Nghị quyết lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 9/2001 về doanh nghiệp Nhà nước đã quyết định đến năm 2005 hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp Nhà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LÊ VĂN HIẾU
PHƯƠNG ÁN
CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CÔNG TY VẬT TƯ - MỎ ĐỊA CHẤT
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI, NĂM 2004
Trang 2MỤC LỤC Trang
1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công cuộc chuyển đổi mô
1.1.1 Công cuộc đổi mới và cải cách đối với Chủ nghĩa xã
1.1.2 Đổi mới kinh tế ở Việt Nam được dựa trên cơ sở
nhận thức và vận dụng quan điểm của V.I.Lênin trong chính
1.1.3 Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã
hội chủ nghĩa là phù hợp với xu hướng phát triển khách quan
1.2 Chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu 07 1.2.1 Chủ trương đổi mới chế độ sở hữu 07 1.2.2 Thực trạng và đặc điểm của chế độ sở hữu ở Việt
1.4.3 Các loại công ty kinh doanh trên thế giới 13
Trang 31.5.1 Doanh nghiệp Nhà nước 17
1.6 Cổ phần hóa - Kinh nghiệm CPH ở một số nước 21
1.6.5 Bài học cổ phần hoá ở các nước khác 26
1.7.1 Cổ phần hoá ở Việt Nam chủ trương, đường lối và
1.7.2 Thực tiễn cổ phần hóa ở Việt Nam 29 1.7.3 Những chủ trương và giải pháp chủ yếu 34
Chương II - Phân tích thực trạng của Công ty Vật tư Mỏ
địa chất và yêu cầu cấp thiết phải cổ phần hóa 36 2.1 Thực trạng về hoạt động của Công ty Vật tư Mỏ địa
2.1.1 Quá trình hình thành Công ty Vật tư Mỏ địa chất 36
Trang 42 1.2 Ngành nghề kinh doanh của Công ty 37 2.1.3 Cơ cấu quản lý của Công ty vật tư Mỏ địa chất 37
2.2 Kết quả đã đạt được trong những năm qua 38
2.2.2 Phân tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán 43 2.2.3 Tình hình tài chính, tài sản và những khó khăn của
2.2.4 Mục tiêu và sự cần thiết cổ phần hóa công ty 51
Chương III - Xây dựng phương án cổ phần hóa 58
3.1.1 Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp của
3.1.2 Các phương pháp đánh giá giá trị doanh nghiệp trên
3.1.3 Lựa chọn phương pháp đánh giá giá trị doanh nghiệp 80
Trang 5F - BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT 117
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau 15 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng như: Kinh tế tăng trưởng khá, văn hóa xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, chính trị xã hội ổn định, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tiếp tục nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại Với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Trong đó kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh
tế Để thực hiện được vai trò quan trọng, chủ đạo của DNNN, Nhà nước ta tiếp tục thực hiện việc đẩy mạnh tổ chức sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, trong đó
có việc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, để khai thác các nguồn lực nhằm thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả
Với tư duy kinh tế mới, một cách làm hợp với Việt Nam, không sao chép, rập khuôn của nước ngoài, kết hợp với những sáng tạo dân tộc Mạnh dạn từ chỗ chỉ cải tiến trong cái cũ, chuyển sang xóa bỏ cái cũ, mở ra cái mới đó là xóa bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, từng bước chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Để hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc công nhận, bảo hộ chế độ đa sở hữu và phát triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Các doanh nghiệp nói chung đã chính thức là những thành viên tham gia hoạt động thị trường với mục tiêu cao nhất đó là tìm kiếm lợi nhuận Nhưng trong thực tế doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cũng mới thu được những kết quả khiêm tốn, chưa tương xứng với sự quan tâm và đầu tư của Nhà nước, công sức của nhân dân Bởi lẽ từ chỗ sản xuất kinh doanh chỉ theo chỉ
Trang 7tiêu kế hoạch Nhà nước giao; giá bán do Nhà nước ấn định; sản phẩm hàng hoá tiêu thụ theo địa chỉ đặt trước, cơ sở sản xuất được hưởng lãi định mức; nếu lỗ ngân sách Nhà nước cấp bù Cơ chế này đã làm cho các doanh nghiệp sản xuất không cần quan tâm đến hiệu quả sản xuất Chuyển sang một cách làm ăn mới của nền kinh tế thị trường tức là sản xuất phải đi đôi với hiệu quả Lợi ích của quá trình làm kinh tế không phải chỉ dành riêng cho doanh nghiệp mà là hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động và xã hội
Cải cách doanh nghiệp Nhà nước là một vấn đề vô cùng khó khăn, phức tạp không chỉ ở quan điểm, đường lối mà cả ở những vấn đề thuộc nghiệp vụ kỹ thuật Cho đến những năm gần đây doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Tuy nhiên trong thời gian qua, Nhà nước đã phải thực hiện nhiều biện pháp trợ giúp doanh nghiệp như miễn thuế, giảm thuế, cho vay ưu đãi, vay không phải thế chấp, khoanh nợ, giảm nợ, chuyển nợ thành vốn ngân sách, tham gia xuất khẩu trả nợ Nhà nước, được trúng thầu hoặc giao thầu, chỉ định thầu nhiều công trình do Nhà nước đầu tư, để lại KHCB để tái đầu tư, v.v
Tuy vậy doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn bộc lộ những yếu kém đó là:
- Năng lực cạnh tranh kém do chất lượng sản phẩm dịch vụ thấp, giá thành của nhiều sản phẩm còn cao, công nợ quá lớn, nợ quá hạn, nợ khó đòi (nợ xấu) ngày càng tăng lên Quy mô nhỏ, thiếu vốn; phần lớn vốn kinh doanh nằm ở hàng tồn kho, ứ đọng chậm luân chuyển, công nghệ lạc hậu v.v
Trước tình hình đó việc cải cách tổ chức và sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp đã trở thành yêu cầu hết sức cấp bách
Nghị quyết lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 9/2001) về doanh nghiệp Nhà nước đã quyết định đến năm 2005 hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước hiện có, bằng các hình thức cổ phần hoá, chuyển một số doanh nghiệp thuộc các tổ chức chính trị xã hội sang công ty TNHH một thành viên, sáp nhập, giải thể, phá sản, giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê
Trang 8Công ty Vật tư Mỏ địa chất là một đơn vị thuộc Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam - Bộ Công nghiệp, thuộc diện cổ phần hoá trong tiến trình được Chính phủ giao cho Bộ Công nghiệp Với tư cách là một người làm cán bộ quản lý của Bộ Công nghiệp có quan tâm thực sự đến cổ phần hoá và quá trình cổ phần hoá DNNN nhằm những mục đích mà Đảng, Nhà nước đã đề ra là đưa doanh nghiệp phát triển Với sự giúp đỡ, hướng dẫn của Tiến sỹ Nguyễn Văn Long, sự đồng ý của Trung tâm Sau Đại học và Khoa kinh tế và Quản lý thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội, cho phép tôi nghiên cứu đề tài này nhằm đáp ứng một phần vào việc cổ phần hoá một doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
a Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
- Tìm hiểu về công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Công ty Vật
tư Mỏ địa chất
- Vận dụng cơ sở lý luận để tiến hành hoàn thiện công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nói chung và của Công ty Vật tư Mỏ địa chất nói riêng
- Nêu ra được một số đề xuất, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền về việc
cổ phần hoá DNNN nói chung và cổ phần Công ty Vật tư Mỏ địa chất
b Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đích trên đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước
Nhiệm vụ thứ hai: Đánh giá đúng thực trạng của công tác cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước
Nhiệm vụ thứ ba: Nêu lên những luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc đề
xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác cổ phần hoá một doanh nghiệp Nhà nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 9Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một công việc quan trọng và cấp thiết của quá trình đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, nhằm tạo sức mạnh về mọi mặt, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đa dạng hoá loại hình sở hữu, tăng cường sức cạnh tranh đáp ứng công cuộc đổi mới nền kinh tế mà Đảng và Nhà nước
ta đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu bài bản về công tác tổ chức sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước nói chung và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nói riêng là đề tài rất lớn, trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp, với thời gian và kiến thức có hạn, tác giả chỉ tập trung vào những điều kiện, nhân tố, cơ chế, phương pháp liên quan đến cổ phần hoá Công ty Vật tư Mỏ địa chất
4 Phương pháp nghiên cứu
a Tài liệu dùng để nghiên cứu
- Nhóm các tài liệu liên quan đến phương pháp nghiên cứu khoa học
- Nhóm các tài liệu về tổ chức sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước
- Nhóm tài liệu về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước và công ty cổ phần
- Nhóm tài liệu liên quan đến các luật pháp của Nhà nước như Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanh nghiệp, Luật kế toán, Luật kinh tế của Nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
b Phương pháp nghiên cứu
Tác giả thực hiện đề tài bằng cách vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp điều tra thu thập
+ Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh
+ Phương pháp thống kê để giải quyết vấn đề
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những giải pháp khả thi phù hợp với điều kiện thực tế của Công ty Vật tư Mỏ địa chất, góp phần thực hiện việc cổ phần Công
Trang 10ty Vật tư Mỏ địa chất, đáp ứng cho công cuộc đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và khả năng hội nhập khi Việt Nam phát triển hơn nữa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đề tài nhằm tham mưu cho lãnh đạo các cấp làm tốt công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, phát huy những kinh nghiệm và kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại sai lệch trong công tác cổ phần hoá, đánh giá đúng giá trị doanh nghiệp nhằm bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp Góp thêm tài liệu cho những ai quan tâm đến công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, những thành viên trong các ban đổi mới sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước ở các cấp, ban đánh giá giá trị doanh nghiệp, cổ đông và người lao động trong doanh nghiệp
Đề tài còn có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho các sinh viên trong các trường chuyên ngành kinh tế và các cơ quan liên quan
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được chia làm 3 chương:
Chương I: Lý luận về cổ phần hoá
Chương II: Phân tích thực trạng của Công ty Vật tư Mỏ địa chất và yêu cầu cấp thiết phải cổ phần hoá
Chương III: Xây dựng phương án cổ phần
Trang 11CHƯƠNG I - LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công cuộc chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam
1.1.1 Công cuộc đổi mới và cải cách đối với chủ nghĩa xã hội là nhu cầu tất yếu khách quan
Chủ nghĩa xã hội hiện nay xét cả về lý luận và thực tiễn, chưa phải là một chế
độ đã thực sự hoàn chỉnh, nó cần phải được khảo nghiệm và hoàn thiện trong sự biến đổi thường xuyên, cần bổ sung thêm những tri thức, những kinh nghiệm mới, đồng thời phải thay thế, loại bỏ thiếu sót đã được kiểm chứng qua một quá trình thực tiễn lịch sử
Cải cách, đổi mới chính là nhằm đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận của chủ nghĩa xã hội Thực hiện cải cách, đổi mới một cách có nguyên tắc là con đường duy nhất đúng để bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa xã hội
1.1.2 Đổi mới kinh tế ở Việt Nam được dựa trên cơ sở nhận thức và vận dụng quan điểm của V.I.Lênin trong chính sách kinh tế mới
V.I Lênin đã đề xuất Chính sách kinh tế mới (NEP) - Hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế cụ thể và quy luật kinh tế khách quan, tức là một sự quá độ gián tiếp, lâu dài, thận trọng và có hệ thống Trong nội dung chủ yếu của Chính sách kinh tế mới có đề cập đến kinh tế nhiều thành phần là:
+ Chính sách sử dụng sức mạnh kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh
tế quá độ như khuyến khích phát triển sản xuất nhỏ của nông dân, thợ thủ công, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân, sử dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước, củng cố lại các doanh nghiệp Nhà nước
+ Chính sách thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong các xí nghiệp quốc doanh
Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin có ý nghĩa vô cùng quan trọng, trước hết nó khôi phục được nền kinh tế Xô Viết sau chiến tranh, khắc phục khủng hoảng chính trị, củng cố được khối liên minh công nông, chính sách kinh tế mới còn có ý nghĩa quốc tế to lớn đối với các nước phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa, trong
Trang 12đó có nước ta Những quan điểm kinh tế của Đảng ta, nhất là từ Đại hội VI đến nay
đã thể hiện sự nhận thức, vận dụng quan điểm của V.I.Lênin trong Chính sách kinh
các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Đây
là nền kinh tế sản xuất hàng hoá ở mức phát triển rất cao
Để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, Nhà nước cần phải có sự can thiệp vào nền kinh tế để đảm bảo sự ổn định, công bằng và hiệu quả
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ mô hình tổng quát của nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là nền kinh tế mà kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo; kinh tế Nhà nước cùng với kinh
tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
Nền kinh tế thị trường mà chúng ta cần xây dựng là nền kinh tế thị trường phát triển Trong nền kinh tế đó hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ, mỗi thực thể kinh tế có lợi ích riêng và là chủ thể của thị trường, tham gia hoạt động của thị trường và cạnh tranh với nhau; Nhà nước dựa vào các quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường, để thực hiện việc điều tiết vĩ mô cần thiết; vận dụng chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế, chỉ đạo kế hoạch và phương pháp hành chính để hướng dẫn sự phát triển của kinh tế thị trường Nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường là: Có tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, ổn định; giải quyết vấn đề công bằng xã hội, phù hợp từng bước với sự tăng trưởng kinh tế; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, dưới sự quản lý của một Nhà nước thực sự của dân; lấy việc giải phóng sức sản xuất làm căn cứ chủ yếu để hoạch định cơ cấu thành phần kinh tế, hình thức sở hữu; làm cho kinh tế Nhà nước phát triển trước hết
Trang 13là về chất để nắm vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân; xác lập, củng cố và nâng cao địa vị làm chủ thực sự của người lao động trong nền kinh tế thị trường, thực hiện công bằng xã hội ngày càng tốt hơn; tạo điều kiện công bằng trong phát triển con người; thực hiện nhiều hình thức phân phối trên nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu
1.2 Chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu
1.2.1 Chủ trương đổi mới chế độ sở hữu
Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) được đánh dấu là Đại hội mở đầu cho quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tế nước ta, trong đó nhận thức của Đảng ta về vấn đề sở hữu đã từng bước có sự đổi mới:
Thừa nhận trong nền kinh tế có nhiều loại hình sở hữu cùng tồn tại và phát triển do đó có nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động Nhưng chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất là nền tảng của quan hệ mới và thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa
mà kinh tế quốc doanh làm nòng cốt phải đóng vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân, chi phối được các thành phần kinh tế khác thông qua liên kết kinh tế Việc thừa nhận nhiều hình thức sở hữu là cơ sở đề ra chính sách, biện pháp tác động đến quản lý có hiệu quả của các thành phần kinh tế
Vấn đề sở hữu trong doanh nghiệp Nhà nước bao gồm một số nội dung sau đây:
- Tài sản của xí nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân, được Nhà nước giao cho tập thể lao động trực tiếp quản lý, sử dụng để phát triển sản xuất kinh doanh Tập thể lao động và Giám đốc Xí nghiệp có trách nhiệm cộng đồng trong việc sử dụng hợp lý tài sản và vận dụng mọi khả năng để phát triển sản xuất kinh doanh
- Nhiệm vụ cơ bản của xí nghiệp là sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, tự bù đắp các chi phí, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi, tự tích luỹ để phát triển, thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách và trách nhiệm đối với cơ quan hữu quan Những Xí nghiệp hoạt động không có hiệu quả phải được củng cố để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên
Trang 14Nếu không đủ điều kiện để củng cố và không cần thiết duy trì hình thức quốc doanh thì chuyển sang hình thức sở hữu khác kể cả cho tập thể, tư nhân thuê
- Kinh tế quốc doanh nắm những vị trí then chốt cần có đủ sức chi phối thị trường nhưng không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề Các xí nghiệp quốc doanh chuyển sang kinh doanh gắn với thị trường, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải, tự phát triển và làm nghĩa vụ với Nhà nước, không bao cấp
về giá và vốn như trước nữa
Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Xác định các thành phần kinh tế chủ yếu dựa vào chủ thể sở hữu, quản lý điều hành sản xuất kinh doanh gắn với các tổ chức kinh tế cụ thể Đồng thời đưa ra những giải pháp chủ yếu giải quyết cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp thuộc từng thành phần Đại hội
Đảng lần thứ VII nhấn mạnh hai nội dung cần tác động trong vấn đề sở hữu: Thứ
nhất, củng cố phát triển những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả; cho thuê hoặc
chuyển hình thức sở hữu các cơ sở thua lỗ kéo dài không có khả năng vươn lên;
hình thành các liên hiệp hoặc các tổng công ty Thứ hai, giải quyết đúng đắn mối
quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, quan hệ giữa Nhà nước và xí nghiệp quốc doanh Tiến hành việc giao vốn và áp dụng rộng rãi các hình thức khoán trong
xí nghiệp quốc doanh
Đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6 năm 1996), là Đại hội đã đưa đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, do đó, những chủ trương lớn tác động vào vấn đề sở hữu vẫn được tiếp tục phát triển
Thực hiện cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với quản lý nguồn vốn và tài sản của mình một cách có hiệu qủa
Trang 15Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001) cho rằng sở hữu và các thành phần kinh
tế là vấn đề cơ bản và quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối cách mạng Việt Nam
Đại hội lần thứ IX của Đảng xác định còn tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản:
sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Các hình thức sở hữu có thể đan xen, hỗn hợp Trên cơ sở các hình thức sở hữu cơ bản đó hình thành nhiều thành phần kinh tế với những tổ chức kinh doanh đa dạng Xuất phát từ tình hình thực tế những năm gần đây, Đại hội lần thứ IX của Đảng quyết định bổ sung thêm một thành phần kinh tế nữa là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy, hiện nay ở nước ta có các thành phần kinh tế như sau: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh
tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
1.2.2 Thực trạng và đặc điểm của chế độ sở hữu ở Việt Nam hiện nay
Đa dạng hoá sở hữu là xu hướng chung của các nước trên thế giới, hiện nay
do tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và xã hội hóa sản xuất Ở nước ta quá trình này diễn ra trên toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội và mang những tính chất đặc thù do thiết lập chế độ sở hữu tư liệu sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất
1.2.2.1 Sự thay đổi chế độ sở hữu trong khu vực kinh tế Nhà nước
Đại hội lần thứ VI của Đảng coi các doanh nghiệp Nhà nước là những đơn vị sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa, có quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính Hàng loạt văn bản của Nhà nước đã đề cập đến vấn đề sở hữu như: Nghị định 50 ngày 23 tháng 3 năm 1988, Nghị định 98/HĐBT ngày 2 tháng 6 năm 1988, Quyết định 217/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1987, Quyết định 143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990, Quyết định 22/HĐBT ngày 21 tháng 1 năm 1991,v.v Các quyết định, nghị định này thể hiện một quá trình chuyển biến trong nhận thức, chỉ đạo của Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước
Từ sau đại hội Đảng lần thứ VII (1991), chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm trong chỉ đạo thực tiễn và hoàn thiện lý luận về sở hữu Điều này được thể hiện
Trang 16trong các Quyết định 315/HĐBT, Quyết định 330/HĐBT, Nghị định 388/HĐBT và Luật doanh nghiệp Nhà nước được ban hành năm 1995 Những nội dung cơ bản về vấn đề sở hữu lần này khẳng định:
- Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý
- Doanh nghiệp Nhà nước có quyền quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên
và các nguồn lực khác do Nhà nước giao theo quy định của pháp luật
- Doanh nghiệp nhà nước có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tổ chức
bộ máy, mua sắm trang thiết bị, tìm kiếm thị trường, tổ chức sản xuất kinh doanh Cũng có thể được huy động thêm vốn từ các nguồn khác nhưng không được thay đổi hình thức sở hữu
- Nhà nước là chủ sở hữu nên Chính phủ và các cấp được uỷ quyền thống nhất thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp như quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể, chuyển đổi sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII, Nhà nước ta tiếp tục có đổi mới đối với vấn đề sở hữu để tăng tính tự chủ và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước:
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới doanh nghiệp, đã tiến hành một số biện pháp như: Sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, Tổ chức lại Tổng công ty và hội đồng quản trị, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, trong đó
cổ phần hoá được coi là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước với mục tiêu là huy động vốn của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào phát triển kinh tế và tạo thêm động lực làm việc cho người lao động để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước
Ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước và đó đều có các cơ sở kinh tế của Nhà nước Tỷ trọng và vai trò của kinh tế Nhà nước ở các quốc gia khác nhau rất khác nhau Tầm quan trọng của doanh
Trang 17nghiệp Nhà nước bắt nguồn từ yêu cầu giải quyết các mục tiêu kinh tế, xã hội và yêu cầu điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
Doanh nghiệp Nhà nước là những cơ sở kinh tế do Nhà nước sở hữu một phần hoặc toàn bộ Quyền sở hữu thuộc về nhà nước hay cơ bản thuộc về Nhà nước
là đặc điểm quan trọng để phân biệt doanh nghiệp Nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường
Những đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp Nhà nước
- Nhà nước chiếm trên 50% vốn của doanh nghiệp, nhờ đó Chính phủ có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân, nguồn thu thủ yếu đều từ hoạt động kinh doanh và thường phải thực hiện song song cả mục tiêu sinh lợi lẫn mục tiêu xã hội
Doanh nghiệp Nhà nước là đơn vị kinh doanh thuộc khu vực kinh tế quốc doanh, kinh tế quốc doanh thực ra không phải là thành phần kinh tế riêng có của chủ nghĩa xã hội Doanh nghiệp Nhà nước còn phải được duy trì và phát triển ở những ngành, những lĩnh vực kinh doanh đem lại ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận Vì ít lợi nhuận nên các thành phần kinh tế khác sẽ không đầu tư để kinh doanh, nhưng Nhà nước vẫn phải đầu tư để đảm bảo nhu cầu chung của nền kinh tế, đảm bảo lợi ích công cộng Nhà nước còn phải đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư Do đó mà doanh nghiệp Nhà nước lại càng có vai trò quan trọng, việc đánh giá vai trò quan trọng của doanh nghiệp Nhà nước không thể chỉ dựa vào sự lời lỗ trước mắt mà phải tính đến hiệu quả kinh tế lâu dài Sự tồn tại của doanh nghiệp Nhà nước là một tất yếu khách quan Để doanh nghiệp Nhà nước phát huy được vai trò chủ đạo của mình, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách quản lý thích hợp đối với doanh nghiệp Nhà nước Rõ ràng đó là yếu tố quan trọng chi phối quá trình thành lập và điều chỉnh pháp lý đối với việc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước
1.4 Côn g ty kinh doanh trên thế giới
1.4.1 Sự ra đời của công ty
Trang 18Sự ra đời của công ty là một hiện tượng kinh tế Mới đầu nó chỉ xuất hiện ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nơi có những điều kiện, môi trường kinh doanh thuận lợi, sau đó công ty ngày càng được phát triển và mở rộng trên thế giới
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh diễn ra ngày càng gay gắt do tác động mạnh mẽ của quy luật giá trị, mục đích thu lợi nhuận
và ngày càng tăng lợi nhuận trong kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của các nhà tư bản Để tồn tại và phát triển, buộc các nhà tư bản phải tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động, sao cho giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức giá trị hàng hoá xã hội Muốn vậy phải có vốn lớn để cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ Điều này thường chỉ những nhà tư bản lớn mới có thể thực hiện được, còn các nhà tư bản vừa và nhỏ chắc chắn gặp khó khăn hơn Vì vậy họ có thể bị thua trong cạnh tranh với các nhà tư bản lớn Nếu như
họ "kinh doanh" một cách lẻ loi Chính điều này đã dạy họ trong quá trình cạnh tranh, từ đó họ đã hợp sức - liên minh với nhau thông qua hình thức chung vốn để cùng kinh doanh Hình thức liên kết này đã tạo ra nền tảng cho công ty ra đời
Công ty là hình thức kinh doanh có nhiều ưu điểm hơn các hình thức kinh doanh khác, vì nó là hình thức tập trung vốn lớn và nhanh chóng, có thể tránh được những rủi ro lớn trong kinh doanh, tạo điều kiện cho người ít vốn và người không
có khả năng kinh doanh cũng có thể kinh doanh trên đồng vốn của mình bằng cách hùn vốn và kinh doanh chung
1.4.2 Khái niệm công ty kinh doanh
Qua nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện ra đời công ty cho thấy công ty là
"sự liên kết của hai hoặc nhiều người (cá nhân hoặc pháp nhân) bằng một sự kiện pháp lý nhằm thực hiện mục tiêu chung nào đó"
Trên cơ sở định nghĩa về công ty, chúng ta thấy công ty có các đặc điểm sau:
- Công ty là sự liên kết của nhiều người, chỉ có nhiều chủ thể tham gia thành lập thì công ty mới ra đời được
Trang 19- Công ty được thành lập là thông qua một sự kiện pháp lý; đó là hợp đồng hoặc điều lệ, hoặc quy chế hoạt động của công ty
- Công ty được thành lập là để thực hiện mục đích chung do các thành viên thống nhất đặt ra
Theo khái niệm và đặc điểm trên, công ty của các nước có nhiều loại, mỗi loại có mục đích khác nhau; loại công ty có chức năng, mục đích kinh doanh; loại không có mục đích kinh doanh (gọi là công ty dân sự)
1.4.3 Các loại công ty kinh doanh trên thế giới
Ở các nước trên thế giới tồn tại nhiều loại công ty kinh doanh khác nhau Người ta có thể căn cứ vào chế độ trách nhiệm của các thành viên hoặc dựa vào tính chất liên kết để phân biệt các loại công ty kinh doanh Song dựa vào mối quan hệ giữa các thành viên công ty thì việc phân loại công ty đảm bảo bao quát hơn Theo cách này thì trên thế giơí có hai loại; Công ty đối nhân và Công ty đối vốn
1.4.3.1 Công ty đối nhân
Công ty đối nhân là loại công ty mà trong đó các thành viên thường quen biết nhau, họ liên kết với nhau là do tín nhiệm để cùng kinh doanh kiếm lời chia nhau
Công ty đối nhân có các đặc điểm sau:
- Khi tham gia vào công ty, các thành viên rất quan tâm đến nhân thân của nhau Sự quen biết, tin cậy lẫn nhau của các thành viên là điều kiện bắt buộc và đầu tiên để thành lập công ty Việc góp vốn chỉ là điều kiện thứ hai Chính sự tin cậy, tín nhiệm giữa các thành viên là cơ sở cho sự liên kết giữa các thành viên bền vững,
vì vậy việc thay đổi các thành viên của công ty rất khó khăn Trong những trường hợp nhất định khi có một thành viên muốn ra khỏi công ty hoặc bị chết thì công ty
có thể bị giải thể
- Công ty không có tư cách pháp nhân
- Các thành viên hoặc một số thành viên công ty liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty Liên đới chịu trách nhiệm vô hạn có nghĩa là khi công ty không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì thành viên của công
ty phải bằng toàn bộ tài sản của mình (bao gồm tài sản kinh doanh và tài sản riêng
Trang 20của mình) để trả nợ thay cho công ty, cho các thành viên khác Họ trở thành con nợ thay cho công ty và các thành viên khác
Công ty đối nhân có hai loại công ty; đó là công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản
1.4.3.2 Công ty đối vốn
Công ty đối vốn ra đời sau Công ty đối nhân Công ty đối vốn là tổ chức kinh doanh trong đó các thành viên thường không quen biết nhau Việc thành lập công ty không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp Công ty đối vốn có những đặc trưng cơ bản sau:
- Quan hệ giữa các thành viên không bắt buộc phải là quan hệ quen biết, tin cậy lẫn nhau, các thành viên chỉ quan tâm đến phần vốn góp vào công ty
- Tất cả các thành viên công ty không bắt buộc phải có quy chế của nhà kinh doanh Họ chỉ cần góp vốn theo sự thoả thuận, còn công ty sẽ là chủ thể kinh doanh Với đặc điểm này tạo cho công ty có khả năng thu hút vốn thuận lợi hơn Công ty đối nhân
- Công ty đối vốn là một pháp nhân, có chức năng kinh doanh Có quyền sở hữu đối với tài sản của công ty, vì vậy trong Công ty đối vốn có sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản của công ty và tài sản riêng của thành viên công ty Chính đặc điểm này là một đặc điểm cơ bản nhằm để phân biệt Công ty đối vốn với Công ty đối nhân Đó là chế độ trách nhiệm hữu hạn của Công ty đối vốn và của các thành viên Công ty đối vốn Là một chủ thể kinh doanh độc lập nên công ty phải nộp các loại thuế từ hoạt động kinh doanh cho Nhà nước, còn các thành viên có nghĩa vụ đóng thuế thu nhập cho Nhà nước theo quy định của mỗi nước So với Công ty đối nhân việc chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên Công ty đối vốn được
dễ dàng hơn Về mặt quản lý của công ty đối vốn nhìn chung có tính phức tạp Pháp luật điều chỉnh tương đối nhiều trong việc tổ chức quản lý và hoạt động của công ty
Công ty đối vốn của các nước trên thế giới gồm 2 loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần, tuy cùng là các loại của công ty đối vốn, nhưng chúng
có những sự khác nhau nhất định
Trang 21a Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại Công ty đối vốn trong đó các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về mọi khoản nợ của công ty Đây là loại công ty có thể nói là loại hình kinh doanh thuận lợi, bởi nó có một số đặc điểm sau:
- Nó là loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì số lượng thành viên tương đối ít và thường là những người quen biết nhau
- Vốn điều lệ của công ty là do các thành viên đóng góp Mức vốn góp của mỗi thành viên ở mức cao thấp khác nhau theo khả năng tài chính của họ và phải đóng đủ ngay khi thành lập công ty
- Phần vốn góp của các thành viên không thể hiện dưới hình thức cổ phiếu, vì vậy việc chuyển nhượng ra ngoài không dễ dàng
- Do số lượng thành viên ít nên việc thành lập, tổ chức, quản lý công ty tương đối đơn giản
b Công ty cổ phần
Công ty cổ phần ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 17 cùng với sự phát triển mở đầu của nền đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa đế quốc và chính sách bóc lột thuộc địa của chúng
Công ty cổ phần phát triển mạnh mẽ nhất trong thế kỷ thứ 19, khi mà nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa phất triển và nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đòi hỏi phải có nhiều vốn đầu tư mới để hoạt động có hiệu quả Nhiều công trình lớn của thế giới nếu không huy động vốn của nhiều người, nhiều tầng lớp thì không thể thực hiện được như kênh đào Suez Ông Jecdinant De Lepsep khi không xin được kinh phí để đào kênh đã phát hành cổ phiếu để thu hút vốn và cuối cùng ông ta
đã thực hiện được ý tưởng của mình
So với Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần là loại hình công ty có tính tổ chức, tính xã hội cao về vốn cũng như về hoạt động của nó Nó có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Trang 22- Vốn điều lệ của công ty được chia thành các cổ phần và các cổ phần này được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Đây là đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần
- Trong quá trình hoạt động, Công ty cổ phần được phát hành chứng khoán
để huy động vốn làm tăng vốn điều lệ của công ty Những người mua cổ phiếu trở thành cổ đông của công ty, có quyền sở hữu đối với cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Chính đặc trưng này của Công ty cổ phần đã thúc đẩy sự ra đời của thị trường chứng khoán
- Công ty cổ phần có số lượng thành viên rất đông, các thành viên này không bắt buộc phải là những người quen biết Bất kỳ ai khi đủ điều kiện theo pháp luật cũng có thể mua cổ phiếu để trở thành thành viên Công ty cổ phần Do vậy số lượng người mua cổ phiếu của công ty rất đông, có thể đến hàng trăm, hàng nghìn, hàng vạn cổ đông trong một công ty cổ phần
- Việc thành lập và điều hành Công ty cổ phần phức tạp hơn so với Công ty trách nhiệm hữu hạn Tính phức tạp này bắt nguồn từ việc Công ty cổ phần được phát hành chứng khoán và có số lượng cổ đông rất đông
- Công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của các quy định pháp luật, ví
dụ như quy định về thành lập, giải thể công ty, về phát hành chứng khoán, về tổ chức của công ty, v.v
Ưu thế lớn của công ty cổ phần là nó có khả năng thu hút được nhiều vốn trong công chúng nên nó rất phù hợp với quy mô kinh doanh lớn và hiện đại, nó lôi cuốn được nhiều người tham gia vào công ty cổ phần Bởi vì sự tham gia vào công
ty cổ phần chỉ cần góp vốn, ngoài ra không còn có nghĩa vụ gì khác nữa, kiến thức
và khả năng thương mại không cần thiết Người góp vốn (cổ đông) cũng không cần thiết phải gắn bó lâu dài với công ty nếu họ không muốn, vì việc chuyển nhượng phần vốn góp rất dễ dàng thông qua việc bán cổ phiếu, điều này tạo điều kiện cho nhiều người tham gia vào công ty Người không có điều kiện và khả năng kinh doanh cũng có thể tham gia vào công ty Vì nhiều người tham gia như vậy nên rủi
ro trong quá trình kinh doanh được chia sẻ cho nhiều người Do đó công ty cổ phần
Trang 23có thể đầu tư kinh doanh trong các ngành có thể có rủi ro lớn Công ty cổ phần là hình thức tập trung tư bản do đó mà chủ nghĩa tư bản phát triển như ngày nay Nhiều công ty cổ phần nắm trong tay tiềm lực kinh tế của đất nước và có khả năng chi phối cả về mặt chính trị
Nhược điểm của công ty cổ phần là: Công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty, các cổ đông không phải chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty là một mối nguy hiểm cho các chủ
nợ của công ty Điều đó đòi hỏi phải có những quy định chặt chẽ để đem lại sự an toàn cho khách hành khi có quan hệ làm ăn với công ty Thứ nữa là sự tham gia rộng rãi của công chúng vào công ty cổ phần dẫn đến tình trạng các cổ đông có điều kiện tham gia thành lập và quản lý công ty dễ dàng lợi dụng Vì vậy mà Luật công
ty của các nước đều có những quy định rất nghiêm ngặt về việc thành lập và kiểm tra tài chính cũng như cơ chế quản lý của công ty cổ phần
1.5 Các loại doanh nghiệp ở Việt Nam
1.5.1 Doanh nghiệp Nhà nước
Ở Việt Nam hiện nay khái niệm doanh nghiệp Nhà nước được định nghĩa trong Điều I, Luật doanh nghiệp Nhà nước như sau:
Doanh nghiệp Nhà nước là một tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao
Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân
sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
Định nghĩa này đã phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Doanh nghiệp Nhà nước có những đặc điểm cơ bản sau đây:
a) Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập
b) Tài sản trong doanh nghiệp là một bộ phận của tài sản Nhà nước
c) Doanh nghiệp Nhà nước là đối tượng quản lý trực tiếp của Nhà nước
Trang 24d) Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi
e) Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện mục tiêu mà Nhà nước giao
1.5.2 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là một loại hình công ty đối nhân Trong lịch sử hình thành các loại hình công ty kinh doanh thì công ty đối nhân ra đời sớm hơn công ty đối vốn Công ty đối nhân là công ty của những người quen biết nhau như anh em, họ hàng, bạn bè thân thiết
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:
a Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn
b Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty
c Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (Điều 95, Luật doanh nghiệp)
1.5.3 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần được Luật doanh nghiệp mô tả tại Điều 51 như sau:
1 Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
b Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
c Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 55 và Khoản 1 Điều 58 của Luật doanh nghiệp
d Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa
2 Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Trang 253 Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Như vậy công ty cổ phần là công ty có tư cách pháp lý riêng Công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty Tài sản của công
ty hoàn toàn tách biệt với tài sản của thành viên công ty Các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp vào công ty Công ty cổ phần là công ty đối vốn điển hình, vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Đây là đặc điểm quan trọng và mang tính đặc trưng của công ty cổ phần Thành viên của công ty cổ phần được gọi là cổ đông Mỗi cổ đông có thể là chủ sở hữu của một hoặc nhiều cổ phần Luật không hạn chế số cổ phần mà một cổ đông có thể đại diện cho bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ nhưng trong điều lệ công ty có thể quy định số cổ phiếu mà một cổ đông có thể mua để chống lại việc một thành viên nào đó có thể nắm được quyền kiểm soát công ty
Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần được phép phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu ra thị trường để huy động vốn nên công ty cổ phần có khả năng huy động vốn rất lớn Cũng chính vì công ty cổ phần có khả năng huy động vốn lớn và hoạt động của công ty mang tính xã hội hoá rất cao Để đảm bảo cho công ty sau khi được thành lập có thể hoạt động được, pháp luật quy định việc thành lập và quản lý công ty rất chặt chẽ, ngăn ngừa khả năng những người tham gia thành lập và quản lý công ty lừa đảo chiếm đoạt vốn của người mua cổ phiếu Vì vậy quy chế về thành lập và quản lý công ty phức tạp, công ty chịu nhiều quy chế bắt buộc hơn so với các loại công ty khác
1.5.4 Công ty trách nhiệm hữu hạn
1.5.4.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên
Theo Điều 26 Luật doanh nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó:
Trang 26+ Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp
+ Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại Điều 32 của Luật doanh nghiệp
+ Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi
Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
1 5.4.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Theo Điều 46 Luật doanh nghiệp thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được hiểu như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được phát hành cổ phiếu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
1.5.5 Hợp tác xã
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp
phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.5.6 Doanh nghiệp tư nhân
Trang 27Doanh nghiệp tư nhân là hình thức tổ chức kinh doanh lâu đời và phổ biến nhất của một thực thể kinh doanh do một cá nhân làm chủ sở hữu
Doanh nghiệp tư nhân có đặc trưng cơ bản là người chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc thành lập doanh nghiệp tư nhân đơn giản và dễ dàng
1.5.7 Các hình thức đầu tư nước ngoài
Nhà nước ta khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức sau đây:
- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Doanh nghiệp liên doanh
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu tư mà không thành lập pháp nhân
+ Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác, thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam Đây là hình thức đầu tư không có bên Việt Nam trong cơ cấu về vốn của doanh nghiệp Nhà đầu tư nước ngoài có quyền sở hữu hoàn toàn đối với doanh nghiệp và
tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp
1.6 Cổ phần hóa - Kinh nghiệm cổ phần hoá ở một số nước
1.6.1 Cổ phần hóa, tư nhân hóa
Cổ phần hóa là một vấn đề mới và phức tạp ở Việt Nam, chúng ta còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm trong nghiên cứu, hoạch định chính sách, trong tổ chức thực hiện, đặc biệt là các thủ tục pháp lý, quy trình công nghệ chuyển đổi sở hữu
Vì vậy việc tham khảo, đúc rút kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hóa của nước
Trang 28ngoài, đặc biệt là những nước có những điều kiện, hoàn cảnh tương tự như nước ta
là một điều hết sức cần thiết
Qua tài liệu của nước ngoài cũng như các chương trình kinh tế, chương trình cải cách kinh tế của chính phủ của các nước Đông âu, các nước tư bản phát triển được công bố, các nước này thường dùng các khái niệm như: “tư nhân hóa”, “dân danh hóa”, “đa dạng hóa sở hữu” Hầu hết các nước này đều đưa ra chương trình tư nhân hóa các doanh nghiệp Nhà nước, còn ở Việt Nam chúng ta dùng khái niệm “cổ phần hóa” và đưa ra chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
Trong giai đoạn đầu tiến hành thí điểm cổ phần hoá tại nước ta, còn nhiều ý kiến khác nhau về cổ phần hóa, có loại ý kiến cho rằng thực chất của cổ phần hóa là
tư nhân hóa Vì vậy trước hết cần hiểu về tư nhân hóa và cổ phần hóa
Tư nhân hóa (privatization) theo định nghĩa của Liên hiệp quốc là quá trình chuyển dịch trong quan hệ tương tác giữa các nước vào thị trường theo hướng ưu tiên thị trường, quan niệm hẹp về tư nhân hóa là quá trình chuyển giao tài sản công sang sở hữu tư nhân dưới nhiều hình thức khác nhau
Cổ phần hóa (corporatization) là quá trình cải tạo doanh nghiệp nhà nước hay từng bộ phận của nó thành các công ty cổ phần hoạt động theo luật công ty, trên cơ
sở chuyển một phần hay toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước trong doanh nghiệp thành hỗn hợp của nhiều chủ thể khác nhau, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Như vậy chúng ta có thể thấy cổ phần hóa là một bộ phận hay một hình thức của tư nhân hóa
1.6.2 Cổ phần hoá ở Trung Quốc
Trung Quốc là một nước đã phải trải qua một cuộc cải cách hệ thống DNNN trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Chính phủ Trung Quốc coi việc cải cách XN và cải cách sở hữu trong các DNNN là trọng tâm của chương trình cải cách kinh tế Quá trình cải cách DNNN tiến hành theo 2 nội dung chính
Trang 29Một là, cải cách cơ chế quản lý DNNN trên cơ sở giữ nguyên sở hữu (chế độ hợp đồng cho thuê, hợp đồng kế hoạch)
Hai là, thực hiện chuyển đổi sở hữu (hình thành các công ty cổ phần, khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)
Như vậy, Cổ phần hoá DNNN ở Trung Quốc là một bộ phận của chương trình đa dạng hoá sở hữu và là một trong các cách giải phóng, cải cách các DNNN Việc áp dụng các giải pháp này đã được đề cập rất nhiều trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, ngay từ đầu những năm 80 quan điểm của Chính phủ Trung
Quốc là “tiến hành chuyển đổi sở hữu từ từ, không nhanh, không chậm, và luôn tỉnh táo, thận trọng”
Có thể nói, việc tiến hành cổ phần hoá đóng một vai trò to lớn trong việc thúc đẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế ở Trung Quốc Trước hết,
cổ phần hoá thúc đẩy tập trung vốn, góp phần giải quyết vấn đề thiếu vốn của các doanh nghiệp nhà nước Thứ hai, cổ phần hóa làm tăng tính độc lập, tự chủ của doanh nghiệp vì chính quyền không còn khả năng dùng các biện pháp hành chính
để can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp Thứ ba, việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để Trung Quốc thiết lập các tập đoàn doanh nghiệp quy mô lớn
Cải cách doanh nghiệp nhà nước đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong tình hình nội bộ doanh nghiệp
Thông qua cải cách, nguồn tạo vốn của doanh nghiệp đã được đa dạng hoá, điều này vừa giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho Nhà nước, vừa huy động được các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội
Nhìn chung Trung Quốc đã có bước đi tương đối vững chắc trên cả 2 mặt lý luận và thực tiễn
Với các bước tiến hành và nguyên tắc thận trọng (từ thăm dò, thí điểm, triển khai hẹp, mở rộng) cho thấy cổ phần hoá chỉ được tiến hành thành công khi đã
Trang 30chuẩn bị chu đáo cả về cơ chế, chính sách và vật chất để giải quyết những hậu quả
do cải cách DNNN gây ra
1.6.3 Tư nhân hóa ở HUNGARI
Mục đích chính của việc tư nhân hóa ở HUNGARI là hình thành nền kinh tế thị trường trên cơ sở sở hữu tư nhân, xử lý quan hệ sở hữu, tăng hiệu quả kinh doanh, giảm sự thiếu vốn của Nhà nước, tiếp thu công nghệ và phương pháp quản
lý mới, hiện đại, khuyến khích thay đổi cơ cấu kinh tế, ngăn chặn việc đánh mất thị trường, tìm thị trường mới, mở rộng thị trường Phát triển thị trường vốn trong nước, thu hút các công ty đa quốc gia, thu hút vốn quốc tế Tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế, duy trì và tạo công ăn việc làm cho các tầng lớp lao động,v v…
Quá trình tư nhân hóa ở HUNGARI bắt đầu từ năm 1990 Để đảm bảo cho tư nhân hóa thành công phải có nhà nước pháp quyền, sự an toàn pháp lý và điều đó mang lại cho cá nhân, cho người sở hữu bảo đảm được bảo vệ, tạo cơ sở pháp quy cho các quan hệ sở hữu, hình thành và đưa vào hoạt động kinh tế thị trường dựa trên chế độ sở hữu tư nhân và chế định giá trị Về pháp lý, ở HUNGARI chương trình lịch sử này trước hết được thể hiện trong việc điều chỉnh cơ bản hiến pháp (năm 1989) Điều cơ bản đó là Hiến pháp công bố nền kinh tế HUNGARI là nền kinh tế thị tường, trong đó:
+ Sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân bình đẳng và được bảo vệ như nhau
+ Nói rõ tự do kinh doanh
+ Nói rõ HUNGARI đảm bảo quyền được sở hữu
Vì vậy để hình thành một hệ thống pháp lý cho tư nhân hóa Quốc hội HUNGARI đã xây dựng trên 800 bộ luật mới hoặc điều chỉnh luật đã có
Trong thời kỳ đầu, đặc biệt là năm 1990 kết quả thực hiện tư nhân hóa có thể nói là chậm vì các nguyên nhân sau:
+ Chưa có được một chiến lược tư nhân hóa của Chính phủ
+ Chưa có chiến lược rõ ràng cho các ngành, các nghề
Trang 31+ Điều kiện pháp lý nhiều khía cạnh còn dở dang (thí dụ như xác định giá đất)
+ Tài sản cố định để tư nhân hóa của nhà nước chưa phân biệt rõ ràng
+ Thiếu thông tin và thiếu kinh nghiệm
1.6.4 Dân doanh hóa ở Đài Loan
(Privatization - ở Đài loan từ này có nghĩa là dân doanh hóa) Ở Đài Loan có khoảng 800.000 doanh nghiệp trong đó có 101 doanh nghiệp nhà nước Trong đó có
58 doanh nghiệp trong ngành chế tạo và 43 doanh nghiệp trong ngành dịch vụ, hầu hết là doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, có số vốn từ 40 triệu Nhân dân tệ (khoảng 20 tỷ đồng Việt Nam) Vào những năm 1957 kinh tế quốc doanh đóng một vai trò quan trọng như là một công cụ điều chỉnh các hoạt động kinh tế quốc dân, ổn định giá cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả đầu tư…
Ngày nay có một số doanh nghiệp nhà nước đã hết vai trò lịch sử của nó thì được “dân doanh hóa” Nguyên nhân dẫn đến “dân doanh hóa” là:
Một là: Tư nhân hóa là một xu thế, một trào lưu thế giới, qua nghiên cứu kinh
nghiệm của Anh, Nhật, Ý
Nhà nước phải bù lỗ, lợi nhuận trên vốn của doanh nghiệp nhà nước chỉ bằng 1/10 doanh nghiệp tư nhân, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước yếu, hệ thống quản lý cồng kềnh, thiếu năng động
quá lớn, nếu không dân doanh hóa, không có sự hướng dẫn của nhà nước thì nguồn tài chính đó sẽ bành trướng, bung ra gây mất ổn định trong nền kinh tế quốc dân
Mục tiêu dân doanh hóa ở Đài Loan là:
+ Nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, ở đây nhấn mạnh sử dụng hợp lý nguồn vốn của quốc gia
+ Nâng cao sức cạnh tranh giữa các công ty với nhau và các công ty nước ngoài
Trang 32+ Thu hồi vốn cho ngân sách, phân phối lại tài sản quốc gia cho mọi người, tăng tốc độ đầu tư vào các công trình công cộng, nâng cao mức sống cho nhân dân
+ Thu hút nguồn tài chính trong dân, cộng với nguồn tài chính của nhà nước hợp thành nguồn tài chính mới
+ Tăng cường quyền chủ động cho các doanh nghiệp, giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào doanh nghiêp
1.6.5 Bài học cổ phần hoá ở các nước khác
Những bài học ở Nga và các nước XHCN thuộc Đông Âu (cũ), biện pháp cổ phần hoá cũng đã áp dụng nhưng quá trình CPH ở đây áp dụng ồ ạt và thường đi liền với tư nhân hoá, sau khi tiến hành CPH Chính phủ gần như rút hoàn toàn khỏi
1.7 Cổ phần hóa ở Việt Nam
1.7.1 Cổ phần hoá ở Việt Nam chủ trương, đường lối và mục tiêu
1.7.1.1 Chủ trương của Đảng trong tiến trình thực hiện cổ phần
Để thực hiện thành công đường lối đổi mới kinh tế và chủ trương tổ chức, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước trong đó có cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, phù hợp với từng giai đoạn, qua khảo nghiệm thực tiễn Đảng ta đã từng đưa ra chủ trương cụ thể tại các thời kỳ như sau:
+ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VII (12-1991) với chủ trương:
“chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thuê công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp"
Trang 33+ Nghị quyết Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII "Để thu hút thêm nguồn vốn tạo nên động lực ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có hiệu quả, cần thực hiện các hình thức cổ phần hóa có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, trong đó sở hữu nhà nước chiếm cổ phần chi phối
+ Nghị quyết Đại hội VIII (7 - 1996)
"Triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hóa DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả…"
+ Thông báo ý kiến của Bộ Chính trị khoá VIII/số 63-TB/TW(4-4-1997)
“ Cổ phần hoá phải xuất phát từ yêu cầu của phát triển doanh nghiệp nhằm huy động thêm vốn của cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để mở rộng ngành nghề, hiện đại hoá công nghệ, tạo thêm việc làm, phân công lại lao động, phát triển sản xuất, thêm khả năng cạnh tranh, tích luỹ cho doanh nghiệp đóng góp cho ngân sách và thu nhập cho người lao động "
+ Nghị quyết Đại hội IX (4-2001)
"Hoàn thành cơ bản việc cổ phần hóa các DNNN mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% sở hữu vốn, bán cổ phần cho người lao động, mở rộng việc bán cổ phần cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài"
+ Nghị quyết Hội nghị TW3 khoá IX (8-2001)
"Mục tiêu cổ phần hóa DNNN là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và huy động thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh nhằm tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN; nhằm phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông và tăng cường giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, cổ phần hoá DNNN không được biến thành tư nhân hoá DNNN"
1.7.1.2 Nhận thức về cổ phần hoá
Cổ phần hoá là một giải pháp quan trọng, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN, là việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công
Trang 34ty cổ phần Đây là một chủ trương lớn mà Đảng và Nhà nước ta đề ra và quyết tâm thực hiện Với nhiều lý do khác nhau mà đến đầu những năm 80 nền kinh tế của Việt Nam đã rơi vào tình trạng khủng hoảng, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân hết sức khó khăn
Cổ phần hoá là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp nhưng muốn đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, để tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường phát triển, việc sắp xếp và cổ phần hoá các DNNN là xu thế tất yếu khách quan Nó không chỉ ở Việt Nam và ở các nước khá phát triển (như Anh, Mỹ ), ở các nước Đông Âu (như Hungari, Balan, Đức ), ở Châu Á như ở Trung Quốc Sự phức tạp bắt nguồn từ nhiều lý do, như quan niệm như thế nào là DNNN và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường, việc xử lý vấn đề có tính chất nghiệp vụ trong cổ phần hoá như xác định giá trị doanh nghiệp, sắp xếp bố trí và chính sách với lao động dôi
dư như thế nào?, ưu đãi về tài chính cho DNNN và người lao động từ DNNN sang công ty cổ phần như thế nào?
1.7.1.3 Các hình thức cổ phần hoá ở Việt Nam
Theo quy định hiện hành thì cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước có thể thực hiện theo nhiều cách Việc quy định này phụ thuộc vào vị trí, vai trò của doanh nghiệp đối với nền kinh tế hiện tại và lâu dài, phụ thuộc vào ngành nghề và quy mô của doanh nghiệp về vốn, công nghệ, tích lũy cho Nhà nước Hiện nay Nhà nước quy định các cách như sau
+ Giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để đầu tư phát triển doanh nghiệp Hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp mà Nhà nước cần giữ một tỷ lệ cổ phần nhất định trong doanh nghiệp
và doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả, cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh
+ Bán bớt một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp và các nhà đầu tư khác để chuyển thành công ty cổ phần Hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp chưa cần huy động thêm vốn, mà chỉ
cơ cấu lại quyền sở hữu về vốn và biện pháp quản lý doanh nghiệp
Trang 35+ Bán toàn bộ phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp Hình thức này
áp dụng cho các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối
+ Thực hiện kết hợp giữa việc bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc bán toàn bộ phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp với phát hành
cổ phiếu thu hút thêm vốn
Với bất kỳ hình thức nào ở trên thì người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa cũng được mua một tỷ lệ nhất định theo mức giá ưu đãi của Nhà nước và được ưu tiên mua trước cổ phần theo giá bình thường, nhằm tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự của doanh nghiệp, tạo động lực trong sản xuất kinh doanh cũng như kiểm tra giám sát của người lao động đối với hoạt động của doanh nghiệp
1.7.1.4 Quy trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam
Theo quy định tại văn bản số 11712 TC/TCDN ngày 10/11/2003 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn quy trình cổ phần hóa DNNN thì quá trình tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có 10 bước:
Bước1 Ra quyết định thực hiện cổ phần hóa và thành lập ban đổi mới phát triển doanh nghiệp
Bước 2 Tuyên truyền chủ trương chính sách cổ phần hóa
Bước 3 Chuẩn bị hồ sơ tài liệu
Bước 4 Kiểm kê, xử lý những vấn đề tài chính
Bước 5 Xác định giá trị doanh nghiệp
Bước 6 Xây dựng phương án cổ phần ưu đãi và phương án sắp xếp lại lao động
Bước 7 Lập phương án cổ phần hóa doanh nghiệp và dự thảo điều lệ tổ chức hoạt động của công ty cổ phần
Bước 8 Thẩm định và phê duyệt phương án cổ phần hóa
Bước 9 Thực hiện phương án cổ phần hóa
Bước 10 Ra mắt công ty cổ phần và đăng ký kinh doanh
1.7.2 Thực tiễn cổ phần hoá ở Việt Nam
Trang 36Cổ phần hóa là việc chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần
có nghĩa là chuyển một doanh nghiệp Nhà nước hiện đang hoạt động theo Luật
doanh nghiệp Nhà nước đã nêu ở mục 1.5.1 sang Công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp được nêu ở mục 1.5.3 theo các hình thức cổ phần hóa như đã nêu ở mục 1.7.1.3
1.7.2.1 Các giai đoạn cổ phần hóa ở Việt Nam
a Giai đoạn sơ khai trước năm 1991
Việc cổ phần hoá DNNN đã được đề cập đến lần đầu tiên khi có Quyết định 217-HĐBT (nay là Chính phủ), chủ trương làm thử việc chuyển DNNN thành công
ty cổ phần và đã xuất hiện một số đơn vị hoạt động theo mô hình này như XN dược phẩm dược liệu TP Hồ Chí Minh, Công ty cổ phần vận tải biển Hải Phòng,v.v
XN dược phẩm dược liệu Tp Hồ Chí Minh Qua 10 năm hoạt động, theo Điều lệ đề ra của xí nghiệp với mô hình thí điểm công ty cổ phần quy mô vừa, vốn nhà nước 50% trong tổng vốn của xí nghiệp nhưng đơn vị hoạt động có hiệu quả, tăng vốn lên 17,82 lần, các chỉ tiêu về doanh thu, sản lượng, nộp ngân sách, lãi đều tăng
Công ty cổ phần vận tải biển Hải Phòng sau 2 năm tiến hành cổ phần, số vốn của công ty đã tăng gấp đôi
Tuy nhiên mô hình này còn gây nhiều tranh cãi như công ty cổ phần chưa đảm bảo quyền kiểm sát của các cổ đông đối với bộ máy quản lý của công ty Chưa thực hiện đúng chức năng, hoạt động của ban giám đốc công ty vẫn mô phỏng theo kiểu DNNN
b Giai đoạn 1992 - 1996
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khoá VII ngày 8/6/1992 Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành QĐ 202/CT về tiếp tục làm thí điểm
cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước (4)
c Giai đoạn mở rộng thí điểm từ năm 1996 - 1998
Qua các kết quả thí điểm, rút ra những kinh nghiệm và bài học, Chính phủ ban hành Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996; Nghị định này tạo điều kiện thúc đẩy cổ
Trang 37phần hóa nhanh hơn, đối tượng, mục tiêu cổ phần hóa, nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp, chế độ ưu đãi doanh nghiệp và người lao động cụ thể hơn Sau 2 năm
có 25 DNNN thuộc 2 bộ, 11 địa phương và 2 Tổng công ty 91 đã tiến hành cổ phần hóa thành công với vốn điều lệ 243,042 tỷ đồng Tuy nhiên kết quả này cũng chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới
d Giai đoạn từ 7/1998 đến 12/2001
Ngày 29/6/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về cổ phần hóa DNNN thay thế Nghị định 28/CP Nghị định này tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các DNNN thực hiện cổ phần hóa, nó vừa kế thừa mặt tích cực của Nghị định 28/CP, bổ sung và sửa đổi, phát triển thêm nhiều điều mới để đáp ứng cho yêu cầu thực tiễn của cổ phần hóa
Với cơ chế thông thoáng hơn hẳn những quy định trước đây, kết hợp với sự chỉ đạo của chính phủ và các cơ quan chức năng, tích cực tháo gỡ những khó khăn vướng mắc vì vậy nên sau hơn 3 năm thực hiện số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa là 742 doanh nghiệp và bộ phận DNNN
Sau 10 năm thực hiện chủ trương CPH tính đến năm 2001 trên cả nước đã có
10 bộ, 54 địa phương và 12 Tổng Công ty 91 hoàn thành chương trình CPH với tổng số vốn Nhà nước được đánh giá khoảng gần 3.000 tỷ đồng Qua tổng kết và thực tế cho thấy tiến trình cổ phần hóa diễn ra vẫn chậm, hầu hết các doanh nghiệp
cổ phần hoá ở diện vừa và nhỏ, do đó mục tiêu huy động và cơ cấu lại vốn Nhà nước qua cổ phần còn hạn chế
Trang 38e Giai đoạn 2002 - 2003
Tính đến giữa năm 2002 mới có 828 doanh nghiệp và bộ phận DNNN được
cổ phần, trong đó năm 2001 số doanh nghiệp cổ phần hóa lên đến 250 doanh nghiệp trong phạm vi cả nước, nhưng đến năm 2002 thì chững lại chỉ gần 150 doanh nghiệp
Với lộ trình đã được duyệt giai đoạn 2003-2005 số DNNN cổ phần hoá là hơn 2.000 doanh nghiệp, như vậy là chưa thực hiện đảm bảo yêu cầu và chủ trương của Đảng và Nhà nước đặt ra
Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ ra đời thay thế
NĐ 44/1998/NĐ-CP theo đó hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành các cơ quan hữu quan, trên cơ sở sửa đổi bổ sung, điều chỉnh những bất hợp lý, thông thoáng hơn, đặc biệt là NĐ41/NĐ-CP về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN, Thông tư 76/2002/TT-BTC ngày 9/9/02 của Bộ Tài chính, Thông tư 79/2002/TT-BTC Hướng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp đã khích lệ các doanh nghiệp, người lao động tích cực hơn hưởng ứng nhiều hơn
1.7.2.2 Nguyên nhân làm chậm tiến trình cổ phần hoá
Theo nghiên cứu của Tiến sỹ Đào Duy Quát (16); vì sao một chủ trương đúng khi áp dụng vào cuộc sống lại tương đối chậm, kết quả điều tra xã hội học cho chúng ta thấy những thông tin rất quan trọng lý giải cho câu hỏi trên, trong đó:
1 Trên 72% công nhân viên, 69% cán bộ quản lý kinh tế rất băn khoăn lo lắng về việc làm, thu nhập, trong đó đáng chú ý là 71% công nhân rất sợ bị mất việc
2 44% số người được hỏi cho rằng, cán bộ quản lý ngại cổ phần hóa vì sợ ảnh hưởng đến vị trí của mình nên chưa tích cực thực hiện
3 Gần 60% cán bộ quản lý chuyên gia kinh tế và lão thành cách mạng cho rằng một số quy định về cổ phần hoá thiếu cụ thể, các văn bản pháp quy ban hành còn chậm nên chưa tạo được môi trường pháp lý, kinh tế thuận lợi cho CPH
4 42% số người được hỏi cho rằng, các cấp uỷ Đảng, chính quyền chưa quán triệt đầy đủ chủ trương cổ phần hóa DNNN nên chưa chủ động triển khai, 37% cho
Trang 39rằng doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh bình thường, thu nhập ổn định nên không muốn thay đổi; 32% cho rằng chưa giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng của doanh nghiệp, nhất là vấn đề tài chính; 29% cho rằng khâu định giá tài sản doanh nghiệp còn nhiều vướng mắc
Trả lời về biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần hóa thì 81% cán bộ quản lý, chuyên gia kinh tế, 51% công nhân viên, 64% cán bộ làm công tác Đảng cho rằng
1 Cần đảm bảo sự bình đẳng giữa DNNN và doanh nghiệp cổ phần hóa cũng như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Có nghĩa việc tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp cổ phần hóa là biện pháp quan trọng hàng đầu
2 74% cán bộ quản lý, 59% công nhân và 73% cán bộ Đảng cho rằng Nhà nước cần giảm thuế trong thời gian đầu cho các doanh nghiệp cổ phần hóa
3 60% số người được hỏi cho rằng biện pháp quan trọng nhất để nâng cao hiệu quả các DNNN là đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, triệt để xóa bao cấp và bán, khoán giải thể các doanh nghiệp Nhà nước yếu kém, thua lỗ kéo dài hoặc kém triển vọng
4 Để thực hiện mục tiêu, điều kiện cho người lao động thể hiện quyền làm chủ thực sự của mình Trên 80% số người được phỏng vấn cho rằng Nhà nước cần
có chính sách hỗ trợ công nhân nghèo mua được cổ phần cần thiết; nếu không sẽ dẫn đến tình trạng một số người có điều kiện sẽ mua lại số cổ phiếu của công nhân
và biến doanh nghiệp cổ phần thành doanh nghiệp tư nhân 76% công nhân, 56% cán bộ quản lý kiến nghị không nên có sự chênh lệch quá lớn số cổ phần giữa các thành viên trong doanh nghiệp CPH và 58% công nhân quan tâm đến vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng trong doanh nghiệp cổ phần hoá
Việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chậm và chưa đạt kết quả như chủ trương ban đầu là do còn những tồn tại khó khăn sau:
Trang 40+ Chủ yếu là do luồng ý kiến chống lại cổ phần hoá được lan truyền ở địa phương, gây tình trạng hoang mang, dè dặt, nghe ngóng, không mạnh dạn đẩy mạnh
cổ phần hoá vì sự bị phê phán là đi "chệch hướng XHCN"
+ Chủ trương cổ phần hoá chưa có sự thống nhất cao từ trên xuống dưới, nhất
là lãnh đạo và cán bộ công nhân viên ở các ngành, các doanh nghiệp Nhà nước chậm ban hành danh mục các loại doanh nghiệp phải cổ phần hoá, tiến trình cổ phần hoá
+ Nhà nước vẫn còn tiếp tục bao cấp thêm vốn lưu động, bù lỗ, phân phối 3 quỹ chiếm tỷ lệ lớn trong thu nhập làm cho doanh nghiệp và người lao động phải cân nhắc, so bì lợi ích nếu chuyển sang công ty cổ phần
+ Việc truyên truyền, phổ biến, hướng dẫn chủ trương, chính sách của các cấp, các ngành chưa cụ thể; vì đây là chủ trương mới, mang tính đặc thù của Việt Nam, chưa được kiểm nghiệm trong thực tế Việc bàn cãi, tranh luận, lấy ý kiến quá nhiều gây kéo dài thời gian, chưa có sự quyết tâm cao trong chỉ đạo đơn vị Việc triển khai thành lập các bộ máy liên quan đến cổ phần hoá còn chậm
+ Nhiều giám đốc và lãnh đạo liên quan trong doanh nghiệp không muốn cổ phần vì đang yên phận chức vụ lãnh đạo do Nhà nước bổ nhiệm; có quyền nhiều hơn trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do đó khi chuyển sang
cổ phần sẽ đụng chạm đến lợi ích
+ Biên chế lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước còn quá lớn, khi chuyển sang công ty cổ phần người lao động chưa an tâm về công ăn việc làm, quyền lợi kinh tế, Nhà nước chưa có cam kết hoặc đảm bảo chính sách cho họ, đại
bộ phận lao động có thu nhập thấp, thiếu tiền để mua cổ phiếu nên chưa tha thiết với việc cổ phần hoá
+ Việc xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hoá là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp, yêu cầu tính chính xác, công khai cao, mất nhiều thời gian Việc đánh giá giá trị doanh nghiệp chưa có cơ sở khoa học chắc chắn, vững chắc, chưa
có tính thuyết phục, chưa thoả mãn nhu cầu của người chủ sở hữu Nhiều doanh