Nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường là: có tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, ổn định; giải quyết vấn đề công bằng xã hội phù hợp từng bước với sự tăng tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH
CỔ PHẦN HÓA CÔNG TY NGUYÊN LIỆU THUỐC LÁ NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
HÀ NỘI - 2004
Trang 2NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DNNN
TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ
13
1.1 Cơ sở lý luận về chuyển đổi mô hình kinh tế nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của DNNN trong giai đoạn hội nhập kinh tế
13
1.1.1 Chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa là phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của nền
kinh tế
13
1.1.2 Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế 16 1.1.3 Chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu 18
1.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là tất yếu khách quan 21
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước 21 1.2.2 Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 24 1.2.3 Sự cần thiết cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 26
1.2.4 Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 29
Trang 3CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CPH DNNN Ở VIỆT NAM
ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA
CÔNG TY NGUYÊN LIỆU THUỐC LÁ NAM KHI THỰC
2.1.2 Những vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nước hiện nay
43
2.2 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của Công ty Nguyên
liệu Thuốc lá Nam khi thực hiện cổ phần hoá
49
2.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty 49
2.2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm
kinhdoanh của công ty
69
2.2.4 Cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của Công ty 76
Trang 4CH ƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NHẰM ĐẨY
NHANH TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ CÔNG TY NGUYÊN
3.1.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ cấp bách 83
3.2 Một số giải pháp tài chính để đẩy nhanh tiến trình CPH Công
ty Nguyên liệu Thuốc lá Nam
87
3.2.1 Giải pháp 1: Đổi mới phương thức định giá công ty bằng cách
bỏ cơ chế định giá thông qua hội đồng, thực hiện định giá thông qua
công ty tư vấn tài chính
87
3.2.2 Giải pháp 2: Lựa chọn phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp khi thực hiện cổ phần hoá
96
3.2.3 Giải pháp 3: Đổi mới phương thức bán cổ phần - Bán đấu giá
cổ phần thông qua định chế trung gian
116
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 2.1 Kết quả sản xuất 3 năm 2001-2003 55 Biểu 2.2 Kết quả xuất khẩu trong 3 năm 2001-2003 58 Biểu 2.3 Kết quả kinh doanh 3 năm trước khi CPH 59 Biểu 2.4 Tình hình biến động vốn và nguồn vốn 2002-2003 62 Biểu 2.5 Nguồn vốn kinh doanh và tình hình sử dụng vốn kinh
doanh
63
Biểu 2.6 Bảng tổng hợp tài sản cố định tại ngày 31/12/2003 66 Biểu 2.7 Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát thực trạng tài chính 69 Biểu 3.1 Thứ tự các bước công việc khi thực hiện CPH 89 Biểu 3.2 So sánh ưu nhược điểm của các phương pháp
XĐGTDN
107
Biểu 3.3 Kết quả SXKD và nguồn vốn 2001-2003 109
Biểu 3.8 Thời gian cần thiết khi thực hiện chuyển sang công ty
CP
120
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Đặc điểm về quy trình sản xuất sản phẩm 50
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức Công ty nguyên liệu thuốc lá Nam 51 Biểu đồ 2.1 Doanh thu thuần của Công ty 2001-2003 60 Biểu đồ 2.2 Lợi nhuận sau thuế của công ty 2001-2003 61
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ các loại tài sản trong tổng các loại
Trang 7AFTA Khu vực mậu dịch tự do của các nước ASEAN
WTO Tổ chức thương mại thế giới
CPH Cổ phần hoá
DN Doanh nghiệp
XĐGTDN Xác định giá trị doanh nghiệp
Trang 8L ỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cám ơn:
• PGS, TS Nguyễn Văn Thanh đã tận tình hướng dẫn và động viên em hoàn thành luận văn này
• Các Thầy, Cô Khoa Kinh tế Quản lý, Trung tâm sau Đại học –
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong thời gian làm luận văn
• Ban Giám đốc, Phòng Tài chính – Kế toán Công ty Nguyên
liệu Thuốc lá Nam Ban cổ phần hoá Cục tài chính doanh nghiệp Bộ Tài chính đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tài liệu để
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngay từ đầu thập kỷ 90, cùng với đổi mới các chính sách kinh tế - Xã hội, Đảng ta đã có chủ trương chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần
Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ chỉ đạo các bộ ngành, địa phương triển khai thực hiện thí điểm công tác cổ phán hoá từ năm 1992 Đến nay, qua 13 năm thực hiện, việc cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã đạt được những thành tựu đáng kể Nó đã góp phần thu hút thêm vốn, tạo động lực; ngăn chặn sự trì trệ và tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả Nhất là từ sau khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ III Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ra đời và hệ thống cơ chế chính sách về cổ phần hoá, về xử lý nợ, về giải quyết lao động dôi dư được ban hành đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy công tác CPH doanh nghiệp nhà nước
Tuy nhiên, kết quả mới chỉ đạt được chưa đến 50% kế hoạch của Chính phủ đề ra Sau 3 năm (1999, 2000 và 2001) đạt kết quả khá, năm
2002, 2003 công tác CPH DNNN đã chững lại [Nguồn: Ban cổ phần hoá Cục tài chính doanh nghiệp Bộ Tài chính]
Từ khi NĐ 64/2002/NĐ-CP đi vào cuộc sống, công tác cổ phần hoá
có những bước phát triển Năm 2003 CPH được 537 doanh nghiệp, 8 tháng
đầu năm 2004 số doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá 483 gần bằng cả năm 2003 nhưng mới chỉ đạt gần 25% kế hoạch tổng thể đề án sắp
xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã được Chính phủ phê duyệt [Nguồn : Ban cổ phần hoá Cục tài chính doanh nghiệp Bộ Tài chính] Chỉ còn hơn
một năm nữa là phải hoàn thành lộ trình CPH DNNN theo tinh thần Nghị
Trang 10quyết Trung ương III Trong khi đó, công tác CPH DNNN đang gặp nhiều khó khăn vướng mắc cần phải có các giải pháp giải quyết kịp thời
Thuốc lá là ngành không được khuyến khích đầu tư Thuốc lá cũng là mặt hàng do nhà nước Việt Nam độc quyền quản lý, hạn chế kinh doanh và
bị cấm quảng cáo dưới mọi hình thức nhưng trong cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vẫn đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà máy sản xuất thuốc lá trong nước, giữa thuốc lá nội địa với thuốc lá nhập ngoại Trước thực trạng trên đòi hỏi Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam phải xác định cho mình định hướng và có các giải pháp để phát triển Cổ phần hoá một số công ty đang hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, cung cấp nguyên liệu thuốc lá là một trong những giải pháp nhằm thực hiện phương
án tổng thể sắp xếp, đổi mới DNNN thuộc Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam giai đoạn 2003-2005
Mặc dù Công ty nguyên liệu thuốc lá Nam đang hoạt động tương đối hiệu quả và đạt được một số thành tích trong 15 năm qua, nhưng việc thực hiện CPH Công ty vẫn là một đòi hỏi khách quan trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới CPH Công ty nguyên liệu thuốc lá Nam sẽ là tiền đề quan trọng cho Công ty phát huy hết các thế mạnh của mình, đồng thời có thể tận dụng tốt các cơ hội nhằm phục
vụ cho mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ trong tương lai
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước, tác giả thấy cần nghiên cứu đề tài: "Một số giải
pháp tài chính đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá Công ty nguyên liệu thuốc lá Nam"
2 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN VĂN
Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Trang 11- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc chuyển đổi mô hình
DNNN sang công ty cổ phần
- Phân tích thực trạng CPH DNNN ở Việt Nam tìm những
nguyên nhân làm chậm quá trình CPH
- Phân tích, đánh giá thực trạng của Công ty nguyên liệu thuốc
lá Nam, đề ra một số giải pháp tài chính nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá Công ty
Qua đó kiến nghị với Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, Bộ Công nghiệp bổ sung cơ chế chính sách về CPH sát với tình hình thực tế của Công
ty nguyên liệu thuốc lá Nam, giúp Công ty tháo gỡ những khó khăn vướng mắc nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá ở Công ty
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Đối tượng nghiên cứu: Công ty Nguyên liệu thuốc lá Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn nghiên cứu các chủ trương đường lối của Đảng và
chính sách cổ phần hoá của Nhà nước trong thời gian qua
- Đánh giá thực trạng công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước hiện nay
- Đi sâu vào nghiên cứu những tồn tại, vướng mắc về vấn đề
tài chính tìm ra nguyên nhân làm chậm tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, từ đó có các giải pháp tài chính và kiến nghị phù hợp với thực tiễn cổ phần hoá ở Công ty nguyên liệu thuốc lá Nam
Trang 124 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN LUẬN VĂN
4.1 Tài liệu nghiên cứu
- Các tài liệu liên quan đến phương pháp nghiên cứu khoa học
- Các tài liệu về CPH DNNN và công ty cổ phần
- Các tài liệu liên quan đến các chính sách của nhà nước như
Các Nghị định , các thông tư về cổ phần hoá
- Tác giả dùng các tài liệu về CPH DNNN của Bộ Tài chính,
các bài viết của các báo: Thời báo kinh tế, Báo Đầu tư, Báo Thanh Niên, báo Nhân dân Các báo cáo tài chính của Công
ty Nguyên liệu Thuốc lá Nam để phân tích, chứng minh có tính khái quát và đặc thù cho phép thực hiện nội dung một cách tập trung, nâng cao giá trị thực tiễn và lý luận của luận văn
4.2 Phương pháp nghiên cứu luận văn
Luận văn thực hiện bằng cách vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra thu thập;
Trang 13Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 3 chương gồm :
Chương 1: Cơ sở lý luận về chuyển đổi hình thức DNNN sang hình thức
công ty cổ phần nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNN trong giai đoạn hội nhập kinh tế
Chương 2: Thực trạng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của Công ty nguyên liệu thuốc lá Nam khi thực hiện cổ phần hoá
Chương 3: Một số giải pháp tài chính nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần
hoá Công ty Nguyên liệu Thuốc lá Nam
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI HÌNH THỨC DNNN SANG HÌNH THỨC CÔNG TY CỔ PHẦN NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG GIAI
ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH KINH TẾ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ
1.1.1 Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với xu hướng phát triển khách quan của nền kinh tế
Nói đến nền kinh tế thị trường là nói đến nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ở đó sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, cung cấp cho ai được quyết định thông qua thị trường Trong kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Đây là nền kinh tế sản xuất hàng hoá ở mức phát triển rất cao
Kinh tế thị trường có các ưu thế:
- Nó kích thích việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội sản xuất Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận làm động lực hoạt động Muốn có lợi nhuận cao đỏi hỏi các nhà doanh nghiệp phải thường xuyên đầu tư công nghệ mới và năng suất lao động xã hội tăng lên;
- Tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng Ở đây tồn tại một nguyên tắc là ai đưa ra thị trường hàng hoá trước tiên sẽ thu được nhiều
Trang 15lợi nhuận hơn Mặt khác, nếu nhận thức được sản phẩm của mình không có người mua hay lượng cầu đang giảm dần, người sản xuất sẽ không sản xuất nữa Điều đó dẫn đến sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội Vì vậy trong kinh
tế thị trường luôn diễn ra sự đổi mới;
- Nhiều hàng hoá và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu là một ưu thế của kinh tế thị trường Đó là một nền kinh tế dưa thừa, chứ không phải là nền kinh tế thiếu hụt Do vậy, nền kinh tế thị trường tạo điều kiện vật chất để thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất, văn hoá và sự phát triển toàn diện của con người
Ngoài những ưu điểm trên kinh tế thị trường cũng có những nhược điểm: Không công bằng, thường xảy ra tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trưòng, độc quyền, tiêu cực và tệ nạn xã hội phát triển
Để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh
tế thị trường, Nhà nước cần phải có sự can thiệp vào nền kinh tế để đảm bảo
sự ổn định, công bằng và hiệu quả
Chính vì những ưu thế của nền kinh tế thị trường mà Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ mô hình tổng quát của nền kinh tế nước
ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là nền kinh tế
mà kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo; kinh tế Nhà nước cùng với kinh
tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Đây là một trong những yếu tố cơ bản bảo đảm cho nền kinh tế thị trường giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước
Trang 16rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường; tăng trưởng kinh tế kết hợp với việc thực hiện xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Nền kinh tế thị trường mà chúng ta cần xây dựng là nền kinh tế thị trường phát triển Trong nền kinh tế đó hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ, mỗi thực thể kinh tế có lợi ích riêng và là chủ thể của thị trường, tham gia hoạt động của thị trường và cạnh tranh với nhau: dựa trên kế hoạch
và quy luật thị trường mà hình thành một trật tự thị trường, sản xuất xã hội, lưu thông, phân phối và tiêu dùng với sự liên hệ và điều tiết của kế hoạch định hướng cùng đầu mối thị trường, hình thành mạng lưới sản xuất xã hội
có trật tự [14,21]
Nhà nước dựa vào chiến lược, kế hoạch, quy hoạch kinh tế và quy luật vận hành của nền kinh tế thị trường để thực hiện việc điều tiết vĩ mô cần thiết; vận dụng chính sách kinh tế, pháp luật kinh tế, chỉ đạo kế hoạch và phương pháp hành chính để hướng dẫn sự phát triển của kinh tế thị trường Nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường là: có tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, ổn định; giải quyết vấn đề công bằng xã hội phù hợp từng bước với sự tăng trưởng kinh tế; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, dưới sự quản lý của một Nhà nước thực sự của dân; lấy việc giải phóng sức sản xuất làm căn cứ chủ yếu để hoạch định cơ cấu thành phần kinh tế, hình thức sở hữu; làm cho kinh tế Nhà nước phát triển trước hết là về chất để nắm vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh
tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân; xác lập, củng
cố và nâng cao địa vị làm chủ thực sự của người lao động trong nền kinh tế thị trường, thực hiện công bằng xã hội ngày càng tốt hơn; tạo điều kiện công bằng trong phát triển con người; thực hiện nhiều hình thức phân phối trên nguyên tắc phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu [14,22]
Trang 171.1.2 Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu khách quan, mang tính quy luật của thời đại hiện nay Điều này bắt nguồn từ yêu cầu của quy luật về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội hoá phát triển đến một trình độ quốc tế hoá, phân công và hợp tác sản xuất mở rộng trong mỗi nước
ra quốc tế Mọi nền kinh tế đều tìm cách nâng cao trình độ và kết quả hoạt động sản xuất của mình nên không chỉ quan tâm khai thác, tận dụng các tiềm năng, nguồn lực trong nước mà còn phải không ngừng mở rộng quan
hệ với các nước khác nhằm tranh thủ, lợi dụng những thế mạnh bên ngoài và phát huy những thế mạnh bên trong để thúc đẩy sự tăng trưởng và nâng cao hiệu quả sản xuất của mình
Trong thời đại hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, phát triển kinh tế theo chiều sâu, quốc tế hoá đời sống kinh tế thì những nguyên nhân kể trên lại càng trở nên quan trọng và sâu sắc thúc đẩy qúa trình mở rộng quan hệ kinh tế giữa các nước
Việt Nam tham gia hội nhập vào quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ là phù hợp với quy luật, về sự phát triển của xã hội hoá sản xuất, mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn cấp bách của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đó là tranh thủ sức mạnh bên ngoài, sức mạnh thời đại về vốn, kỹ thuật công nghệ, tri thức quản lý kinh tế, quan hệ thị trường đồng thời tận dụng khai thác những thế mạnh bên trong, lợi thế đặc thù của dân tộc như các sản phẩm nông nghiệp (cà phê, chè, cao su, tiêu, điều, gạo, hải sản ) để thực hiện sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong đó tác dụng nổi bật nhất hiện nay là đầu tư nước ngoài, tín dụng quốc
tế, thiết bị hiện đại, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Nếu không mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, Việt Nam không thể thực hiện được công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và mục tiêu dân giàu, nước mạnh
Trang 18Hiện nay, Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi trong việc tranh thủ, tận dụng những nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế trong nước Những điều kiện thuận lợi đó là:
- Môi trường quốc tế: Hoà bình, đối thoại, hợp tác, đua tranh kinh tế đang lấn át đối đầu, xung đột vũ trang;
- Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ;
- Xu thế mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước, quốc tế hoá đời sống kinh tế, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau, bình đẳng cùng có lợi;
- Việt Nam với những thành tựu đã đạt được trong những năm quan đã tạo được cho mình những thế và lực mới, với vị thế mới trên trường quốc tế
để thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đạt hiệu quả, nhất là tạo điều kiện khai thác những lợi thế so sánh của mình như lực lượng lao động, tài nguyên, chế độ chính trị ổn định
Ngoài ra nước ta cũng phải đối mặt với những thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế :
- Môi trường quan hệ kinh tế quốc tế và đặc điểm thời đại thuận lợi là thời cơ chung cho tất cả các nước có thể tranh thủ lợi dụng để phát triển nền kinh tế nước mình Nước nào không tận dụng được thì sẽ có nguy cơ tụt hậu Trong hoàn cảnh đó, các nước kinh tế phát triển có điều kiện thuận lợi,
dễ đạt hiệu quả cao hơn so với các nước kinh tế kém phát triển như Việt Nam Sự cạnh tranh của các nước trong khu vực mạnh hơn Việt Nam;
- Những khó khăn, yếu kém , tiêu cực trong nước đang cản trở việc mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại của Việt Nam như nền kinh tế yếu kém, kỹ thuật lạc hậu, chất lượng hàng hoá và sức cạnh tranh thấp, thể
Trang 19chế quản lý kinh tế (nhất là thủ tục hành chính) quá rườm rà, thậm chí nhiều tiêu cực, trình độ tay nghề của người lao động thấp nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội chưa được khắc phục;
Trước những thời cơ và thách thức như trên, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần quan tâm thực hiện tốt các vấn đề chủ yếu sau:
- Giữ vững và tăng cường sự ổn định về mặt kinh tế, chính trị, xã hội (nhất là hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của hệ thống pháp luật và cải cách thủ tục hành chính) để tạo cơ sở, niềm tin và năng lực trong mở rộng quan
hệ kinh tế với các nước, các tổ chức kinh tế thế giới Đồng thời hết sức cố gắng tăng cường sức mạnh và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập, coi đây là điều kiện cơ bản để giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hoá;
- Nghiên cứu sâu sắc tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực, dự báo được các xu hướng vận động về phát triển khoa học công nghệ, về những diễn biến phức tạp có thể xảy ra, những âm mưu thủ đoạn thực hiện
“diễn biến hoà bình” của các thế lực phản động, thù địch với Việt Nam đồng thời đánh giá đúng khả năng thế mạnh và thế yếu của mình từ đó xây dựng và thực thi đường lối (lộ trình, phương thức, bước đi ) hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam một cách hợp lý, an toàn, đạt hiệu quả thiết thực, với sự tính toán, suy xét cẩn thận;
- Hết sức chú trọng tận dụng, phát huy các lợi thế so sánh của nước ta (như môi trường chính trị ổn định, tiềm năng lao động dồi dào, tài nguyên phong phú ) cùng với nâng cao dân trí, trình độ giác ngộ chính trị trong quá trình hội nhập kinh tế
1.1.3 Chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu
1.1.3.1 Chủ trương đổi mới chế độ sở hữu
Trang 20Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) được đánh dấu là Đại hội
mở đầu cho quá trình đổi mới toàn diện nền kinh tế nước ta, trong đó nhận thức của Đảng ta về vấn đề sở hữu đã từng bước có sự đổi mới: Thừa nhận trong nền kinh tế có nhiều loại hình sở hữu cùng tồn tại và do đó có nhiều thành phần kinh tế cùng hoạt động Nhưng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là nền tảng của quan hệ mới và thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa mà kinh tế quốc doanh làm nòng cốt phải đóng vai trò quyết định trong nền kinh
tế quốc dân, chi phối được các thành phần kinh tế khác thông qua liên kết kinh tế
Như vậy, sự chuyển biến quan trọng nhất trong quan điểm nhận thức của Đảng ta trong Đại hội VI là thừa nhận tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế Việc thừa nhận nhiều hình thức sở hữu là cơ sở đề
ra chính sách, biện pháp tác động đến quản lý có hiệu quả của các thành phần kinh tế
Đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6 năm 1996), là Đại hội đã đưa đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Do đó, những chủ trương lớn tác động vào vấn đề sở hữu vẫn được tiếp tục phát triển Điều này được thể hiện qua những nội dung mà Đại hội Đảng lần thứ VIII và Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) đã nêu [5,11]:
- Thực hiện cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả;
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với quản lý nguồn vốn và tài sản của mình một cách có hiệu qủa
Trang 21Những đổi mới trong quan điểm nhận thức của Đảng ta là phù hợp với thực tế khách quan làm thay đổi từng bước quan hệ sản xuất, tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất
Hiện nay chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội lần thứ IX của Đảng xác định còn tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản [6,9]: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Các hình thức sở hữu có thể đan xen, hỗn hợp Trên cơ sở các hình thức sở hữu cơ bản đó hình thành nhiền thành phần kinh tế với những tổ chức kinh doanh đa dạng Xuất phát từ tình hình thực tế những năm gần đây, Đại hội lần thứ IX của Đảng quyết định bổ sung thêm một thành phần kinh tế nữa là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy, hiện nay ở nước ta có các thành phần kinh tế như sau: kinh tế Nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản Nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
1.1.3.2 Sự thay đổi chế độ sở hữu trong khu vực kinh tế Nhà nước
Đa dạng hoá sở hữu là xu hướng chung của các nước trên thế giới hiện nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ và xã hội hoá sản xuất Ở nước ta quá trình này diễn ra trên toàn bộ hệ thống kinh tế -
xã hội và mang những tính chất đặc thù do thiết lập chế độ sở hữu tư liệu sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất
Đại hội Đảng lần thứ VIII, Nhà nước ta đã có đổi mới đối với vấn đề sở hữu để tăng tính tự chủ và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới doanh nghiệp, đã tiến hành một số biện pháp như: Sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trong đó cổ phần hoá được coi
là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước với mục tiêu của cổ phần hoá là huy động vốn của
Trang 22các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào phát triển kinh tế và tạo thêm động lực làm việc cho người lao động để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
1.2 CỔ PHẦN HOÁ DNNN LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước
Ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều tồn tại khu vực kinh tế nhà nước và do đó đều có các cơ sở kinh tế của Nhà nước Tỷ trọng và vai trò của kinh tế Nhà nước ở các quốc gia khác nhau rất khác nhau Tầm quan trọng của doanh nghiệp Nhà nước bắt nguồn từ yêu cầu giải quyết các mục tiêu kinh tế, xã hội và yêu cầu điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
Vì vậy mà hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước thường là kém hiệu quả
Doanh nghiệp Nhà nước là những cơ sở kinh tế do Nhà nước sở hữu một phần hoặc toàn bộ Quyền sở hữu thuộc về nhà nước hay cơ bản thuộc
về Nhà nước là đặc điểm quan trọng để phân biệt doanh nghiệp Nhà nước với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế thị trường
Ở Việt Nam hiện nay khái niệm doanh nghiệp Nhà nước được định nghĩa trong Điều I Luật doanh nghiệp nhà nước như sau:
- Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao;
- Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân có các quyền và nghĩa
vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm
vi số vốn do doanh nghiệp quản lý
Trang 23Định nghĩa này đã phản ánh đầy đủ bản chất pháp lý của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Từ định nghĩa này chúng ta thấy doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập;
- Tài sản trong doanh nghiệp là một bộ phận của tài sản nhà nước;
- Doanh nghiệp nhà nước là đối tượng quản lý trực tiếp của Nhà nước;
- Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi;
- Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện mục tiêu mà Nhà nước giao
Sự xác định giới hạn của doanh nghiệp Nhà nước ở các nước trên thế giới không hoàn toàn giống nhau.Từ những sự xác định ít nhiều khác nhau trên, có thể khái quát ra những đặc trưng cơ bản sau đây của doanh nghiệp Nhà nước:
- Nhà nước chiếm trên 50% vốn của doanh nghiệp, nhờ đó chính phủ
có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với doanh nghiệp,
- Các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân, nguồn thu thủ yếu đều tư hoạt động kinh doanh và thường phải thực hiện song song cả mục tiêu sinh lợi, lẫn mục tiêu xã hội;
- Doanh nghiệp Nhà nước là đơn vị kinh doanh thuộc khu vực kinh tế quốc doanh, kinh tế quốc doanh thực ra không phải là thành phần kinh tế riêng có của chủ nghĩa xã hội
Trang 24Ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều có kinh tế quốc doanh Khu vực này ở các nước có tỷ trọng khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước
Doanh nghiệp Nhà nước còn phải được duy trì và phát triển ở những ngành, những lĩnh vực kinh doanh đem lại ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận Vì ít lợi nhuận nên các thành phần kinh tế khác sẽ không đầu tư để kinh doanh, nhưng nhà nước vẫn phải đầu tư để đảm bảo nhu cầu chung của nền kinh tế, đảm bảo lợi ích công cộng Nhà nước còn phải đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư Do đó mà doanh nghiệp nhà nước lại càng có vai trò quan trọng, việc đánh giá vai trò quan trọng của doanh nghiệp Nhà nước không thể chỉ dựa vào sự lời lỗ trước mắt mà phải tính đến hiệu quả kinh tế lâu dài Sự tồn tại của doanh nghiệp Nhà nước là một tất yếu khách quan Để doanh nghiệp Nhà nước phát huy được vai trò chủ đạo của mình, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách quản lý thích hợp đối với doanh nghiệp Nhà nước Rõ ràng đó là yếu tố quan trọng chi phối quá trình thành lập và điều chỉnh pháp lý đối với việc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước
- Cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước
Cơ chế kinh tế quyết định tính chất và nội dung của cơ chế quản lý kinh tế Mỗi cơ chế kinh tế đòi hỏi có một cơ chế quản lý kinh tế thích hợp Pháp luật về tổ chức và quản lý doanh nghiệp Nhà nước phụ thuộc vào cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước, nói cách khác, cơ chế quản lý kinh tế quy định địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước
- Chế độ sở hữu Nhà nước
Địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước bị chi phối rất lớn bởi chế
Trang 25điểm quan trọng của doanh nghiệp Nhà nước là tài sản của nó phụ thuộc sở hữu Nhà nước Doanh nghiệp Nhà nước là chủ thể kinh doanh không có quyền sở hữu đối với tài sản, do đó mà nó không thể có toàn quyền quyết định đối với tài sản trong hoạt động kinh doanh Quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp Nhà nước phụ thuộc vào quyền sở hữu của Nhà nước Nhà nước cho phép doanh nghiệp Nhà nước định đoạt tài sản của Nhà nước như thế nào thì doanh nghiệp chỉ được làm đúng như vậy Do
đó, chế định địa vị pháp lý của doanh nghiệp Nhà nước luôn luôn đứng trước mâu thuẫn giữa những hạn chế, những khuôn khổ mà doanh nghiệp Nhà nước bị ràng buộc bởi quyền sở hữu của Nhà nước
1.2.2 Khái niệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi từ hình thức doanh nghiệp nhà nước sang hình thức công ty cổ phần Công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và hệ thống pháp luật Việt Nam
Xét về mặt hình thức, cổ phần hoá là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị của mình trong doanh nghiệp nhà nước cho cán bộ quản
lý và công nhân của doanh nghiệp hoặc các đối tượng tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước bằng đấu giá công khai (hay thông qua thị trường chứng khoán) để hình thành các công ty cổ phần
Xét về mặt bản chất, cổ phần hoá chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ với sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh hiện đại và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 26Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức mang tính chất xã hội hoá cao Nó là sự xác định và xác nhận quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp bằng hình thức cổ phần và phân phối lợi tức theo mức doanh lợi của công ty Theo Điều 51 Luật Doanh nghiệp thì công ty cổ phần là doanh nghiệp mà trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 55 và khoản 1 Điều
58 của Luật này;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa;
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán;
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước được quy định tại NĐ 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ như sau:
1 Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn Hình thức này thường được áp dung cho những doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 1 tỷ lệ cổ phần nhất định (có thể là cổ phần
chi phối) tại công ty cổ phần Nhất là đối với những doanh nghiệp hoạt
đông kinh doanh có hiệu quả, cần vốn để mở rộng sản xuất, kinh doanh;
Trang 272 Bán 1 phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp;
3 Bán toàn bộ phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp Hình thức này thường được áp dụng đối với DN mà nhà nước không tham gia
nắm giữ cổ phần;
4 Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành thêm cổ phiếu để thu hút thêm vốn
Với khái niệm về CPH và các hình thức CPH DNNN được quy định
cụ thể tại các văn bản pháp luật cho ta thấy được bản chất và ý nghĩa thiết thực của tiến trình CPH Để nhận biết rõ sự cần thiết CPH đối với các DNNN ở Việt Nam như thế nào cần tìm hiểu về vai trò và những điểm hạn chế còn tồn tại của DNNN tại Việt Nam
1.2.3 Sự cần thiết cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Xu hướng toàn cầu hoá là động lực cho các quốc gia trên thế giới phát huy tiềm lực kinh tế của mình để cùng hội nhập với nền kinh tế hiện đại, khoa học công nghệ tiên tiến của các nước trong khu vực và các nước phát triển Việt Nam cũng không đứng ngoài cuộc vận động của tiến trình hội nhập đó Nhưng với nền kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay, Đảng và nhà nước ta không ngừng đưa các chủ trương biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhà nước
Trong nền kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách xã hội và ổn định chính trị -
xã hội, định hướng công bằng, văn minh, góp phần cùng với khu vực kinh tế khác giải quyết các vấn đề việc làm, thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, phát triển văn hoá giáo dục, y tế làm cơ sở và nền tảng cho yêu
Trang 28cầu từng bước hình thành chế độ mới Với vai trò quan trọng như vậy, doanh nghiệp nhà nước cần có được sự định hướng đúng đắn phù hợp để thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước như một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế,
đã khắc phục được một cách thuyết phục hai yếu điểm của kinh tế thị trường
là cạnh tranh vô chính phủ và bất bình đẳng về xã hội Tuy nhiên, có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, song tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều
có điểm chung là hoạt động kém hiệu quả, gây nên những hiện tượng trì trệ trong nền kinh tế, thâm hụt ngân sách kéo dài và gánh nặng nợ của Nhà nước ngày càng tăng
Qua thực tiễn quá trình tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước tư bản
và các nước đang phát triển nhằm vào việc thu hẹp sự can thiệp trực tiếp, kém hiệu quả của Nhà nước và trao lại quyền lợi cho thị trường, khu vực tư nhân Quá trình chuyển giao này cho phép Nhà nước tập trung và thực hiện đầy đủ chức năng sắp xếp lại trật tự hoạt động của các quan hệ kinh tế thị trường bằng hệ thống luật lên các chính sách hỗ trợ cạnh tranh và chống độc quyền.Vạch ra các kế hoạch định hướng, phát triển các kế hoạch ngắn và dài Hai nước được đánh giá là thành công trong quá trình thực hiện cổ phần hoá là Hungary và Trung Quốc
+ Đối với Hungary: Chính sách tư nhân hoá được hướng tới các nhà đầu tư chuyên nghiệp, lãnh đạo doanh nghiệp và các cổ đông nhỏ Hình thức thực hiện chủ yếu là bán cổ phần thông qua gọi thầu và bán đấu giá công khai Kết quả đạt được là sự tăng trưởng kinh tế , cải thiện được đời sống người lao động[14,41]
+ Đối với Trung Quốc: Thực thi chính sách cải cách kinh tế và sự rút lui từ từ của nhà nước ra khỏi lĩnh vực canh tranh Hình thức là thực hiện đa
Trang 29dạng hoá hình thức chuyển nhượng doanh nghiệp nhà nước bán cổ phần cho công nhân Kết quả đạt được là sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, thành lập các công ty liên doanh, tăng đầu tư nước ngoài, cải thiện được đời sống người lao động[14,35]
Khi xu hướng cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ngày càng gia tăng ở các quốc gia trên thế giới và trong khu vực Đảng và Nhà nước ta cũng nhìn nhận thấy rõ vai trò và những điểm còn hạn chế của doanh nghiệp nhà nước cần được khắc phục Cổ phần hoá là giải pháp để hoá giải những hạn chế mà doanh nghiệp nhà nước còn mắc phải
Cụ thể: Khi chuyển đổi từ hình thức doanh nghiệp nhà nước sang hình thức công ty cổ phần đã tạo ra khả năng thích ứng với cơ chế thị trường tăng; năng lực sản xuất tiếp tục tăng; cơ cấu ngày càng hợp lý hơn; trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ; hiệu quả và sức cạnh tranh từng bước được nâng lên; đời sống của người lao động từng bước được cải thiện
Tuy nhiên, về vấn đề này đã có ba ý kiến khác nhau : có ý kiến cho rằng cổ phần hoá là tư nhân hoá; ý kiến khác lại nói cổ phần hoá chính là quá trình xã hội hoá doanh nghiệp nhà nước; cũng có ý kiến cho rằng cổ phần hoá là nhằm xác định chủ sở hữu cụ thể đối với doanh nghiệp Nhưng các quan niệm trên đây đều chưa hoàn toàn chính xác[14,40]
Xuất phát từ mục tiêu và bản chất của tiến trình cổ phần hoá đã và đang thực hiện ở nước ta thì không thể đồng nhất cổ phần hoá với tư nhân hoá Điều này đã được khẳng định tai Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban
chấp hành trung ương Đảng khoá VIII : "Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước không được biến thành tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước" Cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà
Trang 30nước ta, bởi Việt Nam cần hoàn thiện tốt cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đảm bảo vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước Giữ vững vị thế kinh tế của đất nước khi tham gia tiến trình hội nhập AFFTA/ASEAN Chắc chắn rằng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước sẽ đem lại "phong cách quản lý" mới và hiệu quả cho doanh nghiệp và cho cả người lao động của doanh nghiệp đó Đem lai sự phồn thịnh kinh tế cho đất nước
Nhìn nhận được tính cấp thiết của việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Đảng và Nhà nước đã có các chủ trương chính sách đúng đắn, phù hợp nhằm đề ra mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và các biện pháp nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
1.2.4 Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước góp phần quan trọng bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Sau gần 1 năm kể từ ngày hội nghị lần thứ 3 Trung ương Đảng tổ chức, quá trình cổ phần hoá đã diễn ra ngày một sôi động và nhanh chóng trên quy mô cả nước Căn cứ cơ cấu tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá trong thời gian qua Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2002/NĐ-CP quy định về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Tại Nghị định này đã cụ thể, khái quát hoá mục tiêu của việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần:
Thứ nhất là: Góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức canh tranh
của doanh nghiệp; tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong
Trang 31đó có đông đảo người lao động; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản Nhà nước
và của doanh nghiệp
Thứ hai là: Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp
Thứ ba là: Phát huy vai trò quyền làm chủ thực sự của người lao
động, của các cổ đông; tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, việc nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nghiệp là phương cách để doanh nhiệp tồn tại và phát triển Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi từ hình thức doanh nghiệp nhà nước sang hình thức công ty cổ phần Với bối cảnh kinh tế quốc tế như hiện nay thì việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước là hết sức cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đảm bảo vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước Giữ vững vị thế kinh tế của đất nước khi tham gia tiến trình hội nhập AFTA/ASEAN cũng như hội nhập kinh tế thế giới
Nội dung chương 1 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và tính tất yếu phải chuyển đổi hình thức DNNN sang hình thức công ty cổ phần Đồng thời nêu rõ mục tiêu của việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty
cổ phần
Tuy nhiên để có được được những giải pháp tài chính khi thực hiện CPH Công ty nguyên liệu thuốc lá Nam, luận văn sẽ tiến hành đánh giá thực trạng CPH của Việt Nam từ 1992 đến nay Phân tích những kết quả đã đạt được và nguyên nhân làm chậm tiến trình CPH ở Việt Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm Tác giả cũng đánh giá thực trạng, nêu những mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội, thách thức của Công ty nguyên liệu thuốc lá Nam
Trang 32khi thực hiện CPH để từ đó có cơ sở chọn các giải pháp tối ưu cho quá trình CPH Toàn bộ nội dung này sẽ được trình bày chi tiết ở chương tiếp theo
Trang 33
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DNNN Ở VIỆT NAM ĐIỂM MẠNH , ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA CÔNG TY NGUYÊN LIỆU THUỐC LÁ NAM KHI THỰC HIỆN CPH
2.1 THỰC TRẠNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ DNNN Ở VIỆT NAM
2.1.1 Thực trạng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và kết quả thực hiện
2.1.1.1 Giai đoạn từ 1992 đến tháng 5/1996
Tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đã được bắt đầu từ sự định hướng tại Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 11 năm 1991) đề ra chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Nghị quyết Hội nghị ghi rõ “Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp’’ [4,9]
Để thực hiện thành công việc chuyển một bộ phận doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, hạn chế tối đa các tổn thất về kinh tế và những biến động xã hội nên Đảng và nhà nước đã chủ trương[4,13]:
- Thực hiện từng bước vững chắc việc cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn nhằm ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm ăn có hiệu quả
- Phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp Cần thực hiện các hình thức cổ phần hoá có mức độ thích hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất kinh doanh; trong đó sở
hữu Nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối
Trang 34- Tuỳ tính chất, loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán một tỷ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp để tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho tổ chức hay cá nhân ngoài doanh nghiệp để thu hút thêm vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
* Kết quả :
Sau 5 năm cả nước đã thí điểm cổ phần hoá thành công được 5 doanh nghiệp Tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cả 5 doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều có những bước tiến bộ hơn hẳn trước khi
chuyển đổi [Nguồn : Ban CPH Cục tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài Chính]
Do cổ phần hoá là 1 vấn đề hết sức mới mẻ đối với các ngành, các cấp
và các doanh nghiệp nên công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về việc thực hiện CPH DNNN trong thời kỳ này đã được đẩy mạnh cần phải thực hiện phân loại doanh nghiệp và xác định rõ doanh nghiệp nào thuộc đối tượng thực hiện cổ phần hoá và doanh nghiệp nào Nhà nước cần tiếp tục nắm giữ để tạo cơ sở cho công tác tổ chức thực hiện thời gian tiếp
theo
- Việc xử lý các tồn tại về tài chính trong DN CPH chưa có hướng dẫn
cụ thể, rõ ràng, còn mang tính chất khoán trắng cho DN (doanh nghiệp phải
xử lý trước khi tiến hành cổ phần hoá), làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hoặc hết sức lúng túng khi xử lý các vấn đề tồn tại Việc định giá tài sản mang nặng tính chủ quan của người bán là nhà nước, chưa xét đến nhu cầu và quyền lợi của người mua nên đưa vào giá trị DN bán cả những tài sản thuộc đối tượng không có nhu cầu sử dụng, hoặc không có khả năng sinh lời
Trang 35- Hệ thống cơ chế chính sách về tài chính, tín dụng, xuất nhập khẩu của Nhà nước còn có sự phân biệt đối xử giữa DNNN với các DN ngoài quốc doanh Bên cạnh đó, các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với DN
và người lao động trong DNNN thực hiện CPH chưa nhiều nên tạo ra tâm lý
e dè, cảm thấy bị thiệt thòi nhiều khi thực hiện CPH của các DN và người lao động
2.1.1.2 Giai đoạn từ tháng 5/1996 đến tháng 6/1998
Thực hiện tổng kết kinh nghiệm một số DNNN đã CPH để có những kết luận cần thiết Căn cứ vào yêu cầu và lợi ích kinh tế- chính trị - xã hội xác định rõ: Loại DNNN vẫn giữ 100% cổ phần; loại DNNN nắm đa số cổ phần hoặc tỷ lệ cổ phần có vai trò chi phối, số cổ phần còn lại bán cho cán
bộ công nhân viên làm việc tại hoặc cho cả bên ngoài để huy động thêm vốn tạo động lực phát triển
Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 về việc chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và Nghị định 25/ CP ngày 26/3/1997 sửa đổi một số điều của nghị định 28/CP Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách tương đối đồng bộ về các chính sách đối với DNNN CPH
Đặc điểm của hoạt động cổ phần hoá trong giai đoạn này là :
- Tính pháp lý của cơ chế cổ phần hoá DNNNđã được nâng cao
- Phạm vi, đối tượng CPH đã được mở rộng Mở rộng quyền mua cổ phần của các nhà đầu tư trong nước; Xoá bỏ quy định về trình tự ưu tiên bắt buộc trong việc bán cổ phần
- Bổ sung thêm hình thức CPH bộ phận của doanh nghiệp Bổ sung thêm các quy định cho phép DN được giảm trừ các khoản lỗ vào vốn Nhà
Trang 36nước khi XĐGTDN CPH, chính sách ưu đãi cho DN thực hiện CPH được
bổ sung thêm như: miễn lệ phí trước bạ, duy trì các cơ chế ưu đãi về tín dụng, về xuất khẩu cho doanh nghiệp cổ phần hoá, cho phép các doanh nghiệp cổ phần hoá được miễn giảm thuế lợi tức trong 2 năm đầu chứ không chỉ khi có khó khăn
- Điều chỉnh và bổ sung thêm các chính sách ưu đãi cho người lao
động trong các DN CPH như: thực hiện chính sách cấp cho người lao động
một số cổ phần để được hưởng cổ tức, mở rộng quyền được mua chịu cổ phần với lãi suất thấp với tổng mức không quá 15-20% giá trị DN; thực hiện chính sách trợ cấp thôi việc, mất việc cho người lao động nếu DN không bố trí được việc làm
*Kết quả:
Với các cơ chế chính sách cởi mở và thông thoáng hơn, tiến trình CPH DNNN trong thời gian đó đã có những chuyển biến tích cực, chỉ trong vòng 2 năm (từ 5/1996 đến tháng 6/1998) cả nước đã thực hiện CPH được
25 DNNN (gấp 5 lần so với 5 năm thí điểm) Tuy nhiên, so với mục tiêu đặt
ra thì tiến trình thực hiện CPH DNNN trong 2 năm nói trên còn quá chậm [Nguồn : Ban CPH Cục tài chính doanh nghiệp, Bộ Tài Chính] Mặt khác,
quá trình thực hiện cơ chế chính sách về CPH DNNN ban hành theo Nghị định 28/CP cũng cho thấy còn nhiều vấn đề cần phải được nghiên cứu để
hoàn thiện như:
- Chưa chú trọng đến mục tiêu thay đổi phương thức quản lý trong
DN và còn hạn chế khả năng huy động vốn của DN (chưa qui định việc bán
cổ phần cho người nước ngoài và giới hạn đầu tư vốn của các nhà đầu tư trong nước từ 5% - 10% giá trị DN ) Hiện tượng phổ biến trong thời gian qua chủ yếu là CPH nội bộ, rất ít DN CPH rộng rãi ra công chúng.[32,1]
Trang 37Các tiêu thức để lựa chọn DNNN làm cổ phần hoá vẫn chưa rõ ràng Việc lựa chọn và quyết định CPH DN còn phải qua nhiều khâu, nhiều cấp nên cũng mất nhiều thời gian
Điều kiện và cơ sở cho việc xác định giá trị doanh nghiệp chưa được thiết lập đầy đủ Thiếu một hệ thống văn bản pháp qui qui định và hướng dẫn việc định giá DN và thiếu đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, trình độ để làm công việc định giá doanh nghiệp Giá trị DN CPH vẫn còn chứa đựng những yếu tố rủi ro cao, hoặc người mua không có nhu cầu như: tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, các khoản công nợ dây dưa chưa được xử
lý
Quy trình XĐGTDN quá phiền hà, phải qua tới 3 giai đoạn: Hội đồng thẩm định giá của DN - Kiểm toán - Hội đồng thẩm định của Nhà nước và sau đó cơ quan có thẩm quyền mới công bố giá Mỗi giai đoạn tốn không ít thời gian để thực hiện nên đã kéo dài thời gian định giá của DN Chính sách
ưu đãi cho DN và cho người lao động khi tiến hành CPH vẫn chưa thực sự hấp dẫn, thiếu rõ ràng nên khó thực hiện Đặc biệt là các chính sách ưu đãi
về tín dụng hoặc ưu đãi về thuế theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước cũng như việc cấp một số cổ phần cho người lao động để hưởng cổ tức nhưng không có quyền sở hữu và chuyển nhượng nên cũng ít hấp dẫn với người lao động
2.1.1.3 Giai đoạn từ tháng 7 /1998 đến 7/2002
Để khắc phục những tồn tại trên và để đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN, Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV ban Chấp hành TW Đảng (khoá VIII) tháng 12/1997 đã nêu rõ định hướng và giải pháp CPH một bộ phận DNNN như sau: “ Phân loại doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh, xác định danh mục loại doanh nghiệp cần giữ 100% vốn Nhà nước;
Trang 38loại DNNN cần nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối; loại DNNN chỉ cần giữ cổ phần ở mức thấp" và đối với các DN mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn cần lập kế hoạch CPH để tạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn có
hiệu quả Sửa đổi, bổ sung các quy định, kiện toàn tổ chức chỉ đạo CPH các
cấp Thí điểm bán cổ phần cho người nước ngoài Khuyến khích nông dân sản xuất nguyên liệu tham gia mua cổ phần ở các doanh nghiệp chế biến nông sản"
Ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP thay cho Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996, các Bộ, ngành chức năng cũng đã ban hành các thông tư hướng dẫn Nghị định này đã thay đổi một cách căn bản cơ chế chính sách CPH theo hướng: chủ động trong việc triển khai thực hiện CPH DNNN, mở rộng ưu đãi tạo thêm thuận lợi, đơn giản hóa các thủ tục, bảo đảm chính sách xã hội đối với người lao động Những đổi mới quan trọng trong nghị định này là:
- Về đối tượng: Thực hiện phân loại DNNN theo các đối tượng: Nhà
nước cần giữ 100% vốn; Nhà nước cần giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt và loại Nhà nước không cần thiết phải nắm giữ cổ phần
- Về thẩm quyền quyết định cổ phần hóa: đã quy định rõ: Bộ trưởng
các Bộ quản lý ngành, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố, Chủ tịch HĐQT các Tổng công ty 91 là người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm chính về lựa chọn và tổ chức triển khai cổ phán hoá đối với các doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý
- Về hình thức cổ phần hóa: Bổ sung thêm hình thức: bán toàn bộ
phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để thực hiện cổ phần hoá
- Về đối tượng bán cổ phần: Thực hiện thí điểm bán cổ phần cho
người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài cư trú lâu dài tại
Trang 39Việt Nam Mở rộng quyền mua cổ phần của các nhà đầu tư ở những DN mà nhà nước giữ cổ phần chi phối gấp hai lần trước đây, còn những DN mà nhà nước không tham gia cổ phần thì không khống chế quyền mua cổ phần
- Về chính sách ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá: Thực hiện chính sách ưu đãi giảm giá bán cổ phần (30% so với mệnh giá) cho người lao động với mức giảm giá gấp 2 lần so với giá trị cổ phần cấp cho người lao động để hưởng cổ tức Riêng người lao động nghèo
còn được Nhà nước cho trả chậm tiền mua cổ phần ưu đãi trong 10 năm Qua đó thực sự khuyến khích người lao động trong doanh nghiệp hăng hái
tham gia chương trình CPH DNNN
- Về việc xác định giá trị doanh nghiệp:
+ Hoàn thiện quy trình và phương pháp XĐGTDN theo hướng đơn giản hơn, rõ ràng hơn, không bắt buộc các DNNN thực hiện CPH phải kiểm toán (trừ những doanh nghiệp không chấp hành các quy định của pháp luật
về kế toán, thống kê) Đồng thời quy định thời hạn phải hoàn tất việc XĐGTDN trong 15 ngày kể từ ngày thành lập Hội đồng để thúc đẩy tiến trình định giá
+ Cho phép DN không phải tính vào giá trị doanh nghiệp CPH những tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, các khoản công nợ đã mất khả năng thanh toán Đối với những DN có lợi thế thì chỉ tính 30% giá trị lợi thế vào giá trị doanh nghiệp, phần còn lại là để dự phòng các rủi ro trong tương lai Thừa nhận giá trị thực tế của DN có thể bằng hoặc cao hơn giá ghi trên sổ kế toán
+ Về thẩm quyền quyết định và điều chỉnh giá trị doanh nghiệp CPH : giao cho Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch UBND các Địa phương, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty 91 thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp
Trang 40CPH của những DN có vốn Nhà nước theo sổ sách kế toán từ 10 tỷ đồng trở xuống
- Về quản lý và sử dụng tiền bán phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp:
Trước đây, mọi khoản tiền thu được từ bán phần vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp CPH đều phải nộp về Ngân sách Nhà nước Nay, theo cơ chế mới các khoản thu này sẽ được tập trung về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và CPH DNNN để hỗ trợ các DN giải quyết chính sách đối với người lao động; hỗ trợ các doanh nghiệp lành mạnh hoá tình hình tài chính trước khi CPH
Với một hệ thống cơ chế chính sách mới, thông thoáng hơn và chú trọng hơn đến việc hỗ trợ cho doanh nghiệp và quyền lợi của người mua đã
ra một động lực mới thúc đẩy tiến trình CPH DNNN
*Kết quả :
- Từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 đến ngày 30/6/2002 đã có 940 DNNN và bộ phận DNNN được cổ phần hoá và chuyển đổi sở hữu Riêng năm 1999, đã có 250 doanh nghiệp, gấp 8 lần so với 7 năm trước cộng lại Như vậy, về mặt số lượng thì tốc độ CPH sau khi có Nghị định số 44/1998/NĐ-CP được đẩy mạnh rất nhiều
[Nguồn : Ban CPH Cục tài chính doanh nghiệp Bộ Tài chính]
- Nhìn chung, sau khi có Nghị định số 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ, công tác CPH DNNN trong cả nước đã đạt được những tiến bộ đáng
kể Kết quả điều tra về tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trên 500 doanh nghiệp đã thực hiện CPH từ 1 năm trở lên đã cho thấy: hầu hết các DN sau khi CPH đều nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh, doanh thu bình quân của các doanh nghiệp tăng 30% so với năm trước, lợi nhuận và nộp Ngân sách bình quân đều tăng từ 1,5 - 2 lần so với