1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SAI lầm học SINH HAY mắc PHẢI KHI GIẢI bài tập hóa hữu cơ

148 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, từ trước đến nay, giáo viên nhiều khi chỉ chú ý đến việc cungcấp kiến thức, hệ thống bài tập, các phương pháp giải bài tập mà ít quan tâm đếnviệc tập hợp các sai lầm của HS kh

Trang 2

Danh mục các chữ viết tắt

STT Chữ viết tắt Viết đầy đủ

03 CTĐGN Công thức đơn giản nhất

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong nhữngđộng lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làđiều kiện để phát huy nguồn lực con người Trong thời đại hiện nay, Việt Nam đã làthành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO, thì giáo dục lại cầnphải phát triển hơn nữa để góp phần đào tạo những thế hệ con người Việt Nam mớiđầy năng động, sáng tạo, có khả năng hội nhập toàn cầu, tự lập trong suốt cuộcđời…

Bài tập là một yếu tố rất quan trọng của quá trình dạy học Qua thực tế, quátrình dạy học có hiệu quả hay không, HS có nhận thức tích cực, sáng tạo và hìnhthành các kĩ năng, kĩ xảo hay không… phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống bài tậpđược thiết kế có hay không Vì vậy vấn đề bài tập trong dạy học cũng là một chuyên

đề đáng lưu ý

Tuy nhiên, từ trước đến nay, giáo viên nhiều khi chỉ chú ý đến việc cungcấp kiến thức, hệ thống bài tập, các phương pháp giải bài tập mà ít quan tâm đếnviệc tập hợp các sai lầm của HS khi giải bài tập và giúp các em tránh được các sailầm đó Qua đó, các em có thể tự rút ra các bài học cho bản thân để đạt kết quả tốthơn trong các kì thi nhằm nâng cao kết quả dạy và học

Từ những lí do trên, việc nghiên cứu đề tài: “MỘT SỐ SAI LẦM HỌCSINH HAY MẮC PHẢI KHI GIẢI BÀI TẬP HÓA HỮU CƠ TRUNG HỌC PHỔTHÔNG” là rất cần thiết trong quá trình dạy và học hiện nay

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trang 4

Phát hiện một số sai lầm HS hay mắc phải khi giải bài tập hóa hữu cơ –chương trình THPT và đề xuất giải pháp giúp HS tránh được các sai lầm đó nhằmđạt kết quả cao trong học tập.

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

• Đối tượng nghiên cứu: Một số sai lầm hay mắc phải và việc hướng dẫn HStránh được các sai lầm đó khi giải bài tập hoá hữu cơ – chương trình THPT

• Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

o Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

o Tâp hợp một số sai lầm học sinh hay mắc phải khi giải bài tập hóahữu cơ – chương trình THPT

o Biên soạn tài liệu giúp học sinh tránh được các sai lầm trên

o Thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả của đề tài

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Nội dung được giới hạn trong phần hóa học hữu cơ THPT chương trình cơ bản

- Địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT ở TP Vũng Tàu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 3 năm 2012

6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu HS nhận ra và tránh được một số sai lầm hay mắc phải khi giải bài tậphóa hữu cơ thì các em sẽ đạt kết quả tốt hơn trong các kì thi và kiểm tra, từ đó nângcao thành tích học tập

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 5

• Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài.

• Truy cập thông tin trên internet

• Điều tra bằng các phiếu câu hỏi và phỏng vấn

• Phương pháp chuyên gia

• Sử dụng các phần mềm tin học

• Phân tích và tổng hợp

• Thực nghiệm sư phạm

• Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

• Tổng quan các lí thuyết học tập làm cơ sở tâm lí học cho quá trình dạy họchoá học và phương pháp dạy học qua sai lầm

• Nghiên cứu và tập hợp một số sai lầm hay mắc phải của HS khi giải bài tậphóa hữu cơ THPT – chương trình cơ bản

• Đề xuất một số biện pháp phát hiện và khắc phục sai lầm trong nhận thứccủa HS khi giải bài tập hóa hữu cơ THPT góp phần nâng cao năng lực nhậnthức, tư duy cho HS, giúp HS tránh được các sai lầm đó để đạt kết quả họctập cao hơn

Trang 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Một số tài liệu viết về bài tập hóa học

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều tài liệu, sách tham khảo viết về bài tậphóa học nói chung và bài tập hóa hữu cơ nói riêng, chẳng hạn như:

- Phạm Sỹ Lựu (2011), Bài tập và phương pháp giải hóa học hữu cơ 11,

- Ngô Ngọc An (2009), Giải toán hóa học 11, NXB Giáo dục Việt Nam.

- Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Hữu Thạc (2006), 200 bài tập hóa học nâng cao 11, NXB ĐHQG Hà Nội.

- Hoàng Thị Bắc, Đặng Thị Oanh (2008), 10 phương pháp giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

- Trần Trung Ninh, Lê Đăng Khương (2008), 54 đề kiểm tra trắc nghiệm hóa học 10, Nxb ĐHQG Hà Nội.

- Huỳnh Văn Út (2006), Giải bằng nhiều cách các bài toán hóa học 10, Nxb

Trang 7

1.1.2 Một số đề tài nghiên cứu về bài tập hóa học

Cũng đã có khá nhiều khóa luận, luận văn, luận án nghiên cứu về bài tập hóahọc, chẳng hạn như:

- Lê Văn Dũng (2001), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS

THPT thông qua bài tập hóa học, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, trường ĐHSP

Hà Nội

- Lê Thanh Hùng, Phương pháp dạy học kiến tạo và vận dụng trong dạy học phần hiđrocacbon - hoá học lớp 11 - THPT nâng cao, Luận văn thạc sĩ khoa học

giáo dục - Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

- Văn Thị Ngọc Linh (2002), Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn phần hợp chất hữu cơ có nhóm chức lớp 11- chương trình cơ bản,

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục- Trường ĐHSP TPHCM

- Vũ Thị Kim Oanh, (2003), Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương trình hóa học lớp 10 cơ bản, Luận văn thạc sĩ khoa

học giáo dục- Trường ĐHSP TPHCM

- Nguyễn Thị Ngọc Hải (2006), Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan chất lượng cao dùng để dạy học hóa học lớp 12 nâng cao trường THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục- Trường ĐHSP TPHCM.

- Trần Thị Trà Hương (2006), Xây dựng hệ thống bài tập hóa vô cơ lớp 10 THPT nhằm củng cố kiến thức và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, Luận văn

thạc sĩ khoa học giáo dục- Trường ĐHSP TPHCM

- Lê Thị Kim Thoa (2006), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hoá học gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ

khoa học giáo dục- Trường ĐHSP TPHCM

- Lại Tố Trân (2006), Xây dựng hệ thống bài tập phát triển tư duy cho học sinh phần hóa hữu cơ lớp 11 chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo

dục- Trường ĐHSP TPHCM

Trang 8

- Nguyễn Cửu Phúc (2007), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần kim loại lớp 12 THPT chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục- Trường ĐHSP TPHCM

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sưu tầm được nhiều đề tài củanhững học viên, sinh viên các khóa trước nghiên cứu về “bài tập hóa học” Chúngtôi cũng đã cố gắng tìm những tài liệu hay luận văn, khóa luận của những học viên,sinh viên khóa trước đã nghiên cứu về các sai lầm của HS khi giải bài tập để làm tàiliệu tham khảo, nhưng chúng tôi chỉ tìm được một đề tài của học viên Nguyễn VănKim (Cao học Vinh K16) là :”Nâng cao chất lượng dạy học hóa học thông qua việckhắc phục những sai lầm trong nhận thức học tập của học sinh khi giải BTHH phầnhóa kim loại THPT”

1.2 Những yêu cầu lí luận dạy học cơ bản đối với bài tập

Bài tập có công dụng rộng rãi, có hiệu quả cao trong việc thực hiện mục tiêuđào tạo, trong việc hình thành phương pháp chung của việc tự học, trong việc rènluyện kĩ năng tự lực sáng tạo

Muốn khai thác được tối đa tiềm năng trí – đức – dục của bài tập, người GV

bộ môn cần giải quyết một loạt những vấn đề cơ bản có liên quan đến hệ thống bàitập của bộ môn mình

1.2.1 Xây dựng hệ thống đa cấp những bài tập của bộ môn

* Phân loại các bài tập: Trước hết phải tiến hành phân loại các bài tập của

bộ môn, sưu tầm, chọn lọc, sắp xếp chúng thành kiểu (cơ bản nhất, điển hình nhất),

từ đó phân loại tiếp thành phân kiểu, phân dạng…cho đến những bài tập tổng hợp,phức hợp

* Phân hóa các bài tập: Ở mỗi kiểu tìm ra quy luật biến hóa từ cái sơ đẳng,

cơ bản, điển hình nhất (cái đơn giản coi như xuất phát) đến những bài tập ngày càng

phức tạp hơn, tổng hợp hơn Đây là chuỗi bài tập theo logic dọc, đồng thời lại tìm ra

qui luật liên kết các bài toán giữa các kiểu với nhau Từ những bài toán điển hình,đơn giản nhất của hai hay nhiều kiểu khác nhau ″lắp ghép″ thành một bài tổng hợp

Đây chính là logic ngang của sự cấu tạo các bài tập từ nhiều kiểu khác nhau

Trang 9

Nắm được hai quy luật (dọc và ngang) của sự hình thành bài tập, ta có thểsắp xếp chúng theo thứ tự từ bài tập dễ đến bài tập khó Từ đó mà ta có thể tùy từngtrình độ của HS (giỏi, khá, trung bình, yếu) mà chọn, mà đưa ra bài tập vừa sức cho

HS giải Đây là dạy học phân hóa bằng những bài tập phân hóa) Dạy học theo tiếpcận này sẽ rất hiệu quả vì nó cho phép ta cá thể hóa cao độ việc dạy học cho mộtlớp có nhiều HS ở trình độ lĩnh hội khác nhau

1.2.2 Biên soạn bài tập mới tùy theo yêu cầu sư phạm định trước

Nếu nắm được sự phân loại các kiểu điển hình và các quy luật biến hóa (dọc

và ngang) của bài tập, GV có thể biên soạn những bài tập mới bằng cách vận dụngnhững quy luật biến hóa trên Tùy theo yêu cầu sư phạm, ta có thể phức tạp hay đơngiản hóa bài tập, soạn những bài tập có độ khó tăng dần, có chứa đựng những yếu tốgiúp rèn luyện những kĩ năng riêng biệt nào đó v.v…Bài tập được xây dựng theotiếp cận mođun sẽ đáp ứng được những mục đích nói trên Từ một số bài tập điểnhình nhất “lắp ráp” chúng theo nhiều cách khác nhau “tháo gỡ” bài tập phức tạpthành nhiều bài tập đơn giản hơn

1.2.3 Đảm bảo các yêu cầu cơ bản trong việc dạy học bằng bài tập

Khi sử dụng bài tập như một phương pháp dạy học, cần lưu ý những yêu cầu sauđây:

* Bảo đảm tính cơ bản gắn liền với tính tổng hợp:

Hệ thống bài tập của bộ môn phải khái quát hết những thông tin cơ bản nhấtcủa chương trình bộ môn Nó buộc HS khi giải hệ thống bài tập đó phải huy độngtổng hợp những kiến thức cơ bản của toàn bộ chương trình và những kiến thức hỗtrợ liên môn

* Bảo đảm tính hệ thống và tính kế thừa:

Giải bài tập hóa học thực chất là vận dụng các quy luật của hóa học và việcbiến đổi bài tập ban đầu thành những bài tập trung gian, sơ đẳng hơn, cơ bản hơn.Những bài tập cơ bản điển hình (đơn giản nhất của một kiểu nhất định) giữ vai tròrất quan trọng trong học vấn của HS vì chúng sẽ là kiến thức công cụ để giúp HSgiải được những bài tập tổng hợp Do đó GV phải quy hoạch toàn bộ hệ thống

Trang 10

những bài tập ra cho HS trong toàn bộ chương trình của môn học, sao cho chúng sẽ

kế thừa nhau, bổ sung nhau, cái trước chuẩn bị cho cái sau, cái sau phát triển cáitrước tất cả tạo nên (cùng với nội dung các lí thuyết khác) một hệ thống toàn vẹnnhững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo

* Bảo đảm tính kĩ thuật tổng hợp:

Bài tập phải đóng vai trò cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa nhà trường

và đời sống sản xuất Nó phải là phương tiện rèn cho HS những kĩ năng chung nhấtcủa việc tự học, của việc giải quyết các vấn đề nhận thức Nó cũng góp phần vàoviệc hình thành ở HS những phẩm chất và những nét của văn hóa lao động (trí óc vàchân tay)

*Bảo đảm tính phân hóa của hệ thống các bài tập:

Trước hết bài tập ra cho HS phải vừa sức Muốn cho bài tập có khả năng vừasức với ba loại trình độ HS trong lớp, người GV phải phân hóa bài tập từ những bàitập trung bình vừa sức với đại đa số HS, GV phức tạp nó lên để dùng cho một số

HS khá, giỏi và đơn giản nó đi để dùng cho HS yếu, kém Có như vậy bài tập mớitrở thành động lực thường xuyên của sự học tập tích cực

Thường xuyên coi trọng việc dạy HS phương pháp giải bài tập:

Dựa vào đặc trưng của bộ môn, GV phát hiện ra đặc trưng của phương pháp giải bàitập bộ môn Trên cơ sở đó GV có kế hoạch rèn luyện cho HS hệ thống kĩ năng và kĩxảo giải bài tập Phương pháp giải bài tập bộ môn sẽ là cơ sở và điểm xuất phát đểhình thành và phát triển những phương pháp hợp lí chung nhất của tự học và củahành động

1.3 Bài tập hóa học [14], [25]

Trong dạy học hóa học ở trường phổ thông, bài tập hóa học được coi là mộttrong những phương pháp dạy học có hiệu quả cao Có thể nói quá trình học tập làquá trình giải một hệ thống bài tập đa dạng Trong thực tế, một bài giảng, một giờlên lớp có hiệu quả, có thỏa mãn yêu cầu nâng cao tính tích cực, sáng tạo của HShay không phụ thuộc rất lớn vào hệ thống bài tập (bao gồm cả câu hỏi, bài toán, bàitập nhận thức …) có lí thú, có được biên soạn tốt không

Trang 11

1.3.1 Khái niệm bài tập hóa học

Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, BTHH giữ vai trò rất quantrọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, nó vừa là mục đích vừa là nội dung lạivừa là phương pháp dạy học hiệu quả Nó không chỉ cung cấp cho HS kiến thức,con đường giành lấy kiến thức mà còn mang lai niềm vui của quá trình khám phá,tìm tòi phát hiện của việc tìm ra đáp số Đặc biệt BTHH còn mang lại cho ngườihọc một trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức Đây là yếu tố tâm lí quan trọngcủa quá trình nhận thức đáng được chúng ta quan tâm

Vậy, bài tập là gì ? Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ “bài tập” (tiếng Anh) là

“Exercise”, tiếng Pháp – “Exercice” dùng để chỉ một loạt hoạt động nhằm rèn luyệnthể chất và tinh thần (trí tuệ)

Trong giáo dục, theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ

“bài tập” có nghĩa là “bài ra cho HS làm để vận dụng những điều đã học”

Theo Thái Duy Tuyên “bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm nhữngđiều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người họcmột lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái

có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra”

Về mặt lí luận dạy học hóa học, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán màkhi hoàn thành chúng HS nắm được hay hoàn thiện một tri thức hay một kĩ năngnào đó, bằng cách trả lời miệng hay trả lời viết kèm theo thực nghiệm Ở nước ta,sách giáo khoa và sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan niệmnày

Câu hỏi - đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng HS phải tiến hànhmột loạt hoạt động tái hiện, bất luận là trả lời miệng, trả lời viết hay có kèm thựchành hoặc xác minh bằng thực nghiệm

Thường trong các câu hỏi, giáo viên yêu cầu HS phải nhớ lại nội dung các định luật,các quy tắc, định nghĩa, các khái niệm, trình bày lại một mục trong sách giáokhoa…

Trang 12

Bài toán - đó là những bài làm mà khi hoàn thành chúng HS phải tiến hànhmột hoạt động sáng tạo Bất luận hình thức hoàn thành bài toán - nói miệng, hayviết, hay thực hành (thí nghiệm) - bất kì bài toán nào cũng đều có thể xếp vào mộttrong hai nhóm: định lượng (tính toán) hay định tính.

Người ta thường lựa chọn những bài toán và câu hỏi đưa vào một bài tập cótính toán đến một mục đích dạy học nhất định, là nắm hay hoàn thiện một dạng trithức hay kĩ năng Chẳng hạn, có thể ra bài tập nhằm mục đích hình thành kĩ nănglập công thức muối, viết phương trình phản ứng, nêu các chất đồng phân, giảinhững bài toán hóa học thuộc một kiểu nào đó, nêu đặc điểm của một nguyên tốtheo vị trí của nó trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học…

Tùy theo tính chất của hoạt động cần tiến hành (tái hiện hay sáng tạo) màbài tập có thể chỉ gồm toàn những câu hỏi, hay toàn những bài toán hay hỗn hợp cảcâu hỏi lẫn bài toán

Tóm lại, bài tập hóa học được xem như là một phương tiện dạy học then chốttrong quá trình dạy học, dùng bài tập trong quá trình hình thành kiến thức, khai tháckiến thức, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho người học và kiểm tra,đánh giá chất lượng học tập… Như vậy, có thể xem bài tập là một “vũ khí” sắc béncho giáo viên, HS trong quá trình dạy học và sử dụng bài tập là một trong nhữngyêu cầu quan trọng trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

1.3.2 Tác dụng của bài tập hóa học

1.3.2.1 Bài tập giúp HS nắm kiến thức sâu sắc, bền vững hơn

Khi giải một bài tập HS phải đi từ việc nghiên cứu đầu bài đến tìm đáp án

Để làm được điều này HS phải trải qua một quá trình quan sát, tổng hợp, phánđoán…

Quá trình giải bài tập không phải bắt đầu từ con số “0” mà phải dựa vào kinhnghiệm thực tiễn, những kiến thức mà HS đã tích lũy từ trước Các em phải nhớ,hiểu và vận dụng được những kiến thức và kinh nghiệm đó thì mới giải được bàitập

Trang 13

Bài tập hóa học không nằm dưới dạng khái niệm, định nghĩa hay định luậthoặc lí thuyết chung chung mà nó phản ánh những trạng thái nhất định của lí thuyết

và thực tiễn Trong trường hợp này kiến thức không còn là những cái gì trừu tượng,

mà đã được cụ thể hóa

Ví dụ: Khi học bài “Khái quát về nhóm nitơ”, HS muốn giải thích được “Vì

sao N chỉ có hóa trị tối đa là IV trong các hợp chất, trong khi đó, các nguyên tố kháccủa nhóm VA có thể có hóa trị tối đa là V” các em phải vận dụng thuyết cấu tạonguyên tử, khái niệm về trạng thái kích thích, electron độc thân…

1.3.2.2 Bài tập có khả năng phát triển tư duy sáng tạo của HS

Trong bất kì bài tập nào cũng có mâu thuẫn, những điều đã biết và nhữngđiều chưa biết Khi giải bài tập trí tuệ của HS phải vận động đi từ những điều kiện

đã biết để tìm ra câu trả lời Hoạt động trí tuệ của HS rất đa dạng: quan sát, vậndụng trí nhớ, các thao tác tư duy như so sánh, tổng hợp, khái quát, suy luận…chonên sau mỗi lần giải bài tập thành công, niềm tin và năng lực của HS càng đượcphát triển và củng cố Đó là một trong những cơ sở quan trọng để các em mạnh dạnbước vào con đường sáng tạo

Ví dụ: Khi thực hành, một HS lắp dụng cụ điều chế khí Cl2 như hình vẽ sau:

a Hãy viết phương trình phản ứng điều chế khí Cl2 từ MnO2 và HCl?

b Phân tích những chỗ sai khi lắp bộ dụng cụ thí nghiệm như hình vẽ?

Để giải được bài tập này HS cần phải:

Trang 14

- Phải nhìn lôgic nội dung của bài toán, tìm hiểu từ ngữ, hiểu sơ bộ ý đồ củatác giả.

- Tìm hiểu giả thiết và yêu cầu của đề bài

- Hình dung tiến trình luận giải và biết phải bắt đầu từ đâu ?

- Đâu là chỗ có vấn đề của bài toán

- Có cách nào hay hơn không (thông qua tính đặc biệt của đề bài …)

1.3.2.3 Bài tập mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề khối lượng kiến thức của HS

Ví dụ: Theo tính toán của các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể người cần được

cung cấp 1,5.10-4 g nguyên tố iot Nếu nguồn cung cấp chỉ là KI thì khối lượng KIcần dùng cho một người trong một ngày là bao nhiêu?

Bài tập này không phải là khó đối với HS, tuy nhiên mục đích cho HS nhậnthấy hóa học không là kiến thức khó hiểu, khó nhớ mà phải là những kiến thức cóliên quan đến cuộc sống con người rất thiết thực

1.3.2.4 Bài tập là phương tiện giáo dục tốt

Người thầy không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho HS mà còn giáodục cho HS một nhân cách sống Vì thế người thầy phải sử dụng nhiều biện pháp,nhiều phương tiện khác nhau, trong đó bài tập có thể xem là phương tiện hiệu quả

và thường dùng nhất trong hóa học Thế mạnh của bài tập là ở chổ rèn luyện đứctính chính các, kiên nhẫn, trung thực, lòng say mê hóa học và niềm tin vào khoahọc, sức mạnh của bản thân Niềm tin này có được là do trong quá trình độc lập vậndụng kiến thức, độc lập tìm được đáp số đã giúp các em có những phương pháp giảiquyết đúng đắn các vấn đề đặt ra

Ngoài ra bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động(lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)

1.3.3 Vị trí của bài tập hóa học trong quá trình dạy học

Trong thực tế dạy học hiện nay, nhiều giáo viên chưa nắm được vị trí của bàitập hóa học trong quá trình dạy học Họ thường sử dụng bài tập vào đầu giờ để kiểm

Trang 15

tra bài cũ hoặc cuối giờ học, cuối chương, cuối học kì để ôn tập và kiểm tra kiếnthức Quan niệm đó chưa thật đúng, làm giảm tác dụng của bài tập khi dạy học.

Người thầy có thể sử dụng bài tập ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào khi thấy

nó có thể giúp mình thỏa mãn nhiệm vụ dạy học và mục đích dạy học Ngược lại,thầy giáo hoàn toàn có thể không sử dụng bài tập khi điều đó không cần thiết chocộng việc giảng dạy của mình

Bài tập hóa học không phải là nội dụng nhưng nó chứa đựng nội dung dạyhọc Bài tập phải phù hợp với nội dung dạy học, với năng lực nhận thức của HS vàphải phục vụ được ý đồ của thầy Khi ra một bài tập phải xác định đúng vị trí của nó

để bài tập trở thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống kiến thức cần truyền thụ

1.3.4 Phân loại bài tập hóa học

Hiện nay có nhiều cách phân loại phân loại bài tập khác nhau Vì vậy cần cócách nhìn tổng quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại

1 Dựa vào nội dung toán học của bài tập

- Bài tập định tính (không có tính toán)

- Bài tập định lượng (có tính toán)

2 Dựa vào nội dung của bài tập hóa học

- Bài tập định lượng

- Bài tập lý thuyết

- Bài tập thực nghiệm

- Bài tập tổng hợp

3 Dựa vào tính chất hoạt động học tập của HS

- Bài tập lý thuyết (không có tiến hành thí nghiệm)

- Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)

4 Dựa vào chức năng của bài tập

- Bài tập tái hiện kiến thức (hiểu, biết, vận dụng)

- Bài tập rèn luyện tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánh giá)

5 Dựa vào kiểu hay dạng bài tập

- Bài tập xác định CTPT của hợp chất

Trang 16

6 Dựa vào khối lượng kiến thức

- Bài tập đơn giản (cơ bản)

- Bài tập phức tạp (tổng hợp)

7 Dựa vào cách thức kiểm tra

- Bài tập trắc nghiệm

- Bài tập tự luận

8 Dựa vào phương pháp giải bài tập

- Bài tập tính theo công thức và phương trình

- Bài tập biện luận

- Bài tập dùng các giá trị trung bình

- Bài tập dùng đồ thị…

9 Dựa vào mục đích sử dụng

- Bài tập dùng để kiểm tra đầu giờ

- Bài tập dùng để củng cố kiến thức

- Bài tập dùng để ôn luyện, tổng kết

- Bài tập để bồi dưỡng HS giỏi

- Bài tập để phụ đạo HS yếu…

10 Dựa theo các bước của quá trình dạy học

- Bài tập mở bài, tạo tình huống dạy học

- Bài tập vận dụng khi giảng bài mới

- Bài tập củng cố, hệ thống hóa kiến thức

- Bài tập về nhà

- Bài tập kiểm tra

Ngoài ra có thể dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức có thể chia thành

Trang 17

- Bài tập tái hiện: bài tập yêu cầu HS nhớ lại, tái hiện kiến thức, kĩ năng

đã học

- Bài tập sáng tạo: Bài tập yêu cầu HS phải áp dụng những kiến thức, kĩnăng đã học để giải quyết vấn đề trong tình huống mới, phải vận dụng phối hợp cáckiến thức để giải quyết vấn đề Ở mức độ cao hơn bài tập sáng tạo đòi hỏi HS giảiquyết vấn đề theo một hướng mới, một kĩ thuật mới, một phương pháp mới

Trong thực tế dạy học, có hai cách phân loại bài tập có ý nghĩa hơn cả làphân loại theo nội dung và theo dạng bài

1.4.5 Xu hướng xây dựng bài tập hóa học hiện nay

Bài tập hóa học rất phong phú và đa dạng Hoàn thành được bài tập theo yêucầu của bộ môn là nhiệm vụ khó khăn của cả thầy lẫn trò Điểm kém trong các kìkiểm tra, kì thi phần lớn là do HS không nắm được kiến thức cơ bản và không biếtgiải bài tập Vì vậy, giáo viên cần phải có một hệ thống bài tập tự soạn khi lên lớp

và kết hợp với các phương pháp sử dụng phù hợp để việc học tập bộ môn dễ hiểu vàcác em đỡ vất vả hơn

Theo tác giả Nguyễn Xuân Trường [58, tr.35], xu hướng xây dựng BTHHhiện nay là:

- Loại bỏ những bài tập có nội dung hóa học nghèo nàn nhưng lại cần đếnnhững thuật toán giải phức tạp

- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối, phức tạp, xa rờihoặc phi thực tiễn

- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm

- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng bài tập mới về bảo vệ môi trường

- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho HS năng lực phát hiện vấn đề vàgiải quyết vấn đề

- Đa dạng hóa các loại bài tập như bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, bàitập lắp dụng cụ thí nghiệm

Trang 18

- Xây dựng những bài tập có nội dung hóa học phong phú, sâu sắc, phần tínhtoán đơn giản nhẹ nhàng.

- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng

Thực tế giáo dục hiện nay cho thấy có rất nhiều BTHH còn quá nặng về cáchgiải, về thuật toán trong khi đó các kiến thức về hóa học thì ít đưa vào, và khônggắn liền với thực tế Khi giải những bài toán này thì mất rất nhiều thời gian, trongkhi đó kiến thức về hóa học lĩnh hội được từ bài toán đó thì không được bao nhiêu,còn hạn chế khả năng vận dụng các kiến thức hóa học mà HS được học vào đó.Những bài tập này nhiều khi làm cho các HS học trung bình dễ bị chán nản, thậmchí là cả những HS khá giỏi nhiều khi cũng như vậy, vì bài tập này đòi hỏi quánhiều thời gian, đôi khi nó quá khó so với trình độ hiện có của HS

Theo định hướng xây dựng sách giáo khoa mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), quan điểm thực tiễn và đặc thù của bộ môn hóa học cần được hiểu như sau:

- Nội dung hóa học phải có tính chất gắn liền với thực tiễn đời sống, sản xuất, xãhội

- Nội dung hóa học gắn với thực hành thí nghiệm hóa học

- BTHH phải có nội dung phù hợp

Theo quan điểm đó thì xu hướng phát triển chung của BTHH hiện nay là:

- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích không nặng về tính toán mà tập trungvào rèn luyện và phát triển các kĩ năng cho HS, các năng lực tư duy của HS

- BTHH phải chú ý tới việc rèn luyện các kĩ năng, thao tác làm thí nghiệm

- BTHH phải chú ý tới việc mở rộng kiến thức, và có sự liên hệ với thực tiễn, có

sự ứng dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn

- Các BTHH định lượng được xây dựng trên cơ sở không phức tạp hóa bởi cácthuật toán mà chú trọng tới các phép tính được sử dụng nhiều trong hóa học

- Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển các bài tập tự luận, tínhtoán sang bài tập trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng các bài tập về bảo vệ môi trường

Trang 19

- Đa dang hoá các loại bài tập như: Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ,lắp dụng cụ thí nghiệm.

Như vậy xu hướng phát triển của BTHH hiện nay là tăng cường khả năng tưduy của HS ở cả 3 phương diện: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những câu hỏi cótính chất lí thuyết học thuộc sẽ giảm dần thay vào đó là những bài tập có tính chấtrèn luyện kĩ năng, phát triển tư duy của HS, phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo, độclập của HS

1.4 Tư duy [7], [18]

1.4.1 Khái niệm tư duy

L.N Tônxtôi đã viết: "Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thànhquả những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ" Như vậy, HS chỉ thực

sự lĩnh hội được tri thức khi họ thực sự tư duy

Theo M.N Sacđacôp: "Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật

và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bảnchất của chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiện tượngmới, riêng rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa đã thu nhậnđược

Hay: Tư duy là một quá trình tâm lí mà nhờ đó con người phản ánh được cáiđối tượng và hiện tượng của hiện thực thông qua những dấu hiệu bản chất củachúng, đồng thời con người vạch ra được những mối quan hệ khác nhau trong mỗiđối tượng, hiện tượng và giữa các đối tượng, hiện tượng với nhau"

Còn theo tác giả Nguyễn Xuân Trường (ĐHSP Hà Nội) thì "tư duy là hànhđộng trí tuệ nhằm thu thập và xử lí thông tin về thế giới quanh ta và thế giới trong

ta Chúng ta tư duy để hiểu, làm chủ tự nhiên, xã hội và chính mình"

1.4.2 Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy

Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú trọng đến việc phát triển tư duy cho

HS thông qua việc điều khiển tối ưu quá trình dạy học, còn các thao tác tư duy cơ

bản là công cụ của nhận thức, đáng tiếc rằng điều này cho đến nay vẫn chưa đượcthực hiện rộng rãi và có hiệu quả Vẫn biết sự tích lũy kiến thức trong quá trình dạy

Trang 20

học đóng vai trò không nhỏ, song không phải quyết định hoàn toàn Con người cóthể quên đi nhiều sự việc cụ thể mà dựa vào đó những nét tính cách của anh ta đượchoàn thiện Nhưng nếu những nét tính cách này đạt đến mức cao thì con người cóthể giải quyết được mọi vấn đề phức tạp nhất, điều đó nghĩa là anh ta đã đạt đến

một trình độ tư duy cao "Giáo dục - đó là cái được giữ lại khi mà tất cả những điều học thuộc đã quên đi" - nhà vật lý nổi tiếng N.I.Sue đã nói như vậy Câu này

khẳng định vai trò quan trọng của việc phát triển tư duy cũng như mối quan hệ mậtthiết của nó với giảng dạy

Quá trình hoạt động nhận thức của HS chia làm hai mức độ:

- Trình độ nhận thức cảm tính: Là quá trình phản ánh thực tiễn dưới dạng cảmgiác, tri giác và biểu tượng

- Trình độ nhận thức lý tính: Còn gọi là trình độ logic hay đơn giản là tư duy

1.4.3 Những đặc điểm của tư duy

- Quá trình tư duy nhất thiết phải sử dụng ngôn ngữ là phương tiện: Giữa tưduy và ngôn ngữ có mối quan hệ không thể chia cắt, tư duy và ngôn ngữ phát triểntrong sự thống nhất với nhau Tư duy dựa vào ngôn ngữ nói chung và khái niệm nóiriêng Mỗi khái niệm lại được biểu thị bằng một hay một tập hợp từ Vì vậy, tư duy

là sự phản ánh nhờ vào ngôn ngữ Các khái niệm là những yếu tố của tư duy Sự kếthợp các khái niệm theo những phương thức khác nhau, cho phép con người đi từ ýnghĩ này sang ý nghĩ khác

- Tư duy phản ánh khái quát

Tư duy phản ánh hiện thực khách quan, những nguyên tắc hay nguyên líchung, những khái niệm hay vật tiêu biểu Phản ánh khái quát là phản ánh tính phổbiến của đối tượng Vì thế những đối tượng riêng lẻ đều được xem như một sự thểhiện cụ thể của quy luật chung nào đó Nhờ đặc điểm này, quá trình tư duy bổ sungcho nhận thức và giúp con người nhận thức hiện thực một cách toàn diện hơn

- Tư duy phản ánh gián tiếp

Tư duy giúp ta hiểu biết những gì không tác động trực tiếp, không cảm giác

và quan sát được, mang lại những nhận thức thông qua các dấu hiệu gián tiếp Tư

Trang 21

duy cho ta khả năng hiểu biết những đặc điểm bên trong, những đặc điểm bản chất

mà các giác quan không phản ánh được

- Tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính

Quá trình tư duy bắt đầu từ nhận thức cảm tính, liên hệ chặt chẽ với nó trongquá trình đó nhất thiết phải sử dụng những tư liệu của nhận thức cảm tính

1.4.4 Những phẩm chất của tư duy

- Khả năng định hướng: Ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần

lĩnh hội, mục đích phải đạt được và những con đường tối ưu đạt được mục đích đó

- Bề rộng: Có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác.

- Độ sâu: Nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng.

- Tính linh hoạt: Nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức

hành động vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo

- Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các

hướng xuôi ngược chiều

- Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách

giải quyết và tự giải quyết được vấn đề

- Tính khái quát: Khi giải quyết một loại vấn đề nào đó sẽ đưa ra được mô

hình khái quát, trên cơ sở đó để có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề tương tự,cùng loại

1.4.5 Các thao tác tư duy và phương pháp logic

Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự tích lũy các thao tác tưduy thành thạo và vững chắc của con người Một trong những hình thức quan trọngcủa tư duy hóa học là những khái niệm khoa học Việc hình thành và vận dụng cáckhái niệm, cũng như việc thiết lập các mối quan hệ giữa chúng được thực hiệntrong quá trình sử dụng các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, kháiquát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa kết hợp với các phương pháp hình thành phánđoán mới là quy nạp, diễn dịch, suy diễn và loại suy

Trang 22

- Phân tích: Là hoạt động tư duy tách các yếu tố bộ phận của sự vật, hiện

tượng nhằm mục đích nghiên cứu chúng một cách đầy đủ, trọn vẹn theo hướng nhấtđịnh

Chẳng hạn, HS không thể nắm vững tính chất hóa học của một chất hữu cơmột cách sâu sắc và bền vững nếu như không phân tích kỹ công thức cấu tạo củachất đó Nếu phân tích mọi khía cạnh có thể có của đề bài là cơ sở để giải đúng vàđầy đủ mọi BTHH

- Tổng hợp: Là hoạt động tư duy kết hợp các bộ phận, yếu tố đã được phân

tích để nhận thức, để nắm được cái toàn bộ của sự vật, hiện tượng Để hiểu đầy đủcác nhóm nguyên tố phải dựa trên kết quả tổng hợp của việc phân tích nghiên cứuđặc điểm cấu tạo cũng như tính chất của từng nguyên tố cụ thể

Kết quả của quá trình nhận thức là hoạt động cân đối và mật thiết giữa phântích và tổng hợp Sự phân tích sâu sắc, phong phú là điều kiện quan trọng để tổnghợp được chính xác, trọn vẹn, ngược lại tổng hợp sơ bộ tạo tiền đề quan trọng cho

sự phân tích

- So sánh: Là thiết lập sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện

tượng và giữa những khái niệm phản ánh chúng

Ở đây, có hai cách phát triển tư duy so sánh:

+ So sánh liên tiếp (tuần tự): Trong giảng dạy hóa học thường dùng phương

pháp này khi HS tiếp thu kiến thức mới So sánh với kiến thức đã học để HS hiểusâu sắc hơn

+ So sánh đối chiếu: Nghiên cứu hai đối tượng (hai chất, hai phản ứng, hai

phương pháp ) cùng một lúc trên cơ sở phân tích từng bộ phận để đối chiếu vớinhau

Tóm lại, trong giảng dạy hóa học so sánh là phương pháp tư duy rất hiệu

nghiệm nhất là khi hình thành khái niệm

- Cụ thể hóa:

Cụ thể: Là sự vật hiện tượng trọn vẹn, đầy đủ các tính chất, các mối quan hệ

giữa các thuộc tính với nhau và với môi trường xung quanh

Trang 23

Cụ thể hóa: Là hoạt động tư duy tái sản sinh ra hiện tượng và đối tượng với

các thuộc tính bản chất của nó

- Trừu tượng hóa:

Trừu tượng: Là một bộ phận của toàn bộ, tách ra khỏi toàn bộ, nó cô lập ra

khỏi các mối quan hệ của các bộ phận, mà nó chỉ giữ lại các thuộc tính cơ bản vàtước bỏ những thuộc tính không cơ bản Cụ thể có tri giác trực tiếp được Trừutượng không tri giác trực tiếp được Trong nhận thức có quy luật phát triển là từ cụthể € trừu tượng

Trừu tượng hóa: Là sự phản ánh bản chất cô lập các dấu hiệu, thuộc tính bản

chất Tìm hiểu cấu tạo nguyên tử và sự chuyển động của electron trong nguyên tửlàm tiền đề để thông hiểu sự hình thành các liên kết hóa học, liên kết σ, liên kết π,liên kết hiđro và những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất lí hóa của các chất

- Khái quát hóa:

Là bước cần thiết của trừu tượng hóa Mỗi vật thể (chất, phản ứng …) với đầy

đủ các dấu hiệu bản chất và không bản chất, dấu hiệu chung, riêng Xác định thuộctính bản chất và chung của mọi loại đối tượng, từ đó hình thành lên một khái niệm

Đó là khái quát hóa

1.4.6 Những hình thức cơ bản của tư duy

- Khái niệm: Là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất riêng biệt

của sự vật hiện tượng

Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong quá trình tư duy, được xây dựngtrên cơ sở các thao tác tư duy, nó làm điểm tựa cho tư duy phân tích và là cơ sở đểđào sâu kiến thức, tiến tới xây dựng khái niệm mới Ngoài ra, các hoạt động suyluận, khái quát hóa, trừu tượng hóa nhờ có khái niệm mới có cơ sở để tư duy và đisâu thêm vào bản chất của sự vật hiện tượng

- Phán đoán: Là sự tìm hiểu tri thức về mối quan hệ giữa các khái niệm, sự

phối hợp giữa các khái niệm, thực hiện theo một nguyên tắc, quy luật bên trong

- Suy lí: Hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán với nhau để tạo thành phán

đoán mới gọi là suy lí Suy lí được cấu tạo bởi hai bộ phận:

Trang 24

+ Các phán đoán có trước gọi là tiên đề.

+ Các phán đoán có sau gọi là kết luận (dựa vào tính chất của tiên đề để kếtluận)

Suy lí chia làm ba loại: Loại suy, suy lí quy nạp và suy lí diễn dịch

+ Loại suy: Là hình thức tư duy đi từ cái riêng biệt này đến cái riêng bịêt khác.

Loại suy cho ta những dự đoán chính xác sự phụ thuộc và sự hiểu biết về hai đốitượng Khi đã nắm vững các thuộc tính cơ bản của đối tượng thì loại suy sẽ chínhxác Chẳng hạn, khi nghiên cứu các loại hợp chất hữu cơ chỉ cần xét kỹ các hợpchất tiêu biểu nhất, còn các chất khác trong dãy đồng đẳng dễ dàng biết được bằngphương pháp loại suy

+ Suy lí quy nạp: Suy lí từ quy nạp đến phổ biến, từ những hoạt động tới quy

luật Do đó, quá trình tư duy, sự suy nghĩ theo quy nạp chuyển từ việc nhận thứccác hiện tượng riêng lẻ đến nhận thức cái chung Vì thế các suy lí quy nạp là yếu tốcấu trúc của tri thức khái quát của việc hình thành khái niệm và của việc nhận thứcđịnh luật

+ Suy lí diễn dịch: Là cách suy nghĩ đi từ cái chung, định luật, quy tắc, khái

niệm chung đến các sự vật hiện tượng riêng lẻ

Quá trình suy lí diễn dịch có thể là:

* Từ tổng quát đến ít tổng quát hơn

* Từ phán đoán có tính chất tổng quát này đến các phán đoán có tính chất tổngquát khác

Trong quá trình tư duy quy nạp và suy diễn bao giờ cũng liên hệ mật thiếtvới nhau giống như phân tích và tổng hợp Quá trình này được thực hiện trongphương pháp xác định mối liên hệ nhân quả trong các hiện tượng Với tư cách làhình thức tư duy gián tiếp, suy lí trong tư duy logic đóng vai trò quan trọng trongtất cả các hoạt động của tư duy Việc hướng dẫn quy tắc logic trong suy lí tạo đượchiệu quả lớn trong quá trình lĩnh hội tri thức

Trang 25

Rèn luyện tư duy logic trong dạy học hóa học là tạo cho HS có phương pháp

tư duy từ khái niệm đến phán đoán, suy lí thông thường qua mọi câu hỏi, mọi vấn

đề và phải được tiến hành thường xuyên liên tục

1.4.7 Tư duy khoa học và tư duy hóa học

Tư duy khoa học: là giai đoạn cao, trình độ cao của quá trình nhận thức,được thực hiện thông qua hệ thống các thao tác tư duy trong đầu óc của người sửdụng tri thức khoa học và vận dụng đúng đắn các yêu cầu của tư duy khoa học với

sự giúp đỡ của một hệ thống công cụ tư duy khoa học nhằm xây dựng thành nhữngtri thức khoa học mới dưới dạng khái niệm, phán đoán, suy luận mới hoặc giảthuyết, lý thuyết, lý luận khoa học mới, phản ánh các khách thể nhận thức một cáchchính xác, đầy đủ, chân thật hơn Tư duy khoa học hiện đại là sự thống nhất của tưduy chính xác và tư duy biện chứng, trong đó tư duy biện chứng giữ vai trò chủ đạo.Biểu hiện của phong cách tư duy khoa học hiện đại là tính chưa hoàn tất, chưa đóngkín của các quan niệm khoa học mới Đó là sự từ bỏ các định đề tuyệt đối, vĩnh cửu

và cuối cùng, thay chúng bằng các nguyên lý, quan niệm, sơ đồ khoa học mới rộngrãi hơn, tổng quát hơn nhưng không phải là cuối cùng và bất biến Tư duy khoa họcngày càng mang tính thực nghiệm cao, loại bỏ tất cả các quan niệm không thể trởthành đối tượng kiểm tra bằng thực nghiệm [34]

Tư duy hoá học có cơ sở là sự liên hệ các quá trình phản ứng hoá học với sựtương tác giữa các tiểu phân vô cùng nhỏ bé của thế giới vi mô Đặc điểm của quátrình tư duy hoá học là sự phối hợp chặt chẽ giữa cái bên trong và cái bên ngoài,giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, nghĩa là những hiện tượng cụ thể quan sát đượcvới những hiên tượng cụ thể không quan sát được

Tư duy hoá học cũng sử dụng các thao tác tư duy vào quá trình nhận thứcthực tiễn và tuân theo quy luật của quá trình nhận thức:

Trực quan sinh động → tư duy trừu tượng → thực tiễn

Trên cơ sở quan sát, phân tích các hiện tượng hoá học riêng lẻ, người ta thiếtlập các mối liên hệ giữa các yếu tố bên trong, bên ngoài, từ đó xây dựng các quyluật mang tính định tính, định lượng chi phối các phản ứng hoá học rồi lý giải sao

Trang 26

cho thoả đáng nhất Các quy luật được chứng minh bằng thực nghiệm, sau đó trởthành công cụ nhận thức của nhà hoá học.

Chính vì đặc điểm này mà khi dạy học hoá học, người thầy không chỉ truyềntải trọn vẹn một nội dung hoá học mà còn phải chỉ ra phương pháp tư duy để cóđược tri thức Đó là từ thực tiễn, nghiên cứu nhóm các phản ứng hoá học cụ thể, lặplại nhiều lần để có cơ sở vững chắc đưa ra quy luật chung chi phối các vận động bêntrong của vật chất Quy luật này phải được kiểm chứng bằng thực nghiệm và được

sử dụng để tiên đoán các phản ứng hoá học tương tự khác Các khái niệm, quy luậthoá học không phải bất biến mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của khoahọc và cần được bổ sung, phát triển liên tục Chính vì vậy cần tránh thái độ tuyệtđối hóa các khái niệm, quy luật, định luật

1.4.8 Sai lầm trong tư duy hóa học

Theo từ điển tiếng Việt của viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê (chủ biên) thìquan niệm là hiểu, nhận thức về một vấn đề nào đó Như vậy quan niệm của HS lànhững hiểu biết của các em về những sự kiện, những hiện tượng, quá trình của tựnhiên nói chung và của hoá học nói riêng mà các em đã có được thông qua hoạtđộng, sinh hoạt thường ngày trước khi họ được nghiên cứu trong giờ học

Quan niệm của HS được hình thành một cách tự phát, thiếu cơ sở khoa họcnên các quan niệm của HS được hình thành trong bối cảnh có tính chất thực tiễnsinh động, do vậy nó đã gây được dấu ấn mạnh mẽ và sâu đậm trong tiềm thức của

HS Bên cạnh đó sự hiểu biết đơn giản, thiếu cơ sở khoa học đó đôi lúc lại rất hữuích cho việc lý giải các sự kiện hàng ngày Mặc dù không đúng với tri thức khoahọc, song nó được chấp nhận một cách không cần lý lẽ trong đời thường Do vậycác quan niệm sai lầm đó có sức bền kỳ lạ theo thời gian, thậm chí sau khi đã đượchọc tập, trưởng thành những quan niệm đó vẫn thường được “đưa ra làm công cụ”khi giải thích các hiện tượng hoá học xẩy ra trong thực tiễn Ví dụ: axit thì chua vàphá huỷ kim loại, muối thì mặn…

Học tập luôn đồng hành với các hoạt động đời thường của HS Khi học tậpcác môn học thì các em được tiếp xúc và lĩnh hội tri thức khoa học nhưng trước đó

Trang 27

họ đã có những tri thức và quan niệm đời thường.Khi trực tiếp học tập môn hoá họcthì các em đã từng “va chạm” với rất nhiều sự kiện, hiện tượng hoá học trong thếgiới tự nhiên Chính vì thế quá trình học tập hoá học luôn là sự “giao thoa” của hainguồn tri thức, đó là tri thức đời thường và tri thức khoa học Khi đến lớp học mônhoá học thì đương nhiên HS mang theo những quan niệm đời thường Mỗi HS sẽ cómột quan niệm rất riêng, phần lớn các quan niệm đó không tương đồng với tri thứckhoa học được đề cập trong giờ học Những quan niệm sai lầm đó là những vật cảnlớn gây trở ngại cho các em trong quá trình nhận thức sự vật, hiện tượng, chân lýkhoa học Bên cạnh đó cũng có một số quan niệm không sai lệch nhưng chưa thậthoàn chỉnh hoặc chưa chính xác, chúng sẽ có tác dụng hữu ích và tích cực trong quátrình học tập của các em Do vậy GV cần tổ chức thảo luận, trao đổi với HS để bổsung những phần còn thiếu, điều chỉnh những chỗ chưa chính xác, chưa hợp lý vềcách trình bày nhằm đi đến kiến thức khoa học cần nhận thức Trong các giờ họchoá học nhiều quan niệm sai trái gây ra không ít trở ngại cho HS trong quá trìnhnhận thức và chính chúng là những trở ngại lớn trong dạy học hoá học ở trường phổthông Vì vậy, nếu không có những biện pháp, thủ thuật, kỹ năng sư phạm hợp lý đểkhắc phục chúng thì những kiến thức mà HS tiếp thu được sẽ trở nên méo mó, sailệch với bản chất hoá học Đương nhiên là trong cấu trúc tư duy của HS sẽ dầnhình thành và tồn tại những hiểu biết sai lệch và bằng những quan niệm này, các em

sẽ quan sát và giải thích các sự kiện, hiện tượng theo cách của riêng mình, chắcchắn các sai lầm khi giải bài tập nói chung, giải bài tập hoá học nói riêng cũng xuấthiện theo Chúng ta không thể bỏ qua những quan niệm sai lầm của HS, cũng khôngthể xử lý chúng một cách phiến diện Trong dạy học điều đáng quan tâm là tạo điềukiện cho các quan niệm của HS được bộc lộ rõ nhất, những sai lầm qua trải nghiệmtrong điều kiện có thể, từ đó sẽ giúp các em nhận biết vượt qua các quan niệm sailầm để thu nhận, biến đổi trong nhận thức một cách tích cực, tự giác các tri thứckhoa học Như thế có nghĩa là đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc, cọ xát giữahai nguồn tri thức (tri thức khoa học và tri thức đời thường) và sẽ làm cho HS nhận

ra chân lý khoa học một cách tích cực, sâu sắc và các em sẽ phải tự điều chỉnh

Trang 28

những quan niệm của mình cho phù hợp với bản chất hố học, hay vứt bỏ nhữngquan niệm sai trái với chân lý khoa học.

Việc điều tra và phát hiện ra những quan niệm sai lầm của HS trong quá trìnhdạy học là một cơng việc địi hỏi tính khách quan và cĩ ý nghĩa vơ cùng quan trọngđối với việc nâng cao chất lượng dạy học hố học trong trường phổ thơng Trongquá giảng dạy chúng tơi thường dùng thuật ngữ “sai lầm phổ biến của HS” với ýnghĩa là: những điều sai lầm so với yêu cầu khách quan (yêu cầu và nhiệm vụ nhậnthức) hoặc trái ngược với tri thức khoa học như: Khái niệm, định luật, quy tắc dẫnđến khơng đạt yêu cầu của việc giải bài tập

1.5 Một số phương pháp giải bài tập hĩa học cơ bản

1.5.1 Nhĩm các phương pháp bảo tồn

1.5.1.1 Phương pháp bảo tồn khối lượng

Đặc trưng của phương pháp này là khơng cần quan tâm đến quá trình phảnứng cĩ đạt hiệu suất 100% hay khơng, cũng khơng cần quan tâm đến chất hết và dư,

cĩ bao nhiêu chất tham gia, bao nhiêu sản phẩm Chính vì vậy mà giúp ta bỏ quanhiều yếu tố nhỏ nhặt, khơng liên quan đến bài tốn để tập trung giải quyết nhiệm

vụ chính

Cơng thức biểu diễn định luật bảo tồn khối lượng là

=

lú c đầulú c sau

Phương pháp bảo tồn khối lượng tỏ ra rất hiệu quả khi sử dụng vào các bàitốn pha trộn dung dịch, các quá trình hố học diễn ra khơng hồn tồn, các quátrình hố học phức tạp cĩ đề cập đến khối lượng các chất,…

Ví dụ 1: Hồ tan hồn tồn 3,22 gam hỗn hợp X gồm Fe, Mg và Zn bằng một lượngvừa đủ dung dịch H2SO4 lỗng, thu được 1,344 lít hiđro (ở đktc) và dung dịch chứa

m gam muối Giá trị của m là

Trang 29

Ta có: mX + maxit = m + mH2

⇒m = mX + maxit – mH2 = 3,22 + 0,06.98 – 0,06.2 = 8,98g

chọn C

Ví dụ 2: Trung hoà 5,48 gam hỗn hợp gồm axit axetic, phenol và axit benzoic cần

dùng 600 ml dung dịch NaOH 0,1M Cô cạn dung dịch sau phản ứng, thu được hỗnhợp chất rắn khan có khối lượng là

A 8,64 gam B 6,84 gam C 4,90 gam D 6,80 gam.

Giải

Nhận xét: cả ba chất đề cho đều là axit 1 nấc, do đó sẽ tác dụng với NaOH theo tỉ lệmol 1:1 và số mol H2O sinh ra cũng bằng số mol NaOH phản ứng

Axit + NaOH  → muối + H2O

Ta có: mmuối = maxit + mNaOH – mH2O

= 5,48 + 0,06.40 – 0,06.18 = 6,8g

chọn D

1.5.1.2 Phương pháp bảo toàn điện tích

Vì trong dung dịch luôn trung hòa về điện nên một dung dịch tồn tại đồng thờicác cation và anion thì tổng điện tích dương bằng tổng điện tích âm hay tổng số molđiện tích dương bằng tổng số mol điện tích âm

Công thức biểu diễn định luật bảo toàn điện tích là:

n

∑ điện tích dương = ∑nđiện tích âmĐịnh luật bảo toàn điện tích thường áp dụng cho các bài toán về chất điện li để:– Tìm số mol, nồng độ các ion hoặc pH của dung dịch

– Xét sự tồn tại hay không tồn tại của một dung dịch

Ví dụ 1: Dung dịch X có chứa K+: 0,1 mol; Fe3+: 0,2 mol; NO 3−: 0,4 mol; SO24−: xmol Cô cạn dung dịch X thu được m gam muối khan Giá trị của m là

Giải

Theo ĐLBT điện tích: 0,1.1 + 0,2.3 = 0,4.1 + x.2

Trang 30

Theo ĐLBT điện tích: 0,12.3 + 2a.a = 0,24.2 + 2.a

⇒a = 0,06 mol

chọn C

1.5.1.3 Phương pháp bảo toàn nguyên tố

Đây là hệ quả của định luật bảo toàn khối lượng áp dụng cho một hoặc mộtvài nguyên tố mà không cần xét cả một hợp chất nên làm cho bài toán trở nên đơngiản hơn

Có thể phát biểu định luật bảo toàn nguyên tố như sau: “Khối lượng của mộtnguyên tố trước và sau phản ứng được bảo toàn”

Phương pháp này áp dụng hiệu quả trong các bài toán phức tạp và yêu cầutính toán chỉ liên quan đến một hoặc một vài nguyên tố nhất định Đây là phươngpháp khó áp dụng thành thạo đối với HS mặc dù cơ sở của nó không có gì phức tạp

Ví dụ 1: Hòa tan hỗn hợp gồm 0,2 mol Fe và 0,1 mol Fe2O3 vào dung dịch HCl dưđược dung dịch D Cho D tác dụng với dung dịch NaOH dư thu được kết tủa A.Nung A trong không khí đến khối lượng không đổi thu được m gam chất rắn Giá trịcủa m là

Trang 31

Fe2O3 D FeClFeCl23

Fe(OH)2Fe(OH)3 to Fe2O3HCl NaOH

Al

o NaOH NaAlO2 CO2 Al(OH)3

Trang 32

1.5.1.4 Phương pháp bảo toàn electron

Trong phản ứng oxi hoá-khử, tổng số (hoặc số mol) electron do chất khửnhường bằng tổng số (hoặc số mol) electron mà chất oxi hoá nhận

Phương pháp này tỏ ra hiệu quả, nhanh chóng khi giải quyết các bài tập vềphản ứng oxi hoá khử như: kim loại tác dụng với axit, kim loại tác dụng với dungdịch muối, kim loại tác dụng với oxi, điều chế kim loại bằng phương pháp nhiệtluyện

Mấu chốt quan trọng nhất là HS phải nhận định đúng trạng thái đầu và trạngthái cuối của các chất oxi hoá, chất khử, nhiều khi không cần quan tâm tới cân bằngphản ứng

Ví dụ 1: Nung 8,4 gam Fe trong không khí sau pư thu được m gam chất rắn X gồm

Fe, Fe2O3, FeO, Fe3O4 Hoà tan hết m gam chất rắn X vào dung dịch HNO3 dư được2.24 lít khí NO2 ở đktc là sản phẩm khử duy nhất Giá trị của m là

m

→ 2.

8, 4 16

m

N+5 + e →N+4

0,1 0,1

Trang 33

∑n e nhường = 0,45 ∑n e nhận = 2.

8, 4 16

=+

34.263046

5875.0

b a

b a

⇒ 

=

=05.0

54.0

b a

dd A + BaCl2 tạo ra kết tủa ⇒ dd A có SO24−

pt Ba2+ + SO24 −

 → BaSO4 ↓

Gọi x là số mol của FeS2 và MS

Quá trình oxi hoá Quá trình khử

FeS2 - 15 e → Fe3+ + 2S+6 N+5 + 3e → N+2

x → 15x 3a a

MS - 8 e → M2+ + S+6 N+5 + e → N+4

x → 8x b b

∑n e nhường = 15x + 8x ∑n e nhận = 3a+b = 0.69 mol

Theo định luật bảo toàn e: ∑n e nhường = ∑n e nhận ⇒ 23 x = 0,69 ⇒ x = 0,03

Mặt khác 120.0,03 + (M+32) 0,03 = 6,51 ⇒ M = 65 (Zn)

Trang 34

số mol SO24 −

= nZnS + 2nFeS2 = 0,03 + 2.0,03 = 0,09

⇒ m = 0,09 233 = 20,97 gam

chọn A

1.5.2 Phương pháp tăng giảm khối lượng

Phương pháp này chỉ quan tâm đến một chất trước phản ứng và một chất sauphản ứng để thấy rõ sự biến thiên khối lượng mol của hai chất này Sau đó đi tìmnguyên nhân dẫn đến biến thiên khối lượng (có thể do phản ứng sinh ra chất dễ bayhơi, kết tủa hoặc do biến đổi thành phần hoá học…) Từ biến thiên khối lượng vàbiến thiên khối lượng mol, ta tính được số mol của chất liên quan bằng công thức:Δm

n =

ΔM

Mấu chốt của phương pháp là:

– Xác định đúng mối quan hệ tỉ lệ mol giữa các chất đã biết (chất X) với chấtcần xác định (chất Y) (có thể không cần thiết phải viết phương trình phản ứng, màchỉ cần lập sơ đồ chuyển hóa giữa hai chất này, nhưng phải dựa vào ĐLBT nguyên

tố để xác định tỉ lệ mol giữa chúng)

– Xem xét khi chuyển từ chất X thành chất Y (hoặc ngược lại) thì khối lượngtăng lên hay giảm đi theo tỉ lệ phản ứng và theo đề cho

– Sau cùng, dựa vào quy tắc tam suất, lập phương trình toán học để giải

Ví dụ 1: Cho 2,46 gam hỗn hợp gồm HCOOH, CH3COOH, C6H5OH tác dụng vừa

đủ với 40ml dung dịch NaOH 1M Tổng khối lượng muối khan thu được sau phảnứng là

1 mol NaOH phản ứng, khối lượng muối tăng ∆m = 23 – 1 = 22g

⇒0,04 mol NaOH phản ứng, khối lượng muối tăng ∆m = 22.0,04 = 0,88g

Trang 35

⇒mmuối = mhỗn hợp + ∆m = 2,46 + 0,88 = 3,34g

chọn C

Ví dụ 2: Thực hiện phản ứng este hóa giữa 16,6g hỗn hợp 3 axit HCOOH,

CH3COOH và C2H5COOH với lượng dư C2H5OH, thu được 5,4g H2O Khối lượngeste thu được là

Giải

Gọi công thức chung của 3 axit là: RCOOH

RCOOH + C2H5OH ƒ RCOOC H2 5 + H2O

Nhận xét: 1 mol H2Otạo thành, khối lượng este tăng: ∆m = 29 – 1 = 28g

Với nH2O = 0,3 mol ⇒ ∆m = 28.0,3 = 8,4g

⇒meste = maxit + ∆m = 16,6 + 8,4 = 25,0g

chọn A

1.5.3 Phương pháp quy đổi

Quy đổi là một phương pháp biến đổi toán học nhằm đưa bài toán ban đầu là mộthỗn hợp phức tạp về dạng đơn giản hơn, qua đó làm cho các phép tính trở nên dễdàng, thuận tiện

Dù tiến hành quy đổi theo hướng nào thì cũng phải tuân thủ theo 2 nguyên tắc sau:– Bảo toàn nguyên tố, tức tổng số mol mỗi nguyên tố ở hỗn hợp đầu và hỗn hợpmới phải như nhau

– Bảo toàn số oxi hóa, tức tổng số oxi hóa của các nguyên tố trong hai hỗn hợp lànhư nhau

Một bài toán có thể có nhiều hướng quy đổi khác nhau, trong đó có 3 hướng chính:

Quy đổi hỗn hợp nhiều chất về hỗn hợp hai hoặc chỉ một chất

Ví dụ: với hỗn hợp các chất gồm: Fe, FeO, Fe3O4, Fe2O3 ta có thể chuyển thành các

tổ hợp sau: (Fe và FeO), (Fe và Fe3O4), (Fe và Fe2O3), nói chung là 2 chất bất kìhoặc có thể quy về FexOy

Rõ ràng, với cách quy đổi này bài toán đã được đơn giản hóa đi rất nhiều nhờ đó, cóthể giải một cách nhanh gọn hơn

Trang 36

Quy đổi hỗn hợp nhiều chất về các nguyên tử tương ứng

Thông thường ta gặp bài toán hỗn hợp nhiều chất nhưng về bản chất chỉ gồm 2 hoặc

3 nguyên tố Do đó, có thể quy đổi thẳng hỗn hợp đầu về hỗn hợp chỉ gồm 2 hoặc 3chất là các nguyên tử tương ứng

Ví dụ: (Fe, FeS, FeS2, Cu, CuS, Cu2S, S) →quy doi (Cu, Fe, S)

Quy đổi tác nhân oxi hóa trong phản ứng oxi hóa khử

Với những bài toán trải qua nhiều giai đoạn oxi hóa khác nhau bởi những chất oxihóa khác nhau, ta có thể quy đổi vai trò oxi hóa của chất oxi hóa này cho chất oxihóa kia để bài toán trở nên đơn giản hơn

Ví dụ 1: (Trích đề thi tuyển sinh ĐH CĐ Khối B- 2007) Nung m gam bột sắt trong

oxi thu đựơc 3 gam hỗn hợp chất rắn X Hoà tan hết hỗn hợp X trong dung dịchHNO3 dư thoát ra 0,56 lít NO (đktc) là sản phẩm khử duy nhất Giá trị m là

Trang 37

C2H6 C3H8

Giải hệ phương trình trên, ta được: x = 0,06 và y = 0,04

tử khối trung bình,…) để giải quyết vần đề một cách nhanh chóng, gọn gàng vàchính xác Phương pháp trung bình đặc biệt hiệu quả với các bài toán hữu cơ và bàitoán vô cơ có các chất thuộc cùng nhóm, có cùng hoá trị

Điểm mấu chốt của phương pháp là phải xác định đúng trị số trung bình liênquan trực tiếp đến việc giải toán Từ đó dựa vào dữ kiện đề bài tính được trị sốtrung bình và suy ra kết luận cần thiết

Ví dụ 1: Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp 2 hidrocacbon liên tiếp trong dãy đồng đẳngthu được 22,4 lít CO2(đktc) và 25,2g H2O Hai hidrocacbon đó là:

A C2H6 và C3H8 B C3H8 và C4H10

C C4H10 và C5H12 D C5H12 và C6H14

Giải

Suy luận: nH2O = 25,2 : 18 = 1,4 mol ; nCO2 = 1 mol

nH2O > nCO2 ⇒ 2 chất thuộc dãy ankan Gọi n là số nguyên tử C trung bình:

O2 → nCO2 + (n + 1)H2O

Trang 38

Nhận xét: các chất trong X đều có 4 nguyên tử C

Gọi công thức chung của X là C H4 y

⇒ y = 27,8.2 – 4.12 = 7,6

C4H7,6 2

O +

1.5.5 Phương pháp sử dụng đồ thị

Trên cơ sở các phản ứng hóa học, vẽ đồ thị mô tả mối quan hệ số mol giữachất phản ứng và chất cần xác định

Dựa vào đồ thị, xác định đại lượng (mol) mà đề bài yêu cầu

Ví dụ 1: (Trích câu 5 trang 119 tiết 39- 40 bài 26: kim loại kiềm thổ và hợp chất

của kim loại kiềm thổ SGK ban cơ bản).

Cho 2,8 gam CaO tác dụng với một lượng nước dư thu được đung dịch A.Sục 1,68 lít khí CO2 (đktc) vào dung dịch A

a Tính khối lượng kết tủa thu được

b Khi đun nóng dung dịch A thì khối lượng kết tủa thu được là bao nhiêu?

Giải

2 2

CO Ca

Trang 39

0,05 0.025

Khi sục khí CO2 vào dung dịch nước vôi trong Ca(OH)2 ta có cácphương trình phản ứng xãy ra:

CO2 + Ca(OH)2→ CaCO3↓ + H2O (1)2CO2 + Ca(OH)2→ Ca(HCO3)2 (2)

Khi đun nóng dung dịch ta có phương trình phản ứng xãy ra:

Ca(HCO3)2 →CaCO3↓ + CO2 + H2O (3)

Áp dụng phương phấp đồ thị ta có:

a Khối lượng kết tủa thu được là:

Dựa vào đồ thị ta có : nCaCO 3 = 0,025 mol

Trang 40

Ví dụ 2: (Trích đề thi tuyển sinh ĐH- CĐ - KB - 2007) Cho 200ml dung dịch

AlCl3 1,5M tác dụng với V lít dung dịch NaOH 0,5M, lượng kết tủa thu được là15,6 gam, giá trị lớn nhất của V lít là

Ngày đăng: 10/11/2018, 19:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Văn Biều (2003), Các phương pháp dạy học hiệu quả, Trường Đại học sư phạm TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp dạy học hiệu quả
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Năm: 2003
2. Trịnh Văn Biều (2005), Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học sư phạm TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Nhà XB: Đại học sư phạm TpHCM
Năm: 2005
3. Trần Thị Đà, Đặng Trần Phách (2007), Cơ sở lý thuyết các phản ứng hoá học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý thuyết các phản ứng hoá học
Tác giả: Trần Thị Đà, Đặng Trần Phách
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
4. Lê Trọng Tín (2001), Phương pháp dạy học môn hóa học ở trường phổ thông trung học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn hóa học ở trường phổ thôngtrung học
Tác giả: Lê Trọng Tín
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
5. Trịnh Văn Biều (2002), Lí luận dạy học hóa học, NXB Đại học sư phạm Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hóa học
Tác giả: Trịnh Văn Biều
Nhà XB: NXB Đại học sư phạmTp.HCM
Năm: 2002
6. Vũ Cao Đàm (2007), Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXBgiáo dục
Năm: 2007
7. Nguyễn Chí Linh, Nguyễn Xuân Trường (2009), “Rèn trí thông minh cho HS thông qua bài tập hoá học”, Hoá học và ứng dụng, 89(5), tr.2-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn trí thông minh cho HSthông qua bài tập hoá học”, "Hoá học và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Chí Linh, Nguyễn Xuân Trường
Năm: 2009
8. Quách Văn Long (2007), “Sử dụng phương pháp ion-electron để phát triển tư duy hoá học cho HS”, Hoá học và ứng dụng, 70(10), tr.5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phương pháp ion-electron để phát triển tư duy hoá học cho HS
Tác giả: Quách Văn Long
Nhà XB: Hoá học và ứng dụng
Năm: 2007
9. Vũ Khắc Ngọc (2009), “18 cách giải cho một bài toán hoá học”, Hoá học và ứng dụng, 87(3), tr.8-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 18 cách giải cho một bài toán hoá học
Tác giả: Vũ Khắc Ngọc
Nhà XB: Hoá học và ứng dụng
Năm: 2009
10. Trần Quốc Sơn, Đặng Văn Liếu, Nguyễn Văn Tòng (2007), Giáo trình cơ sớ hoá học hữu cơ tập 3, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cơ sớhoá học hữu cơ tập 3
Tác giả: Trần Quốc Sơn, Đặng Văn Liếu, Nguyễn Văn Tòng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
11. Trần Quốc Sơn (2008), Tài liệu giáo khoa chuyên hoá học 11-12, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giáo khoa chuyên hoá học 11-12
Tác giả: Trần Quốc Sơn
Nhà XB: NXB Giáodục
Năm: 2008
12. Nguyễn Đức Vận (2000), Hoá học vô cơ tập 2, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá học vô cơ tập 2
Tác giả: Nguyễn Đức Vận
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2000
13. Lê Phạm Thành (2007), “Giải nhanh bài toán hoá học bằng phương pháp sơ đồ đường chéo”, Hoá học và ứng dụng, 67(7), tr.3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải nhanh bài toán hoá học bằng phương pháp sơ đồđường chéo”, "Hoá học và ứng dụng
Tác giả: Lê Phạm Thành
Năm: 2007
14. Nguyễn Xuân Trường (2006), Sử dụng bài tập trong dạy học hóa học ở trường phổ thông, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bài tập trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2006
15. Lê Xuân Trọng, Nguyễn Hữu Đĩnh, Từ Vọng Nghi, Đỗ Đình Rãng, Cao Thị Thặng (2008), Hoá học 12 nâng cao, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá học 12 nâng cao
Tác giả: Lê Xuân Trọng, Nguyễn Hữu Đĩnh, Từ Vọng Nghi, Đỗ Đình Rãng, Cao Thị Thặng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
16. Nguyễn Xuân Trường (2002), Hoá học vui, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá học vui
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2002
17. Nguyễn Xuân Trường (2005), Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổthông
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
18. Nguyễn Xuân Trường (2006), “Dùng phương pháp quy đổi để tìm nhanh đáp số của bài toán hoá học”, Hoá học và ứng dụng, 52(4), tr.2-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dùng phương pháp quy đổi để tìm nhanh đáp sốcủa bài toán hoá học”, "Hoá học và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Năm: 2006
19. Nguyễn Xuân Trường (2006), “Rèn trí thông minh trong dạy học hoá học”, Hoá học và ứng dụng, 53(5), tr.3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn trí thông minh trong dạy học hoá học”, "Hoáhọc và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Năm: 2006
20. Nguyễn Xuân Trường, Từ Ngọc Ánh, Phạm Văn Hoan (2007), Bài tập hoá học 12, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập hoá học12
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường, Từ Ngọc Ánh, Phạm Văn Hoan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w