Việc nghiên cứu hệ thực vật giúp người ta hiểu biết rõ được thành phần, tính chất các hệ thực vật ở từng nơi, từng vùng, nhằm xây dựng mô hình về khai thác, sử dụng, phát triển và bảo vệ
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Trang 3CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Cán bộ hướng dẫn chính: TS Đỗ Thị Xuyến
PGS.TS Hoàng Ngọc Khắc Cán bộ chấm phản biện 1: TS Dương Tiến Đức
Cán bộ chấm phản biện 2: PGS.TS Đồng Thanh Hải
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
Ngày tháng năm 2018
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ 3
1.1 Quan điểm nhận thức về đa dạng sinh học 3
1.2 Một số công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật trên thế giới 6
1.3 Một số công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật ở Việt Nam 8
1.4 Một số công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật tại Khu BTTN Bát Xát 11
1.5 Tổng quan về khu vực nghiên cứu - Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai 12
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Danh lục các loài thực vật tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai
29
3.2 Đa dạng hệ thực vật tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai 31
3.2.1 Đa dạng về mức độ ngành 31
3.2.2 Đa dạng ở mức độ họ 38
3.2.3 Đa dạng ở mức độ chi 39
3.2.4 Đa dạng về dạng sống của thực vật 41
3.2.5 Đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật 46
3.2.6 Đa dạng về giá trị sử dụng 50
3.2.7 Đa dạng về nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm 55
Trang 53.3 Nguyên nhân gây suy giảm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật tại Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai 60
3.3.1 Nguyên nhân gây suy giảm nguồn tài nguyên thực vật 60 3.3.2 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Hưng Thịnh
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội theo trường trình đào tạo cao học khóa 2 (2016 - 2018)
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tôi đã nhận được sự quan tâm, tận tình giúp đỡ của các thầy, cô giáo, các cán bộ công nhân viên Trường Đại học tài nguyên và môi trường Hà Nội, Lãnh đạo và các cán bộ khoa Môi trường đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn Nhân dịp này, tôi xin trân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn trân thành tới PGS TS Hoàng Ngọc Khắc và TS Đỗ Thị Xuyến – người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian thực hiện luận văn Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới đề tài hợp tác của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam) với Hàn Quốc mang tên “Tiềm năng sinh học và hoạt chất sinh học từ thực vật”
đã tạo điều kiện về mẫu vật trong quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin cảm ơn các cán bộ của Hạt kiểm lâm huyện Bát Xát, Khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát và các hộ gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi triển khai
đề tài cũng như cung cấp thông tin, số liệu phục vụ cho luận văn
Cuối cùng, tôi xin trân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Hưng Thịnh
Trang 8Bảng 3.3 So sánh cấu trúc tỷ lệ % số loài của HTV Khu BTTN Bát Xát
với các HTV VQG Hoàng Liên, VQG Cúc Phương, Khu
BTTN Văn Bàn
33
Bảng 3.4 So sánh số loài trên cùng một đơn vị diện tích giữa HTV Khu
BTTN Bát Xát với hệ thực vật của VQG Hoàng Liên, VQG
Cúc Phương và Khu BTTN Hoàng Liên - Văn Bàn
34
Bảng 3.5 Sự phân bố của các taxon trong ngành Ngọc lan 36 Bảng 3.6 Các chỉ số đa dạng của từng ngành và cả hệ thực vật 37 Bảng 3.7 So sánh các chỉ số của HTV Khu BTTN Bát Xát với các chỉ số
của HTV VQG Hoàng Liên, VQG Cúc Phương, Khu BTTN
Hoàng Liên – Văn Bàn
trên
43 Bảng 3.12 So sánh cấu trúc phổ dạng sống của HTV Khu BTTN Bát Xát
với HTV VQG Hoàng Liên, VQG Cúc Phương, Khu BTTN
Hoàng Liên – Văn Bàn, HTV Việt Nam và phổ tiêu chuẩn của
HTV Khu BTTN Bát Xát với HTV VQG Hoàng Liên, VQG
Cúc Phương, Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
54
Bảng 3.16 Các loài nguy cấp, quý, hiếm và tình trạng bảo tồn theo các
tiêu chí
55 Bảng 3.17 Thống kê các loài nguy cấp, quý, hiếm ở Khu BTTN Bát Xát 57
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ hiện trạng rừng Khu BTTN Bát Xát 14 Hình 3.1 Tỷ lệ số họ, chi, loài của từng ngành thực vật so với tổng số 30 Hình 3.2 Biểu đồ phổ so sánh cấu trúc tỷ lệ % số loài trong từng ngành
của HTV Khu BTTN Bát Xát với các HTV VQG Hoàng Liên, VQG Cúc
Phương và Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
Bát Xát với phổ tiêu chuẩn của Raunkiaer, HTV VQG Hoàng Liên, VQG
Cúc Phương, Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
UBND Uỷ ban nhân dân
VQG Vườn quốc gia
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới có hệ sinh thái rừng vô cùng phong phú và đa dạng Do sự tác động của tự nhiên cũng như của con người đã làm cho các hệ sinh thái này luôn luôn có sự biến đổi Tài nguyên rừng không những cung cấp cho con người nguồn thức ăn, nước uống, dược liệu,… mà còn có một vai trò đặc biệt quan trọng hơn cả - đó là cung cấp nguồn Oxy vô tận cho con người và các loài sinh vật có thể tồn tại đến ngày nay Cùng với chức năng cung cấp lâm sản phục vụ nhu cầu của con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường sinh sống và là nơi lưu giữ các nguồn gen động, thực vật Rừng có được những chức năng đó là nhờ có tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái Một hệ sinh thái bền vững phải đảm bảo tính ổn định ở cấu trúc, trong đó yếu tố thực vật là rất quan trọng có vai trò quyết định đến sự tồn vong của hệ sinh thái Tuy nhiên, trong những năm gần đây diện tích rừng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bị suy giảm, nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng nguồn tài nguyên rừng không hợp lý Mất rừng đồng nghĩa với sự thay đổi môi trường sinh thái và làm không ít các loài sinh vật đã và đang có nguy cơ
bị tuyệt chủng
Nghiên cứu về hệ thực vật rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu cho công tác nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học Việc nghiên cứu hệ thực vật giúp người ta hiểu biết rõ được thành phần, tính chất các hệ thực vật ở từng nơi, từng vùng, nhằm xây dựng mô hình về khai thác, sử dụng, phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật một cách bền vững, không gây ảnh hưởng đến môi trường sống, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, mang lại lợi ích lâu dài cho con người Vì vậy, việc điều tra, đánh giá tính đa dạng thực vật rừng để xây dựng các biện pháp quản lý
và bảo tồn chúng là rất cần thiết
Khu BTTN Bát Xát là khu bảo tồn thiên nhiên mới được UBND tỉnh Lào Cai thành lập, nơi được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao của tỉnh Lào Cai Vì lý do trên, việc nghiên cứu đa dạng sinh học tại đây là rất cần thiết Vì thế, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai" Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học ở Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 12- Bổ sung danh lục các loài thực vật ở khu vực nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống tính đến thời điểm nghiên cứu
- Đánh giá được tính đa dạng thực vật về hệ thực vật ở khu vực nghiên cứu
- Xác định các nguyên nhân gây suy giảm và đề xuất được các giải pháp bảo tồn
đa dạng thực vật ở khu vực nghiên cứu
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Bổ sung và xác định danh lục các loài thực vật tự nhiên tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai
3.2 Đánh giá đa dạng hệ thực vật Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Đa dạng phân loại hệ thực vật
Đa dạng về dạng sống thực vật
Đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật
Đa dạng về giá trị sử dụng, nguồn gen đặc hữu và quý hiếm
3.3 Nguyên nhân gây suy giảm và đề xuất một số giải pháp bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật tại khu vực nghiên cứu
Trang 13Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ 1.1 Quan điểm nhận thức về đa dạng sinh học
Ngày nay, yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), tài nguyên thiên nhiên và môi trường là một vấn đề hàng đầu ĐDSH không những có giá trị về mặt môi trường sinh thái mà còn có giá trị về Văn hóa, Giáo dục, Thẩm mỹ Chính vì vậy mà công ước về bảo tồn ĐDSH đã được thông qua tại Đại hội thượng đỉnh Rio de Janeiro (Braxin, 1992), đây là mốc đánh giá sự cam kết của các quốc gia trên toàn thế giới về bảo tồn ĐDSH, đảm bảo việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên sinh vật Do mới được quan tâm nên ĐDSH vẫn còn là một khái niệm rất mới và nghĩa khá rộng nên được nhiều tập thể tác giả đề cập đến
Cho đến nay thì có khá nhiều định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học Tuy nhiên, trong số này thì định nghĩa được sử dụng trong Công ước đa dạng sinh học (1992) được coi là "toàn diện và đầy đủ nhất" xét về mặt khái niệm Trong thực tế thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng lần đầu tiên vào năm 1988 và sau khi Công ước
đa dạng sinh học được ký kết (5/6/1992) thì nó đã được dùng phổ biến hơn Theo Công ước này, khái niệm đa dạng sinh học (biodiversity, biological diversity) là sự phong phú của sinh giới từ mọi nguồn trên trái đất, bao gồm sự đa dạng trong cùng loài, giữa các loài và hệ sinh thái Thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài (đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) [1, 2]
Theo Quỹ Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF, 1990) đề xuất khái niệm ĐDSH như sau: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái
vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong một môi trường” Như vậy, ĐDSH được xem xét ở
cả 3 mức độ: ĐDSH ở cấp độ loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm Ở mức độ tinh tế hơn, ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm cả
sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, giữa các hệ sinh thái, nơi
mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại, và cả sự khác biệt của các môi trường sống tương tác giữa chúng với nhau [3]
Trang 14Bên cạnh đó ĐDSH còn được định nghĩa như sau: “ĐDSH là tập hợp tất cả các nguồn sống trên hành tinh chúng ta, bao gồm tổng số các loài động, thực vật, tính đa dạng và phong phú trong từng loài, tính đa dạng của các hệ sinh thái trong các cộng đồng sinh thái khác nhau hay là tập hợp của các loài sống ở các vùng khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau” trong “Kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam” Định nghĩa này tuy đã đề cập đến mức độ đa dạng của sinh vật trên hành tinh, song còn quá dài và không cụ thể khiến người đọc khó hình dung Mặt khác, định nghĩa trên vẫn chưa đề cập đến mức đa dạng gen (di truyền), chỉ đề cập đến tính đa dạng của hệ động vật, thực vật mà chưa đề cập đến các sinh vật khác như vi sinh vật, tảo, nấm,… là một trong những mắt xích không thể thiếu được trong chuỗi thức ăn để từ đó tạo ra quần xã sinh vật và hệ sinh thái [trích theo 4]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) trong “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” đã đưa ra “ĐDSH là toàn bộ các dạng sống khác nhau của cơ thể sống trên trái đất gồm từ các sinh vật phân cắt đến động, thực vật ở trên cạn cũng như ở dưới nước, từ mức độ phân tử AND đến các quần thể sinh vật kể cả xã hội loài người Khoa học nghiên cứu
về tính đa dạng đó gọi là ĐDSH” Ở đây, ĐDSH được hiểu theo 3 khía cạnh:
+ Đa dạng ở mức độ di truyền: Mỗi loài sinh vật và thậm chí trong một cá thể
của loài đều có những phân tử AND đặc trưng cho loài Tính đặc trưng này được thể hiện qua số lượng và trình tự sắp xếp các nucleotit trong phân tử AND, qua hàm lượng trong nhân tế bào và tỷ lệ giữa các cặp bazo A+T/G+X Trật tự các nucleotit trong các gen có liên quan đến việc qui định các tính trạng và các đặc tính của cơ thể Trong quá trình tiến hóa của sinh vật từ thấp đến cao, hàm lượng AND trong các tế bào cũng được tăng lên Đó là một sự biểu hiện của đa dạng gen
+ Đa dạng ở mức độ loài: Phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng các loài
hoặc số lượng các phân loài (loài phụ) trên trái đất, ở một vùng địa lý, trong một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định Loài là một nhóm cá thể khác biệt với các nhóm cá thể khác về mặt sinh học và sinh thái Các cá thể trong loài có vật chất di truyền tương
tự nhau và có khả năng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, giao phấn) với nhau và cho ra các thế hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản tiếp tục) Như vậy, các cá thể trong loài chứa toàn bộ thông tin di truyền của loài Vì vậy, tính đa dạng loài hoàn toàn bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề cập đến tính ĐDSH
Trang 15+ Đa dạng ở mức độ hệ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu quần
xã sinh vật tạo nên Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vật trong một sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong loài và giữa các loài với nhau Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môi trường vật lý tạo thành một hệ sinh thái Hệ sinh thái là một cấu trúc và chức năng của sinh quyển bao gồm các quần
xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật, thổ nhưỡng (đất) và các yếu tố khí hậu Các thành phần này liên hệ với nhau thông qua các chu trình vật chất và năng lượng (chu trình sinh địa hóa) Cao hơn nữa, định nghĩa này đã đề cập đến xã hội loài người đó là
đa dạng các loại hình văn hóa dân tộc Đây là một quan điểm mới được đề cập đến mang tính nhân đạo và sự công bằng xuất phát từ nguyên nhân đạo đức, đó chính là câu trả lời cho một phần của câu hỏi vì sao phải bảo tồn ĐDSH.[4]
Như vậy có thể nói: ĐDSH là cơ sở đảm bảo khép kín chu trình sinh-địa-hóa, tạo cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường Cuộc sống của chúng ta liên quan mật thiết đến nguồn tài nguyên mà trái đất cung cấp (nước, không khí, khoáng sản, thực vật, động vật) ĐDSH cung cấp tài nguyên thiên nhiên Nền văn minh của chúng ta ngày nay đang lâm nguy do con người lạm dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và làm rối loạn các hệ sinh thái tự nhiên ĐDSH là cơ sở cho nền văn minh nhân loại phát triển
Nếu chúng ta duy trì được tính đa dạng sinh học thì sẽ bảo vệ và điều hòa được lượng nước trên thế giới và chống được sự xói mòn, điều hòa không khí, tạo nguồn thức ăn cho các sinh vật cho các sinh vật khác nhau, hạn chế được sự tăng nhiệt độ của không khí và chống hạn hán, lũ lụt Sự tăng dân số và tăng phát triển xã hội như việc công nghiệp hóa, mở mang hệ thống giao thông hóa, đô thị hóa, đã và đang gây những tác động to lớn lên môi trường
ĐDSH cung cấp các giá trị thẩm mỹ, tín ngưỡng, giải trí,… cho con người Mỗi
hệ sinh thái tự nhiên là cơ sở cho hình thành 1 nền văn hóa bản địa riêng Hệ sinh thái
tự nhiên càng phân hóa và đặc thù thì hệ xã hội càng có bản sắc riêng Khi ĐDSH suy giảm, cơ sở cho sự hình thành và bảo tồn đa dạng văn hóa bị tổn thương, gây nguy cơ giảm đa dạng văn hóa
Tính đa dạng của sự sống trên trái đất đang bị suy giảm Việc nghiên cứu và bảo tồn tính đa dạng sinh học hiện nay là một vấn đề cấp bách trên toàn thế giới
1.2 Một số công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật trên thế giới
Trang 16Trên thế giới, nghiên cứu về thực vật đã có từ rất lâu Plinus (79-23 trước Công nguyên), nhà bác học La Mã, trong tác phẩm “Lịch sử tự nhiên” đã mô tả đến gần
1000 loài cây và đặc biệt chú ý nhiều đến cây dùng làm thuốc và cây ăn quả Ray (1628- 1705) người Anh, trong tác phẩm “Lịch sử thực vật” đã mô tả tới 18.000 loài thực vật Linné (1707-1778) nhà bác học Thụy Điển, người đầu tiên khởi xướng ra khái niệm loài và đặt tên loài bằng danh pháp lưỡng nôm, đã mô tả hơn 8.000 loài cây Antoine - Laurent de Jussieu (1748 - 1836), nhà bác học người Pháp, người đầu tiên sắp xếp thực vật vào các họ và đã mô tả gần 100 họ
Từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, những nghiên cứu về thực vật nói chung đạt được những thành tựu đáng kể Theo hướng nghiên cứu về phân loại thực vật phải kể tới các tác giả như: Bessey (1845-1915); Hutchinson (1884-1972); Takhtajan (1910-2009); Engler (1844-1930), R K Brummitt (1992), chuyên gia của Bảo tàng thực vật hoàng gia Anh, trong cuốn “Vascular plant families and genera” đã thống kê tiêu bản thực vật bậc cao có mạch trên thế giới vào 13.884 chi, 511 họ thuộc 6 ngành là Psilotophyta, Lycopodiophyta, Equisetophyta, Polypodiophyta, Gymnospermae và Angiospermae Trong đó Angiospermae có 13.477 chi, 454 họ và được chia ra 2 lớp là Dicotyledoneae bao gồm 10.715 chi, 357
họ và Monocotyledoneae bao gồm 2.762 chi, 97 họ V H Heywood (1996 và 2007)
đã ghi nhận thực vật có hoa trên thế giới với ước tính có khoảng 250.000 loài
Một số công trình tiêu biểu của một số nước lân cận với Việt Nam như Thực vật chí Malaysia (1948-1972), Thực vật chí Thái Lan (1984-2011), Thực vật chí Ấn Độ (1873-1890), Thực vật chí Hải Nam (1972-1977), Thực vật chí Vân Nam (1979-1997), Thực vật chí Trung Quốc (1994-2009), Thực vật chí Hồng Kông (1993), Thực vật chí Đài Loan (1989-1999),…
Nghiên cứu về phân loại dạng sống ở trên thế giới cũng có nhiều kiểu khác nhau Điển hình là cách phân loại, lập phổ dạng sống của Raunkiaer, 1934 (ghi theo Thái Văn Trừng, 1999) Theo Raunkiaer dấu hiệu biểu thị để phân loại được chọn là vị trí của chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm Hệ thống phân loại đó có thể được trình bày tóm tắt như sau:
- Cây có chồi trên đất Ph (Phanérophytes)
+ Cây gỗ lớn chồi trên đất Meg (Mégaphanérophytes)
+ Cây gỗ vừa có chồi trên đất Mes (Mésophanérophytes)
Trang 17+ Cây nhỏ có chồi trên đất Mi (Microphanérophytes)
+ Cây thấp có chồi trên đất Na (Nanophanérophytes)
+ Cây có chồi trên đất leo cuốn Lp (Lianes phanérophytes)
+ Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám Ep (Epiphytes phanérophytes) + Cây có chồi trên đất thân thảo Hp (Phanérophytes herbacés)
+ Cây có chồi trên đất thân mọng nước Succ (Phanérophytes succulents)
- Cây có chồi sát đất Ch (Chaméphytes)
- Cây có chồi nửa ẩn H (Hémicryptophytes)
- Cây chồi ẩn Cr (Cryptophytes)
- Cây một năm Th (Thérophytes)
Đây là một cơ sở để so sánh các phổ dạng sống của các thảm thực vật giữa các vùng khác nhau trên trái đất Phổ dạng sống của các vùng được ký hiệu là SB
Về nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật:
Các loài thực vật cấu thành nên một HTV nào đó không chỉ khác nhau về thành phần phân loại mà còn khác nhau về sự phân bố địa lý, nguồn gốc địa lý và cả thời gian xuất hiện trong HTV Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những nội dung quan trọng khi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểu bản chất cấu thành của nó làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và dẫn giống vật nuôi, cây trồng,… Phân tích các loài thành các nhóm căn cứ vào sự giống nhau ít hay nhiều về khu phân bố của chúng Tập hợp tất cả các loài của một HTV có khu phân bố ít nhiều giống nhau tập hợp lại thành một yếu tố địa lý Tập hợp tất cả các yếu
tố địa lý của hệ thực vật (tính tỷ lệ %) là phổ các yếu tố địa lý của HTV đó Mặc dù vậy, việc nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành của hệ thực vật cũng rất phức tạp và phải phụ thuộc vào khả năng của từng tác giả cũng như nguồn tài liệu cho phép Việc chia nhóm khu phân bố rộng hay hẹp khác nhau đều phải đảm bảo nguyên tắc chung là mỗi yếu tố địa lý của hệ thực vật bao gồm tất cả các loài của HTV đó có khu phân bố
ít nhiều giống nhau Các yếu tố địa lý thực vật này được chia ra làm 2 nhóm yếu tố chủ đạo là yếu tố đặc hữu và yếu tố di cư, các loài thuộc yếu tố đặc hữu thể hiện ở sự khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các loài thuộc yếu tố di cư sẽ chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó Một số tác giả tiêu biểu như Gagnepain (1926), E Gail et al (1979), Maguran (1995) [6],
1.3 Một số công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật ở Việt Nam
Trang 18Ngay từ thế kỷ 18, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thực vật như các công trình của Loureiro (1790), sang thế kỷ 19 có công trình của Pierre (1879 - 1907) và cho đến những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương do Lecomte (1907 - 1952) chủ biên Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khóa mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, con số kiểm kê và được đưa ra 7004 loài thực vật bậc cao có mạch Tiếp theo phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 2001) cùng với nhiều tác giả khác Đến nay
đã công bố 31 tập nhỏ gồm 75 họ cây có mạch nghĩa là chưa đầy 21% tổng số họ đã có [5] Tuy nhiên con số này còn ít xa so với số loài thực có ở 3 nước Đông Dương Trên
cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trừng (1978, tái bản năm 2000) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ Trong đó, ngành Hạt kín có 3366 loài (90,9%), 1727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%) Ngành Dương xỉ và họ hàng Dương xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và 42 họ (14,5%) Ngành Hạt trần
39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%) [6]
Gần đây, đáng chú ý nhất phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 - 2000) [7], hay bộ sách Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam (2001 - 2005) Đây là những bộ sách đầy đủ nhất và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam [8, 9, 10]
Bên cạnh đó một số họ riêng biệt đã được công bố như họ Lan (Orchidaceae) Đông Dương của Seidenfaden (1992), họ Lan (Orchidaceae) Việt Nam của Leonid V Averyanov (1994), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), họ Na (Annonaceae) Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), họ Bạc hà (Lamiaceae) của Vũ Xuân Phương (2000), họ Đơn nem (Myrsinaceae) của Trần Thị Kim Liên (2002), họ Cói (Cyperaceae) của Nguyễn Khắc Khôi (2002), họ Trúc đào (Apocynaceae) của Trần Đình Lý (2007), họ Cúc (Asteraceae) của Lê Kim Biên (2007), Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam
Để phục vụ công tác khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên thực vật Viện điều tra quy hoạch rừng đã công bố 7 tập cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) giới
Trang 19thiệu khá chi tiết cùng với hình vẽ minh họa, đến năm 1996 công trình này được dịch
ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên Trần Đình Lý và tập thể (1993) công bố 1900 cây có ích ở Việt Nam; Võ Văn Chi (1997) công bố từ điển cây thuốc Việt Nam; Viện Dược liệu (2004) cho ra cuốn Cây thuốc và động vật làm thuốc, hay 20 tập viết về Tài nguyên Thực vật Đông Nam Á (1991-2003) do các nhà khoa học các nước Đông Nam
Á công bố,
Bên cạnh những công trình mang tính chất chung cho cả nước hay ít ra một nửa đất nước, có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùng dưới rạng danh lục được công bố chính thức như hệ thực vật Tây Nguyên đã công bố 3754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984); Danh lục thực vật Phú Quốc của Phạm Hoàng Hộ (1985) công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592
km2; Lê Trần Chấn và cộng sự (1990) về hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (Hòa Bình); Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan [6], hay một loạt các bài báo công bố về đa dạng thành phần loài ở các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên như vùng núi đá vôi Sơn La, vùng ven biển Nam Trung Bộ, vườn Quốc gia Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Phong Nha, Cát Tiên, Yok Đôn, Phong Nha -
Kẻ Bàng, do nhiều tác giả công bố trong những năm gần đây 1999-2010 Ngoài những công trình là các bài báo, một số tác giả đã công bố các kết quả nghiên cứu về
đa dạng thực vật dưới dạng sách chuyên khảo như Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Bá Thụ đã công bố cuốn sách "Tính đa dạng thực vật Cúc Phương" (1997), Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô công bố cuốn "Đa dạng sinh học khu hệ Nấm và Thực vật ở Vườn quốc gia Bạch Mã" (2003), Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn đã công bố cuốn “Đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An” (2004), Phân viện điều tra quy hoạch rừng công bố cuốn “Tài nguyên Động thực vật rừng vườn quốc gia Côn Đảo” (2004), Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết Chiến với
“Đa dạng thực vật ở Khu BTTN Na Hang - Tuyên Quang” (2006), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự với “Đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên” (2008),
Về đa dạng các đơn vị phân loại: Trên phạm vi cả nước Nguyễn Tiến Bân (1990)
đã thống kê và đi đến kết luận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiện biết
8500 loài, 2050 chi trong đó lớp Hai lá mầm 1590 chi và trên 6300 loài, lớp Một lá mầm 460 chi với 2200 loài [ghi theo 6] Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật
Trang 20Việt Nam có 9628 loài cây hoang dại có mạch, 2010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số loài lên tới 10361 loài, 2256 chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng
số các loài, chi và họ của thế giới Ngành Hạt kín chiếm 92,47% tổng số loài, 92,48% tổng số chi và 85,57% tổng số họ Ngành Dương xỉ kém đa dạng hơn theo tỷ lệ 6,45%, 6,27%, 9,97% về loài, chi, họ Ngành Thông đất đứng thứ 3 (0,58%) tiếp đến là ngành Hạt trần (0,47%) hai ngành còn lại không đáng kể về họ, chi và loài [ghi theo 6] Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lý các tên theo hệ thống Brummitt (1992) và chỉ ra hệ thực vật Việt Nam hiện biết 11.178 loài, 2582 chi, 395 họ thực vật bậc cao và 30 họ có trên 100 loài với tổng số 5732 loài chiếm 51,3% tổng số loài của
hệ thực vật [3]
1.4 Một số công trình nghiên cứu đa dạng hệ thực vật tại Khu BTTN Bát Xát
Ở Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai cho đến nay, chỉ mới có một công trình nghiên cứu hiện trạng tài nguyên sinh vật do các nhà nghiên cứu nhằm xây dựng quy
hoạch và thành lập Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Bước đầu ghi nhận được 940 thực vật bậc cao có mạch thuộc 550 chi và 156 họ thuộc 6 ngành thực vật Như vậy, trong tổng số 7 ngành thực vật được xác định phân bố
ở Việt Nam, thì khu đề xuất BTTN Bát Xát đã ghi nhận được 6 ngành, chiếm 85,71% về
số ngành, trong đó ngành có số lượng cá thể đóng vai trò chủ đạo trong cấu trúc hệ thống thực vật Bát Xát thuộc về ngành Mộc lan - Magnoliophyta 851 loài chiếm 90,53% tổng
số loài ghi nhận được, kế tiếp là ngành Dương xỉ - Polypodiophyta 71 loài chiếm 7,55%, ngành Thông đất – Lycopodiophyta 11 loài chiếm 1,17%, ngành Thông – Pilophyta 5 loài chiếm 0,53%, các ngành có 01 loài gồm ngành Cỏ tháp bút – Equisetophyta, Khuyết lá thông - Psilotophyta Hệ thực vật Bát Xát không chỉ đa dạng về thành phần loài, mà thành phần họ thực vật cũng rất phong phú với 156 họ, đem so sánh với số
họ thực vật Việt Nam thì Bát Xát chiếm tới 41,27% (hệ thực vật Việt Nam có 378 họ) [3]
Bên cạnh giá trị đa dạng về thành phần loài, hiếm có khu hệ thực vật ở nơi khác
có được là sự xuất hiện quần thể trên 30 cá thể Thiết sam – Tsuga dumosa (D.Don)
Eichler với đường kính ngang ngực trên dưới 1 mét, ở độ cao từ 1800-1900m tại tiểu khu 62 thuộc xã Dền Sáng Ngoài ra, còn phát hiện các loài Đỗ quyên mộc hoa trắng -
Rhododendron arboreum Sm ssp delavayi, Đỗ quyên mộc hoa đỏ - Rhododendron
Trang 21arboreum ssp cinnamomeum với các cá thể có đường kính từ 30-60cm mọc phổ biến
trong kiểu rừng kín lá rộng thường xanh á nhiệt đới.[3]
Nhìn chung, các nghiên cứu về đa dạng thực vật và nguồn tài nguyên thực vật ở Khu vực nghiên cứu còn chưa được tiến hành, đặc biệt là các nghiên cứu về đề xuất giải pháp bảo tồn tính đa dạng thực vật Xuất phát từ những lý do trên, việc triển khai
đề tài nhằm đánh giá đầy đủ, toàn diện và hệ thống tính đa dạng thực vật tại Khu BTTN Bát Xát, và đề xuất các giải pháp bảo tồn chúng là hết sức cần thiết Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện thêm cho danh lục thực vật Khu BTTN Bát Xát, cung cấp những thông tin về đa dạng thực vật ở khu vực, làm cơ sở cho công tác quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật có trong khu vực
1.5 Tổng quan về khu vực nghiên cứu - Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai
1.5.1 Đặc điểm tự nhiên [11]
a Vị trí, địa hình tự nhiên
Khu BTTN Bát Xát có diện tích 18.637 ha, nằm về phía Tây Bắc của huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, thuộc phần đầu của dãy núi Hoàng Liên Sơn, trên địa giới hành chính của 5 xã: Y Tý, Dền Sáng, Sàng Mao Sáo, Trung Lèng Hồ và Nậm Pung thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Diện tích rừng là 15.285,05 ha, diện tích đất trống là 3.352 ha; bao gồm 20 tiểu khu: 65, 66, 69, 73, 81, 80, 88, 94, 100, 104, 106, 108, 113,
115, 117, 120, 121, 107, 118 Trong đó:
+ Diện tích đất rừng của xã Y Tý: 2.631 ha
+ Diện tích đất rừng của xã Dền Sáng: 1.120,26 ha
+ Diện tích đất rừng của xã Sàng Ma Sáo: 3.201 ha
+ Diện tích đất rừng của xã Trung Lèng Hồ: 11.138,74 ha
+ Diện tích đất rừng của xã Nậm Pung: 546 ha
Trang 22- Phía Nam giáp xã Bình Lư (huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu)
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại của xã Y Tý (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai)
Hình 1.1 Bản đồ hiện trạng rừng Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Trang 23b Địa hình địa mạo
Địa hình Khu BTTN Bát Xát tương đối phức tạp, được kiến tạo bởi nhiều dải núi cao, chia cắt mạnh, độ dốc lớn (trung bình từ 20-250), có hướng thấp dần về phía Đông Nam Điểm cao nhất có độ cao 3.059 m thuộc xã Trung Lèng Hồ, trên ranh giới giữa hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu, điểm thấp nhất có độ cao 700 m, độ cao trung bình
từ 1.200-1.800 m Trong KBT có 03 kiểu địa hình chính, như sau:
- Kiểu địa hình núi cao (N1): Có diện tích 15.207,8 ha (chiếm 81,6% tổng diện tích khu KBT), phân bố ở độ cao trên 1.700 m, và về phía Tây nam của địa hình bị chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao với sườn dốc đứng Đây là khu vực có diện tích rừng
tự nhiên khá tập trung, có hệ động thực vật phong phú, đa dạng, đặc trưng cho vùng có
hệ sinh thái á nhiệt đới núi cao của miền Bắc Việt Nam
- Kiểu địa hình núi cao trung bình (N2): Có diện tích 2.646,4 ha (chiếm 14,2% tổng diện tích tự nhiên KBT), phân bố ở độ cao từ 700m-1.700m và tập trung ở phía trung tâm KBT Kiểu này được hình thành trên đá biến chất, chịu tác dụng xâm thực mạnh, mức độ chia cắt khá phức tạp, độ dốc trung bình trên 300
- Kiểu địa hình thung lũng (T1) và máng trũng (T2): Có diện tích 782,8 ha (chiếm 4,2% tổng diện tích tự nhiên KBT) Đó là những lòng thung lũng hẹp, phân bố rải rác trong KBT, độ cao cũng như độ dốc giảm dần theo chiều nước chảy của các suối, có nhiều bãi bồi khá bằng phẳng và màu mỡ
c Khí hậu, thủy văn
Khu BTTN Bát Xát nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ảnh hưởng của địa hình vùng núi cao, nên khí hậu của khu vực mang tính chất của khí hậu tiểu vùng cận nhiệt đới và ôn đới ẩm Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Các đặc trưng cơ bản về khí hậu của khu vực cụ thể như sau:
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 15,4oC, vào các tháng mùa hè nhiệt độ trung bình từ 18÷200C, vào các tháng mùa đông từ 10÷120C Nhiệt độ tối cao 330C (vào tháng 4, ở các vùng thấp); nhiệt độ tối thấp tuyệt đối từ 1÷20C Nhiệt độ thấp từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, trên các đỉnh núi cao nhiều khi nhiệt độ xuống dưới 00C và có tuyết rơi Tổng tích ôn trong năm từ 7.500÷7.8000C
Trang 24- Chế độ mưa, ẩm: Lượng mưa bình quân năm là 2.819mm, cao nhất 3.838 mm
và phân bố không đều qua các tháng; số ngày mưa trung bình năm 199,4 ngày và diễn biến không đều giữa các mùa Mùa hè mưa nhiều chiếm tới 80÷85% tổng lượng mưa
cả năm, mùa đông lạnh có mưa nhỏ Độ ẩm không khí tương đối bình quân hàng năm
từ 82÷87%, tháng thấp nhất 74%, cao nhất trong năm 95%
- Chế độ nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm 1.344 giờ, năm cao nhất lên đến 1.600 giờ Số ngày nắng không đều giữa các tháng, mùa hè số giờ nắng nhiều, tháng 4 hàng năm nắng nhất khoảng từ 180÷200 giờ, tháng 10 là tháng nắng ít nhất khoảng từ 30÷40 giờ Lượng bốc hơi nước trung bình năm là 865,5mm
- Chế độ gió: Khu vực nghiên cứu có hai hướng gió chính và được phân bố theo mùa, mùa hè có gió Tây và Tây Bắc, mùa đông có gió Bắc và Đông Bắc, tốc độ gió trung bình khoảng 1,1m/s
- Sương mù, sương muối: Sương mù thường xuất hiện phổ biến trong năm, đặc biệt vào mùa đông một số nơi có mức độ rất dày Bình quân trong năm có khoảng 160 ngày có sương mù; trong năm bình quân có khoảng 6 ngày có sương muối, nhưng đôi khi có đợt kéo dài từ 3 đến 5 ngày, cao nhất tới 11 ngày
- Tuyết, mưa đá: Tần suất xuất hiện mưa tuyết từ 2÷4 lần/năm, những ngày rét đậm trong mùa đông, nhiệt độ xuống thấp trên các đỉnh cao > 2.500m thường có tuyết phủ, đôi khi tuyết phủ xuống tới độ cao 1500m Vào tháng 4, 5 thường có mưa đá, bình quân trong năm từ 2÷4 lần/năm có mưa đá, đường kính hạt đá trung bình 1,0 cm
và gây nhiều thiệt hại cho rau, màu, hoa cảnh
Các suối chính trong khu vực như: Lũng Pô, Sim San bắt nguồn từ phía Nam dãy núi Nhìu Cồ San; suối Sín Chải bắt nguồn từ dãy núi Phan Cán Sử, Mò Phú Chải; suối Lủng Pặc là nhánh nhỏ của suối Lũng Pô bắt nguồn từ dãy núi Ma Cheo Va; suối Tùng Sáng chảy trong địa phận xã khoảng 6,5 km theo hướng Đông Bắc; suối Dền Sáng bắt nguồn từ dãy núi giáp ranh giữa hai xã (Dền Sáng, Y Tý) chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; suối Nhìu Cồ San bắt nguồn từ địa phận xã Sàng Ma Sáo chảy qua địa phận xã Dền Sáng với chiều dài 1,5 km và đổ ra suối Dền Sáng; suối Nậm Giàng là nhánh của suối Dền Sáng bắt nguồn từ dẫy núi Lử Thẩn
1.5.2 Điều kiện kinh tế, xã hội [11]
a Dân tộc
Trang 25Sinh sống trong Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai có 08 dân tộc anh em, trong đó dân tộc H’Mông chiếm khoảng 45,08%, tập trung chủ yếu ở xã Sàng Ma sáo, Trung Lèng Hồ; người Dao chiếm 33,67%, sống chủ yếu ở xã Dền Sáng; người Hà Nhì chiếm 18,54%, sống chủ yếu ở xã Y Tý và xã Nậm Pung; người Kinh 2,67%
Các dân tộc đã có quá trình định cư lâu đời, có giao lưu cả về kinh tế, văn hóa và hôn nhân nhưng vẫn bảo tồn những nét đặc trưng riêng về văn hóa như: Phong tục canh tác, tôn giáo tín ngưỡng, ngôn ngữ, trang phục, sinh hoạt văn hóa dân gian, Những nét văn hóa riêng mang đậm bản sắc dân tộc như: Nhà trình tường gồm 4 mái của người Hà Nhì, lễ hội "xuống đồng" của người Hà Nhì, tục “bắt vợ”, “cưới hỏi” và
“buộc chỉ cổ tay cô dâu” của người H’Mông, lễ hội"gầu tào" của người H’Mông, đã tạo ra các hoạt động văn hóa phong phú, đa dạng giàu bản sắc văn hoá dân tộc Đó là những giá trị văn hoá phi vật thể quý giá cần phải gìn giữ và phát triển, là nguồn tài nguyên nhân văn có thể khai thác phục vụ cho phát triển du lịch sinh thái nhân văn đang được du khách ưa chuộng
b Dân số và lao động
- Dân số và phân bố dân cư
Trên địa bàn vùng dự án xác lập Khu BTTN Bát Xát có 2.729 hộ, với 15.029 nhân khẩu và phân bố trên 44 thôn bản; bình quân từ 56 người/hộ Mật độ dân số trung bình là 44,48 người/km2, nhưng phân bố không đồng đều giữa các xã Tại các xã
có ít diện tích đồi và núi đá thì mật độ dân số rất cao (xã Y Tý 54,62 người/km2) và ngược lại các xã có nhiều đồi núi thì mật độ dân số giảm nhiều (xã Trung Lèng Hồ 15,14 người/km2) Tỷ lệ tăng dân số trung bình năm 2012 trong khu vực 05 xã là 1,82%, bao gồm cả tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học
- Lao động và cơ cấu lao động
Theo thống kê số người trong độ tuổi lao động trong 05 xã là 8.112 người, chiếm
tỷ lệ 55,1% tổng dân số, trong đó lao động nữ chiếm 50,82%, lao động nam chiếm 49,18% Đây là tỉ lệ tương đối cao so với một số vùng khác, nguyên nhân do cơ cấu dân số lứa tuổi trẻ chiếm tỉ lệ cao (trên 69% dân số là lứa tuổi dưới 35)
Về cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế: Phần lớn lao động trong ngành nông
- lâm nghiệp chiếm 97,71%, còn lại lao động tham gia vào các ngành kinh tế khác chiếm 2,29% so với tổng số lao động xã hội; số người trong độ tuổi đang lao động
Trang 26trong các ngành kinh tế chiếm 95,4%; số còn lại đang đi học hoặc không có khả năng lao động
Về chất lượng lao động: Trong tổng số người trong độ tuổi lao động, số lao động phổ thông chiếm trên 95%, số còn lại là lao động kỹ thuật và công chức Hệ quả không thể tránh khỏi là số lao động dư thừa rời địa phương đi kiếm việc làm để mưu sinh, không ngoại trừ vào khai thác bất hợp pháp nguồn tài nguyên rừng trong khu vực
Sự phân công lao động xã hội trong khu vực chưa rõ nét và hầu như chưa có kế hoạch khai thác, sử dụng hợp lý; thời gian sử dụng lao động trong nông thôn bình quân đạt 189 ngày/năm; lực lượng lao động nhàn rỗi chiếm từ 810% số lao động hiện có, phần lớn là số học sinh đến tuổi lao động không tìm được việc làm Đây là một vấn đề đáng quan tâm trong công tác chuyển đổi cơ cấu lao động và tạo việc làm thu hút nguồn lao động dôi thừa trong khu vực
- Y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Tính đến cuối năm 2014, hầu hết các xã đã có trạm y tế, mỗi trạm có từ 3-9 phòng với diện tích sàn xây dựng bình quân là 293 m2/trạm và tất cả các phòng đều đảm bảo tiêu chuẩn của ngành y tế đặt ra Số cán bộ y tế là 27 người, gồm 1 bác sĩ, 12
y sĩ, 10 y tá và nữ hộ sinh, 4 dược tá Bình quân cứ 569 người dân/cán bộ y tế, 570 người dân/giường bệnh Phòng khám đa khoa khu vực xã Y Tý có 10 giường bệnh, 6 cán bộ y tế (01 bác sĩ, 01 dược sĩ, 01 y sĩ, 01 nữ hộ sinh, 02 y tá điều dưỡng),
- Hệ thống giao thông
Theo kết quả điều tra cho thấy, mạng lưới giao thông trên địa bàn 05 xã khu vực nghiên cứu tương đối đồng đều (mật độ 1,04km/km2) và đã được cải thiện rất nhiều từ sự hỗ trợ của chương trình 134, 135, chương trình xây dựng nông thôn mới Hiện tại, đã có đường ô tô đến được tất cả trụ sở Ủy ban nhân dân các xã, chủ yếu là đường cấp phối, chất lượng đường rất xấu, đặc biệt là các tuyến đường giao thông nông thôn (liên xã, liên thôn, nội thôn, nội đồng) chủ yếu là đường đất, mặt đường nhỏ, vào mùa mưa đi lại rất khó khăn, hiện đang là một trở ngại lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các xã trong vùng và công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rừng trong Khu BTTN Bát Xát sau này
Với hiện trạng hệ thống giao thông trên địa bàn 05 xã trong khu vực dự án, mới chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng
Trang 27trên địa bàn Để tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trên địa bàn cũng như nâng cao công tác quản lý bảo vệ Vườn quốc gia, việc đầu tư xây dựng phát triển hệ thống giao thông là hết sức cần thiết và cấp bách trong những năm tới
Hệ thống giao thông có liên quan chặt chẽ đến việc bảo vệ rừng
Trang 28Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các loài thực vật bậc cao có mạch phân bố tự nhiên tại Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Phạm vi: Khu BTTN Bát Xát với diện tích 18.637 ha
- Thời gian: 1/2018 - 7/2018
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp kế thừa và phương pháp chuyên gia
Thu thập các tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu như: Bản đồ địa hình, bản
đồ hiện trạng thực vật rừng, các tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội, các báo cáo nghiên cứu khoa học về thực vật thuộc khu vực, kế thừa các tài liệu đã công
bố hoặc chưa công bố về tính đa dạng thực vật ở Khu BTTN Bát Xát
Sử dụng phương pháp chuyên gia trong nghiên cứu định loại một số loài thực vật
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu đa dạng hệ thực vật
Áp dụng theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2005, 2007) Tiến
hành các bước sau:
+ Xác định tuyến và địa điểm thu mẫu: Điều tra theo tuyến căn cứ vào bản đồ
hiện trạng rừng lập các tuyến điều tra qua các hệ sinh thái, các trạng thái rừng và các dạng địa hình khác nhau như sườn núi, dông núi, đường mòn dân sinh, các con suối chính Từ tuyến chính các tuyến phụ theo kiểu xương cá được mở về 2 bên Trên tuyến điều tra tiến hành thu mẫu và thống kê các loài thực vật Tổng số tuyến điều tra là 8, với tổng chiều dài gần 20 km
+ Thu và xử lý mẫu thực vật: Tiến hành điều tra tất cả các loài thực vật bậc cao
có mạch nằm ở phạm vi 10 m mỗi bên của tuyến điều tra Mỗi loài lấy từ 3-6 tiêu bản Các mẫu thu được phải có đầy đủ tiêu chuẩn để phân loại
+ Chụp ảnh và thu thập thông tin: Các mẫu thu được cần chụp ảnh, ghi kèm các
thông tin liên quan đến địa điểm và đặc tính của thực vật cần thiết cho việc xác định tên loài cùng việc thông kê các thông tin khác như độ cao xuất hiện loài
Xây dựng tuyến khảo sát: Thực hiện 8 tuyến điều tra tại khu BTTN Bát Xát như sau:
Trang 29- Tuyến số 2 Trạm kiểm lâm Dền Sáng – Rừng Đẹp Dền Sáng Chiều dài tuyến 2,0
km
- Tuyến số 3 Trạm kiểm lâm Y Tý – Rừng phục hồi giữa T Tý và Dền Sáng Chiều dài tuyến 2,1 km
- Tuyến số 4 Trạm kiểm lâm Y Tý – Tiểu khu 65, 66 Chiều dài tuyến 2,8 km
- Tuyến số 5 Trạm kiểm lâm Y Tý – Tiểu khu 56, Sối Sín Chải Chiều dài tuyến 2,8
km
- Tuyến số 6 Trạm kiểm lâm Y Tý – theo đường tỉnh lộ 158 – thôn Nhìu Cồ San
Chiều dài tuyến 2,1 km
- Tuyến số 7 Trạm kiểm lâm xã Sàng Ma Sáo – theo đường liên thôn qua Khu Chu Phìn – tiểu khu 80 Chiều dài tuyến 3,2 km
- Tuyến số 8 Trạm kiểm lâm xã Sàng Ma Sáo – theo đường liên thôn qua Khu Chu Phìn – Rừng phục hồi tiểu khu 73 Chiều dài tuyến 2,8 km
Qua quá trình nghiên cứu, tổng số mẫu thu thập được là 522 tiêu bản của 175 số hiệu Bao gồm 282 mẫu tiêu bản của 94 số hiệu hiện được lưu trữ tại Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và 240 mẫu tiêu bản của 81 số hiệu hiện được lưu trữ tại Bộ môn Khoa học Thực vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên (KSH) (Chi tiết xem phần Phụ lục 1)
2.2.3 Phương pháp xác định các nguy cơ suy giảm và đề xuất giải pháp bảo tồn hệ thực vật
Sử dụng phương pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân và cán bộ địa phương (PRA - Participatory Rural Appraisal) Số lượng người phỏng vấn tại 42 người Nghiên cứu sẽ phỏng vấn một số hộ gia đình đại diện cho các dân tộc ở các thôn, bản thuộc vùng đệm Khu BTTN Bát Xát để tìm hiểu về đời sống của cộng đồng địa phương, những kiến thức bản địa của cộng đồng trong canh tác, sử dụng tài nguyên rừng, sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng và sự biến đổi tài nguyên rừng theo thời gian Ngoài ra, Ban quản lý Khu BTTN Bát Xát, UBND các xã Y Tý, Dền Sáng, Sàng Ma Sáo, và các phòng chức năng của huyện Bát Xát cũng được phỏng vấn (theo Gary J Martin, 2002) [12]
Nội dung phỏng vấn tập trung vào việc nhận thức của người dân với công tác bảo tồn thực vật, bảo vệ rừng, hiện trạng khai thác lâm sản, những sức ép lên tài nguyên rừng được đưa vào các câu hỏi trả lời ngắn (phần Phụ lục 5) Trong quá trình phỏng
Trang 30vấn, cũng có thể sử dụng phương pháp phỏng vấn mở (không theo nội dung câu hỏi định sẵn), nhằm tìm hiểu thông tin chính xác, có thể phỏng vấn chéo các thông tin thu thập được
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý mẫu tiêu bản thực vật
Mẫu thu thập được xử lí làm tiêu bản theo kỹ thuật làm tiêu bản thực vật (theo N
N Thìn (1997 và 2007), Gary J Martin (2002) [12, 10, 2]), hiện nay phương pháp này đang được sử dụng tại các bảo tàng thực vật ở Việt Nam như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật - Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội,…
- Định loại tiêu bản và xây dựng danh lục
Định loại tiêu bản thực vật thu thập được ở khu vực nghiên cứu chủ yếu dựa theo các bộ thực vật chí trong và ngoài nước như: Thực vật chí Trung Quốc (1994-2013) [13], Thực vật chí Đông Dương do Lecomte chủ biên hay Thực vật chí Cămpuchia, Lào và Việt Nam (1907-1951) [4, 13], Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000) [6], Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001, 2003, 2005) [7, 8, 9], Thực vật chí Việt Nam (2000-2007) [15, 16, 17, 18, ], Ngoài ra, một số tiêu bản thu được ở khu vực còn được định loại dựa trên so sánh với các tiêu bản ở một số phòng bảo tàng thực vật trong nước và ngoài nước cũng như được sự định loại trực tiếp từ một số chuyên gia thực vật Tên khoa học của các loài cây và khối lượng họ, chi, loài được
chỉnh lý theo cuốn “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2001, 2003, 2005) [7, 8, 9],
kết hợp với Luật danh pháp Quốc tế, Tokyo (1994), tham khảo tra cứu tên khoa học trên các trang www.ipni.org (The International Plant Names Index), www.theplantlist.org (The Plant List) [19, 20]
Về hệ thống để xây dựng danh lục thực vật: Danh lục thực vật được sắp xếp theo
quan điểm của cuốn “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” (2001, 2003, 2005) Lập
bảng danh lục thực vật theo nguyên tắc xếp theo thứ tự sự tiến hóa của các ngành thực vật; trong mỗi ngành, các taxon được xếp theo vần ABC đối với các họ, chi và loài Riêng đối với ngành Ngọc lan được chia thành hai lớp là lớp Ngọc lan và lớp Hành Trong danh lục thể hiện được tên khoa học, tên Việt Nam, dạng sống, yếu tố địa lý,
Trang 31công dụng và tình trạng bảo tồn, độ cao xuất hiện loài và nguồn (là các mẫu vật thu mẫu được, quan sát được hay tài liệu tham khảo) (Bảng 2.1 và phần Phụ lục 1)
Bảng 2.1 Danh lục các loài thực vật ở Khu BTTN Bát Xát (Mẫu)
TT Tên khoa học Tên Việt Nam DS YTĐL CD, GTBT
- Phương pháp phân tích đa dạng phân loại hệ thực vật
+ Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành và lớp: dựa vào danh lục xây dựng được tiến hành thống kê số lượng họ, chi, loài và dưới loài thực vật cho từng ngành thực vật từ thấp đến cao và tính tỷ lệ phần trăm của chúng Riêng ngành Ngọc lan phải thống kê và tính tỷ lệ phần trăm số lượng họ, chi, loài và dưới loài thực vật cho cả lớp Ngọc lan và lớp Hành
+ Đánh giá đa dạng loài của các chi và họ: Thống kê 10 họ và 10 chi có nhiều loài nhất trong tổng số họ và chi thực vật đã điều tra được để đánh giá mức độ đa dạng thực vật theo các họ và chi Ngoài ra, phải tính tỷ lệ phần trăm số loài của 10 họ và 10 chi giàu loài nhất của hệ thực vật
+ Xác định các chỉ số chi (số loài trung bình của một chi), chỉ số họ (số loài trung bình của một họ) và chỉ số chi/ họ (số chi trung bình của một họ)
+ So sánh tính đa dạng thực vật trong khu vực nghiên cứu với các khu vực lân cận khác ở Việt Nam
- Phân tích đa dạng về dạng sống thực vật
Thông tin về dạng sống của các loài được xác định qua các bộ thực vật chí đã kể trên và các tài liệu chuyên khảo thực vật khác Dạng sống của các loài được xác định theo thang phân loại dạng sống của Raukiaer (1934) [21] với tu chỉnh của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [2], chi tiết như sau:
Trang 321 Nhóm cây chồi trên (Phanerophytes - Ph) - Gồm những cây gỗ, dây leo, kể cả
cây bì sinh, ký sinh và bán ký sinh có chồi trên đất, nằm cách mặt đất 25 cm trở lên, chia ra làm các loại sau:
1-1 Cây chồi trên to (Mega - phanerophytes - Mg) - Cây gỗ cao từ 25 m trở lên
như Sâng, Chò chỉ, Lim,…
1-2 Cây chồi trên nhỡ (Meso - phanerophytes - Me) - Cây gỗ cao từ 8-25 m như:
Gội, Sung, Máu chó, Trường,…
1-3 Cây chồi trên nhỏ (Micro - phanerophytes - Mi) - Cây gỗ cao từ 2-8 m như
Chòi mòi, Dâu da, Ngái, Mận, Đào,…
1-4 Cây chồi trên lùn (Nano - phanerophytes - Na) - Cây gỗ nhỏ, bụi, nửa bụi,
cây hóa gỗ, cỏ cao từ 25-200 cm như một số loài trong họ Cà phê, Thầu dầu, Ô rô, Gai, dưới tán rừng hay các loài như Bồng bồng, Dứa mỹ, Hoa hồng, Nhài,…
1-5 Cây bì sinh (Epiphytes - Ep) - Các loài cây bì sinh sống lâu năm trên thân,
cành, cây gỗ, trên vách đá,… như các loài thuộc Dương xỉ, Phong lan,…
1-6 Cây sống ký sinh hoặc bán ký sinh (Parasit - Hemiparasit - phanerophytes -
Pp - Cây sống ký sinh hoặc bán ký sinh trên cây gỗ như Tầm gửi, Tơ xanh, Tơ hồng,
một vài loài thuộc chi Hoya trong họ Thiên Lý
1-7 Cây mọng nước (Succulentes - Suc) - Cây chồi trên mọng nước, thường có
nước và chất dinh dưỡng được tích trữ ở thân như Xương rồng, thuốc bỏng,…
1-8 Cây dây leo (Liano - phanerophytes - Lp) - Cây leo, thân hóa gỗ có chồi trên
leo quấn như Kim ngân, Bàm bàm, Mã tiền, Vằng,…
1-9 Cây chồi trên thân thảo (Herbaces phanerophytes - Hp) - Cây chồi trên thân
không có chất gỗ, sống lâu năm
2 Nhóm cây chồi sát đất (Chamaephytes - Ch) - Cây có chồi sát mặt đất, cách
đất dưới 25 cm, mùa đông được lớp tuyết hay lá khô bao phủ chống lạnh như Rêu, Địa
y, Cao cẳng,…
3 Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes - Hm) - Gồm những cây có chồi nằm sát
(ngang) mặt đất hay nửa trên, nửa dưới đất được lá khô che phủ bảo vệ như nhiều loài thuộc Dương xỉ, Cỏ năn, Náng, Ráy…
4 Cây chồi ẩn (Cryptophytes - Cr) - Cây có chồi nằm dưới đất hay dưới nước
(Bao gồm cả cây chồi ẩn trong đất (Ge - Geophytes), cây chồi ẩn trong nước (He - Helophytes) và cây chồi dưới nước (Hy - Hydrophytes), mùa bất lơi phần khí sinh tàn
Trang 33lụi hết nhưng còn phần thân ngâm ơt dưới đất, sẽ tái sinh vào mùa thuận lợi sau đó, như các loài Cỏ tranh, Gừng, Củ gấu, Khoai tây, Rong tóc tiên, Rong mái chèo, Sen,…
5 Cây một năm (Therophytes - Th) - Gồm những cây có đời sống chỉ tồn tại
trong một năm, giai đoạn khó khăn toàn bộ cây chết đi, chỉ duy trì nòi giống dưới dạng hạt, sống ở bất kể môi trường nào như nhiều loài thuộc họ Cỏ, Rau tàu bay, Cải cúc,…
- Phân tích đa dạng các yếu tố địa lý thực vật
Trên cơ sở danh lục thực vật đã xác định được ở khu vực, tiến hành thống kê các yếu tố địa lý thực vật các loài qua các tài liệu chuyên khảo đã mô tả (Theo N N Thìn, 2007) [2] Trong đó, đáng lưu ý yếu tố đặc hữu (6) "là các taxon chúng phân bố chủ yếu trong giới hạn của Việt Nam và có thể tìm thấy một vài điểm ở các nước lân cận dọc theo biên giới", quan điểm này làm yếu tố cận đặc hữu hơi rộng nên chúng tôi không đưa vào hệ thống này Về chi tiết, hệ thống các yếu tố địa lý thực vật được phân
ra như sau:
1 Yếu tố toàn thế giới: Gồm các taxon phân bố khắp nơi trên thế giới
2 Yếu tố liên nhiệt đới: Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu
Úc, châu Phi và châu Mỹ Một số có thể mở rộng tới vùng ôn đới
2.1 Yếu tố nhiệt đới Á - Úc - Mỹ
2.2 Yếu tố nhiệt đới Á - Phi - Mỹ
2.3 Yếu tố nhiệt đới Á - Mỹ: Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á đến vùng nhiệt đới châu Mỹ, một số có thể mở rộng tới Đông Bắc châu Úc và các đảo Tây Nam Thái Bình Dương
3 Yếu tố cổ nhiệt đới: Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Úc, châu Phi và các đảo lân cận
3.1 Yếu tố nhiệt đới Á - Úc: Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á tới châu Úc và các đảo lận cận, nó nằm ở cánh Đông của Cổ nhiệt đới và mở rộng đến các đảo ấn Độ nhưng không bao giờ tới lục địa châu Phi
3.2 Yếu tố nhiệt đới Á - Phi : Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và các đảo lân cận Đây là cánh phía Tây của vùng Cổ nhiệt đới có thể mở rộng tới Phi-gi và các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc
4 Yếu tố châu Á nhiệt đới (Ấn Độ-Malêzi): Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ Ấn Độ, Srilanka, Mianma, Thái Lan, Philippines đến Niu Ghinê và mở
Trang 34rộng tới Phi-gi và các đảo Nam Thái Bình Dương (vùng Malêsia), nhưng không bao giờ tới châu Úc Kiểu này thường tách thành các kiểu phụ sau:
4.1 Yếu tố Đông Nam Á - Malêzi: Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu
Á từ lục địa Đông Nam Á (Mianma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam Trung Quốc), đến Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Niu Ghinê và mở rộng tới Phi-gi và các đảo Nam Thái Bình Dương nhưng không bao giờ tới châu Úc ở phía Nam và Ấn Độ ở phía Tây
4.2 Yếu tố Đông Dương - Ấn Độ hay lục địa châu Á nhiệt đới: Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ Ấn Độ, Srilanka, Mianma, Thái Lan, Đông Dương
và Tây Nam Trung Quốc nhưng không tới vùng Malaysia
4.3 Yếu tố lục địa Đông Dương - Himalaya: Gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ chân Himalaya, Mianma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam Trung Hoa; một số có thể mở rộng đến bán đảo Malaysia ở phía Nam Đây là nhóm thực vật phân bố chủ yếu trên núi cao
4.4 Yếu tố Đông Dương - Nam Trung Quốc: Gồm các taxon phân bố chủ yếu ở Đông Dương và Nam Trung Hoa, đặc biệt xung quanh biên giới Trung Hoa (chỉ có ở
Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam) và Đông Dương
4.5 Yếu tố Đặc hữu Đông Dương: Gồm các taxon phân bố ở trong phạm vi 3 nước Đông Dương và đôi khi có thể gặp ở Thái Lan
5 Yếu tố ôn đới Bắc: Gồm các taxon phân bố ở trong vùng ôn đới châu Á, châu
Âu, Châu Mỹ và có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới và thậm chí tới vùng ôn đới Nam bán cầu
5.1 Ôn đới Đông Á - Bắc Mỹ: Gồm các taxon phân bố ở vùng ôn đới châu Á và Bắc Mỹ, có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới
5.2 Ôn đới cổ thế giới: Gồm các taxon phân bố ở vùng ôn đới châu Á, Châu Âu,
có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới châu Phi, Châu Úc
5.3 Ôn đới Địa Trung Hải - Châu Âu - Châu Á: Gồm các taxon phân bố ở vùng
ôn đới quanh Địa Trung Hải, Châu Âu, Châu Á
5.4 Đông Á: Gồm các taxon phân bố ở trong vùng ôn đới từ Himalaya đến Đông Trung Quốc tới Triều Tiên hay Nhật Bản, có thể mở rộng tới vùng núi nhiệt đới
6 Đặc hữu Việt Nam: Gồm các taxon phân bố trong giới hạn của Việt Nam
7 Yếu tố cây trồng
Trang 35- Phân tích đa dạng về giá trị sử dụng của thực vật
Công dụng của các loài thực vật được xác định qua các tài liệu chính như: Tài nguyên thực vật Đông Nam Á (nhiều tập) [22], 1900 loài cây có ích ở Việt Nam của Trần Đình Lý (1993) [23], Cây cỏ có ích ở Việt Nam của Võ Văn Chi & Trần Hợp (1999, 2004) [24, 25], Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam của Lã Đình Mỡi chủ biên (1999, 2002) [26, 27], Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2001) [28], Cây thuốc và động vật làm thuốc của tập thể tác giả Viện Dược liệu (2004) [29], Averyanov A và cộng sự (2014) [30], Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam của Triệu Văn Hùng chủ biên và cộng sự (2007) [31], Joongku Lee và cộng sự (2011, 2012) [32, 33], Từ điển Cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi (2012) [34], Tinh dầu của một số loài trong họ Na (Anonnaceae Juss.) ở Việt Nam của Trần Đình Thắng chủ biên và cộng sự (2014) [35],… Ngoài ra, công dụng của các loài còn dựa trên kinh nghiệm sử dụng của nhân dân địa phương
Sử dụng hệ thống phân loại các nhóm cây có ích theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)
[2] có chỉnh sửa theo tài liệu "Tên cây rừng Việt Nam" (2000) [36]
- Phân tích đa dạng nguồn gen thực vật nguy cấp, quý, hiếm
Tình trạng bảo tồn của các loài được đánh giá theo Sách Đỏ Việt Nam phần thực vật (2007) [37], Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (2006) [38], liên hệ với Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ (2013) [39], IUCN Red List of Threadtened Plant Species ver 3.1 2001 (2016) [40]
- Thống kê số liệu: Được thực hiện trên chương trình máy tính Excell
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Danh lục các loài thực vật tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Trang 36Từ những mẫu vật thu được trong khu vực nghiên cứu, kết hợp với sự kế thừa các tài liệu, chúng tôi đã xây dựng được danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch tại
Khu BTTN Bát Xát, tỉnh Lào Cai dựa theo quan điểm của cuốn “Danh lục các loài
thực vật Việt Nam” (2001, 2003, 2005) (xem phần phụ lục 1)
Theo bảng danh lục này, chúng tôi đã thống kê được trong hệ thực vật (HTV) Khu BTTN Bát Xát có tổng số 972 loài thuộc 562 chi và 159 họ thực vật của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, trong đó:
Ngành Lá thông - Psilotophyta: 1 loài, 1 chi, 1 họ;
Ngành Thông đất - Lycopodiophyta: 11 loài, 3 chi, 2 họ;
Ngành Dương xỉ - Polypodiophyta: 77 loài, 56 chi, 21 họ;
Ngành Cỏ tháp bút – Equisetophyta: 1 loài, 1 chi, 1 họ;
Ngành Thông – Pinophyta hay còn gọi là ngành Hạt trần (Gymnospermae): 5 loài, 5 chi, 4 họ;
Ngành Ngọc lan – Magnoliophyta hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae):
877 loài, 496 chi, 130 họ với 2 lớp là:
- Lớp Mộc lan – Magnoliopsida hay còn gọi là lớp Hai lá mầm: 709 loài,
399 chi, 111 họ;
- Lớp Hành – Liliopsida hay còn gọi là lớp Một lá mầm: 168 loài, 97 chi, 19
họ
Trong kết quả trên, tác giả đã ghi nhận bổ sung thêm 32 loài so với danh lục
trước đây thuộc “Dự án xác lập Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai” (năm
2016) Các mẫu vật thuộc các loài ghi nhận bổ sung trên hiện đang lưu trữ tại Bộ môn Khoa học Thực vật, khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (30 loài) và lưu giữ ở Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2 loài) Sự phân bố các taxon trong các ngành của HTV Khu BTTN Bát Xát được thể hiện trong bảng và hình sau:
Bảng 3.1 Sự phân bố của các taxon trong các ngành của HTV
Khu BTTN Bát Xát
TT Ngành thực vật Số Số họ Số chi Số loài
lượng (%)
Số lượng (%)
Số lượng (%)
1 Khuyết lá thông –
Psilotophyta
1 0,62 1 0,17 1
0,01 Thông đất-
Trang 37Ghi chú: Psi: Psilotophyta; Lyc: Lycopodiophyta
Pol: Polypodiophyta; Equ: Equisetophyta Pin: Pinophyta; Mag: Magnoliophyta
Hình 3.1 Tỷ lệ số họ, chi, loài của từng ngành thực vật so với tổng số
3.2 Đa dạng hệ thực vật tại khu bảo tồn thiên nhiên Bát Xát, tỉnh Lào Cai
3.2.1 Đa dạng về mức độ ngành
Qua hình (3.1), cho thấy sự phân bố của các taxon trong ngành HTV KBTTN Bát Xát khá phong phú và đa dạng Sự phân bố của các taxon trong các ngành khá chênh lệch Trong đó, ngành Ngọc lan có số lượng loài lớn nhất chiếm 90,22% tổng số loài của cả hệ thực vật, số lượng chi chiếm 88,25% tổng số chi của cả hệ thực vật, số lượng
họ chiếm 81,76% tổng số họ của cả hệ thực vật Tiếp đến là ngành Dương xỉ có số loài
là 77 chiếm 7,92% tổng số loài thực vật của cả hệ, thuộc 56 chi chiếm 9,96% tổng số chi thực vật của cả hệ, trong 21 họ chiếm 13,21% tổng số họ thực vật của cả hệ
Trang 38Trong 4 ngành còn lại của HTV KBTTN Bát Xát đã tìm thấy được là các ngành
Lá thông, Thông đất, Cỏ tháp bút, ngành Hạt trần thì số lượng và tỉ lệ của các họ, chi, loài so với toàn khu HTV Khu BTTN Bát Xát đều rất thấp Trong đó, ngành Lá Thông
và Ngành Cỏ tháp bút do có số lượng họ, chi, loài trong HTV Việt Nam đều rất thấp nên chiếm tỷ lệ thấp nhất, mỗi ngành chỉ có 1 họ, 1 chi, 1 loài
Như vậy, HTV Khu BTTN Bát Xát với sự phân bố của các taxon trong bảng (3.2) không chỉ nói lên sự đa dạng của nó mà còn phản ánh sự tồn tại của các loài, chi,
họ thuộc nhóm thực vật được coi là tổ tiên trên trái đất Đặc biệt là sự xuất hiện của
các chi Psilotum, Lycopodium, Selaginella là những đại diện còn sót lại của ngành Lá thông và ngành Thông đất, riêng ngành Lá thông gặp 1 chi Psilotum với 1 loài duy nhất của ngành là Lá thông - Psilotum nudum đã được tìm thấy ở nơi đây cho thấy đây
là một trong các loài thuộc chi thực vật cổ thuộc nhóm thực vật có bào tử bậc cao -
Pteriophytes còn tồn tại trên trái đất Bên cạnh đó, nhiều nhóm thực vật thuộc ngành
thực vật có hoa được đánh giá là nhóm thực vật cổ như Magnolia, Altingia, Rhodoleia
cũng đã xuất hiện ở Bát Xát Không những nhiều chi, nhiều loài thực vật cổ mà số lượng cá thể cũng khá nhiều như sự xuất hiện của những vạt rừng có ưu thế là Tống
quán sủ (Alnus nepalensis D.Don) cho thấy Bát Xát là hệ thực vật có nhiều nhóm thực
vật cổ của HTV Việt Nam
Tiến hành so sánh sự phân bố của các taxon trong các ngành của HTV Khu BTTN Bát Xát với HTV Việt Nam, chúng tôi thu được kết quả được thể hiện ở Bảng 3.2
Bảng 3.2 So sánh tỷ lệ % số loài của HTV Khu BTTN Bát Xát với HTV Việt Nam
Số loài