1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện công tác quản lý cung ứng và sử dụng điện trên địa bàn thành phố hà nội

106 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ghi trong Qui định điều độ hệ thống điện Quốc gia trong quan hệ với các đơn vị sản xuất, truyền tải, phân phối điện và các bên có liên quan khác, đồng thời tu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-  -

DƯƠNG VĂN KỶ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CUNG ỨNG VÀ SỬ DỤNG ĐIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHAN THỊ NGỌC THUẬN

HÀ NỘI 2004

Trang 2

MỤC LỤC

Phần I: Tổng quan về sản xuất cung ứng điện năng và các văn bản pháp

luật về hoạt động sản xuất cung ứng và sử dụng điện 6

I.1 Năng lượng và vấn đề sản xuất điện năng 7 I.2 Quá trình sản xuất điện năng trong nhà máy điện 10

II Các văn bản pháp luật qui định về sản xuất, cung ứng và sử

II.2 Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép họat động điện lực 22 II.3 Điều kiện sản xuất, truyền tải và điều độ hệ thống điện 23

II.6 Qui định về sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp 34

III Những đặc điểm về sản phẩm và kinh doanh điện năng 35

Trang 3

Phần II: Phân tích thực trạng công tác quản lý cung ứng và sử dụng điện

trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Phần III: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý cung ứng và sử dụng điện

trên địa bàn thành phố Hà Nội

88

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

3 HLATLĐCA Hành lang an toàn lưới điện cao áp

Trang 5

MỞ ĐẦU

Ngày nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh mẽ, đời sống xã hội cũng nâng cao nhanh chóng Nhu cầu điện năng trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt theo đó cũng tăng trưởng không ngừng Vì vậy, Điện lực là ngành kinh tế - kỹ thuật có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cùng với sự phát triển của đất nước, ngành

đã phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội, góp phần xứng đáng của mình trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân Mục tiêu đặt ra cho tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh sản phẩm là:

- Đối với khách hàng: phải làm sao để đáp ứng đủ nhu cầu của họ với chất lượng tốt nhất

- Đối với bản thân doanh nghiệp: luôn mong muốn lôi kéo được khách hàng với số lượng lớn nhất để có được lợi nhuận cao nhất

Hơn nữa, ngành Điện không phải chỉ là một đơn vị sản xuất kinh doanh đơn thuần mà còn là một đơn vị tham gia phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội Và cùng với mục tiêu trên đã đặt ra cho Điện lực Hà Nội một bài toán hóc búa, phải tìm được hai đáp số đó là: lợi ích của xã hội và lợi ích của chính Công ty Do đó, Công ty cần phải cân bằng được giữa cung ứng và sử dụng điện để có thể tìm được một lời giải tối ưu cho bài toán

Là một cán bộ ngành Điện, đồng thời cũng là khách hàng sử dụng điện, tôi thấy mình phải có một trách nhiệm để tham gia giải bài toán học búa trên

Chính vì vậy, trong Bài luận văn này tôi đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công

tác cung ứng và sử dụng điện trên địa bàn Thành phố Hà Nội”

Kết cấu của Đề tài ngoài Mở đầu và Kết luận còn gồm 3 phần chính:

Phần I: Tổng quan về sản xuất cung ứng điện năng và các văn bản pháp luật về hoạt động sản xuất cung ứng và sử dụng điện Trong đó tôi đã

Trang 6

sống, đặc điểm và tình hình sản xuất kinh doanh điện năng của ngành điện nói chung và của Điện lực Hà Nội nói riêng

Phần II: Phân tích thực trạng công tác quản lý cung ứng và sử dụng điện trên địa bàn Thành phố Hà Nội Trong phần này tôi đã đi sâu tìm hiểu

về hiện trạng cung ứng và sử dụng điện trên địa bàn Thành phố Hà Nội để thấy

rõ những ưu điểm và nhược điểm để cố gắng hoàn thiện hơn công tác này, góp phần đưa Điện lực Hà Nội tiến thêm một bước cùng ngành điện và sự phát triển kinh tế của cả nước

Phần III: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý cung ứng và sử dụng điện trên địa bàn thành phố Hà Nội Trong phần này, nhìn nhận lại những

vấn đề còn tồn tại trong công tác cung ứng và sử dụng điện của Thành phố Hà Nội, tôi đã đưa ra một vài ý kiến của bản thân mà theo tôi nghĩ và hy vọng sẽ hoàn thiện được những vấn đề còn tồn tại đó

Vì thời gian và tài liệu tham khảo còn hạn chế nên Đề tài của tôi không tránh khỏi sai sót, tôi rất mong nhận được sự cảm thông và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc để Đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Qua đề tài này tôi xin chân thành cảm ơn Điện lực Hà Nội đã nhiệt tình cung cấp số liệu và đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo

PGS.TS Phan Thị Ngọc Thuận đã tận tình hướng dẫn giúp tôi hoàn thành

bài Luận văn này

Học viên

Dương Văn Kỷ

Trang 7

P hần I

TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT, CUNG ỨNG ĐIỆN NĂNG VÀ CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CUNG ỨNG VÀ SỬ DỤNG ĐIỆN

Trang 8

I Tổng quan về sản xuất - cung ứng điện năng

I.1 Năng lượng và vấn đề sản xuất điện năng

I.1.1 Năng lượng và hệ thống năng lượng

Năng lượng, theo cách nhìn tổng quát, là rất rộng lớn trong vũ trụ, cả thế giới là năng lượng Chỉ riêng năng lượng mặt trời đã có trữ lượng gấp hàng chục tỷ lần năng lượng tiêu thụ trên thế giới hàng năm Nhưng năng lượng ngày càng gay cấn và là vấn đề rất lớn của thế giới Điều đó thật là dễ hiểu, để

có năng lượng dùng được ở những hộ tiêu thụ, năng lượng sơ cấp phải trải qua nhiều công đoạn như khai thác, chế biến, vận chuyển và phân phối Các công đoạn này đòi hỏi nhiều chi phí về tài chính, kỹ thuật và các ràng buộc xã hội Hiệu suất qua các công đoạn kể từ nguồn năng lượng sơ cấp đến năng lượng dùng được (năng lượng cuối) nói chung còn rất thấp Quá trình chuyển đổi từ năng lượng sơ cấp đến năng lượng cuối có thể mô tả như trên hình 1-1

Năng lượng sơ cấp tồn tại dưới các dạng sau:

Hóa năng: nhiên liệu trong

lòng đất, than đá, dầu, khí đốt tự

nhiên nhiên liệu sinh khối, gỗ,

chất thải nông nghiệp, ;

Thế năng (thủy năng): nước

của các dòng thác, các dòng sông

ở một độ dốc nhất định, nước thủy

triều;

Động năng: năng lượng gió

năng lượng sóng biển;

Nhiệt năng: năng lượng mặt

trời, địa nhiệt, nhiệt đại dương;

Năng lượng hạt nhân: năng

lượng của lò phản ứng hạt nhân;

Cơ năng: sức kéo động vật

và sức cơ bắp của con người

Hình 1- 1 Sơ đồ các công đoạn chuyển đổi năng lượng và sử dụng năng lượng

N ăng lượng sơ cấp

Năng lượng thứ cấp

N ăng lượng cuối

N ăng lượng hữu ích

Bi ến đổi

n ăng lượng

Chuy ển đổi phân phối

Trang 9

Sau khi khai thác, qua các công đoạn biến đổi (nhà máy điện, nhà máy lọc dầu, nhà máy chế biến than ) năng lượng sơ cấp chuyển thành năng lượng thứ cấp như: điện năng, nhiệt năng, et xăng, dầu đốt, khí đốt Năng lượng thứ cấp được phân phối đến các hộ tiêu thụ Các thiết bị tiêu thụ năng lượng (lò nhiệt, động cơ điện, ) biến đổi năng lượng cuối thành năng lượng hữu ích Năng lượng hữu ích được biểu diễn dưới dạng kcal, kWh, mà các hộ tiêu thụ năng lượng tiêu tốn chưa kể đến hiệu suất của các thiết bị dùng năng lượng

Hình 1- 2 Hệ thống năng lượng quốc gia

Năng lượng được sử dụng trong các lĩnh vực giao thông, nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt Nhu cầu tiêu thụ năng lượng phụ thuộc vào cơ cấu hệ thống kinh tế - xã hội của mỗi nước, mỗi khu vực

Từ một dạng năng lượng sơ cấp có thể qua các công nghệ năng lượng khác nhau để đạt tới các dạng năng lượng hữu ích khác nhau Ngược lại, mỗi loại năng lượng hữu ích đều có thể nhận được từ các loại năng lượng sơ cấp khác nhau Hay nói khác đi, các công đoạn năng lượng có mối quan hệ đa phương nhưng rất chặt chẽ để bảo đảm sự cân bằng giữa nguồn và tiêu thụ, có xét đến hiệu suất của các công đoạn Như vậy hệ thống năng lượng bao gồm các nguồn năng lượng, các khâu chế biến, truyền tải, phân phối và tiêu thụ

Trang 10

năng lượng Hệ thống năng lượng thường được xây dựng theo địa dư, vùng, một quốc gia hay một khu vực các quốc gia Hình 1-2 là sơ đồ hệ thống năng lượng quốc gia

Hình 1- 3 Sơ đồ nguyên lý một hệ thống điện

Trang 11

Trên hình 1-3 là một thí dụ về sơ đồ nguyên lý của một hệ thống điện Nó bao gồm các nhà máy điện: nhiệt điện ngưng hơi (NĐN), nhiệt điện rút hơi (NĐR), thủy điện (TĐ); các đường dây tải điện 220, 110, 35 kV và mạng điện cung ứng 6 - 10kV

Trạm A nối với hệ thống khác bằng đường dây 500kV Trạm B là trạm trung gian để nối các lưới cấp 220 và 110 kV, tại đây còn đặt máy bù đồng bộ phía 10kV Các trạm C, D, E, F cung ứng điện năng trực tiếp cho các hộ tiêu thụ Các đường dây D làm nhiệm vụ nối các trạm biến áp và các nhà máy điện Các nhà máy điện nối chung trong một hệ thống sẽ nâng cao tính đảm bảo cung ứng điện liên tục cho các hộ tiêu thụ vì chúng hỗ trợ nhau khi có sự cố một nhà máy nào đấy Hệ thống điện chỉ có thể làm việc đảm bảo và kinh tế khi có sự điều khiển thống nhất của trung tâm điều độ hệ thống điện Nối các nhà máy điện thành hệ thống đòi hỏi tăng vốn đầu tư để xây dựng các trạm và đường dây tải điện, nhưng có thể thu hồi vốn đầu tư nhanh chóng vì giá thành điện năng hạ, tính đảm bảo cung ứng điện năng

I.2 Quá trình sản xuất điện năng trong nhà máy điện

Căn cứ vào dạng năng lượng sơ cấp cung cấp cho nhà máy điện mà người

ta phân loại chúng thành nhiệt điện (NĐ), thủy điện (TĐ), điện nguyên tử (NT), điêden, thủy triều, phong điện, quang điện, Riêng đối với nhà máy NĐ còn phân thành hai loại: nhiệt điện rút hơi (NĐR) và nhiệt điện ngưng hơi (NĐN)

Sau đây sẽ giới thiệu quá trình sản xuất điện năng trong từng loại nhà máy điện

1 Nhà máy nhiệt điện ngưng hơi (NĐN)

Sơ đồ nguyên lý quá trình sản xuất điện năng của NĐN được trình bày trên hình 1-4 Từ kho nhiên liệu (than, dầu), qua hệ thống cấp nhiên liệu 2, nhiên liệu được đưa vào lò 3 Nhiên liệu được sấy khô bằng không khí nóng từ quạt gió 10, qua bộ sấy không khí 12 Nước đã được xử lý hóa học, qua bộ hâm nước 13 đưa vào nồi hơi của lò Trong lò xảy ra phản ứng cháy: hóa năng biến thành nhiệt năng Khói, sau khi qua bộ hâm nước 13 và bộ sấy không khí 12 để tận dụng nhiệt, thoát ra ngoài qua ống khói nhờ quạt khói 11

Nước trong nồi hơi nhận nhiệt năng, biến thành hơi có thông số cao (áp suất P = 130 - 240kG/cm2, nhiệt độ t = 540 - 5650C) và được dẫn đến tuabin 4

Trang 12

Tại đây, áp suất và nhiệt độ của hơi nước giảm cùng với quá trình biến đổi nhiệt năng thành cơ năng để quay tuabin

Tuabin quay làm quay máy phát: cơ năng biến thành điện năng

Hơi nước sau khi ra khỏi tuabin có thông số thấp (áp suất P = 0,03 - 0,04kG/cm2; nhiệt độ t = 400C) đi vào bình ngưng 5 Trong bình ngưng, hơi nước đọng thành nước nhờ hệ thống làm lạnh tuần hoàn Nước làm lạnh (5 -

250C) có thể lấy từ sông, hồ bằng bơm tuần hoàn 6 Để loại trừ không khí lọt vào bình ngưng, bơm tuần hoàn chọn loại chân không

Từ bình ngưng 5, nước ngưng tụ được đưa qua bình gia nhiệt hạ áp 14 và đến bộ khử khí 15 nhờ bơm ngưng tụ 7 Để bù lượng nước thiếu hụt trong quá trình làm việc, thường xuyên có lượng nước bổ sung cho nước cấp được đưa qua bộ khử khí 15 Để tránh ăn mòn đường ống và các thiết bị làm việc với nước ở nhiệt độ cao, trước khi đưa vào lò, nước cấp phải được xử lý (chủ yếu khử O2, CO2) tại bộ khử khí 15

Hình 1- 4 Sơ đồ nguyên lý quá trình sản xuất điện năng của NĐN

1 Kho nhiên liệu; 2 hệ thống cấp nhiên liệu; 3 lò hơi; 4 tuabin; 5 bình ngưng;

6 bơm tuần hoàn; 7 bơm ngưng tụ; 8 bơm cấp nước; 9 vòi đốt; 10 quạt gió;

11 quạt khói; 12 bộ sấy không khí; 13 bộ hâm nước; 14 bình gia nhiệt hạ áp;

15 bộ khử khí; 16 bình gia nhiệt cao áp.

Nước ngưng tụ và nước bổ xung sau khi được xử lý, nhờ bơm cấp nước 8 được đưa qua bình gia nhiệt cao áp 16, bộ hâm nước 13 rồi trở về nồi hơi của lò 3

Trang 13

Người ta cũng trích một phần hơi nước ở một số tầng của tuabin để cung cấp cho các bình gia nhiệt hạ áp 14, cao áp 16 và bộ khử khí 15

Nhà máy NĐN có những đặc điểm sau:

1 Thường được xây dựng gần nguồn nhiên liệu;

2 Hầu hết điện năng sản xuất được phát hết lên lưới điện cao áp;

3 Làm việc với đồ thị phụ tải tự do;

4 Tính linh hoạt trong vận hành kém Khởi động và tăng phụ tải chậm;

5 Hiệu suất thấp (η 30 ÷ 40%)

6 Khối lượng nhiên liệu lớn; Khói thải làm ô nhiễm môi trường

2 Nhà máy nhiệt điện rút hơi (NĐR)

Nhà máy NĐR đồng thời sản xuất điện năng và nhiệt năng Về nguyên lý hoạt động giống như NĐN, nhưng ở đây lượng hơi được rút ra đáng kể từ một

số tầng của tuabin để cấp cho các phụ tải nhiệt công nghiệp và sinh hoạt Vì thế hiệu suất chung của nhà máy tăng lên

Do có rút nhiệt phục vụ cho công nghiệp, nên NĐR có các đặc điểm khác với NĐN, cụ thể là:

1 Thường được xây dựng gần phụ tải nhiệt;

2 Phần lớn điện năng sản xuất ra cấp cho phụ tải cấp điện áp máy phát;

3 Để đảm bảo hiệu suất cao đồ thị phụ tải điện phụ thuộc vào phụ tải nhiệt;

4 Tính linh họat trong vận hành cũng kém như NĐN;

5 Hiệu suất cao hơn NĐN (η = 60 - 70%)

3 Nhà máy điện nguyên tử (NT)

NT sản xuất điện năng từ nhiệt

năng do phản ứng hạt nhân tạo ra

Nhiên liệu hạt nhân có khả năng tạo

nhiệt năng rất cao; chẳng hạn phân

hủy 1 kg U235 tạo nhiệt năng tương

đương với đốt 2900 tấn than đá Vì

vậy NT có ý nghĩa rất lớn với vùng

khan hiếm nhiên liệu than, dầu, khí

và các vùng khó vận chuyển nhiên

liệu tới

Trang 14

4 cơ cấu điều chỉnh; 5,6 bảo vệ sinh học; 7 vòng chu trình tải nhiệt

Sơ đồ nguyên lý quá trình sản xuất cơ bản như NĐN, chỉ khác ở các điểm sau:

- Lò hơi của NĐN được thay bằng lò phản ứng hạt nhân;

- Để tránh nguy hiểm cho người và thiết bị do phóng xạ, người ta dùng hai hay ba vòng chu trình nhiệt chứ không phải chỉ có một vòng chu trình nhiệt như trong NĐN

Sơ đồ nguyên lý của lò phản ứng hạt nhân giới thiệu trên hình 1-5

Nhiên liệu hạt nhân được sử dụng là uran, plutoni, thori và các hợp chất của chúng Nhiên liệu dùng ở dạng thanh, tấm, viên hay hình cầu được đặt trong vỏ để cách ly với chất tải nhiệt lượng

Để duy trì phản ứng dây chuyền hạt nhân phải dùng đồng vị U235 nhưng

nó tồn tại rất ít trong tự nhiên Điều chế U235 rất phức tạp, giá thành cao; vì vậy người ta dùng trực tiếp Uran tự nhiên hay tuyển khoáng của nó có trị số vài phần trăm U235 để làm nhiên liệu hạt nhân trong lò phản ứng hạt nhân

Hình 1- 6 Sơ đồ nguyên lý NT hai chu trình nhiệt

a) Loại lò nước - nước; b) Loại lò nước - than chì

1 Lò phản ứng; 2 Bộ trao đổi nhiệt; 3 Tuabin;

4 Máy phát điện; 5.Bình ngưng; 6 Bơm ngưng tụ; 7 Bơm tuần hoàn

Khi phân hủy hạt nhân Uran sẽ tạo ra các nơtron nhanh có năng lượng rất lớn Trong Uran tự nhiên hay Uran tuyển khoáng yếu, phản ứng dây truyền hạt nhân với nơtron nhanh sẽ không được tiến triển Vì vậy các nơtron nhanh cần được hãm lại thành nơtron nhiệt (còn gọi là nơtron chậm) để làm cho phản ứng dây truyền tiến triển Chất hãm thường dùng là: nước, nước nặng hay than chì

Để ngăn các tia phóng xạ ra ngòai, bảo vệ cho người, lò phản ứng được bao bọc bằng những lớp nước hay bêtông dầy

Trang 15

Phân loại các lò phản ứng hạt nhân theo các nguyên tắc khác nhau

- Theo mức năng lượng của nơtron, có lò phản ứng nhiệt (với nơtron nhiệt) và lò phản ứng nhanh (với nơtron nhanh);

- Theo khả năng tái sinh nhiên liệu, có loại lò tăng lượng (với nơtron nhanh, hệ số tái sinh từ 1,5 trở lên) và loại lò thổi (hệ số tái sinh 1 ÷ 1,1);

- Theo nguyên lý phân phối nhiên liệu và chất hãm có loại là đồng nhất và không đồng nhất;

- Theo loại chất hãm có lò hạt nhân loại nước, loại nước nặng, loại than chì v.v

Người ta còn phân loại lò phản ứng hạt nhân trên cơ sở loại chất tải nhiệt hay loại chất hãm và chất tải nhiệt kết hợp và chúng có tên gọi tương ứng với loại chất sử dụng Ví dụ khi dùng chất tải nhiệt và chất hãm đều là nước thì có

lò phản ứng hạt nhân loại nước - nước, v.v

Lò phản ứng hạt nhân nơtron nhiệt thường dùng loại lò nước - nước, mà

sơ đồ nguyên lý của nó biểu diễn trên hình 1-6a Quá trình sản xuất điện năng của nó như sau: nước thuộc chu trình thứ nhất lưu chuyển nhờ bơm tuần hoàn

7 Tại bộ trao đổi nhiệt 2 xẩy ra sự truyền nhiệt của nước chu trình thứ nhất cho nước ở chu trình thứ hai Đối với chu trình nhiệt thứ hai tương tự như chu trình nhiệt của NĐN

Lò phản ứng hạt nhân loại nước - nước có nhược điểm là không có khả năng tạo ra hơi với thông số cao, nên hiệu suất của nhà máy không cao Trên hình 1-6b giới thiệu sơ đồ lò phản ứng hạt nhân loại nước - than chì: nước chỉ đóng vai trò chất tải nhiệt lượng, còn than chì đóng vai trò chất hãm Chu trình nhiệt thứ hai phần hơi nước tiếp xúc trực tiếp với lò phản ứng, nên nâng cao hiệu quả kinh tế làm việc của nhà máy, tuy nhiên có tính phóng xạ yếu

Hình 1- 7 Sơ đồ nguyên lý NT ba chu trình nhiệt với lò phản ứng hạt nhân tăng lượng.

a) Nguyên lý thực hiện vùng hiệu quả của lò; b) Sơ đồ nguyên lý NT

Trang 16

Ngoài U235 còn dùng các nhiên liệu hạt nhân khác trong NT Hiệu quả nhất là dùng nhiên liệu hạt nhân Plutoni Pu tạo từ U238 Vùng hiệu quả của lò phản ứng (hình 1-7a) bao gồm Uran tuyển khoáng U235 và các nơtron nhanh tác động lên U238 để biến thành Plutoni Pu Phương pháp tái sinh nhiên liệu hạt nhân như thế rất hiệu quả vì đồng thời trong lò phản ứng thoát ra một nhiệt lượng rất lớn, nâng cao hiệu suất sản xuất điện năng Đây chính là loại lò phản ứng tăng lượng

Lò phản ứng hạt nhân tăng lượng được dùng trong NT với ba chu trình nhiệt (hình 1-7b)

Trong NT ba chu trình nhiệt, chu trình nhiệt thứ nhất (gọi là chu trình lò)

và chu trình nhiệt thứ hai (gọi là chu trình trung gian) chất tải nhiệt là natri dạng lỏng, còn chu trình nhiệt thứ ba dùng chất tải nhiệt là nước Vì natri dạng lỏng gây phản ứng mãnh liệt với nước dạng hơi nên phải có chu trình nhiệt trung gian với chất tải nhiệt là natri dạng lỏng không phóng xạ

NT có một số đặc điểm là có khả năng làm việc độc lập; khối lượng nhiên liệu nhỏ; vận hành linh hoạt; đồ thị phụ tải tự do; không thải khói ra ngòai khí quyển; vốn xây dựng lớn; hiệu suất cao hơn nhiệt điện

Nhà máy điện nguyên tử hiện nay đang được chú ý phát triển vì rằng năng lượng tích trữ trong nguyên tử rất lớn Người ta thống kê được rằng năng lượng của Uran và Thôri trên thế giới hiện nay gấp khoảng 23 lần năng lượng của tất cả các nguồn cộng lại

4 Nhà máy thủy điện (TĐ)

Nhà máy thủy điện dùng năng lượng dòng chảy của sông, suối để sản xuất điện năng Công suất của TĐ phụ thuộc vào lưu lượng nước Q(m3/s) và chiều cao hiệu dụng của cột nước H(m) của dòng nước tại nơi đặt máy

trong đó: η - hiệu suất; k - hệ số tỷ lệ

Trong các TĐ, cột nước nói chung được tạo do đập ngăn (hình 1-8) Phía trước đập gọi là thượng lưu, còn phía sau đập là hạ lưu Chiều cao hiệu dụng của cột nước chính là độ chênh mực nước giữa thượng và hạ lưu Thượng lưu

có hồ chứa dùng để trữ nước cần thiết cho điều chỉnh sản xuất điện năng

Trang 17

Hình 1-8 giới thiệu mặt cắt ngang của TĐ Đập ngăn 1 có cấu tạo bê tông Gian máy 3 là nơi đặt tuabin và máy phát được bố trí ở phía chân đập phần hạ lưu Ống dẫn áp lực 2 đi trong hay trên bề mặt của đập Nước theo ống dẫn áp lực xuống tuabin, biến thế năng của dòng nước thành cơ năng quay tuabin 4, sau đó qua khoang hút nước 7 đi ra hạ lưu Tuabin làm quay máy phát điện 5 đặt cùng trục với tuabin, biến cơ năng thành điện năng Van 9 và khóa điều khiển 8 dùng để điều chỉnh dòng chảy vào tuabin

Hình 1- 8 Sơ đồ mặt cắt ngang thủy điện kiểu đập ngăn

Trong TĐ máy biến áp 6 thường đặt gần gian máy trong khu đập ngăn, còn thiết bị phân phối có thể đặt ở khu vực đập ngăn hay đặt ở khu vực khác tùy theo địa hình nhà máy

Đối với vùng núi, TĐ được xây dựng bằng cách tận dụng độ dốc tự nhiên của sông Ở đây công trình dẫn nước không đi theo sông mà đi tắt ngang (hình 1-9) TĐ như thế gọi là TĐ kiểu ống dẫn Ở đầu đoạn sông đặt công trình lấy nước 1, rồi từ đó nước qua ống dẫn 2 đi vào bể áp lực 3 Đập 7 làm dâng nước, tạo dòng nước mạnh đi vào ống dẫn nước Ống dẫn 2 có độ nghiêng không

Trang 18

đáng kể so với độ nghiêng tự nhiên của đoạn sông AB Ống dẫn áp lực 4 chịu

độ nghiêng H hầu như bằng độ lệch mức nước Hp của đoạn sông Nước từ bể

áp lực 3, qua ống dẫn áp lực 4 đi vào tuabin trong gian máy 5, rồi trở về dòng sông B qua kênh tháo nước 6

Trong hệ thống điện (HTĐ) còn có TĐ kiểu đặc biệt Đó là thủy điện tích năng Nhà máy này thường có hai hồ chứa nước (một ở thượng lưu, một ở hạ lưu) nằm ở hai độ cao khác nhau Nhà máy này làm việc ở hai chế độ: chế độ sản xuất điện năng và chế độ tiêu thụ điện năng

Hình 1- 9 TĐ kiểu ống dẫn.

a) Mặt bằng; b) Mặt cắt

Khi HTĐ có phụ tải cực tiểu, các máy phát điện làm việc ở chế độ động

cơ, còn tuabin ở chế độ bơm, nghĩa là máy phát điện tiêu thụ điện năng từ HTĐ để bơm nước từ hồ chứa nước hạ lưu lên hồ chứa nước thượng lưu Chế

độ làm việc này gọi là chế độ tích năng Ngược lại, khi phụ tải của HTĐ cực đại, HTĐ có nhu cầu điện năng, máy phát điện làm việc ở chế độ sản xuất điện năng Nước chảy từ hồ chứa thượng lưu xuống hồ chứa nước hạ lưu, làm quay tuabin, quay máy phát điện, sản xuất điện năng và cung cấp cho HTĐ

Như vậy TĐ tích năng góp phần làm bằng phẳng đồ thị phụ tải của HTĐ, nâng cao hiệu quả kinh tế trong vận hành các nhà máy nhiệt điện

Qua quá trình sản xuất điện năng trong TĐ nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của chúng như sau:

1 Xây dựng gần nguồn thủy năng;

Trang 19

2 Phần lớn điện năng sản xuất ra được phát lên thanh góp phía cao áp;

3 Làm việc với đồ thị phụ tải tự do (khi có hồ chứa nước);

4 Vận hành linh hoạt: thời gian khởi động và mang tải chỉ mất từ 3 đến 5 phút Trong khi đó đối với nhiệt điện, để khởi động một tổ máy phải mất 6 ÷ 8 giờ

5 Hiệu suất cao η = 85 - 90%

6 Vốn đầu tư xây dựng lớn, thời gian xây dựng kéo dài;

7 Giá thành điện năng thấp

5 Nhà máy điện dùng sức gió (động cơ gió phát điện)

Người ta lợi dụng sức gió để quay hệ thống cánh quạt đối diện với chiều gió Hệ thống cánh quạt hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp qua bộ biến tốc làm quay máy phát điện, sản xuất ra điện năng Điện năng sản xuất ra thường được tích trữ bằng ắc qui

Công suất của động cơ gió được xác định theo công thức:

P = Cp η1 η2 η3 0,5 ρ S V3 (1-2) Trong đó:

(Cpmax = 0,59 - giới hạn của Betz)

η1 η2 η3 - hiệu suất của bộ biến tốc, máy phát và ắc qui

η1 ≈ 0,95; η2 ≈ 0,80; η3 ≈ 0,80

Đối với động cơ gió phát điện gặp nhiều khó khăn trong điều chỉnh tần số vì vận tốc gió luôn thay đổi Động cơ gió phát điện thường có hiệu suất thấp, công suất đặt nhỏ, giá thành điện năng cao Vì vậy động cơ điện gió chỉ dùng ở các vùng hải đảo xa xôi và những nơi thật cần thiết như đèn hải đăng chẳng hạn

6 Nhà máy điện dùng năng lượng bức xạ mặt trời

a Pin mặt trời

Pin mặt trời còn gọi là pin quang điện Nó cấu tạo gồm hai lớp bán dẫn p và bán dẫn n tiếp xúc với nhau Lớp tiếp xúc giữa gọi là lớp chuyển tiếp p-n Dưới

Trang 20

tác dụng của ánh sáng mặt trời vào lớp chuyển tiếp p-n có sự khuếch tán của các hạt dẫn cơ bản qua lớp tiếp xúc tạo nên một điện trường và do đó có hiệu điện thế không tải - hay suất điện động của quang điện - suất điện động quang điện tăng theo sự tăng cường độ chiếu sáng Khi mắc tải (đèn, đài, ) vào pin mặt trời tạo thành mạch điện kín Như vậy, pin mặt trời biến đổi trực tiếp bức xạ mặt trời thành điện năng, không qua bước trung gian về nhiệt

Hiện nay, trên thế giới người ta chế tạo tế bào pin mặt trời có kích thước 1dm x 1dm hay tròn có đường kính 1dm Tế bào pin này cho công suất 1W trong điều kiện bức xạ mặt trời là 1kW/m2 Công suất của pin tỷ lệ thuận với cường độ bức xạ mặt trời Tùy theo hộ tiêu thụ (đài bán dẫn, casset hay tivi) mà người ta ghép các tế bào pin mặt trời thành các tổ hợp tấm, mảng

Năng lượng điện do pin mặt trời sản xuất ra cũng được tích trữ bằng ắc qui Cũng như động cơ điện gió, pin mặt trời chỉ được thực hiện ở cỡ công suất nhỏ, hiệu suất thấp, giá thành cao, chỉ được dùng ở vùng đảo xa và dùng trong thông tin là chính

b Nhà máy điện dùng bức xạ mặt trời có thể có dạng như NĐ, mà trong đó

lò hơi được thay bằng hệ thống kính hội tụ để thu nhận nhiệt lượng bức xạ mặt trời để tạo hơi nước quay tuabin

Theo địa dư, trạm biến áp được phân loại thành trạm biến áp khu vực và trạm biến áp địa phương

Trạm biến áp khu vực được cung cấp điện từ mạng điện khu vực (mạng điện chính) của HTĐ để cung cấp điện cho một khu vực lớn bao gồm các thành phố, các khu công nghiệp v.v Điện áp của trạm khu vực phía sơ cấp là 110,

Trang 21

220kV, còn phía thứ cấp là 110, 35, 10 hay 6kV Trạm biến áp địa phương là những trạm biến áp được cung cấp điện từ mạng phân phối, mạng địa phương của HTĐ cấp cho từng xí nghiệp, hay trực tiếp cấp cho các hộ tiêu thụ với điện

áp thứ cấp thấp hơn

Ở các phía cao và hạ áp của trạm biến áp có các thiết bị phân phối (TBPP) tương ứng: TBPP cao áp và TBPP hạ áp TBPP có nhiệm vụ nhận điện năng từ một số nguồn cung cấp và phân phối điện đi nơi khác qua các đường dây điện Trong TBPP có các khí cụ điện đóng cắt, điều khiển, bảo vệ và đo lường

Cũng cần nói thêm rằng, ngoài các loại trạm biến áp đã nêu ở trên, trong HTĐ còn có các trạm đóng cắt điện (trạm không có máy biến áp), trạm nối (làm nhiệm vụ liên lạc giữa hai hệ thống có tần số khác nhau), trạm chỉnh lưu (biến dòng điện xoay chiều thành một chiều) và trạm nghịch lưu (biến dòng điện một chiều thành xoay chièu) để phục vụ cho việc tải điện đi xa bằng dòng điện một chiều

I.4 Đồ thị phụ tải

Mức tiêu thụ điện năng luôn luôn thay đổi theo thời gian Qui luật biến thiên của phụ tải theo thời gian được biểu diẽn trên hình vẽ gọi là đồ thị phụ tải Trục tung của đồ thị có thể biểu diễn: công suất tác dụng, công suất phản kháng, công suất biểu kiến ở dạng đơn vị có tên hay tương đối; còn trục hoành

biẻu diễn thời gian

Đồ thị phụ tải có thể phân loại theo công suất, theo thời gian, theo địa dư Khi phân loại theo công suất có độ thị phụ tải công suất tác dụng, đồ thị phụ tải công suất phản kháng và đồ thị phụ tải công suất biểu kiến Theo thời gian phân loại có đồ thị phụ tải năm, đồ thị phụ tải ngày v.v Theo địa dư có

đồ thị phụ tải toàn hệ thống, đồ thị phụ tải của nhà máy điện hay của trạm biến

áp, đồ thị phụ tải của hộ tiêu thụ

Đồ thị phụ tải rất cần thiết cho thiết kế và vận hành HTĐ Khi biết độ thị phụ tải toàn HTĐ có thể phân bố tối ưu công suất cho các nhà máy điện trong

hệ thống, xác định mức tiêu hao nhiên liệu, Đồ thị phụ tải ngày của nhà máy hay trạm biến áp dùng để chọn dung lượng máy biến áp (MBA), tính toán tổn thất điện năng trong MBA, chọn sơ đồ nối dây, Với đồ thị phụ tải cực đại hàng tháng có thể đưa ra kế hoạch tu sửa thiết bị v v

Trang 22

II Các văn bản pháp luật qui định về sản xuất, cung ứng và sử dụng điện

Điện năng là hàng hóa đặc biệt Nhà nước thống nhất quản lý các hoạt động điện lực và sử dụng điện trong phạm vi cả nước bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch và kế hoạch phát triển điện lực Các văn bản dưới luật qui định về sản xuất, cung ứng và sử dụng điện hiện hành gồm có:

1 Nghị định số 45/2001/NĐ-CP ngày 02/8/2001 của Chính phủ về họat động điện lực và sử dụng điện

2 Thông tư Liên tịch số 09/2001/TTLT- BCN - BVGCP ngày 31/10/2001 của Liên tịch Bộ Công nghiệp - Ban Vật giá Chính phủ hướng dẫn mua, bán công suất phản kháng

3 Quyết định số 52/2001/QĐ - BCN ngày 12/11/2001 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp về việc ban hành Quy định trình tự và thủ tục ngừng cấp điện

4 Quyết định số 53/2001/QĐ - BCN ngày 14/11/2001 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp về việc ban hành mẫu Hợp đồng mua bán điện sinh hoạt

5 Quyết định số 54/2001/QĐ - BCN ngày 14/11/2001 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp về việc ban hành qui định sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp

6 Quyết định số 60/2001/QĐ- BCN ngày 10/12/2001 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp về việc ban hành quy định mức chi phí đóng cắt điện

7 Nghị định 74/2003/NĐ-CP ngày 26/6/2003 của Chính Phủ về qui định

xử phạt hành chính trong lĩnh vực điện lực

Họat động điện lực và sử dụng điện trên lãnh thổ Việt Nam phải thực hiện theo các văn bản nói trên và các qui định khác của pháp luật có liên quan, đồng thời phải tuân thủ các quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật, môi trường do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành

Các qui định sau đây trong các văn bản nêu trên được áp dụng cho mọi tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngòai tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có qui định khác

II.1 Điều kiện họat động điện lực

Họat động điện lực là họat động nhằm tạo ra, duy trì và đưa năng lượng điện đến các tổ chức, cá nhân sử dụng dưới hình thức thương mại và các hình thức khác do Chính phủ qui định, bao gồm: các hoạt động về quy hoạch, tư

Trang 23

vấn thiết kế, đầu tư xây dựng, sản xuất, truyền tải, điều độ hệ thống điện, phân phối, kinh doanh và cung ứng điện kể cả xuất nhập khẩu điện năng

Tổ chức, cá nhân họat động điện lực trong các lĩnh vực sau phải có giấy phép hoạt động điện lực:

a Tư vấn lập qui hoạch, thiết kế công trình điện

b Sản xuất, truyền tải, phân phối, kinh doanh và cung ứng điện

Ngoài Tổng Điện lực Việt Nam, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài đầu tư phát triển nguồn điện và khai thác công trình điện phải đáp ứng các điều kiện sau:

1 Trường hợp có đấu nối vào hệ thống điện quốc gia phải:

a Có giấy phép đầu tư hoặc quyết định đầu tư, giấy phép họat động điện lực và các giấy phép khác theo qui định của pháp luật

b Có sự thỏa thuận với Tổng Công ty Điện lực Việt Nam về điểm đấu nối

và hợp đồng mua bán điện

c Phải tuân thủ các qui định về giá bán điện

d Chế độ và số giờ vận hành của nhà máy trong 1 năm phù hợp với chế

độ vận hành của hệ thống điện quốc gia

đ Phải tuân thủ các quy trình, quy phạm vận hành của hệ thống điện quốc gia

2 Trường hợp họat động độc lập với hệ thống điện quốc gia phải có giấy phép hoặc quyết định đầu tư, giấy phép hoạt động điện lực và các giấy phép khác theo qui định của pháp luật và tuân thủ quy định về phía bán điện

3 Bên bán điện có trách nhiệm đầu tư xây dựng và quản lý, vận hành công trình tải điện cao áp, trung áp đến hàng rào khu công nghiệp, công trình của bên mua điện trừ trường hợp có thỏa thuận khác

4 Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở phát điện để tự sử dụng, không bán điện cho tổ chức, cá nhân khác hoặc cơ sở phát điện có công suất thấp hơn mức do Bộ công nghiệp qui định thì không phải có giấy phép hoạt động điện lực

II.2 Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép họat động điện lực

a Bộ công nghiệp có thẩm quyển cấp giấy phép hoạt động điện lực cho:

- Các tổ chức hoạt động tư vấn, qui hoạch, thiết kế, giám sát và tư vấn

khác đối với các dự án, công trình điện

Trang 24

- Doanh nghiệp thuộc các Tổng công ty Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài họat động sản xuất, truyền tải, phân phối, kinh doanh và cung ứng điện

- Các doanh nghiệp sản xuất điện có công suất phát điện từ 10 Mw trở lên

và doanh nghiệp quản lý vận hành lưới truyền tải điện có điện áp từ 110kV trở lên

- Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu điện

b Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép họat động điện lực cho các tổ chức, cá nhân ngoài các tổ chức trên

II.3 Điều kiện sản xuất, truyền tải và điều độ hệ thống điện

II.3.1 Điều kiện và nghĩa vụ đối với tổ chức, cá nhân sản xuất điện

Sản xuất điện là họat động quản lý vận hành các nhà máy, trạm phát điện

để sản xuất ra điện năng theo tiêu chuẩn qui định

Sản xuất điện thương mại là sản xuất của nhà máy điện sau thời kỳ vận hành thử, chính thức thực hiện việc cung ứng điện cho bên mua điện

a Điều kiện sản xuất điện:

Nhà máy điện được đưa vào sản xuất, kinh doanh khi đảm bảo các điều kiện sau:

- Xây dựng đúng thiết kế đã phê duyệt

- Đã được kiểm tra và nghiệm thu theo qui định của pháp luật

- Có giấy phép họat động điện lực và các giấy phép khác theo qui định của pháp luật

- Ranh giới quản lý nhà máy điện trong hệ thống điện quốc gia được xác định từ điểm đấu nối với hệ thống điện quốc gia trở vào nhà máy điện

- Đối với các nhà máy điện độc lập có họat động truyền tải, phân phối và bán điện cho bên mua điện, thì ranh giới quản lý được xác định tới vị trí đặt thiết bị đo đếm để bán điện cho bên mua điện

b Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất điện

- Họat động theo nội dung qui định trong giấy phép đầu tư và giấy phép khác

- Thực hiện đầy đủ các thỏa thuận trong Hợp đồng đã ký với bên mua điện, hợp đồng với đơn vị truyền tải, các bên có liên quan khác và các qui định của Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia

Trang 25

- Bảo đảm sản xuất điện ổn định, an toàn và chất lượng điện năng

- Bảo đảm các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường theo qui định của pháp luật

II.3.2 Điều kiện truyền tải điện

Truyền tải điện là hoạt động quản lý, vận hành các công trình điện để đưa năng lượng điện từ nơi sản xuất đến lưới điện phân phối

Lưới truyền tải điện quốc gia là lưới truyền tải điện do Nhà nước giao cho Tổng công ty Điện lực Việt Nam quản lý

Phân phối điện là hoạt động quản lý, vận hành các công trình điện để chuyển năng lượng điện từ lưới truyền tải đến tổ chức, cá nhân sử dụng

Cung ứng điện là quá trình đáp ứng các nhu cầu về điện theo những điều kiện nhất định cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu sử dụng điện

Lưới truyền tải điện được tính từ sau cầu dao hoặc máy cắt xuất tuyến của nhà máy điện đến điểm đấu sau cầu dao hoặc máy cắt của lưới truyền tải đấu vào lưới phân phối

Ranh giới giữa lưới truyền tải điện quốc gia và lưới truyền tải điện ngoài

hệ thống điện quốc gia là ranh giới tài sản của mỗi bên đầu tư

Lưới điện độc lập được phép đưa vào vận hành khi đảm bảo các điều kiện sau:

a Xây dựng đúng thiết kế đã phê duyệt

b Đã kiểm tra, nghiệm thu

c Có giấy phép hoạt động điện lực

d Trường hợp đấu nối vào hệ thống điện quốc gia, phải thỏa thuận điểm đấu nối và ký hợp đồng mua bán điện với Tổng công ty Điện lực Việt Nam

e Tổ chức sở hữu lưới truyền tải có thể ký hợp đồng thuê tổ chức khác có giấy phép họat động điện lực quản lý vận hành

II.3.3 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức hoạt động truyền tải điện:

Tổ chức họat động truyền tải điện có quyền:

- Kiểm tra, lập biên bản, kiến nghị xử lý hoặc tạm thời đình chỉ trong trường hợp khẩn cấp và báo cáo các cơ quan có thẩm quyền xử lý những hành

vi vi phạm qui định của pháp luật về bảo vệ an toàn lưới điện cao áp

- Kiến nghị với Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia về thời gian và biện pháp khắc phục sự cố trong hệ thống điện

- Yêu cầu bên mua điện cung cấp các thông tin về nhu cầu điện cần mua

Trang 26

Tổ chức truyền tải có nghĩa vụ:

- Khai thác lưới truyền tải điện theo đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn, bảo đảm chất lượng điện năng theo qui định

- Khi xẩy ra sự cố phải nhanh chóng khắc phục và kịp thời thông báo nguyên nhân, thời gian khắc phục cho đối tác đã ký hợp đồng biết

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ghi trong hợp đồng với đơn vị sản xuất, phân phối điện và các bên có liên quan khác

II.3.4 Quyền và nghĩa vụ của Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia

Điều độ hệ thống điện Quốc gia là tổ chức thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam gọi là Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia gồm: Điều độ trung ương và điều độ miền

Trung tâm điều độ hệ thống điện Quốc gia có quyền cắt phần tử sự cố ra khỏi hệ thống khi thấy phần tử đó có nguy cơ gây mất an toàn nghiêm trọng cho người, thiết bị và hệ thống điện, sau đó phải báo cáo ngay cho các cơ quan

có thẩm quyền và thông báo cho tổ chức, cá nhân có liên quan theo qui định tại Qui trình điều độ hệ thống điện Quốc gia

Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia có nghĩa vụ:

- Xây dựng phương thức vận hành tối ưu, phương án xử lý sự cố hệ thống điện quốc gia trình Tổng công ty Điện lực thông qua và tổ chức thực hiện

- Điều độ hệ thống điện quốc gia bảo đảm chất lượng điện năng, độ tin cậy cung ứng điện

- Trong trường hợp thiếu nguồn điện, phải lập phương án cắt giảm phụ tải, báo cáo Tổng công ty Điện lực xem xét, phê duyệt thực hiện

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ghi trong Qui định điều độ hệ thống điện Quốc gia trong quan hệ với các đơn vị sản xuất, truyền tải, phân phối điện và các bên có liên quan khác, đồng thời tuân thủ các hợp đồng mà Tổng công ty Điện lực Việt Nam hoặc đơn vị được ủy quyền đã ký với các bên mua bán điện

II.4 Mua bán và sử dụng điện

II.4.1 Hợp đồng mua bán điện

Việc mua bán điện phải thực hiện theo hợp đồng Hợp đồng mua bán điện

là văn bản thỏa thuận về quyền, nghĩa vụ và mối quan hệ giữa bên bán và bên mua điện Hợp đồng mua bán điện có 2 loại:

Trang 27

a Hợp đồng dân sự, áp dụng cho việc mua bán điện với mục đích sinh hoạt thực hiện theo qui định của Bộ luật dân sự

b Hợp đồng kinh tế, áp dụng cho việc mua bán điện với mục đích sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác, thực hiện theo qui định của pháp lệnh hợp đồng kinh tế

II.4.1.1 Điều kiện để ký hợp đồng dân sự mua bán điện bao gồm:

a Bên mua điện có giấy đề nghị mua điện kèm bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ sau: hộ khẩu thường trú, giấy chứng nhận tạm trú, giấy chứng nhận sở hữu nhà, hợp đồng thuê nhà

b Bên mua điện phải có đủ năng lực hành vi dân sự

c Lưới điện tiêu dùng sinh họat phải bảo đảm tiêu chuẩn kĩ thuật theo qui định của pháp luật

d Hệ thống đo đếm phải được lắp đặt đúng thiết kế, kiểm định đúng tiêu chuẩn Nhà nước và kẹp chì, niêm phong theo qui định

e Bên mua điện phải thanh tóan chi phí lắp đặt đường dây nhánh từ lưới điện của bên bán điện vào nhà hoặc khu vực quản lý tài sản của bên mua điện Khi các điều kiện trên được thực hiện đầy đủ, trong thời gian 7 ngày các bên phải ký hợp đồng và bên bán phải đóng điện

Khi nhận được giấy đề nghị của bên mua mà bên bán không có đủ điều kiện bán điện, trong thời hạn 5 ngày bên bán phải có văn bản trả lời bên mua

II.4.1.2 Điều kiện để ký hợp đồng kinh tế mua bán điện

a Bên mua và bên bán phải là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật

b Bên mua điện là tổ chức, cá nhân sử dụng điện phải có văn bản đề nghị, ghi rõ mục đích sử dụng điện, bảng kê công suất của thiết bị sử dụng điện Đối với tổ chức cá nhân sử dụng điện có công suất sử dụng từ 80kW trở lên phải đăng ký biểu đồ phụ tải và đặc tính kỹ thuật công nghệ của dây chuyền sản xuất

c Công trình điện phải được xây dựng, nghiệm thu đúng tiêu chuẩn và thiết kế được cơ quan có thẩm quyền duyệt

Công trình điện là tổ hợp công trình xây dựng và vật kiến trúc, trong thiết

bị để phát điện, truyền tải và phân phối điện năng Công trình điện bao gồm các nhà máy, tổ máy phát điện, các trạm biến áp, các đường dây dẫn điện và trang thiết bị đồng bộ kèm theo

Trang 28

d Hệ thống đo lường phải được lắp đặt đúng thiết kế và kẹp chì niêm phong được kiểm định có chứng chỉ đạt tiêu chuẩn của cơ quan quản lý Nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng hoặc tổ chức được ủy quyền

e Thời gian cấp điện do 2 bên thỏa thuận trong hợp đồng

II.4.2 Tiêu chuẩn chất lượng điện năng

Bên bán phải đảm bảo chất lượng điện năng cung ứng cho bên mua như sau:

1 Về điện áp

Trong điều kiện bình thường, điện áp được phép dao động trong khoảng ± 5% so với điện áp danh định và được xác định tại phía thứ cấp của máy biến áp cấp điện cho bên mua hoặc tại vị trí khác do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng khi bên mua đạt hệ số công suất (cos ϕ ≥ 0,85) và thực hiện đúng biểu đồ phụ tải đã thỏa thuận trong hợp đồng

Trong trường hợp lưới điện chưa ổn định, điện áp được dao động từ +5% đến 10%

2 Về tần số: trong điều kiện bình thường tần số hệ thống điện được dao động trong phạm vi ± 0,2 Hz so với tần số định mức là 50Hz Trường hợp hệ thống điện chưa ổn định, cho phép độ lệch tần số là ± 0,5Hz

3 Trong trường hợp bên mua cần chất lượng điện năng cao hơn tiêu chuẩn qui định tại các điểm 1, 2 nói trên, các bên phải thỏa thuận trong hợp đồng

Trong điều kiện lưới điện đảm bảo chất lượng điện năng theo qui định, bên mua điện để sản xuất kinh doanh dịch vụ có công suất sử dụng từ 80kW hoặc máy biến áp có dung lượng từ 100kVA trở lên phải đảm bảo cosϕ ≥ 0,85 tại điểm đặt công tơ mua bán điện

Trường hợp cosϕ < 0,85, bên mua điện phải thực hiện các biện pháp:

a Lắp đặt thiết bị bù công suất phản kháng để nâng cosϕ đạt từ 0,85 trở lên

b Mua thêm công suất phản kháng trên hệ thống điện của bên bán

Trường hợp bên mua điện có khả năng phát công suất phản kháng lên lưới, hai bên có thể thỏa thuận việc mua bán đó trong hợp đồng

II.4.3 Đo đếm điện năng

Đo đếm điện năng được thực hiện bằng các thiết bị đo đếm điện (công tơ, máy biến dòng điện, máy biến điện áp) đạt tiêu chuẩn do các tổ chức kiểm định

có thẩm quyền kiểm định và kẹp chì, niêm phong

Trang 29

Chỉ những tổ chức có thẩm quyền hoặc được ủy quyền theo qui định của Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng mới được phép kiểm định thiết bị đo đếm điện

Trường hợp bên mua sử dụng điện với nhiều mục đích có giá điện khác nhau, mỗi đối tượng giá phải đặt riêng một công tơ đo đếm Trường hợp không đặt riêng được phải dùng chung một công tơ, hai bên phải thỏa thuận cách tính

tỷ lệ điện năng theo từng loại giá trong hợp đồng

Biên bản điện có trách nhiệm đầu tư thiết bị đo đếm điện đã được kiểm định để bán điện cho bên mua và chịu trách nhiệm về tính hợp chuẩn và độ chính xác của các thiết bị đó

Tổ chức, cá nhân sử dụng điện để sản xuất kinh doanh dịch vụ có các thiết bị sử dụng điện 3 pha và công suất sử dụng từ 80kW hoặc máy biến áp có dung lượng từ 100kVA trở lên phải được lắp đặt công tơ tác dụng và công tơ phản kháng

Công tơ và các thiết bị đo lường, trang bị bảo vệ công tơ, thiết bị an toàn kèm theo là tài sản của bên bán điện Chi phí nhân công và vật liệu phụ dùng cho việc lắp đặt do bên mua chịu

Vị trí đặt công tơ do bên mua và bên bán điện thỏa thuận và phải đáp ứng yêu cầu về an toàn, mỹ quan và thuận tiện cho việc kiểm tra chỉ số công tơ của

cả 2 bên

Khi nghi ngờ công tơ điện chạy không chính xác, bên mua điện có quyền yêu cầu bên bán điện kiểm tra Chậm nhất 3 ngày sau khi nhận được yêu cầu của bên mua điện, bên bán điện phải kiểm tra và sửa chữa xong Bên bán điện phải trả chi phí chí cho việc kiểm tra sửa chữa công tơ

Nếu chưa đồng ý với kết quả kiểm tra, sửa chữa của bên bán điện, bên mua điện có quyền khiếu nại lên Sở công nghiệp và đề nghị cơ quan đó chỉ định tổ chức kiểm định độc lập để kiểm tra lại Trong khi chờ đợi kết quả kiểm định, bên mua điện vẫn phải thanh toán tiền điện đúng thời hạn theo chỉ số công tơ Phần điện năng chênh lệch sẽ được thanh tóan sau khi có kết luận của

tổ chức kiểm định

Khi thay đổi công tơ, bên mua và bên bán phải cùng ký biên bản xác nhận chỉ số công tơ Bên bán phải báo cho bên mua biết khi thay thế công tơ

Trang 30

Trách nhiệm của bên bán điện bao gồm:

a Tổ chức kiểm định công tơ và thay thế định kỳ, đột xuất để bảo đảm công tơ hoạt động trong phạm vi sai số cho phép

b Đối với tổ chức, cá nhân sử dụng điện sinh hoạt, mỗi tháng chỉ ghi chỉ

số công tơ một lần, cho phép dịch chuyển thời điểm ghi chỉ số trước hoặc sau

từ 1 đến 2 ngày trong trường hợp ngày ghi chỉ số công tơ trùng vào ngày nghỉ,

lễ, tết

c Đối với tổ chức cá nhân sử dụng điện ngòai mục đích sinh hoạt, việc ghi chỉ số công tơ qui định như sau:

- Dưới 10000 kwh/tháng, ghi chỉ số 1 lần trong 1 tháng

- Từ 10.000 đến 50.000 kwh/tháng, ghi chỉ số công tơ 2 lần trong tháng

- Trên 50.000 kwh/tháng, ghi chỉ số công tơ 3 lần trong 1 tháng

d Đối với tổ chức, cá nhân sử dụng điện năng ít hơn 15kwh/tháng, việc ghi chỉ số công tơ có thể tiến hành 3 tháng 1 lần Trường hợp tổ chức, cá nhân

sử dụng điện năng trong 3 tháng ít hơn 15kwh thì ghi đúng chỉ số trên công tơ

và bên bán được thu khoản chi phí cố định bằng giá trị 15kwh theo biểu giá điện hiện hành

g Thông báo cho bên mua điện biết lượng điện năng đã dùng trong tháng bằng phiếu ghi chỉ số công tơ có ghi rõ họ tên của người ghi chỉ số công tơ Khi thay đổi ngày ghi chỉ số công tơ phải báo cho bên mua điện biết Phải bảo đảm tính chính xác của chỉ số công tơ đã ghi

f Trường hợp phát hiện bên mua điện có hành vi gian lận trong sử dụng điện bằng cách làm hư hỏng hoặc sai lệch chỉ số công tơ, bên bán điện có quyền lập biên bản về hành vi vi phạm đó và kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền giải quyết

Trách nhiệm của bên mua điện bao gồm:

a Thông báo kịp thời cho bên bán điện khi phát hiện công tơ bị mất, hỏng, nghi ngờ không chính xác

b Bảo vệ công tơ đặt trong phạm vi quản lý tài sản của mình (kể cả chì niêm phong và sơ đồ đấu dây) Khi mất hoặc làm hư hỏng công tơ phải bồi thường hoặc chịu chi phí cho việc sửa chữa, kiểm định, không được tự ý tháo

dỡ, di chuyển công tơ

Trang 31

II.4.4 Giá điện và thanh tóan tiền điện

Biểu giá điện của hệ thống điện quốc gia do Bộ công nghiệp xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sau khi có ý kiến thẩm định của Ban Vật giá Chính phủ và các cơ quan có liên quan

Tổ chức, cá nhân mua buôn điện năng từ hệ thống điện quốc gia để bán lại cho tổ chức, cá nhân khác phải thực hiện theo đúng biểu giá điện do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Giá bán điện của tổ chức, cá nhân hoạt động điện lực độc lập được quy định như sau:

- Giá bán điện cho Tổng công ty Điện lực Việt Nam hoà vào hệ thống điện Quốc gia do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng

- Trường hợp bán điện trực tiếp cho tổ chức, cá nhân sử dụng điện do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng

Tiền điện được thanh tóan bằng tiền Việt Nam, phương thức và điều kiện thanh tóan được ghi trong Hợp đồng mua bán điện

Khi nhận được yêu cầu thanh tóan tiền điện, nếu bên mua chưa thanh tóan thì bên bán phải gửi thông báo thanh tóan tiền điện cho bên mua Trong thời hạn

7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo mà bên mua chưa thanh tóan thì:

- Đối với hợp đồng dân sự nếu có lý do chính đáng, bên bán thỏa thuận lùi ngày trả Quá hạn thỏa thuận mà bên mua chưa thanh tóan thì bên bán có quyền tạm ngừng bán điện

- Đối với Hợp đồng kinh tế: khi bên bán đã thỏa thuận để bên mua được lùi ngày trả, bên mua phải chịu lãi suất vay thương mại kỳ hạn 3 tháng của Ngân hàng Công thương Việt Nam tính trên số tiền chậm trả kể từ ngày thứ 10 Quá hạn đã thỏa thuận mà bên mua chưa thanh tóan thì bên bán có quyền ngừng bán điện

Trường hợp công tơ bị mất, hoạt động không chính xác hoặc ngừng họat động, điện năng thanh toán được xác định như sau:

1 Nếu công tơ chạy nhanh so với tiêu chuẩn qui định

Trường hợp không xác định được chính xác thời gian chạy nhanh, bên bán điện hòan trả lại tiền điện năng đã vượt trội, thời hạn tính tóan là bốn chu kỳ ghi chỉ số công tơ, kể cả kỳ đang sử dụng điện nhưng chưa đến ngày ghi chỉ số

Trang 32

Trường hợp xác định được thời gian chạy nhanh thì bên bán điện hòan trả lại tiền điện năng thực tế đã thu vượt của bên mua

2 Nêú công tơ chạy chậm hơn so với tiêu chuẩn qui định

Trường hợp không xác định được chính xác thời gian chạy chậm bên bán điện được thu thêm tiền điện năng thu chưa đủ trong khoảng thời hạn không quá hai chu kỳ ghi chỉ số công tơ, kể cả kỳ đang sử dụng điện nhưng chưa đến ngày ghi chỉ số

Trường hợp xác định được cụ thể thời gian chạy chậm và có lý do chính đáng thì bên mua phải hoàn trả số tiền điện còn thiếu cho bên bán điện

Nếu công tơ ngừng hoạt động hoặc bị mất mà bên mua điện vẫn sử dụng điện thì điện năng thanh toán trong thời gian được cấp điện tạm thời không qua công tơ là điện năng bình quân ngày của ba chu kỳ ghi chỉ số công tơ liền kề trước đó nhân với số ngày được cấp điện tạm thời

Trường hợp bên mua đã lắp đặt công tơ nhiều giá, trong thời gian công tơ nhiều giá bị hỏng mà chưa có công tơ thay thế thì tạm thời thay thế bằng công

tơ một giá và tính tiền điện năng theo giờ bình thường

II.4.5 Quyền và nghĩa vụ của bên bán điện

Bên bán điện có quyền:

1 Từ chối ký hợp đồng bán điện khi bên mua không có đủ điều kiện ký hợp đồng

2 Kiểm tra định kỳ và đột xuất việc thực hiện các điều khỏan trong hợp đồng mua bán điện, lập biên bản nếu bên mua vi phạm Hợp đồng

3 Cắt điện trước, thông báo sau cho bên mua điện trong trường hợp có nguy cơ gây sự cố nghiêm trọng, mất an toàn cho người, thiết bị

4 Phát hiện và ghi lại những hành vi vi phạm hành chính về hoạt động điện lực và sử dụng điện của mọi tổ chức, cá nhân và báo cáo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo qui định của pháp luật

5 Ngừng bán điện một phần hoặc toàn bộ khi bên mua vi phạm một trong các trường hợp sau đây:

- Sử dụng thiết bị không đảm bảo tiêu chuẩn an tòan điện theo qui định có nguy cơ gây sự cố nghiêm trọng cho lưới điện, đe dọa an toàn cho người và thiết bị

Trang 33

- Khi bên mua có hành vi gian lận trong khi sử dụng điện, làm sai lệch hoạt động hệ thống đo lường một cách cố ý

- Khi bên mua sử dụng điện gây nguy hiểm cho người, động vật, tài sản, làm ảnh hưởng xấu tới môi trường

Bên bán điện có nghĩa vụ:

1 Bán đủ số lượng (công suất, điện năng), đảm bảo chất lượng (tần số, điện áp) theo thỏa thuận trong Hợp đồng

2 Cắt điện theo kế hoạch phải thông báo cho bên mua điện ít nhất 5 ngày trước thời điểm bằng hình thức gửi văn bản và trên phương tiện thông tin đại chúng đối với tổ chức, cá nhân sử dụng điện sinh hoạt và phải tiến hành cắt điện đúng thời điểm đã thông báo

3 Khi lưới điện bị sự cố, gây mất điện hoặc phải cắt điện khẩn cấp để xử lý tình huống nguy hiểm phải thông báo kịp thời cho các tổ chức, cá nhân sử dụng điện với số lượng lớn, quan trọng biết về thời gian dự kiến cấp điện trở lại

4 Phải tiến hành xử lý sự cố trong 2 giờ kể từ khi bên mua điện báo mất điện Trường hợp không thực hiện được trong thời hạn trên thì phải thông báo kịp thời cho bên mua điện

5 Phải bồi thường cho bên mua những thiệt hại do bên bán gây ra theo qui định và thỏa thuận trong hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng

II.4.6 Quyền và nghĩa vụ của bên mua điện

Bên mua điện có quyền:

1 Được lựa chọn bên bán điện để ký Hợp đồng

2 Yêu cầu bên bán điện cấp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng và thời gian cấp điện ghi trong hợp đồng

3 Yêu cầu bên bán điện xử lý ngay sự cố mất điện hoặc có nguy cơ đe dọa gây sự cố mất điện

4 Yêu cầu bên bán điện cung cấp hoặc giới thiệu các văn bản pháp luật

có liên quan đến việc mua bán điện

5 Yêu cầu bên bán điện bồi thường những thiệt hại do lỗi của bên bán gây ra

Bên mua điện có nghĩa vụ:

- Đăng ký nhu cầu sử dụng điện với bên bán, ký hợp đồng và thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng

Trang 34

- Giảm ngay công suất đang sử dụng xuống công suất hạn chế theo thông báo của bên bán điện khi có những lý do bất khả kháng xẩy ra với hệ thống điện

- Sử dụng điện đúng kỹ thuật, an toàn, tiết kiệm

- Thông báo bằng văn bản trước 15 ngày cho bên bán nếu có yêu cầu thay đổi điều khỏan trong hợp đồng

- Thông báo cho bên bán điện trước 15 ngày khi có yêu cầu chấm dứt hợp đồng mua bán điện Bồi thường những thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho bên bán theo qui định của pháp luật và thỏa thuận trong hợp đồng

II.5 Mua bán công suất phản kháng

Để bảo đảm việc cung ứng, sử dụng điện tin cậy, an toàn và hiệu quả, Bộ công nghiệp và Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn việc mua bán công suất phản kháng (trong thông tư liên tịch số 09/2001/ TTLT - BCN - BVGCP ngày 31/10/2001) như sau:

- Bên mua điện khi sử dụng điện vào mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ có công suất sử dụng từ 80 kw hoặc máy biến áp có dung lượng từ 100kVA trở lên và có hệ số công suất (cos ϕ) < 0,85 phải mua công suất phản kháng Công suất phản kháng là một thành phần tham gia vào các quá trình từ hoá các thiết bị điện và ảnh hưởng trực tiệp đến chất lượng điện năng Bên bán

có trách nhiệm tạo phương thức vận hành tối ưu, cân bằng công suất phản kháng khi toàn bộ hệ thống điện để đảm bảo chất lượng điện năng theo qui định, đồng thời bên mua điện cũng có trách nhiệm đảm bảo hệ số công suất (cos ϕ) ≥ 0,85

Tiền mua công suất phản kháng là số tiền bên mua điện phải trả cho bên bán điện để bù đắp các khỏan chi phí mà bên bán phải đầu tư theo nguồn công suất phản kháng hoặc thay đổi phương thức vận hành lưới điện do bên mua điện sử dụng quá lượng công suất phản kháng qui định

Tiền bán công suất phản kháng của bên mua điện cho bên bán điện là số tiền bên bán điện phải trả cho bên mua khi có nhu cầu bổ sung lượng công suất phản kháng hao hụt trên lưới điện với điều kiện bên mua điện có khả năng phát công suất phản kháng vào lưới điện

Việc mua công suất phản kháng của bên mua điện được xác định thông qua hệ số công suất trung bình Hệ số công suất trung bình được tính bằng

Trang 35

lượng điện năng ghi được tại công tơ đo đếm điện năng tác dụng và điện năng phản kháng trong một kỳ ghi chỉ số công tơ

Bên mua điện phải thanh tóan tiền mua công suất phản kháng cùng kỳ với tiền mua điện năng tác dụng

II.6 Qui định về sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp

(Được ban hành kèm theo Quyết định số 54/2001/QĐ - BCN ngày 14/11/2001 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp)

Sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp là dùng nguồn điện có mức điện áp thích hợp đấu nối trực tiếp vào hàng rào, vật cản, vật che chắn của khu vực hoặc đối tượng được bảo vệ (gọi chung là hàng rào bảo vệ) Khi đối tượng cố ý xâm phạm vào khu vực được bảo vệ và tiếp xúc trực tiếp với hàng rào bảo vệ sẽ bị điện giật, đồng thời hệ thống bảo vệ (nếu có) phát tín hiệu báo động cho người bảo vệ khu vực biết

Khu vực, đối tượng được phép sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp là các cơ sở quan trọng của Nhà nước về an ninh, quốc phòng, ngoại giao, chính trị, kinh tế, xã hội

Cấm sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp để bảo vệ tài sản cá nhân, bẫy chim, bẫy chuột, bảo vệ hoa mầu hoặc phục vụ cho mục đích khác gây nguy hiểm cho người, động vật, môi trường sống, gây sự cố làm thiệt hại tài sản Nhà nước, tài sản công dân

Hàng rào bảo vệ phải bảo đảm an toàn, không gây ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống điện, không gây nguy hiểm cho khu vực lân cận và môi trường sống

Điều kiện để được sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp:

1 Được cấp có thẩm quyền cho phép, cụ thể là:

a Tổ chức cần sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp cho khu vực hoặc đối tượng thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia, trật tự an tòan xã hội phải được phép của Bộ trưởng Bộ công an

b Tổ chức cần sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp cho khu vực hoặc đối tượng thuộc lĩnh vực quốc phòng phải được phép của Bộ trưởng

Bộ quốc phòng

c Các trường hợp khác, tổ chức cần sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp cho khu vực hoặc đối tượng cần bảo vệ của đơn vị, phải được phép

Trang 36

của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh quản lý đơn vị đó

2 Thiết kế hàng rào bảo vệ phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Hàng rào bảo vệ phải được thi công đúng thiết kế được duyệt, nghiệm thu đạt yêu cầu

3 Có rào chắn hoặc hào ngăn cách với khu vực có điện, có biển báo “khu vực có điện, nguy hiểm chết người” đặt ở nơi dễ thấy

4 Có qui trình vận hành hệ thống điện sử dụng làm phương tiện bảo vệ trực tiếp và qui trình an tòan điện

5 Người vận hành hệ thống điện sử dụng làm phương tiện bảo vệ trực tiếp phải được huấn luyện qui trình vận hành, qui trình an toàn, sát hạch đạt yêu cầu mới được đảm nhiệm công việc này

III những đặc điểm về sản phẩm và kinh doanh điện năng.

III.1 T ìm hiểu về sản phẩm điện năng

III.1.1 Vai trò của ngành điện và sản phẩm điện năng

Trong mọi bối cảnh của cơ chế kinh tế, ngành điện luôn chiếm một vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, đó là ngành xương sống của nền sản xuất công nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung, bởi điện năng tham gia phục vụ tất cả các lĩnh vực trong sản xuất kinh doanh cũng như trong đời sống chính trị - văn hoá - xã hội

Ngay từ Đại hội Đảng lần thứ IV, Văn kiện Đại hội đã xác định: “ Kinh nghiệm thực tế nhiều năm qua cho thấy, trong bước đầu công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, vai trò của điện năng cực kỳ quan trọng, nó quyết định nhịp độ phát triển của toàn bộ nền kinh tế ” Thật vậy, để đánh giá sự phát triển kinh

tế của một quốc gia, người ta đã thường dựa vào chỉ tiêu cường độ năng lượng của quốc gia đó

Một lần nữa, để nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành điện, trong Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu: “ phải phát triển ngành năng lượng đi trước một bước, mà trong đó, ngành điện giữ vai trò chủ đạo ” Và thực tế đã cho thấy, trong những năm trở lại đây, cùng với sự chuyển mình của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ngành điện cũng đã phát triển một cách rõ ràng, cụ thể là lượng điện cung ứng và sử dụng cao hơn trước rất nhiều, với

Trang 37

chất lượng ngày càng hoàn hảo Điều đó cho thấy, xã hội càng phát triển thì nhu cầu về điện năng càng tăng cao

Do đó, điện năng đã thực sự trở thành nhu cầu cấp thiết cho xã hội, là hàng hoá quý hiếm, là tài sản xã hội chủ nghĩa, là nguồn lực cho sự phát triển

mang tính chính trị Bắt đầu từ năm 1995, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và các Công ty thành viên chính thức chuyển sang một giai đoạn mới, đó là: sản xuất và kinh doanh điện năng trong cơ chế thị trường

III.1.2 Những đặc điểm cơ bản của sản phẩm điện năng

Như chúng ta đều biết, điện năng là loại hàng hoá đặc biệt bởi những đặc điểm và tính chất sau:

• Sản phẩm điện năng không mùi, không vị, không thể nhìn thấy và cũng không sờ nắm được, không có phế phẩm hay bán thành phẩm

• Điện năng được biến đổi từ nhiều dạng năng lượng khác nhau như: nhiệt năng, cơ năng, năng lượng mặt trời, hạt nhân nguyên tử, phong năng, thuỷ năng Và ngược lại, từ điện người ta cũng có thể biến đổi thành nhiều dạng năng lượng như: nhiệt, cơ, ánh sáng, tuỳ theo mục đích sử dụng của mỗi hộ tiêu thụ

• Điện năng được sản xuất ra nhiều Nhà máy điện khác nhau, nhưng hiện nay điện chủ yếu được sản xuất từ các Nhà máy thuỷ điện, Nhà máy nhiệt điện, Diezel và Tuabin khí

• Điện năng là loại hàng hoá mang tính độc quyền, giá bán là do quy định của Nhà nước Với cùng một đơn vị sản phẩm là 1KWh có tới hàng chục giá bán khác nhau, tuỳ theo đối tượng, thời điểm và mục đích sử dụng điện

• Quá trình sản xuất - truyền tải - phân phối và sử dụng diễn ra đồng thời Điện năng đã sản xuất ra, nếu không sử dụng cũng tự mất đi, nên không thể dự trữ để lúc thừa dành cho lúc thiếu được Vì vậy, để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì phải biết phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất - truyền tải - phân phối và sử dụng Hay nói cách khác là phải biết cân bằng giữa cung ứng và sử dụng điện

• Điện năng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với nước đang tiến hành công nghiệp hoá, bởi đi đôi với công nghiệp hoá là điện khí hoá

Trang 38

III.1.3 Những đặc điểm cơ bản trong công tác kinh doanh điện năng

Thực chất hoạt động kinh doanh bán điện ở các Điện lực là việc tổ chức cung ứng điện phục vụ cho nhu cầu xã hội trong sử dụng điện và cùng với những đặc điểm của hàng hoá này mà quá trình kinh doanh điện năng cũng mang tính đặc thù so với việc kinh doanh các loại hàng hoá khác:

• Đối với các loại hàng hoá thông thường, việc mua bán được diễn ra trực tiếp trên thị trường Nhưng đối với sản phẩm điện năng thì do quá trình cung ứng và sử dụng diễn ra đồng thời nên ngành điện phải thiết lập một mạng lưới phân phối trên phạm vi rộng lớn trên toàn quốc gia để đưa điện năng đến tận nơi tiêu dùng và đảm bảo tính liên tục

• Giá bán của sản phẩm điện năng cũng không như các loại hàng hoá khác là tuân theo qui luật cung cầu của nền kinh tế thị trường Do điện năng là loại hàng hoá công cộng, phục vụ lợi ích của toàn xã hội nên giá cả là do Nhà nước qui định

Các Điện lực thành viên mua điện của Tổng công ty Điện lực Việt Nam sau đó tổ chức kinh doanh bán điện cho các khách hàng mua điện

Giá mua điện do Tổng công ty qui định, được tính toán trên cơ sở đảm bảo bù đắp các chi phí sản xuất, truyền tải, khấu hao thiết bị, máy móc

Giá bán điện cho các khách hàng mua điện do Uỷ ban Vật giá Nhà nước qui định cụ thể cho từng đối tượng, từng thời điểm và từng mục đích sử dụng điện

• Công tác kinh doanh điện năng là toàn bộ các công đoạn, quá trình, trong đó là hàng loạt các công việc mang tính nghiệp vụ chuyên môn sâu như: theo dõi việc mua - bán điện năng qua các thiết bị đo lường, thiết lập các hợp đồng mua bán điện, theo dõi nợ tiền điện,

Để đảm bảo kinh doanh có lãi, các Điện lực phải tổ chức hợp lý bộ máy kinh doanh, quản lý hệ thống lưới điện truyền tải, trạm biến thế, các đồng hồ

đo đếm điện năng và việc phối hợp chặt chẽ các hoạt động từ vận hành lưới điện, sửa chữa, ghi chỉ số, thu tiền điện, phải tạo thành một vòng khép kín

để lượng điện cung ứng và sử dụng luôn được cân bằng, tránh tình trạng lãng phí cũng như thiếu hụt điện năng Đồng thời, phải áp dụng triệt để các biện

Trang 39

pháp kỹ thuật, quản lý để giảm tỷ lệ tổn thất xuống thấp nhất, cũng như áp dụng các chính sách đầu tư phát triển đúng hướng trong nền kinh tế thị trường

để hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao nhất

III.1.4 Nội dung của kinh doanh điện năng

Từ khi chuyển sang chế độ kinh doanh hạch toán, công tác kinh doanh đã trở thành một nội dung trọng tâm của ngành điện Thay vì việc quản lý và phân phối nguồn điện năng theo kế hoạch, điện năng đã được mua - bán như các hàng hoá khác trên thị trường

Nội dung của kinh doanh điện năng bao gồm từ việc các Điện lực mua điện của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam và tổ chức bán điện cho các khách hàng

Xuất phát từ tính đặc thù của điện năng mà quá trình kinh doanh điện diễn

ra phức tạp và không giống bất cứ một loại hình kinh doanh hàng hoá nào khác Nội dung của kinh doanh điện năng là toàn bộ các công đoạn, quá trình, trong đó có hàng loạt các công việc mang tính nghiệp vụ chuyên mônh như: theo dõi việc mua, bán điện năng qua các thiết bị đo lường, thiết lập các hợp đồng mua bán điện, theo dõi dư nợ tiền điện, theo dõi điện năng tổn thất Ngoài ra, giá bán điện là do Nhà nước qui định và tuỳ theo từng đối tượng, mục đích sử dụng điện khác nhau mà giá bán điện khác nhau Đây cũng là một vấn đề tương đối phức tạp và gây nhiều khó khăn trong quản lý kinh doanh điện năng

Chính vì sự phức tạp đó mà ngay từ năm 1995, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đã cùng các Điện lực xây dựng mô hình chuẩn để thực hiện các nội dung của quá trình kinh doanh điện năng, thiết lập các qui trình thao tác các nghiệp vụ, các mô hình tổ chức, qui trình kinh doanh luôn được sửa đổi, cải tiến cho phù hợp với nhu cầu của kinh doanh trên thực tế Với mục đích luôn tiến tới thực hiện tốt công tác kinh doanh điện năng, ngày 02/8/2000, Tổng Công ty đã ban hành qui trình kinh doanh điện năng Qui trình này được thực hiện thống nhất trong toàn Tổng Công ty Theo qui trình này, nội dung của công tác kinh doanh điện năng được qui định chặt chẽ cho từng khâu của cả quá trình hoạt động kinh doanh điện năng, bao gồm:

- Qui trình ký hợp đồng và quản lý hợp đồng mua bán điện

Trang 40

- Qui trình lắp đặt và quản lý công tơ điện

- Qui trình ghi chỉ số công tơ

- Qui trình lập hoá đơn tiền điện

- Qui trình thu và theo dõi nợ tiền điện

- Qui trình quan hệ giao tiếp với khách hàng sử dụng điện

Sau mỗi chu kỳ kinh doanh (1 tháng), các Điện lực đều phải gửi báo cáo chi tiết về toàn bộ nội dung kinh doanh cho Tổng Công ty Điện lực Việt Nam Hàng tháng, quý, 6 tháng, 12 tháng, Tổng Công ty đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, thông qua việc thực hiện các chỉ tiêu cơ bản mà Tổng Công ty đã giao như:

- Chỉ tiêu về điện mua đầu nguồn

- Chỉ tiêu về sản lượng điện thương phẩm

- Chỉ tiêu về tổn thất điện năng

- Chỉ tiêu về giá bán điện bình quân

- Chỉ tiêu về tổng doanh thu

- Chỉ tiêu về thu nộp tiền điện

- Chỉ tiêu về dư nợ tiền điện

Nhằm đưa công tác kinh doanh điện năng đạt hiệu quả cao, từ nhiều năm nay công tác quản lý luôn được đặt lên hàng đầu Ngoài việc cải tiến, sắp xếp

bộ máy, ban hành các qui trình nghiệp vụ, Tổng Công ty còn có nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể và tổ chức thanh kiểm tra thường xuyên việc thực hiện các nội dung theo qui trình, kịp thời phát hiện những vấn đề tiêu cực còn tồn tại để

từ đó chỉ đạo thực hiện lại cho đúng và đạt hiệu quả

III.1.5 Sự cần thiết phải đổi mới tư duy trong quản lý kinh doanh điện năng

Tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nói chung và ngành Điện nói riêng đều cần có những định hướng để đổi mới quản lý kinh doanh để kịp với xu thế phát triển kinh tế toàn cầu

Ngành Điện - một ngành kinh tế mũi nhọn đóng vai trò xương sống trong nền kinh tế quốc dân độc quyền sản xuất kinh doanh điện năng, việc đổi mới quản lý kinh doanh không những tạo khả năng thích ứng với cơ chế kinh tế

Ngày đăng: 11/11/2018, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. PTS. Trần Hoàng Kim, Doanh nghiệp Việt Nam hôm nay và mai sau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp Việt Nam hôm nay và mai sau
Tác giả: Trần Hoàng Kim
Nhà XB: PTS
7. Ngô Hồng Quang và Vũ Văn Tẩm, Thiết kế cấp điện, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế cấp điện
Tác giả: Ngô Hồng Quang, Vũ Văn Tẩm
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2001
9. GS.TS. Vũ Huy Từ, Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp
Tác giả: GS.TS. Vũ Huy Từ
1. Báo cáo hàng năm 2003 - Điện lực Hà Nội Khác
2. Báo cáo kết quả thực hiện công tác kinh doanh điện năng năm 2003 - Điện lực Hà Nội Khác
3. Báo cáo sơ kết công tác thực hiện Nghị định 54/1999/NĐ - CP về bảo vệ an toàn lưới điện cao áp 6 tháng đầu năm 2004 - Điện lực Hà Nội Khác
5. Tài liệu hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm của BCĐ xử lý vi phạm HLATLĐCA .6. Tạp chí Năng lượng Khác
8. Đào Thiện, Tổ chức và quản lý sản xuất trong doanh nghiệp Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm