Văn hóa dân tộc Mường Phú Thọ: nghiên cứu và tổ chức ngoại kháo tìm hiểu về văn hóa dân tộc Mường Phú Thọ cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú: nguồn gốc, địa bàn cư trú, trang phục, ẩm thực, lễ hội...
Trang 1MỤC LỤC
NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI
KHÓA TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1 2 Lí luận chung về hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở
CHƯƠNG II MỘT SỐ NÉT VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG Ở PHÚ
THỌ, THỰC TRẠNG TỔ CHỨC NGOẠI KHÓA VÀ HIỂU BIẾT VỀ
VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG Ở TRƯỜNG PT DTNT TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Tổng quan về văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ 29
2.1.4 Bản sắc văn hóa của dân tộc Mường ở Phú Thọ 322.1.5 Lễ hội truyền thống của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ 352.1.6 Trang phục truyền thống của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ 40
2.2 Thực trạng tổ chức hoạt động ngoại khóa và tìm hiểu về văn hóa 46
Trang 2dân tộc Mường ở trường PT DTNT tỉnh Phú Thọ
2.2.1 Nội dung khảo sát
2.2.2 Kết quả khảo sát ở học sinh
2.2.2.1 Thực trạng về hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở
CHƯƠNG III BIỆN PHÁP GIÁO DỤC, TUYÊN TRUYỀN BẢN
SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐỐI VỚI HỌC SINH TRƯỜNG
PTDTNTTỈNH PHÚ THỌ VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
3.2 Xây dựng kế hoạch tuyên truyền tổ chức ngoại khóa về văn hóa dân
tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ
3.3 Thực nghiệm (tổ chức dạ hội)
50 53
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc là vấn đề sống còncủa mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc Bản sắc vănhóa dân tộc, giá trị truyền thống của các dân tộc là những vấn đề căn cốt nhất, nềntảng nhất làm nên nét riêng của mỗi dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa các dân tộc.Ngày 14/1/2011, Chính phủ đã ban hành nghị định số 05/2011/ND – CP về công tácdân tộc, trong đó đề cập đến chính sách phát triển giáo dục và đào tạo đối với các dân
tộc thiểu số, nghị định đã ghi: “Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường PTDTNT, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc” Ngày 27/7/2011, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”, đây là sự kiện quan trọng tiếp tục thể hiện chính sách của Đảng, Nhà
nước trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số ViệtNam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII [9]
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi có khá đông đồng bào dân tộc thiểu số sinhsống, trong đó có đồng bào dân tộc Mường Dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ là dântộc có số lượng dân cư đứng thứ hai dân tộc Kinh, có một vị trí quan trọng trong quátrình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Đặc biệt, dân tộc Mường là dân tộc
có truyền thống văn hóa rất đậm nét mà cho đến bây giờ vẫn duy trì được bản sắcvăn hóa độc đáo và đặc sắc góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho văn hóa tỉnhPhú Thọ nói riêng và văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung Tuy nhiên, không cónhiều người biết và hiểu được những nét văn hóa đặc sắc đó của dân tộc Mường ởPhú Thọ
Trường PTDTNT tỉnh Phú Thọ có nhiệm vụ đặc thù là nuôi dạy con em đồngbào các dân tộc thiểu số trong tỉnh, trong đó có con em đồng bào dân tộc Mường
Trang 4Hiện số học sinh người dân tộc Mường đang học tập tại trường có số lượng đôngnhất Bên cạnh các nội dung giáo dục khác, nhà trường rất quan tâm đến công tácgiáo dục giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc cho học sinh
Cùng với tất cả các môn học và các hoạt động ở trường phổ thông, việc dạy họclịch sử góp phần giáo dục thế hệ trẻ Chương trình Lịch sử ở trường phổ thông, ban
hành năm 2006, đã nêu rõ một yêu cầu trong mục tiêu của bộ môn là: “…góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” Có thể nói, đối với việc giữ gìn phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc nói chung và bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số, đặc biệt
là dân tộc Mường nói riêng, môn lịch sử rất có ưu thế Việc giáo dục tăng cường hiểubiết và giữ gìn những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc được tiến hành không chỉ trongcác giờ học chính khóa mà còn có thể thực hiện trong các hoạt động ngoại khóa Đốivới trường PTDTNT tỉnh Phú Thọ, đối tượng học sinh là con em đồng bào các dântộc ít người và phần lớn thời gian các em học tập sinh hoạt tại trường thì việc tổchức các hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử là rất phù hợp và cần thiết.Việc tiến hành các hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử nói riêng không chỉ
thực hiện nhiệm vụ giáo dục bộ môn mà còn hoàn thành “nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường” nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của
mỗi dân tộc Từ đó, tăng cường hiểu biết cho học sinh, tạo điều kiện cho các em trảinghiệm thực tế tham gia vào các hoạt động giữ gìn, bảo tồn và phát huy nét văn hóadân tộc, góp phần giáo dục tinh thần đoàn kết, sự bình đẳng giữa các dân tộc thôngqua văn hóa
Xuất phát từ những lí do trên và trên cơ sở phát triển đề tài năm trước “Nghiên cứu và tổ chức ngoại khóa tìm hiểu một số nét văn hóa dân tộc Dao ở Phú Thọ”,
trong năm học 2017- 2018, nhóm giáo viên lịch sử chúng tôi lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu và tổ chức ngoại khóa tìm hiểu một số nét văn hóa dân tộc Mường ở Phú Thọ”, làm hướng nghiên cứu cho báo cáo khoa học của mình.
Trang 52 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài gồm:
Một là, hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, trong
đó đi sâu tìm hiểu hoạt động ngoại khóa dưới hình thức dạ hội lịch sử ở trườngPTDTNT tỉnh Phú Thọ
Hai là, văn hóa của đông bào dân tộc Mường đang sinh sống trên địa bàn tỉnhPhú Thọ Trong đó, đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu lễ hội và trang phục truyềnthống, ẩm thực của người Mường ở Phú Thọ nhằm tiến hành tổ chức ngoại khóatìm hiểu văn hóa dân tộc Mường tại trường PTDTNT tỉnh Phú Thọ
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu lí luận về hoạt
động ngoại khóa trong dạy học lịch sử và tìm hiểu về văn hóa của dân tộc Mường
ở tỉnh Phú Thọ, cụ thể là nghiên cứu về lễ hội và trang phục, ẩm thực của dân tộcMường, sau đó tiến hành tổ chức ngoại khóa cho học sinh toàn trường
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Với giáo viên:
Bồi dưỡng kĩ năng tổ chức ngoại khóa, tổ chức các buổi hoạt động ngoài giờ lênlớp thiết thực nhằm giáo dục văn hóa, truyền thống dân tộc cho học sinh nội trú.Giúp các thầy cô giáo có thêm hiểu biết về những nét văn hóa của dân tộcMường
Ngoài việc nâng cao trình độ chuyên môn, đề tài còn nâng cao khả năng nghiêncứu khoa học của giáo viên phổ thông
Trang 6giữa các dân tộc thông qua văn hóa
Đề tài cũng góp phần tạo thêm sân chơi để thu hút và giáo dục học sinh vào cáchoạt động tập thể, hoạt động giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa củadân tộc mình
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phương pháp logic: Đi sâu nghiên cứu để tìm ra những nét đặc trưng, những nét
riêng mang đậm bản sắc trong những trang phục, lễ hội của dân tộc Mường ở tỉnhPhú Thọ Tìm hiểu về hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử
Phương pháp lịch sử: Tìm kiếm nguồn tư liệu một cách chính xác và đầy đủ nhất
có thể để mô tả lại những lễ hội đặc sắc, trang phục truyền thống của dân tộc Mường
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp chuyên gia: Chúng tôi rất quan tâm trao đổi với các chuyên gia
có kinh nghiệm, hiểu biết về văn hóa người Mường để thu thập ý kiến đánh giáchuyên sâu và những kinh nghiệm của họ đối với vấn đề nghiên cứu Phương phápcòn được dùng để đánh giá hiệu quả của các chuyên đề lịch sử đã đề xuất sau khi tổchức thực nghiệm, từ đó để điều chỉnh, bổ sung cho hoàn thiện
Phương pháp điền dã dân tộc học: Chúng tôi trực tiếp đến, tiếp cận với người
dân tộc Mường và quan sát, tìm hiểu về trang phục, lối sống và thu thập nhiều tàiliệu về văn hóa của người Mường ở tỉnh Phú Thọ Bên cạnh đó tiến hành phỏngvấn, thu thập thông tin đa chiều
Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: Dựa trên cơ sở thu thập những tài
liệu dưới dạng số liệu, ghi chép, hình vẽ, ảnh, các báo cáo, các văn bản và nguồntài liệu ở trung ương và địa phương, chúng tôi đi sâu phân tích để làm cơ sở nghiêncứu và tổ chức ngày hội văn hóa dân tộc Mường Đồng thời, tiến hành so sánh các tàiliệu, các kết quả nghiên cứu để thấy được độ tin cậy, sự biến đổi Sau đó áp dụngphương pháp tổng hợp để có những nhận định, đánh giá và luận điểm phù hợp với
Trang 7những kết quả nghiên cứu đã đạt được.
Phương pháp điều tra: Thu thập, xử lí thông tin, tài liệu liên quan đến vấn đề
Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên khảo về lĩnh vực văn hóa mà đặc biệt là
về trang phục và lễ hội, ẩm thực của người Mường ở tỉnh Phú Thọ
Đề tài cung cấp một cách có hệ thống các tư liệu về một số khía cạnh văn hóangười Mường ở tỉnh Phú Thọ là trang phục và lễ hội
Giúp giáo viên có thêm kiến thức về văn hóa dân tộc Mường đang sinh sốngtrên địa bàn tỉnh Phú Thọ phục vụ cho quá trình giáo dục học sinh ở trường
Học sinh được tìm hiểu và trải nghiệm những nét văn hóa đặc sắc của dân tộcMường, qua đó giáo dục các em ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát triển văn hóa dântộc Mường nói riêng và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số nói chung
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung đề tàiđược cấu trúc thành ba chương:
Chương I Cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử
ở trường phổ thông
Chương II Một số nét văn hóa dân tộc Mường ở Phú Thọ, thực trạng tổ chứcngoại khóa và hiểu biết về văn hóa dân tộc Mường ở trường PTDTNT tỉnh PhúThọ
Trang 8Chương III Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức ngoại khóa tuyên truyền và tìmhiểu một số nét văn hóa dân tộc Mường ở Phú Thọ.
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Hoạt động ngoại khóa là một hình thức dạy học có thể giúp học sinh có kết quảcao hơn trong học tập và góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em Chính vì vậy,hoạt động ngoại khóa đã được chú trọng nghiên cứu và thực hiện ở nhiều nước trênthế giới Thậm chí, nền giáo dục của nhiều nước còn chủ trương giảm thời lượngcác giờ lên lớp và tăng cường các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạtđộng ngoại khóa
Trên thế giới, hoạt động ngoại khoá rất được coi trọng ở nhà trường phổ thông
Tác giả N.G Đairi trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học”,
NXB Giáo dục, Matxcơva, 1978 (tài liệu dịch) tác giả đã nhấn mạnh nhiều đến
“hoạt động ngoài lớp” trong môn lịch sử ở trường phổ thông và cho đó như là một
phần không thể thiếu trong dạy học lịch sử [19] Đồng thời, tác giả đề xuất một sốnội dung cơ bản cũng như hình thức tổ chức của hoạt động này
Ở nước ta, từ những năm 1960, khi xây dựng chương trình giáo dục, Bộ Giáo
dục đã xác định rõ: “Muốn thực hiện giáo dục và giáo dưỡng trong các môn học đạt kết quả đầy đủ thì ở nhà trường cần tổ chức ngoại khóa Công tác ngoại khóa
bổ sung và nâng cao chất lượng của nội khóa lên một bước”.
Trong dạy học lịch sử, cũng như các bộ môn khác ở trường phổ thông, ngoàiviệc tiến hành bài học nội khóa – hình thức dạy học cơ bản, còn có các hoạt độngngoại khóa Hoạt động ngoại khóa có tác dụng tích cực đối với việc giáo dưỡng,giáo dục và phát triển toàn diện học sinh, góp phần quan trọng, cùng với các bài lênlớp, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của bộ môn
Trang 10Trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” của tác giả Phan Ngọc Liên và Trần
Văn Trị, NXBGD, 2004 đã nói rất rõ về vị trí, tác dụng cũng như các hình thức vàcách thức tổ chức các hoạt động ngoại khóa và ngoại khoá môn lịch sử Các tác giảcũng nhấn mạnh đến vai trò của giáo viên trong việc tổ chức, lãnh đạo để học sinh
tự lĩnh hội tri thức thông qua các hình thức hoạt động ngoại khóa
Các tác giả Phan Ngọc Liên – Nguyễn Thị Côi – Trịnh Đình Tùng trong cuốn
“Phương pháp dạy học lịch sử, tập II” do NXB ĐHSP xuất bản năm 2009, đã nêu
lên một số vấn đề khái quát về việc tổ chức ngoại khóa Trong đó, các tác giả phântích rõ dạ hội lịch sử là một hoạt động ngoại khóa mang tính chất tổng hợp, thu húttất cả học sinh trong lớp, trường tham dự Tác phẩm nhấn mạnh, dạ hội lịch sử cótác dụng củng cố, làm sâu sắc, phong phú thêm nhiều tri thức khoa học và nghệthuật, gợi dậy những cảm xúc làm cơ sở để giáo dục tình cảm, bồi dưỡng óc thẩm
mĩ, gây hứng thú học tập bộ môn Việc sử dụng những tư liệu lịch sử, nghiên cứucách trình bày, tái hiện lại những nét văn hóa, lịch sử… không chỉ làm phong phúkiến thức mà còn rèn luyện khả năng độc lập làm việc, bồi dưỡng năng khiếu biểudiễn và cảm thụ nghệ thuật… cho học sinh
Trong cuốn “Các con đường,biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử trường phổ thông” của GS.TS Nguyễn Thị Côi, đã đề cập tới việc tổ chức ngoại khóa
dạ hội lịch sử, tổ chức tham quan học tập ở nhà bảo tàng lịch sử, cách mạng, nhàtruyền thống, di tích lịch sử Tác giả đã đưa ra ví dụ minh chứng liên quan như tiếntrình tổ chức một buổi dạ hội lịch sử để làm minh họa
Trong cuốn “Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” của các tác giả
Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn Mạnh Hưởng, Đoàn Văn
Hưng, Nguyễn Thị Thế Bình, NXBĐHSP, 2009, đã nhấn mạnh “việc rèn luyện năng lực tổ chức hoạt động ngoại khoá và công tác công ích xã hội sẽ góp phần đắc lực vào thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, gắn liền nhà trường với đời sống xã hội Tiến hành những hoạt động này giúp chúng ta thực hiện được mục đích của việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông là giúp học sinh hiểu rõ quá khứ, hiểu sâu sắc
Trang 11hiện tại và tiên đoán tương lai, hành động thực tiễn Chính vì vậy, đây là công việc cần thiết mà học sinh phải tham gia tích cực, giáo viên phải tổ chức thực hiện tốt…”
Vấn đề tổ chức hoạt động ngoại khoá còn đề cập một phần trong nhiều đề tài
khoa học và các tạp chí như: “Tổ chức một số trò chơi trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 ở lớp 9 THCS” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Duyên - Đại
học Vinh và các bài viết bàn về Hoạt động ngoại khoá trên Tạp chí Giáo dục như:
“Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thành - THPT dân lập Bình Minh - Hà Tây; “Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT” của tác giả Bùi Ngọc Diệp - Viện chiến lược và chương trình Giáo dục; “Tổ chức dạ hội lịch sử về Hồ Chí Minh cho học sinh với sự hỗ trợ của phần mềm Powerpoint” của PGS.TS Nguyễn Thị Côi - Đại học Sư phạm Hà Nội và Đoàn Văn
Hưng - Đại học Quy Nhơn Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 6, 1994; Số 1, 1996;Tạp chí xưa và nay, số 26, 1996; Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 3; số 4, 1998 các đềtài khoa học và các tạp chí nghiên cứu trên một lần nữa làm phong phú thêm nhữngvấn đề về lý luận và thực tiễn của hoạt động ngoại khoá
Bên cạnh đó, về vấn đề văn hóa truyền thống của dân tộc Mường nói chung và văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ nói riêng cũng được đề cập đến trong các công
trình nghiên cứu khá toàn diện về người Mường ở Việt Nam như Người Mường ở Việt Nam do tác giả Bùi Tuyết Mai (chủ biên 1999 Ở công trình nghiên cứu này,
lần đầu tiên diện mạo dân tộc Mường được trình bày khá toàn diện cả về lịch sử,
kinh tế, xã hội, văn hóa…; Cuốn Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam của Hoàng Lương (2002) đã đề cập và phân tích rất rõ về đặc
điểm lễ hội truyền thống của dân tộc Mường
Nghiên cứu cụ thể về người Mường ở Phú Thọ có các công trình, bài viết: Văn hóa các dân tộc thiểu số tỉnh Phú Thọ, của Ban dân tộc và miền núi tỉnh Phú Thọ (2010), hay : Người Mường trên đất tổ Hùng Vương (2001), Nxb Văn hóa- Thông
tin, Hà Nội Nhìn chung các công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số
Trang 12nói chung và văn hóa dân tộc Mường nói riêng có khá nhiều Tuy nhiên, phần lớncác công trình nghiên cứu đều hướng đền việc tìm hiểu về bản sắc văn hóa các dântộc thiểu số từ ngôn ngữ, trang phục, lễ hội, phong tục, tập quán…
Có thể nói, tổ chức hoạt động ngoại khoá có vai trò rất quan trọng trong dạyhọc lịch sử ở nhà trường phổ thông, mặc dù các tác giả đã thừa nhận điều đó nhưng
đề cập vấn đề này còn chung chung, chưa đi sâu nghiên cứu ứng dụng trong thực tếdạy học kết hợp vận dụng linh hoạt ngoại khoá bộ môn gắn với việc giữ gìn, bảotồn và phát huy những nét văn hóa dân tộc thiểu số Đặc biệt, chưa phát hiện côngtrình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến việc nghiên cứu và tổ chức hoạt độngngoại khoá tìm hiểu về văn hóa dân tộc Mường ở Phú Thọ Vì vậy, đề tài được thựchiện với mong muốn tìm hiểu những nét đặc sắc trong văn hóa của dân tộc Mường
ở Phú Thọ để nghiên cứu và tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học sinh trườngPTDTNT, nhằm phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn lịch sử tại trường, giúp chohọc sinh có thêm hiểu biết về văn hóa dân tộc Mường, tăng cường tình đoàn kết,gắn bó giữa các dân tộc thông qua văn hóa
1 2 Lí luận chung về hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.2.1 Khái niệm
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, hoạt động ngoại khóa (hoạt động giáo dục ngoàigiờ lên lớp) là các hoạt động nằm ngoài chương trình học chính khóa, thường mangtính chất tự nguyện hơn là bắt buộc Học sinh có thể tham gia hoạt động ngoại khóa
ở lớp, ở trường hoặc ngoài xã hội với rất nhiều lựa chọn khác nhau: Thể thao, vănhóa, nghệ thuật, tình nguyện, tổ chức… Hoạt động ngoại khóa là một trong nhữngmảng hoạt động giáo dục quan trọng ở nhà trường phổ thông Hoạt động ngoạikhóa đóng một vai trò quan trọng trong việc bổ sung các kĩ năng và kinh nghiệmsống cho học sinh, giúp học sinh trở thành một con người toàn diện [15; 107] Như vậy, hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử không nằm ngoài mụcđích nâng cao hiệu quả giáo dục, tạo hứng thú cho học sinh trong khi học lịch sử
Trang 13Việc tiếp xúc trực tiếp với các di vật lịch sử, tham quan tại các địa danh lịch sử, gặp
gỡ nói chuyện với các nhân chứng lịch sử…làm cho lịch sử gần hơn với học sinh
1.2.2 Ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử
Nhiệm vụ của hoạt động ngoại khóa mang tính tổng hợp, làm sâu sắc và phong
phú kiến thức của học sinh về các mặt khác nhau của cuộc sống xã hội, góp phầngây hứng thú trong học tập lịch sử
Điều quan trọng là hoạt động ngoại khóa giáo dục cho học sinh ý thức trách nhiệm, ý thức lao động và tinh thần tập thể Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục lịch sử
cho rằng, hoạt động ngoại khóa có hai đặc điểm nổi bật: Tính tự nguyện và sự pháttriển nhận thức tích cực, độc lập, năng khiếu của học sinh trong lĩnh vực lịch sử.Điều này góp phần định hướng nghề nghiệp cho các em sau này
Hoạt động ngoại khóa còn có tác dụng giáo dục lớn đối với học sinh Tronghoạt động ngoại khóa, những cá tính, phẩm chất, ý thức khuynh hướng của học sinhbộc lộ rõ nét Bởi vì những hoạt động ngoại khóa trong học tập lịch sử ở trường phổthông được thực hiện phù hợp với những đặc điểm tâm lí lứa tuổi, trình độ của họcsinh, với nhiều hình thức phong phú, bổ ích Những hình thức này được tiến hành
với các loại: trò chơi, các câu đố lịch sử, “đóng vai”, diễn các câu chuyện lịch sử,
sân khấu hóa…và ở mức độ cao hơn như tự tìm tòi, nghiên cứu, thu thập, xử lí tàiliệu lịch sử, viết các câu chuyện, báo cáo nhỏ về một chủ đề lịch sử… Những côngviệc này giúp học sinh tiếp xúc với nhiều tài liệu, hiện vật lịch sử, đây là điều kiệnthuận lợi để giáo dục học sinh thế giới quan đúng đắn
Mặt khác, hoạt động ngoại khóa còn góp phần phát triển năng lực của học sinh,đặc biệt là kĩ năng thực hành và tư duy của học sinh Nếu như bài học nội khóa làhình thức bắt buộc của việc học tập, tuân thủ nghiêm ngặt chương trình đã quy định
về thời gian, nội dung… thì hoạt động ngoại khóa lại mở ra một khả năng rộng lớn
về hình thành các thói quen, kĩ năng về trí tuệ và thực hành cho học sinh trong họctập lịch sử Các em có thể lựa chọn và tham gia một công tác hợp với trình độ và sởthích của mình Tính chất tự nguyện trong việc tham gia các hoạt động ngoại khóa đã
Trang 14phát huy năng lực nhận thức độc lập, làm nảy sinh và phát triển hứng thú của họcsinh Nhờ vậy, những kết quả học tập các bộ môn khác có liên quan (Ngữ văn, Địa lí,Giáo dục công dân…) cũng tốt hơn Ví dụ khi tiến hành một buổi dạ hội lịch sử,những em có năng khiếu có thể tự lựa chọn một hình thức nào phù hợp với khả năngcủa mình để tham gia (các em có giọng đọc hay có thể đọc thơ, đọc diễn cảm, em cónăng khiếu kẻ, vẽ thì trang trí hội trường, báo ảnh, báo tường, các em có khả năng cahát thì chọn bài phù hợp để trình bày) Việc học sinh tham gia tùy theo năng lực sẽgóp phần tạo hứng thú, phát triển các năng lực hoạt động nhận thức độc lập của cácem.
Nội dung và hình thức tiến hành hoạt động ngoại khóa rộng hơn giờ nội khóanên việc thực hiện có hiệu quả sẽ góp phần làm tốt việc liên hệ kiến thức quá khứvới hiện tại, hoàn thành những công tác công ích xã hội
Cùng với các môn học, các hoạt động ngoại khóa môn lịch sử phát huy tác dụngtrung tâm văn hóa, trung tâm khoa học – kĩ thuật của nhà trường đối với địaphương, tạo cơ sở để gắn nhà trường với đời sống xã hội Đây cũng là một hình
thức “xã hội hóa sự nghiệp giáo dục”, như Luật Giáo dục quy định: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục” (Luật giáo dục) trang 14.
Với những ý nghĩa trên, giáo viên lịch sử cần nhận thức rõ tầm quan trọng vànắm chắc nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành để thực hiện có hiệu quả cáchoạt động ngoại khóa Điều quan trọng là phải khắc phục những quan niệm khôngđúng của giáo viên, học sinh, các cấp, cơ quan có liên quan để tổ chức tốt và có kếtquả hoạt động ngoại khóa
1.2.3 Nội dung của hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử
Nội dung của hoạt động ngoại khóa trước hết do nhiệm vụ chung của trườngphổ thông quy định: đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động có ý thức làmchủ, có tri thức, thành thạo nghề nghiệp, có thái độ lao động tích cực, sáng tạo Vì
Trang 15vậy khi lựa chọn ngoại khóa, phải thể hiện được tính cấp thiết, phản ánh những sựkiện quan trọng trong lịch sử quá khứ và hiện tại trên thế giới và trong nước, giúphọc sinh tiếp tục hoàn thiện kiến thức, củng cố niềm tin và khả năng hoạt động thựctế.
Do hoạt động ngoại khóa mang tính chất tự nguyện, nên nội dung và hình thứctiến hành cần phải linh hoạt theo hai hướng chính:
Thứ nhất, làm phong phú, sâu sắc những kiến thức lịch sử mà học sinh đã thu
thập trong nội khóa, nhất là những vấn đề cơ bản của khóa trình lịch sử, đó là:
Những sự kiện lớn tiêu biểu, trở thành những kiến thức cơ bản của khóa trình
Ví dụ: Cách mạng Pháp 1789, Công xã Pari 1871, cách mạng tháng Mười Nga
1917, cách mạng tháng Tám 1945, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954…
Cuộc đời và sự nghiệp các nhân vật lịch sử phản ánh sự phát triển của xã hôị
Ví dụ cuộc đời và sự nghiệp của Mác, Anghen, Lênin, Hồ Chí Minh, Võ NguyênGiáp…
Những thành tựu lớn về văn hóa, khoa học, văn học, nghệ thuật, về lao động sảnxuất…
Thứ hai, những vấn đề về lịch sử địa phương và công tác công ích xã hội:
Trong trường hợp tiến hành bài học tại thực địa thì việc giảng dạy nội khóa cầnkết hợp với những hoạt động ngoại khóa Song cũng có thể tổ chức các hoạt độngngoại khóa dựa vào tài liệu lịch sử địa phương để làm phong phú bài học lịch sửdân tộc, khơi dậy lòng tự hào, yêu quê hương
Những công tác công ích xã hội nhằm vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễncuộc sống, và thực tiễn lại làm phong phú, củng cố kiến thức đã học
Nội dung các hoạt động ngoại khóa theo hai hướng trên không chỉ có tác dụngthiết thực trong việc củng cố bổ sung kiến thức, giáo dục tư tưởng chính trị, phẩmchất đạo đức, mà còn hình thành ở học sinh ý thức công dân, góp phần giáo dục
Trang 16thẩm mĩ, thế giới quan khoa học, rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn và tham giacông tác công ích xã hội.
Nội dung được xác định như trên mang tính định hướng, giúp chúng ta khaithác các hình thức phong phú của công tác ngoại khóa lịch sử, để xác định đúng cáchình thức tổ chức và cách tiến hành có hiệu quả cao
1.2.4 Các hình thức tổ chức ngoại khóa trong dạy học lịch sử
Có nhiều hình thức hoạt động ngoại khóa khác nhau, tùy thuộc ở mục đích tổchức, quy mô tổ chức, trình độ học sinh và thời gian tiến hành Hình thức tổ chức
có thể mang tính quần chúng đông đảo (cả khối lớp, toàn trường), một tập thể nhỏ(từng lớp, thậm chí một tổ học tập, những học sinh khác lớp…) hay cá nhân (chuẩn
bị tiến hành trước đông người)
Việc thực hiện các hình thức tổ chức này phụ thuộc vào nhiều điều kiện (hoàncảnh của địa phương nhà trường, lớp học, khả năng học sinh và giáo viên, yêu cầuchính trị xã hội của cả nước hay địa phương…) Vai trò của nhà trường, giáo viên
bộ môn rất quan trọng, nhưng việc phát huy tính tích cực, năng lực chủ động sángtạo của học sinh là điều không thể thiếu được
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ giới thiệu một số hình thức hoạt độngngoại khóa cơ bản phổ biến thích hợp với điều kiện trường phổ thông hiện nay
1.2.4.1 Đọc sách
Đọc sách là nhằm cung cấp thêm kiến thức cho học sinh trong giờ nội khóa,
song chủ yếu trong hoạt động ngoại khóa Nó góp phần rèn luyện cho học sinh vềmặt tư tưởng, phẩm chất đạo đức, kỹ năng, thói quen hứng thú và phương pháp làmviệc với sách Đó là hình thức đơn giản, dễ làm song lại có hiệu quả cao về mặtgiáo dưỡng, giáo dục và phát triển Trong công việc này, cần khắc phục những quanniệm không đúng, thường có trong học sinh như thích đọc tiểu thuyết võ hiệp lịch
sử, tài liệu gốc, bị thu hút vào những chi tiết li kì hấp dẫn mà không chú ý đếnnhững kiến thức khoa học Trước tiên, giáo viên giúp học sinh lập danh mục sách
Trang 17cần đọc cho mỗi khóa trình trong năm học Trong danh mục nên quy định nhữngloại sách cần đọc và loại sách đọc thêm nếu có thời gian.
Tiếp đó, để khơi dậy tính tích cực, hứng thú, sự hiếu kì và lòng ham hiểu biếtcái mới của học sinh, giáo viên tóm tắt sơ lược nội dung của một cuốn sách Cáchgiới thiệu đặc biệt có hiệu quả, là dẫn ra một vài chi tiết, những đoạn nhỏ hấp dẫn
để khơi dậy ở học sinh hứng thú tìm đọc tiếp
Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh gặp các tác giả sách, những nhà nghiêncứu để họ trình bày cảm nghĩ, quá trình biên soạn của mình, giới thiệu những vấn
đề hay, lý thú trong nội dung cuốn sách Trong buổi gặp gỡ, học sinh có thể phátbiểu ý kiến, nêu thắc mắc, trao đổi Đây là hình thức có tác dụng giáo dục và gâyhứng thú đọc sách cho học sinh, song khó tổ chức
Hình thức phổ biến nhất là học sinh tổ chức các buổi sinh hoạt với sự giúp đỡ,chỉ đạo của giáo viên Các em trình bày những hiểu biết của mình về tác giả, vềsách, phát biểu cảm nghĩ, kể lại nội dung hoặc trích đọc, dẫn ra những đoạn hay, ýđẹp trong sách…Ở đây, việc nhận thức lịch sử đan xen vói những cảm thụ văn học
Trong một tác phẩm văn học, ký, hồi ức lịch sử, học sinh khó phân biệt “lịch sử bắt đầu từ đâu và văn học kết thúc chỗ nào” Vì vậy, học sinh say mê, hứng thú đọc các
loại hồi ký cách mạng, truyện danh nhân lịch sử…
Giáo viên cần xây dựng cho học sinh nền nếp, thói quen khi đọc sách ở nhàphải có chủ đích, có hiệu quả, tránh tùy tiện
1.2.4.2 Kể chuyện lịch sử
Đây là hình thức ngoại khóa hấp dẫn, dễ làm và có tác dụng giáo dục cao Nộidung kể chuyện lịch sử là việc phổ biến kiến thức lịch sử một cách khoa học, chứkhông phải những chuyện hư cấu Do đó, nội dung câu chuyện kể phải có chủ đề vềmột sự kiện, một nhân vật lịch sử dựa vào một tài liệu chính xác Có nhiều cách kểchuyện: kể lại nội dung một cuốn sách hay đã đọc, một câu chuyện được ghi chép tàiliệu, hay của chính người tham gia, chứng kiến sự kiện thuật lại
Trang 18Nội dung câu chuyện phải liên quan đến các sự kiện cơ bản trong bài học, chânxác, tránh li kì không có giá trị khoa học, không phù hợp với yêu cầu học tập.
Kể chuyện phải làm cho người nghe xúc động, như được sống lại sự kiện ấy,
như câu chuyện các nhân chứng lịch sử hay việc trình bày của học sinh đã “nhập thân” với sự kiện.
Nội dung bài kể chuyện không chỉ có khối lượng sự kiện, tri thức được cungcấp, mà còn bao gồm cả việc phân tích, nêu lên bản chất sự vật, hiện tượng Nếulogíc của câu chuyện kể được xây dựng trên cơ sở những sự kiện, tri thức chính xácthì nó có ý nghĩa giáo dục rất lớn Thông thường một câu chuyện kể bao gồmnhững yếu tố sau đây:
- Giới thiệu vấn đề
- Tình huống đặt ra
- Diễn biến sự kiện
- Câu chuyện kết thúc
- Sự phát triển của tình tiết đến cao độ
Một câu chuyện được bố cục như vậy mang kịch tính cao, dẫn dắt người nghequa các sự kiện, làm cho họ ngày càng hứng thú (kể cả căng thẳng và suy nghĩ).Người nghe hứng thú lắng nghe không phải chỉ vì được cung cấp các sự kiện, chitiết hay, hấp dẫn mà còn vì nội dung của câu chuyện có sức giáo dục mạnh mẽ
1.2.4.3 Nói chuyện lịch sử:
Nói chuyện lịch sử có nội dung, yêu cầu cao hơn kể chuyện lịch sử Kể chuyệnchủ yếu là việc trình bày các sự kiện cụ thể nâng lên trình độ tư duy khái quát, cònnói chuyên lịch sử chủ yếu là làm cho người nghe nhận thức một cách khái quát,được minh họa, dẫn chứng bằng các sự kiện cụ thể theo một chủ đề nào đấy Ví dụ,
kể chuyện về một cuộc đấu tranh chính trị của “Đội quân tóc dài” với nhiều tài
liệu- sự kiện cụ thể làm người nghe như được chứng kiến sự kiện này
Trang 19Nói chuyện lịch sử phải có chủ đề rõ ràng, chủ đề phải phù hợp với nội dungchương trình nội khóa, với nhiệm vụ chính trị trước mắt Vì vậy, nói chuyện lịch sửkhông thể tổ chức thường xuyên và ở bất cứ nơi nào như kể chuyện lịch sử Nóthường được tổ chức nhân ngày kỉ niệm một sự kiện lịch sử quan trọng, một danhnhân, lãnh tụ cách mạng…, những đợt sinh hoạt chính trị, bồi dưỡng về văn hóa,nghiên cứu lịch sử địa phương Người nói chuyện phải là người am hiểu sâu sắcvấn đề trình bày Do đó, người nói chuyện thường là giáo viên, cán bộ nghiên cứu,cán bộ giảng dạy ở các trường đại học, cán bộ làm công tác tuyên huấn Trong một
số trường hợp đặc biệt, giáo viên có thể bồi dưỡng cho một học sinh giỏi để nóichuyện lịch sử với lớp, hay một học sinh lớp trên nói chuyện với các học sinh lớpdưới
1.2.4.4 Trao đổi, thảo luận
Đây là hình thức ngoại khóa nhằm giúp học sinh bày tỏ ý kiến của mình đểcủng cố kiến thức đã học, lòng tin sau khi đọc một quyển sách, nghe kể chuyện, nóichuyện lịch sử, hoặc suy nghi về một vấn đề nào đấy Có nhiều cách tiến hành traođổi thảo luận Trước hết, có thể tổ chức trao đổi thảo luận trong phạm vi lớp Đốivới học sinh THPT, những cuộc trao đổi thảo luận không chỉ để ghi nhớ nội dungmột vấn đề, mà chủ yếu là khơi dậy những suy nghĩ độc lập của các em Chủ đề nêu
ra là những vấn đề cơ bản có tính chất tổng hợp, khái quát, những vấn đề mà nhiềungười quan tâm, có liên quan đến cuộc sống hiện tại
Trong quá trình trao đổi, giáo viên cần động viên các em đề xuất và giải quyếtvấn đề theo suy nghĩ độc lập của mình, đồng thời cũng khiêm tốn học tập và tôntrọng ý kiến của bạn Giáo viên theo dõi, kịp thời bổ sung những thiếu sót, uốn nắncác lệch lạc; khi kết thúc thảo luận có nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm
1.2.4.5 Dạ hội lịch sử
Dạ hội lịch sử là một hoạt động ngoại khóa có tính chất tổng hợp, thu hút tất cảhọc sinh trong lớp, trường tham dự
Trang 20Lực lượng tham gia dạ hội lịch sử thường có hai nhóm, một số ít học sinh thamgia biểu diễn và đông đảo học sinh khác là khán giả Đối với cả hai nhóm, dạ hộilịch sử có tác dụng củng cố, làm sâu sắc, phong phú thêm nhiều tri thức khoa học
và nghệ thuật, gợi dậy những xúc cảm làm cơ sở để giáo dục tình cảm bồi dưỡng ócthẩm mĩ, gây hứng thú học tập bộ môn Việc sử dụng tư liệu lịch sử, phân tích cáctác phẩm văn học, nghiên cứu cách trình bày, thể hiện nội dung các tác phẩm vănhọc, lịch sử sân khấu…những bài nói chuyện lịch sử, những tiết mục văn nghệ…không chỉ làm phong phú kiến thức, mà còn rèn luyện khả năng độc lập làm việc,bồi dưỡng năng khiếu biểu diễn và cảm thụ nghệ thuật… cho học sinh
Chủ đề của dạ hội lịch sử rất phong phú: về lịch sử địa phương; về các vấn đềcuộc sống hiện nay trên thế giới và trong nước như đấu tranh giữ gìn hoà bình thếgiới, thành tựu phát triển khoa học kĩ thuật, các vấn đề văn hóa, xã hội…; các sựkiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu được tổ chức kỉ niệm trong năm
Muốn tiến hành dạ hội lịch sử theo các chủ đề như trên có hiệu quả, phải thựchiện các yêu cầu:
Thứ nhất, dạ hội phải có mục đích giáo dưỡng, giáo dục và phát triển rõ rệt,nghĩa là phải phù hợp với chương trình, trình độ và yêu cầu học tập của học sinh.Thông qua dạ hội lịch sử, các em phải được bồi dưỡng về lòng tin đối với cáchmạng, với quần chúng nhân dân, thắt chặt hơn tình đoàn kết và củng cố thái độ họctập đúng đắn, rèn luyện năng lực tư duy và hành động
Thứ hai, dạ hội phải thu hút đông đảo học sinh tham gia, phải phát huy năng lựcđộc lập, tính tích cực chủ động hoạt động và tinh thần tập thể của các em Dĩ nhiên,việc phân công phải tùy theo yêu cầu, tính chất của công việc, khả năng, trình độcủa học sinh
Thứ ba, cần có kế hoạch chuẩn bị công phu Ngay từ đầu năm học, giáo viênxây dựng kế hoạch, tranh thủ ý kiến, sự ủng hộ hợp tác của giáo viên bộ môn, củahội đồng nhà trường và đoàn thanh niên Việc lựa chọn học sinh để luyện tập cáctiết mục không được làm ảnh hưởng tới học tập và các công việc khác
Trang 21Thứ tư, linh hoạt và đa dạng hóa hình thức tổ chức sao cho gọn nhẹ, ít công sức
và kinh phí mà hiệu quả lại cao (đối với nhà trường và ảnh hưởng với địa phương).Tái tạo bức tranh lịch sử, gợi dậy không khí lịch sử có tác dụng giáo dục lànhững yêu cầu quan trọng của một buổi dạ hội Vì vậy, ngoài các tiết mục vănnghệ, cần thiết tổ chức triển lãm, trang trí nhằm gây hứng thú cho người dự, làmsao cho họ cảm thấy như mình đang sống, hay tham gia, chứng kiến sự kiện đã xảy
ra Triển lãm gồm tranh ảnh, áp phích, minh họa, sách báo, các hiện vật, hay môhình phục chế…có liên quan đến chủ đề dạ hội, được trưng bày ở một góc hộitrường, trên đường vào hội trường, hoặc hai bên sân khấu
Ý nghĩa giáo dục của buổi dạ hội sẽ tăng lên nếu trong buổi dạ hội có sự tham
gia của những “nhân chứng” của sự kiện: anh hùng, chiến sĩ cách mạng, những
người thân trong gia đình nhân vật lịch sử…
Nội dung, hình thức dạ hội lịch sử phải phong phú, đa dạng, sinh động, hấp dẫn
và có sức thu hút đông đảo giáo viên, học sinh tham gia Ngày nay với việc hỗ trợcủa các thiết bị nghe nhìn, trong đó có phần mềm trình diễn Power Point cùng vớimáy tính và đèn chiếu projecter có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức dạ hộilịch sử
Dạ hội lịch sử được tiến hành vào buổi tối, có thể ở trong lớp học, hội trường hayngoài sân bãi Ánh sáng đèn của sân khấu kết hợp hài hoà với màn hình đèn chiếuprojecter với những hình ảnh tĩnh, động, màu sắc, âm thanh cùng với các hiệu ứng đadạng của phần mềm Power Point góp phần tái tạo bức tranh quá khứ và đem lại khôngkhí lịch sử thật sự Đây là một trong những yêu cầu quan trọng của dạ hội lịch sử
Tổ chức tốt dạ hội lịch sử không chỉ có tác dụng đối với học sinh trong trường
mà còn ảnh hưởng lớn tới nhân dân địa phương Nó là một biện pháp hiệu quả gắnnhà trường với xã hội
Tóm tại, việc tổ chức hoạt động ngoại khoá môn lịch sử là một trong nhữngbiện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng dạy học của bộ môn lịch sử ở trường
Trang 22phổ thông hiện nay Qua các hoạt động ngoại khoá, chúng tôi nhận thấy hầu hết họcsinh đều hứng thú tham gia, không khí của buổi sinh hoạt trở nên sinh động, hấpdẫn Qua đó góp phần rèn luyện cho học sinh phát huy tối đa tư duy độc lập, sángtạo của các em khi làm việc Đây là cơ sở để sau này học sinh có phương pháp hoạtđộng thực tế năng động trong cuộc sống
1.2.4.6 Tổ chức hoạt động ngoại khoá tham quan tại di tích lịch sử, bảo tàng, nhà truyền thống
Hình thức chủ yếu của hoạt động này là tham quan các di tích bảo tàng, thamgia các lễ hội truyền thống tại các di tích lịch sử Tham quan có một vị trí quantrọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Những dấu vết của quá khứ, nhữnghiện vật trưng bày trong bảo tàng không chỉ cụ thể hóa kiến thức, mà còn để lại một
ấn tượng mạnh mẽ nâng cao hứng thú học tập và rèn luyện khả năng quan sát, phântích của học sinh
Trong thực tế, có thể tổ chức hai loại tham quan lịch sử chủ yếu, phù hợp vớiyêu cầu học tập và điều kiện tổ chức:
Thứ nhất, những cuộc tham quan phục vụ trực tiếp nội dung bài học nội khóa,
và có thể là bài giảng trong nhà bảo tàng, hoặc trên thực địa ở địa phương trườngđóng
Thứ hai, những cuộc tham quan có tinh chất một hoạt đông ngoại khóa ở nhà
bảo tàng, di tích lịch sử xa trường, cuộc hành quân thăm chiến trường xưa, “theo bước chân người anh hùng chiến sĩ” Công việc này đòi hỏi nhiều điều kiện khó
khăn, phức tạp để tổ chức, nên không thể tiến hành thường xuyên
Việc tham quan lịch sử có thể được tổ chức vào đầu năm học hoặc nhân dịp kỉniệm các ngày lễ lớn: 22-12 (thành lập quân đội nhân dân Việt Nam), ngày mồng 3-
2 (thành lập Đảng), ngày 19-5 (kỉ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh)…
Để thu được kết quả cao, giáo viên cần phổ biến cho học sinh rõ ràng mục đích,yêu cầu của buổi tham quan Đây là một trong các yếu tố đưa đến sự thành công
Trang 23của hình thức hoạt động này Bởi lẽ giáo viên không tổ chức chặt chẽ thì với sốlượng học sinh khá đông, sẽ khó quản lí, khó hướng dẫn các em chấp hành nội quycủa bảo tảng hoặc di tích Một trong những yêu cầu quan trọng đối với học sinhtrong khi tham quan là các em cần ghi chép những số liệu, tài liệu do người thuyếtminh cung cấp, hoặc những ghi chú ở các tư liệu được trình bày.
Các loại tham quan có tác dụng lớn trong việc phát huy tính chủ động, tích cựcsáng tạo, trí thông minh và gây hứng thú học tập đối với học sinh Để thực hiện tốtquá trình tham quan, cần khắc phục việc làm có tính chất hình thức, chỉ cho họcsinh xem lướt qua mà không chú ý quan sát, tìm hiểu những hiện vật trưng bày cầnthiết cho học tập Mỗi buổi tham quan có kế hoạch, nội dung, chủ đề nhất định Vìvậy, sau khi xem khái quát các đồ trưng bày ở nhà bảo tàng hay nơi diễn ra sự kiệnlịch sử, cần tập trung vào xem xét một số hiện vật có liên quan đến nội dung bàihọc hoặc mục đích đã đề ra Có thể kết hợp với hoạt động của đoàn thanh niêntrong việc tổ chức cắm trại, hành quân để giới thiệu, bổ xung một số những kiếnthức lịch sử cần thiết
1.2.4.7 Những hình thức ngoai khóa khác
Ngoài những hình thức ngoại khóa có tính chất phổ biến và cần thiết nêu trên,
có thể kể thêm một số hoạt động khác Những hoạt động này hoặc là bộ phận củahình thức ngoại khóa nào đấy hoặc chỉ là sự thay đổi môi trường hoạt động, đốitượng phục vụ
* Trò chơi lịch sử: Là một hình thức ngoại khóa gọn nhẹ, dễ tổ chức, mà hấpdẫn học sinh Đây không chỉ là một việc giải trí, mà đòi hỏi người tham dự phảiphát huy năng lực tư duy, trí thông minh để giải quyết các vấn đề đặt ra Nếu tròchơi không đòi hỏi sự nỗ lực, không đòi hỏi sự hoạt đông tích cực của tư duy thìtrò chơi đó chưa đạt yêu cầu về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển mà chỉ làcông việc giải trí, không có ích gì cho việc dạy học lịch sử
Ở đây cần phân biệt trò chơi lịch sử với việc thi tìm hiểu lịch sử Trò chơi lịch
sử không đòi hỏi học sinh phải hiểu biết sâu rộng, chuẩn bị lâu và kỹ như trong thi
Trang 24tìm hiểu lịch sử mà dựa vào vốn hiểu biết sẵn có của người tham dự, sự thông minhnhanh trí và tiến hành dưới các hình thức vui chơi Hình thức này phải phù hợp với
sự sôi nổi của tuổi trẻ và có ý nghĩa giáo dục
Có nhiều loại trò chơi lịch sử: “thi đố kiến thức về lịch sử”, “ô chữ”, “ô số”,
“súc sắc”, “lập niên biểu”, “trò chơi mật mã”… Gần đây, những loại trò chơi nàyđều sử dụng rộng rãi trong các kì thi “Bảy sắc cầu vồng”, “Đường lên đỉnhôlimpia”…
* Gặp gỡ những chiến sĩ cách mạng, những người có thành tích trong công tác,sản xuất chiến đấu Hình thức này rất có tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, tìnhcảm đạo đức cho học sinh Bởi vì tiếp xúc trực tiếp với những con người thật- nhânchứng lịch sử- có sức thuyết phục mạnh với học sinh hơn bất cứ các phương tiệndạy học nào khác Ví dụ, nhân dịp kỉ niệm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5),giáo viên tổ chức cho học sinh gặp gỡ những người ở các địa phương trường đóng
đã từng tham gia chiến đấu ở Điện Biên Phủ Đây là hình thức giáo dục truyềnthống cho thế hệ trẻ để các em biết ơn những ngừơi có công với đất nước, noigương trong học tập và lao động
* Công tác công ích xã hội không chỉ có tác dụng củng cố, hiểu sâu sắc hơnkiến thức, mà còn là biện pháp gắn nhà trường với xã hội, rèn luyện năng lực hànhđộng cho học sinh Hình thức hoạt động của công tác này rất phong phú như: Xâydựng nhà bảo tàng, nhà truyền thống cách mạng địa phương; Tổ chức triển lãm, nóichuyện ở địa phương nhân ngày lễ lớn nhằm tuyên truyền phổ biến kiến thức lịch
sử cho nhân dân…
Trang 25TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Trong dạy học lịch sử, cũng như các môn học khác ở trường phổ thông, ngoàiviệc tiến hành bài học nội khóa – hình thức dạy học cơ bản, còn có các hoạt độngngoại khóa Hoạt động ngoại khóa có tác dụng tích cực đối với việc giáo dưỡng,giáo dục và phát triển toàn diện học sinh, góp phần quan trọng, cùng với bài họctrên lớp, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ bộ môn
Trước đây, do những điều kiện tổ chức khó khăn (chiến tranh, thời gian học tập
có hạn, thiếu kinh phí…) nên việc tổ chức hoạt động ngoại khóa nói chung, ngoạikhóa trong dạy học lịch sử nói riêng rất hạn chế Trong điều kiện thuận lời từ saunăm 1975, khi đất nước đã thống nhất nhưng hoạt động ngoại khóa lịch sử vẫn chưađược quan tâm tổ chức Nguyên nhân chủ yếu là chưa nhận thức đúng ý nghĩa, mụcđích, vị trí của hoạt động ngoại khóa trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nóiriêng Từ quan niệm đúng cần xác định nội dung và các hình thức tổ chức có hiệuquả, phù hợp nội dung, mục đích, yêu cầu giáo dục bộ môn
Trang 26CHƯƠNG II MỘT SỐ NÉT VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG Ở PHÚ THỌ,
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC NGOẠI KHÓA VÀ HIỂU BIẾT
VỀ VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG Ở TRƯỜNG
để chỉ một vùng cư trú của đồng bào bao gồm nhiều làng [7] Mỗi vùng được đặtdưới sự cai quản của một nhà Lang Qua sự tiếp xúc giao lưu giữa người Mường vàngười Kinh, người Kinh đã sử dụng từ Mường để gọi dân tộc này Cho đến tận bâygiờ, Người Mường vẫn từ gọi mình là mol, moăn như ở Hoà Bình, Mon, mwanl như
ở Thanh Hoá Còn ở Phú Thọ, đặc biệt là ở Thanh Sơn, nơi Người Mường tập trungđông đảo nhất cũng như Người Mường ở huyện Yên Lập và một số xã thuộc huyệnThanh Thuỷ đồng bào tự gọi mình là Mol, Monl Mặc dù những từ này có biến âmhơi khác ở mỗi vùng, mỗi địa phương nhưng đều quan niệm giống nhau về mặt
nghĩa Tất cả những từ mà đồng bào dùng để chỉ dân tộc mình có nghĩa là người Vì
lẽ đó mà người Mường thường tự xưng mình là con Mol hoặc là con monl: conngười Còn từ Mường vốn là từ mương đồng bào dùng để chỉ nơi cư trú chứ khôngliên quan gì đến tộc danh ngày nay của mình Mặc dù vậy cùng sự biến động củalịch sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc anh em kháccho đến nay “Mường” đã được đồng bào chấp nhận và coi đó là tộc danh của mình,
và hiển nhiên, họ tự nhận mình là người Mường như ngày nay Do đó, Mường đãtrở thành tên gọi chính thức và duy nhất của tộc người này để phân biệt với các dân
Trang 27tộc khác Tộc danh Mường đã được các tổ chức, thể chế, các nhà nghiên cứu vànhân dân dùng khi tìm hiểu, nghiên cứu gọi dân tộc này: Người Mường
Người Mường còn có tên gọi khác là: Mol, Mual, Moi, Moi bi, Au tá, Ao tá.Thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường
2.1.2 Nguồn gốc lịch sử
*Nguồn gốc mang tính truyền thuyết
Theo truyền thuyết Chim Ây, Cái Ứa: thuở xưa, khi con người còn chưa xuấthiện, trời làm hạn hán, khô khan, cây cối khô mà chết, rồi trời lại mưa Một trậnmưa to chưa từng thấy Nước chảy thành suối thành sông Đất lở bồi thành đồngbằng Đá lăn chất đầy thành gò thành đống, thành đồi thành núi Từ dưới đất mọclên một cây si Cây si lớn như thổi trở thành một cây cổ thụ, cành lá che kín cả bầutrời Cây si bị sâu đục ăn làm cho gãy cành rụng lá Từ gốc cây si đẻ ra một đôichim Chim Ây là đực, Cái ứa là cái Đôi chim rủ nhau bay lên cành cây si làm tổ.Cành si gãy Chim bay lên cây đa làm tổ Cây đa đổ Chim Ây và Cái Ứa lại rủ nhaubay lên núi đá lấy cỏ làm thành tổ Hang Hao Cái Ứa đẻ ra trăm ngàn quả trứng.Trứng chim nở ra thành muôn loài muôn vật Còn lại một trăm cái trứng thì nở racon người Đó là người Mường và người Kinh
Ngoài truyền thuyết Chim Ây, Cái Ứa còn có nhiều truyền thuyết khác nói vềnguồn gốc người Mường như bộ sử thi Đẻ đất đẻ nước, truyền thuyết về Đức thánhTản Viên (thần núi Ba Vì), truyền thuyết Đẻ Giang Tất cả các truyền thuyết đó đềunói lên người Mường và người Kinh có chung nguồn gốc
*Nguồn gốc của người Mường theo khoa học
Về nguồn gốc người Mường thì có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tuyệt đại bộphận các nhà nghiên cứu đều chủ trương rằng Việt và Mường vốn xưa là một tộc và
họ gọi chung đó là “Tiền Việt Điều thể hiện rõ nhất trong các đặc trưng gần nhaucủa hai khối cư dân này là ngôn ngữ và văn hóa Có thể người Việt và ngườiMường trước kia cùng nằm trong khối Lạc-Việt rồi sau này mới dần dần tách thành
Trang 28Việt riêng và Mường riêng Vào khoảng thế kỷ X, XI Việt và Mường trở thành haitộc người riêng
Như vậy về cả mặt khoa học và truyền thuyết thì đều cho rằng người Mường vàNgười Kinh vốn cùng nguồn gốc, cùng máu mủ dòng giống Chính vì lẽ đó mà chođến tận ngày nay, người Mường vẫn còn lưu truyền câu ca “Ta với mình tuy hai làmột Mình với ta tuy một mà hai”
*Người Mường ở Phú Thọ:
Trong các bộ sử cũ như Hưng Hóa xứ phong thổ lục của Hoàng Bình Chính hayHưng Hóa địa dư chí của Phạm Thận Duật, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sửquán triều Nguyễn, từ cuối thế kỉ XVIII đã thấy người Mường làm ăn sinh sống ởhuyện Thanh Sơn, Yên Lập Vậy người Mường có mặt ở Phú Thọ từ bao giờ? Có ýkiến cho rằng, thời Lý có hai thành phần dân tộc chủ đạo là người Việt và ngườiMường, tuy nhiên giả thuyết trên không đủ sức thuyết phục vì thiếu các tài liệu minhchứng: ý kiến khác cho rằng từ thời Trần (TK XIII), người Mường mới di cư đến PhúThọ sinh sống Ý kiến này căn cứ vào các bộ sử như Đại việt sử ký toàn thư và Việt
sử thông giám cương mục trong đó có ghi về cuộc kháng chiến chống quân Mông với sự tham gia của các dân tộc thiểu số như Hà Đặc, Hà Bổng Trong khi chờđợi những kết quả nghiên cứu mới, thì ý kiến người Mường có ở Phú Thọ vào thế kỉXIII trên cơ sở tài liệu thư tịch là hoàn toàn có thể chấp nhận được Song đâu là quêhương gốc của người Mường Phú Thọ? Theo một câu chuyện sưu tầm được ở ThanhSơn thì cách đây vài trăm năm, tại một địa phương của tỉnh Hòa Bình, có mở hộixuân thi tài luyện tập cho binh lính để bảo vệ dòng lang của bản mường Trong buổithi đó, người em là Đinh Công Dũng đã thể hiện tài nghệ xuất sắc của mình được dântrong vùng yêu mến, người anh là Đinh Công Hùng lo sợ sau này bị chiếm mất địa vịnên có ý định hại em Nhưng vợ của Hùng, vì thương em chồng, đã tìm cách báocho Dũng Dũng biết không thể nào ở lại với anh nên tìm cách đi đến một vùng đấtkhác Hôm ra đi, Dũng đánh ba hồi cồng rồi nói với dân trong làng, xóm ai muốn
Trang 29Nguyên-theo mình thì đi và sẽ đến một vùng đất mới gây dựng bản làng Hưởng ứng lời kêugọi của Dũng, người dân nô nức đi theo Họ lên đường đi từ Mường Bi, MườngThàng đến miền Phương Lâm (nay thuộc Kỳ Sơn- Hòa Bình) bèn nghỉ lại và đi sănbắn Dũng ngắm thấy núi Ba Vì hùng vĩ, sơn thủy hữu tình, nên đã chuyển đến xóm
Ba Trại (Ba Vì, Hà Tây) để sinh cơ lập nghiệp Nhưng lại thấy bên kia sông Đà đấtrộng, có vẻ phì nhiêu bèn dẫn đoàn người vượt sông Đà đến xóm Giai xã Thắng Sơnrồi đến xóm Đồng Rê (nay là xã Tất Thắng) Từ đó họ sinh cơ lập nghiệp ở đây, nay
là xóm Chiềng xã Tất Thắng Nhớ ơn người có công khai phá đầu tiên, người ta dựngđình để thờ tổ tiên dòng họ Đinh
Việc lập đình thờ như vậy còn thấy ở xã Cự Thắng, tại đây có một câu đối ghi:
“Thủy Nguyên thành tích Cao Phong động Sơn thạch tài bồi Cự Thắng sinh”.
Ghi nhận nơi khởi thủy vốn là động Cao Phong vùng mường Thàng huyện KỳSơn, tỉnh Hòa Bình ngày nay; hoặc ở xã Xuân Đài, dòng họ Xa ở đây vẫn còn lưu
truyền lời của người trước rằng “Đà Bắc tông chi truyền thế phả, Xuân Đài địa chủ
kế gia phong.” Ý nói dòng họ Xa vốn là lang ở Đà Bắc, Hòa Bình về Xuân Đài vẫn
tiếp tục giữ vị trí ấy
Như vậy, một bộ phận quan trọng của người Mường vốn có quê hương xưa làHòa Bình Trước đây, về một phần nào đó cho đến ngày nay, người Mường ở ThanhSơn vẫn có mối quan hệ bà con, đi lại thăm hỏi đồng bào Mường ở Hòa Bình Còn
cư dân Mường huyện Yên Lập, theo truyền lại, là một bộ phận từ vùng Cự Thắng,Tất Thắng, huyện Thanh Sơn sang, còn số khác cho rằng gốc gắc là ở Tu Lý, HiềnLương (Đà Bắc)
Tóm lại, người Mường đã có mặt ở Phú Thọ từ lâu và quá trình di chuyển diễn ratrong một thời gian khá dài mà Hòa Bình vốn là quê hương gốc của họ
2.1.3 Dân số và địa bàn cư trú
Trang 30Hiện nay trên toàn tỉnh Phú Thọ có 34 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dântộc Mường chiếm số lượng đông thứ hai sau người Kinh (Theo Tổng điều tra dân số
và nhà ở năm 2009, người Mường ở Phú Thọ là 184.141 người, chiếm 14,0 % dân
số toàn tỉnh và 14,5 % tổng số người Mường tại Việt Nam) 1 Tổng cục Thống kê(1/4/2009) Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009).Người Mường hiện nay sống tập trung chủ yếu ở ba huyện Thanh Sơn, Tân Sơn vàYên Lập Họ cư trú tập trung ở vùng thung lũng chân núi, nơi có độ cao không lớn,đặc điểm nổi bật trong phân bố dân cư của người Mường trong tỉnh Phú Thọ làtính tập trung, cư dân Mường chiếm tới trên 90% dân số cả xã Sự xen kẽ giữangười Mường và người Việt trong các địa phương này cũng diễn ra theo nhiều cấp
độ khác nhau, những xã gần huyện lỵ thì người Mường và người Việt sống xen kẽnhưng thành từng làng hoặc chòm xóm riêng biệt, ở những nơi vùng sâu, vùng xathì mức độ xen kẽ là ngay trong cùng một làng nhưng tỷ lệ người Việt rất ít, cónhững nơi như xã Trung Sơn, huyện Yên Lập; xã Lai Đồng, xã Tân Sơn, huyệnThanh Sơn tỷ lệ người Việt cư trú là dưới 100 người trong một xã
2.1.4 Bản sắc văn hóa của dân tộc Mường ở Phú Thọ
Đồng bào Mường sống định canh định cư ở miền núi, nơi có nhiều đất sảnxuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn Người Mường làm ruộng
từ lâu đời Lúa nước là cây lương thực chủ yếu Trước đây, đồng bào trồng lúa nếpnhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp là lương thực ăn hàng ngày Nguồn kinh tế phụ đáng kểcủa gia đình người Mường là khai thác lâm thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, quế,mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệtvải, đan lát, ươm tơ Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ công với kỹ nghệ khá tinh xảo
Về nhà ở: Ngôi nhà của người Mường trước đây chủ yếu là nhà sàn, đó là nơi
để ở, cũng là nơi diễn ra các nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo trong mỗi gia đình Nhàsàn Mường Phú Thọ khác căn bản với nhà sàn Mường Hòa Bình Nhà sàn MườngHòa Bình lấy hình thức con rùa làm cấu trúc, có bốn cột chính và hai chái, mái cổxòe tròn bao lấy ngôi nhà nên trông bên ngoài hơi có hình ôvan Nhà sàn Mường
Trang 31Phú Thọ không có hai chái đầu hồi như vậy mà cắt thẳng, nhưng lại có sàn hiêntrước khi bước vào trong nhà Số gian nhà tùy thuộc vào số lượng người sống trongnhà, nhưng người Mường theo chế độ phụ hệ, nên muốn "đa đinh thịnh vượng", sốgian nhà thường tương ứng với số vía của người đàn ông Do vậy, nhà của ngườiMường phổ biến là 7 gian, tám hàng cột Hai vị trí đặc biệt quan trọng trong ngôinhà của người Mường là "đáng thờ" (bàn thờ tổ tiên) và bếp Ngày nay với sự pháttriển của kinh tế và xã hội, nhiều người Mường đã bỏ nhà sàn xuống nhà đất, số nhàsàn còn lại cũng không nhiều.
Về tín ngưỡng: Người Mường cũng có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như
người Việt và họ thường thờ cúng tổ tiên trong phạm vi bốn đời Ngoài việc thờcúng tổ tiên thì một số dòng họ Mường ở Phú Thọ còn thờ các "linh vật tổ" nhưmột loài chim, một loài vật Thờ linh vật nào sẽ kiêng không bắt giết, hoặc ăn thịtloài vật đó
Trong tục cưới: Cũng giống như một số các dân tộc khác, việc cưới xin là
một trong những sự kiện quan trọng của một đời người, kiếp người, đây không chỉ
là dịp vui cho riêng đôi trai gái, mà là ngày hội cho cả hai họ và cả mường Hônnhân của người Mường xưa có rất nhiều thủ tục, có nơi từ lúc nhà trai đem miếngtrầu đầu tiên đến xin nhà gái cho đôi trẻ qua lại tìm hiểu đến lúc tổ chức đám cưới(thường là 3 năm) phải có đủ 12 "cái lễ", hình thức rất nhiêu khê và phức tạp, gâytốn kém tiền của không ít; trong thời gian 3 năm đó chàng trai phải mang đến nhàgái (đôi gà, yến gạo nếp, chục lít rượu) và các loại bánh phù hợp với các ngày lễ;đặc biệt là dịp tết nguyên đán, rằm tháng giêng, tết nguyên tiêu (3/3), tết 5/5, lễ xátội vong nhân (rằm tháng 7), tết cơm mới (10/10) là không thể thiếu Hiện nay, ởmột số vùng mường hẻo lánh ở Phú Thọ vẫn còn những nghi thức này, tuy việcsắm lễ có nhẹ hơn so với trước
Trong tang ma: Tang lễ của người Mường là một trong những nghi lễ tôn
giáo đậm đặc với nhiều tập tục cổ truyền, yếu tố tâm linh thể hiện rất rõ nét quacác nghi lễ, những quan niệm về vũ trụ, nhân sinh, về cõi sống, cõi chết Các nghi
Trang 32lễ trong tang ma của người Mường ở Phú Thọ cũng giống như các Mường ở nơikhác Từ lúc trong gia đình có người qua đời, cho đến lúc đưa người về "Mườngma" yên ổn, những người trong gia đình và dân làng tổ chức rất nhiều các nghi lễphức tạp Đặc biệt, là 12 đêm mo Trong những đêm mo ấy, thầy cúng sẽ lần lượtđưa linh hồn người chết lên trời, về âm phủ để hỏi về việc sống, việc chết của conngười, sau đó trở về Mường người để ngắm cảnh cói trần lần cuối Người Mườngquan niệm, chết không phải là hết, là kết thúc, mà là sự thay đổi môi trường sốngcủa con người từ "mường người" sang "mường ma" Đối với người Mường, sựmất mát về con người là nỗi mất mát chung, nên thường khi trong làng có mộtngười qua đời, các gia đình trong làng không phân biệt sang hèn đều mang đếncho tang gia một xuất gạo, gà, rượu và muối để cùng lo tang lễ Đến nay, các tiêuchí mới trong quy định xây dựng làng, xã văn hoá đã giúp nghi lễ tang ma củangười Mường tiến hành đơn giản, tiết kiệm hơn, nhưng những nét cơ bản trong tínngưỡng vẫn được duy trì ở một số làng Mường ở vùng sâu, vùng xa.
Về chữ viết: Ngày nay, người Mường dùng chữ Việt và chữ Mường Bộ chữ
dân tộc Mường gồm 28 chữ cái; 24 phụ âm đầu; 1 âm đệm Tiếng Mường có 14nguyên âm gồm 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi, âm cuối tiếng Mường gồm
9 phụ âm và 2 bán nguyên âm Tiếng Mường có 5 thanh điệu, 152 vần…
Về đặc điểm gia đình và hôn nhân: Người Mường nói chung thuộc tộc người
phụ hệ, gia đình Mường cổ truyền thường tồn tại hai loại cơ bản là gia đình lớn vàgia đình nhỏ Gia đình lớn: Đây là dạng gia đình rất phức tạp về thành phần và cách
tổ chức sinh hoạt Thường trong các gia đình này có nhiều thế hệ như: ông bà, bố
mẹ, các con và các cháu, số lượng người trong kiểu gia đình này rất nhiều, có thểlên tới 15, 18 người, họ cùng sống, làm và ăn chung Trong các gia đình lớn, mọiquan hệ mang tính phụ hệ, gia trưởng Gia đình nhỏ: Đây là dạng gia đình chỉ gồm
có vợ, chồng và con cái của họ; họ sống, sản xuất và chi tiêu độc lập Tuy vậy, vị trícủa người vợ trong gia đình vẫn không được cải thiện, họ vẫn phải phụ thuộc vàongười cha, người chồng, sự phân công lao động trong gia đình vẫn theo giới tính và
Trang 33độ tuổi như đã nêu Tư tưởng trọng nam hơn trọng nữ của người Mường xuất phát
từ những hủ tục nặng nề, tốn kém tiền của trong các khâu: thách cưới, hỏi và tổchức đám cưới Trong giai đoạn hiện nay, các gia đình lớn của người Mường có xuthế tách thành các tiểu gia đình và gia đình hạt nhân, xu thế ấy trở nên khá phổ biếntrong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường hiện nay Quan hệ nam - nữ trong mỗi giađình được bình đẳng hơn, vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình được khẳngđịnh, quan hệ hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu được chú trọng, các tiêu chuẩn kếthôn môn đăng hộ đối không quá khắt khe như trong quan niệm cổ truyền [23]
2.1.5 Lễ hội truyền thống của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ
- Về các lễ hội: Người Mường ở Phú Thọ có nhiều lễ hội độc đáo Trước tiênphải kể đến văn hoá trống đồng: 4 chiếc trống đồng đầu tiên được đưa về bảo tàngcủa tỉnh (năm 1961) đều được phát hiện ở vùng đồng bào Mường sinh sống là ThuNgạc, Lai Đồng, Khả Cửu và Sơn Hùng (huyện Thanh Sơn) Người Mường tổ chứcđánh trống đồng (chàm thau) vào các dịp hội xuân, lễ hội cầu mưa, cầu mùa, đámcưới, đón khách Tại nơi tổ chức lễ hội, người ta làm giá treo trống bằng một câysào đặt nằm ngang trên 4 cây tre buộc chéo ở hai đầu, dưới đáy trống đào một hốnông vừa bằng đường kính đáy trống để tạo âm thanh cộng hưởng Quy định khi
"chàm thau" là phải có người 'cái" hai tay cầm hai dùi trống đánh vào núm trống,
người "con" cầm một dùi đánh vào các hoa văn vòng ngoài hoặc vào thân con cóc
trên mặt trống Như vậy sẽ tạo ra các âm thanh trầm hùng (tiếng tung) và thánh thót(tiếng chinh) khác nhau, phù hợp với tiết tấu và không khí của lễ hội đó Khi đánhtrống, các cặp "con" phải có số chẵn (có thể toàn nữ hoặc cặp nam - nữ), điều đóthể hiện sự hoà hợp âm dương và mong muốn phồn thực, đa đinh, thịnh vượng cho
cả Mường
Chàm đuống: hay còn gọi là đâm đuống là hình thức giã gạo nhưng là giã gạo
trong lễ hội, có tính chất tổ chức và nghệ thuật của dân tộc Mường Theo tiếngMường, "đuống" là máng gõ để giã lúa và "chàm" là đâm Đâm đuống thường đượcbiểu diễn trong dịp tết, hội mùa, cưới xin hay dựng nhà Đuống là một máng được
Trang 34làm bằng gỗ khoét từ một thân cây lớn (dài 1.50m, rộng 0,40m, sâu 0,30m), hìnhthuyền, chày giã đuống được làm bằng gỗ dài 1.30m Tục đâm đuống được bắt đầu
từ công việc giã lúa hàng ngày và sau đó trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá,tín ngưỡng độc đáo của cư dân Mường Tục đâm đuống được diễn ra vào mùa đểcầu một năm mùa màng bội thu, sung túc và không ốm đau, bệnh tật Thôngthường, đâm đuống chỉ do phụ nữ biểu diễn Số lượng người tham gia đâm đuốngnhiều hay ít phụ thuộc vào đuống dài hay ngắn, thường thì 3- 4 đôi giữ một đuống
Mở đầu là người phụ nữ nhiều tuổi nhất trong gia đình đứng ở đầu cối, giã khai mạcgọi là chày "cái" Tiếp đó là con gái, cháu gái trong nhà giã gọi là các "chày con",
"chày cháu" Theo nhịp tay đâm đuống nhanh hay chậm mà tiếng chày chuyển điệusang những âm thanh khác nhau như "Kênh kình, kênh kình" hay "kênh kênh kình,kênh kình", "kình kình, kình kình"… tiếng giã tạo nên bản hòa tấu, như những khúcnhạc vui tai kết hợp với động tác múa đơn giản mà đẹp mắt Tục đâm đuống củađồng bào Mường Phú Thọ là một tập tục đẹp, thể hiện sự trân trọng đối với thànhquả lao động của con người trong sản xuất nông nghiệp và sự đoàn kết giữa mọingười trong bản Ngày nay, đâm đuống được đồng bào Mường ở Thanh Sơn, TânSơn, Yên Lập biểu diễn trong các lễ hội mùa xuân, Lễ hội Đền Hùng và nhữngngày hội của bản Mường
Hội séc bùa (xách cồng): Nếu như trống đồng gắn với vị trí tôn quý của Nhà
Lang, của đình làng thì cồng và chiêng lại gắn với cuộc sống của dân cư nơi thôn
dã Bộ cồng chiêng 12 chiếc với những kích cỡ khác nhau, tượng trưng cho 12tháng trong một năm, chiếc cồng lớn nhất gọi là cồng "đàm" dùng để đánh âm trầm,cồng "khệ" (có nơi gọi là cồng vặn) dùng để đánh trùng âm, loại trung bình đượcgọi là cồng "đúm", nhỏ nhất trong bộ cồng và có âm thanh cao nhất, thánh thót nhất
là cồng boòng beng Hội séc bùa được tổ chức vào nhiều dịp trong năm, nhưng phổbiến là trong dịp tết nguyên đán Đầu năm phường bùa (bao gồm cả nam và nữ) từ
15 đến 20 người, đi thành hàng một, dẫn đầu là người mang cồng boòng beng, rồiđến cồng đúm, cồng khệ, cồng đàm Đầu tiên phường bùa đến những nhà có hẹntrước để hát sắc bùa, theo tục lệ thì chủ nhà sẽ tập trung anh, em để đón nhưng cổng
Trang 35nhà vẫn đóng, phường bùa sẽ phải đánh cồng và hát bài hát mở cổng: "Xúc sắc xúc
xử Nhà nào còn đèn còn lửa Mở cửa cho chúng tôi vào " Chủ nhà mở cổng đón,
phường bùa đi vào sân, vừa đi vừa đánh cồng và hát bài hát chúc tụng, ngợi ca: "
Chúc tết nhà ông Vườn trước có cau, vườn sau có mít Vựa lúa nếp còn đến tháng năm Gạo tẻ tháng mười chưa hết " Sau cuộc hát, chủ nhà mang thóc gạo tặng
phường bùa, nắm thóc trên tay chủ nhà được vãi nhẹ vào chiếc cồng đàm, ngườicầm cồng sẽ ngửa cồng đỡ lấy; thóc, gạo rơi vào lòng chiếc cồng giống như gieo
mạ, tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, tốt tươi của mùa màng trong năm Nhậnthóc gạo từ chủ nhà, phường bùa hát bài tạ ơn rồi tiếp tục đi sang nhà khác
Tết Doi: Không biết Tết Doi có từ bao giờ, nhưng theo những già làng ở Thu
Cúc kể lại thì ngày trước, người Mường nơi đây thường bắt đầu ăn Tết từ 23 thángChạp, ngày này mọi người trong làng tổ chức đi tảo mộ, dọn dẹp đình làng đểchuẩn bị đón Xuân và bắt đầu những hoạt động vui chơi ngày tết như ném còn, chơi
đu, chọi gà, vật truyền thống… Nhưng cũng có cụ già khác kể lại, Tết Doi là đểdành cho những người con đi chiến trận mà trong dịp Tết không về sum họp cùnggia đình được Sau Tết Doi ai có việc ở xa thì tiếp tục lên đường, những người ở lạiquê hương cũng bắt đầu công việc đồng áng
Trong Tết Doi, phần lễ được bắt đầu bằng tục rước vía lúa Đoàn rước khởihành từ trung tâm xã đến Miếu thờ vía lúa ở cửa Mường làm lễ tế thần linh, sau đórước vía lúa về trung tâm xã làm lễ cúng rồi phân phát lúa cho các bản, các Mường,
mở đầu cho mùa sản xuất trong năm Đi đầu đoàn rước là thầy mo, người am hiểunhững luật tục, thuộc lòng các bài khấn được dân bản giao trách nhiệm là sứ giả đểgiao tiếp với thần linh và thực hiện nghi lễ cúng tế rước vía lúa Đi sau là độichiêng trống, kiệu rước và đội đâm đuống, chạm ống Những cụm lúa to, hạt chắcmẩy cùng lễ vật được rước trên kiệu về địa điểm làm lễ Thầy mo ra hiệu cho độinhạc lễ tấu ba hồi chiêng trống vang vọng núi rừng, trời đất, rồi thực hiện nghi lễcúng Thầy khấn mời vía lúa, chia lúa giống cho dân bản rồi rước vía lúa về đền thờvía lúa để thờ Trong suốt thời gian tổ chức lễ rước và lễ cúng vía lúa, dân bản nổichiêng trống và khua đuống rộn ràng mời gọi vía lúa
Trang 36Theo quan niệm của người Mường “vía lúa” là nàng cơm, nàng gạo từ MườngTrời về lo cho mùa màng ở Mường Người được no đủ Hồn lúa ở lại với người thìthóc sẽ đầy bồ, ngô sẽ đầy thúng và năm đó sản xuất sẽ thuận lợi, đời sống sẽ no
ấm
Lễ hội Tì Sằn - đooc moong hay còn gọi là lễ hội Đi săn - Mở cửa rừng của
người Mường thường được tổ chức vào ngày mồng 6 hoặc mồng 7 Tết; một số nơikhác tổ chức vào 15 tháng Giêng âm lịch để bắt đầu một mùa mới vào rừng háilượm và săn bắt thú Theo tích xưa ghi lại, trong lễ hội này, một người săn giỏi(trùm săn) của mường cùng các cụ già có kinh nghiệm bàn định hướng xuất phátlàm ăn và chọn điểm săn Mọi người tỏa ra vây quanh, những thợ săn giỏi tìm chỗđón lõng ở các khe, các lối mòn thú hay đi, những người khác khép kín dần vòngvây Những chú chó săn của mường theo hiệu lệnh của cồng săn vượt lên sục sạocác bụi rậm đánh hơi thú Thú rừng bị vòng vây khép kín dồn dần vào một nơi.Trước là bị chó tấn công, sau là người ùa đến dùng gậy nhọn, cây lao chặn đánh.Cuộc săn chấm dứt bằng hiệu lệnh cồng
Lễ hội Mở cửa rừng luôn thu hút nhiều người tham gia vì đây là dịp vừa đểgặp gỡ, giao lưu vui vẻ vừa để cầu mong cho một năm mới mưa thuận gió hòa,mùa màng bội thu, thể hiện ước nguyện, khát vọng về cuộc sống ấm no, sung túc
về vật chất, tinh thần cũng như sự tuần hoàn của quy luật để vạn vật sinh sôi, nảy
nở Tại lễ hội nhiều tiết mục văn nghệ quần chúng, trình diễn các tiết mục diễnsướng dân gian được tổ chức như: Múa trống đu, hò đu, múa sênh tiền, đâm đuốngcủa dân tộc Mường, giao hữu bóng chuyền, đi cầu kiều, chọi bi, đánh cờ tướng.Ngoài ra còn có các gian hàng bày bán các mặt hàng đặc sản, nông sản của địaphương như nếp gà gáy, nếp nương, mật ong, khoai, sắn, măng…
Mở cửa rừng là lễ hội truyền thống của người Mường, đã ăn sâu vào tiềm thứccủa mỗi con người, trở thành “món ăn tinh thần” không thể thiếu mỗi dịp xuân về.Đây là một hình thái sinh hoạt đặc biệt với tổng hòa văn hóa và nhiều loại hìnhnghệ thuật độc đáo Nó có vai trò quan trọng trong tích lũy, kế thừa và củng cố các