đại, công nghệ trong sản xuất các loại vật liệu mới và vật liệu thay thế

-Tự chủ trong công tác thiết kế, thi công và kiểm tra chất lượng nhà cao tầng (kể cả nhà trên 30 tầng) Thi công thành thạo các loại, dạng kết cấu: tổ hợp thép-bê tông, bê tông dự ứng lực, kết cấu thép khẩu độ lớn

-Xây dựng đồng bộ hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng Việt nam phù hợp với tiến trình hội nhập Quốc tế và khu vực như: quy chuẩn phòng chống cháy trong xây dựng, quy chuẩn bê tông và thiết kế bê tông

2.Công tác cải cách hành chính

-Tiếp tục chương trình cải cách hành chính của Bộ theo chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước trong giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ theo hướng tập trung đầu mối, đơn giản các quy trình, thủ tục trong việc xử lý các công việc có liên quan đến các lĩnh vực thuộc sự quản lý của ngành

-Thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc của các cơ quan Bộ theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan chủ trì và cơ quan tham gia trong việc giải quyết nhiệm vị được giao, tăng cường phân cấp quản lý và trách nhiệm của các cá nhân, đơn vị trong quá trình thực hiện

-Đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động mạng tin học theo chương trình 112 của Chính phủ nâng cao năng lực áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt

Trang 37

động quản lý ngành, tạo sự thông suốt trong chỉ đạo điều hành của Bộ đến các thành phần kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất công tác

Trang 38

PHẦN III:

PHÂN TÍCH CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CHO TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG GIAI ĐOẠN 2005-2010

A.GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG

I.Quá trình hình thành và phát triển Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng

Ngày 31/8/1958, Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng) đã ra quyết định

số 299/QĐ-BKT thành lập công ty Kiến trúc Hải phòng sau được đôi tên là Công ty Xây dựng số 16 và là tiền thân của Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng ngày nay Thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý của Đảng và Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 6 tháng 3/1996, Tổng công Xây dựng Bạch đằng được thành lập theo quyết định số 270/QĐ-BXD ngày 15/3/1996 (Theo mô hình tổng công ty 90) trên cơ sở nâng cấp Công ty Xây dựng số 16 thuộc Bộ Xây dựng

Cho đến nay, Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng đã trở thành một tập đoàn xây dựng lớn của Bộ Xây dựng bao gồm nhiều đơn vị thành viên có cơ cấu tổ chức, quản lý hoàn chỉnh, có công nghệ xây dựng tiên tiến, hiện đại và hoạt động trên nhiều lĩnh vực xây dựng khác nhau Trong những năm qua Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng đã thi công rất nhiều các công trình lớn, hiện đại thuộc các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước được xây dựng trên lãnh thổ Việt nam và quốc tế

Trụ sở chính của Tổng công ty được đặt tại: 288 Đường Trần Nguyên Hãn-quận Lê Chân-Hải Phòng Tel : 031.856251- 031.856529 Fax: 031.856451

Ngoài ra Tổng công ty còn đặt một văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh (12C5 Chu Văn An-quận Bình Thạnh) và một chi nhánh tại Hà nội (số

5 Hoa Lư- quận Hai Bà Trưng)

Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng được tổ chức trên cơ sở kết hợp giữa tính đa năng và tính chuyên môn hoá sâu hiện đại nhằm thực hiện nhiệm

vụ kinh doanh ở các lĩnh vực chính sau:

Trang 39

-Thi công xây dựng và lắp đặt các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, bưu điện, sân bay, bến cảng, công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp, công trình đường dây, trạm biến thế điện…

-Kinh doanh phát triển nhà, dịch vụ du lịch

-Tư vấn đầu tư và xây dựng

-Vận tải đường bộ đường thuỷ

-Sản xuất và cung ứng vặt tư, thiết bị, vật liệu xây dựng

-Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị, công nghệ xây dựng

-Các ngành nghề kinh doanh khác theo quy định của pháp luật

Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng luôn đứng đầu trong việc xây dựng các công trình có quy mô xây dựng lớn, hiện đại, phức tạp về mặt kết cấu, khó khăn về giải pháp xây dựng, đặc biệt có nhiều kinh nghiệm xây dựng các nhà máy xi măng có công nghệ hiện đại Do vậy uy tín của Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng ngày càng được nâng cao trong thị trường xây dựng trong nước và quốc tế

II.Cơ cấu tổ chức quản lý và kết quả hoạt động của Tổng công ty trong một số năm gần đây

1.Cơ cấu tổ chức:

Tổng công ty Xây dựng Bạch đằng có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ,được thể hiện trong sơ đồ 3.1.Bao gồm Hội đồng quản trị,Tổng giám đốc, các phòng ban cơ quan Tổng công ty và các công ty trực thuộc Tổng công ty

-Hội đồng quản trị có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các hoạt động trong Tổng công ty; phê duyệt chiến lược, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, phê duyệt điều lệ hoạt động của Tổng công ty và các nội dung sửa đổi…thông qua báo cáo tài chính 6 tháng hoặc năm của Tổng công ty và các đơn vị thành viên, xem xét

kế hoạch thu hồi vốn, bảo lãnh các khoản vay, phương án thành lý tài sản của các đơn vị thành viên…

-Tổng giám đốc có nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn

và hàng năm, dự án đầu tư, hợp tác đầu tư, các biện pháp thực hiện các hợp đồng có giá trị lớn để trình Hội đồng quản trị phê duyệt; điều hành các hoạt động kinh doanh của Tổng công ty và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của Tổng công ty …

Trang 40

-Các phòng ban cơ quan Tổng công ty có chức năng, nhiệm vụ được quy định

rõ trong các quyết định số 08,09,10…15/QĐ-TCT của Tổng công ty bao gồm Phòng Dự án, Phòng Kế hoạch đầu tư, Phòng Khoa học công nghệ, Phòng Tài chính kế toán, Phòng Lao động tiền lương và Văn phòng

-Các đơn vị trực thuộc Tổng công ty thực hiện các nhiệm vụ do Tổng công ty giao để hoàn thành các mục tiêu của Tổng công ty về doanh thu, lợi nhuận và các mục tiêu khác

Ngày đăng: 11/11/2018, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w