1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trường Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin

92 206 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu về sự đa dạng của thành phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở đây còn ít và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học và sinh thái học của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA HỌ NẤM LINH

CHI (GANODERMATACEAE DONK)

Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ PHÂN BỐ CỦA HỌ NẤM LINH

CHI (GANODERMATACEAE DONK)

Ở VƯỜN QUỐC GIA CHƯ YANG SIN

NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

MÃ SỐ: 60440301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐỖ HỮU THƯ

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 3

Cán bộ hướng dẫn chính: TS Đỗ Hữu Thư

Cán bộ chấm phản biện 1: PGS TS Dương Minh Lam

Cán bộ chấm phản biện 2: TS Lê Thanh Huyền

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 23 tháng 6 năm 2018

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nên trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu thông tin được đăng tải trên các trang web theo danh mục tài liệu đồ án

Tác giả

Nguyễn Thị Quỳnh Anh

Trang 5

LỜI CÁM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và toàn thể Quý thày, cô giáo trong Khoa Môi trường trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn T.S Đỗ Hữu Thư đã tận tình hướng dẫn, góp ý và truyền đạt những kiến thức bổ ích cũng như những định hướng chuyên đề cho tôi

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến đề tài: “ Bảo tồn và phát triển

nguồn gen của ba loài Nấm lớn đang bị đe dọa là Nấm thông Boletus edulis Bull Ex Fr., Nấm mào gà Cantharellus cibarius Fr., Nấm lưỡi bò Fistulina hepatica

(Schaeff Ex Fr.) Fr thuộc chương trình bảo vệ môi trường Thời gian thưc hiện đề tài từ 2017 – 2019 do Thày Đỗ Hữu Thư làm chủ nhiệm đã tạo điều kiện để tôi thực hiện luận văn này

Trong giới hạn khuôn khổ của một luận văn, chắc chắn sẽ không thể bao quát trọn vẹn được hết các vấn đề xoay quanh nội dung nghiên cứu Vì vậy tôi rất mong nhận được nhiều ý kiến từ các thày cô để bổ sung cho luận văn này

Qua các ý kiến đóng góp giúp tôi có thể hoàn thiện hơn vốn kiến thức của mình trong quá trình vận dụng vào thực tiễn

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU – CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG xi

DANH MỤC HÌNH xii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 3

1.1.1 Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Chư Yang Sin 3

1.2 Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó 7

1.2.1 Khái niệm chung 7

1.2.2 Đảm và bào tử đảm 8

1.3 Hệ thống nấm đảm theo Trịnh Tam Kiệt [10, 11] 10

1.4 Hệ thống học và đa dạng sinh học của họ nấm Ganodermatacea Donk 11

1.5 Một số công trình nghiên cứu về họ Ganodermataceae 14

1.5.1 Công trình nghiên cứu trong nước 14

1.5.2 Công trình nghiên cứu ngoài nước 15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 16

2.1.1 Đối tượng 16

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu 16

2.2.1 Phương pháp điều tra theo điểm 16

2.2.2 Phương pháp thu thập mẫu 17

2.2.3 Phương pháp mô tả hình thái và đặc điểm quả thể nấm 17

2.2.4 Phương pháp mô tả đặc điểm hiển vi của nấm Linh Chi 18

2.2.5 Phương pháp định loại/định danh theo tên nấm 20

Trang 7

2.3.6 Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đặc điểm sinh học và phân loại của họ Ganodermataceae Donk 21

3.1.1 Đặc điểm sinh học họ Ganodermataceae Donk 21

3.1.2 Phân loại họ Ganodermataceae Donk 24

3.2 Danh mục các loài nấm và đặc điểm họ Ganodermataceae Donk ở vườn Quốc gia Chư Yang Sin 28

3.2.1 Danh mục các loài nấm họ Ganodermataceae Donk ở VQG CYS 28

3.2.2 Đặc điểm các loài thuộc họ nấm Ganodermataceae 29

3.3 Phân bố của các loài nấm Ganodermataceae ở VQG CYS 52

3.3.1 Phân bố theo sinh cảnh 52

3.3.2 Phân bố theo các yếu tố sinh thái 53

3.4 Giải pháp bảo tồn họ nấm Ganodermataceae ở vườn Quốc gia Chư Yang Sin 57 3.4.1 Định hướng và thực trạng dạng sinh học bảo tồn đa 57

3.4.2 Lý do sự suy giảm các loại dược liệu có giá trị cao 59

3.4.3 Phương pháp bảo tồn nấm lớn 59

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC

Trang 8

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Quỳnh Anh

Lớp: CH1MT Khoá: 1

Cán bộ hướng dẫn: TS Đỗ Hữu Thư

Tên đề tài: Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ nấm Linh Chi

(Ganodermataceae Donk) ở Vườn Quốc Gia Chư Yang Sin

1 Mở đầu

Vườn quôc gia Chư Yang Sin nằm trong khu vực Tây Nguyên và là nơi có sự đa dạng cao của các loài nấm lớn trong đó có các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae Các công trình nghiên cứu về sự đa dạng của thành phần loài của họ Nấm

Ganodermataceae ở đây còn ít và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học và sinh thái học của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở đây

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn

Xác định thành phần loài, sự phân bố và đặc trưng nơi sống của các loài nấm trong họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin (VQG CYS)

3 Nội dung nghiên cứu:

a Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm trên địa bàn các xã: Yang Mao, Cư Drăm,

Cư Pui, Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông

và các xã: Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đăk Lăk

Tọa độ địa lý:

Từ 120014ˊ16˝ đến 130030ˊ58˝ vĩ bắc

Từ 108017ˊ47˝ đến 108034ˊ48˝ kinh đông

Trang 9

* Khí hậu: Khu vực VQG Chư Yang Sin thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió

mùa Tây Nguyên, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4 đến hết tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến đầu tháng 4 năm sau

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm khu vực đạt 220C ở vùng chân núi (độ cao 400-500 m)

+ Lượng mưa: Chư Yang Sin là khu vực có lượng mưa tương đối lớn Tổng lượng mưa trung bình năm dao động từ 1800 - 2000 mm

*Thủy văn: Vườn quốc gia Chư Yang Sin có hệ thống nước mặt khá phong

phú với mạng lưới sông suối dày ở cả sườn bắc và sườn nam Mật độ sông, suối trong khu vực khoảng 0,35 km/km2 Phần lớn các sông suối trong VQG có dòng chảy quanh năm, chất lượng nước mặt khá tốt, thường có độ khoáng hóa nhỏ, pH

trung tính

* Địa hình: Chư Yang Sin là hệ thống núi trung bình và núi cao ở cực Nam

Trung Bộ, nằm về phía Nam vùng trũng Krông Pach- Lắk, chạy dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam Khu vực VQG bao gồm các núi Chư Ba nak (1858 m), Chư Hae’le (1204 m), Chư Pan phan (1885 m), Chư Đrung Yang (1812 m), Chư Yang Siêng (1128 m), Yang Klinh (1271 m), Chư Yang Saone (1176 m), Chư Hrang Kreou (1071 m) và dãy núi có đỉnh cao nhất ở Nam Trường Sơn đó là Chư Yang

Sin có độ cao 2.442 m

* Thổ nhưỡng: Căn cứ vào bản đồ đất Tây Nguyên tỷ lệ 1/200.000 và kết quả khảo sát thực địa cho thấy, trên lãnh thổ VQG Chư Yang Sin có một số nhóm đất:

+ Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình trên đá macma axit

+ Đất Feralit đỏ vàng núi thấp trên đá macma axit

+ Đất Feralit vàng nhạt núi thấp trên đá cát

+ Đất Feralit mùn vàng nhạt núi trung bình trên đá cát

+ Đất mùn Alit trên núi cao

* Thảm thực vật: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, kiểu rừng kín thường xanh mưa

Trang 10

ẩm á nhiệt đới núi trung bình, núi cao, kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp

b Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó

Nấm đảm là những nấm bậc cao, cơ thể của nấm đảm dạng sợi phân nhánh Giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu trình sống

Đảm và bào tử đảm: Đảm là tế bào đinh phình to lên của một số sợi nấm song

nhân mọc ở phiến nấm trong quả thể Tế bào này gọi là nguyên đảm

c Hệ thống học và đa dạng sinh học của họ nấm Ganodermatacea Donk

Họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk đã nổi tiếng từ rất lâu ở các nước Á Đông, theo tiếng Trung Quốc gọi là Lingzhi, theo tiếng Nhật là Reishi, ở Việt Nam thì hay gọi là nấm Lim

Họ nấm Ganodermataceae (nấm Linh chi) trước đây được xếp trong nhóm nấm Nhiều lỗ (polypore)

Chương 2: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu

a Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

Các loài nấm thuộc họ Ganodermataceae Donk được thu thập tại khu vực Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

Địa điểm: Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

b Nội dung nghiên cứu

- Tính đa dạng về loài của họ nấm Ganodermataceae ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

- Phân bố của các loài nấm thuộc họGanodermataceae ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý các loài thuộc họ nấm Ganodermataceae Donk ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

c Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra theo điểm:

+ Điểm 1 Rừng lá kim ưu thế Thông 3 lá Pinus kesiya

+ Điểm 2 Rừng á nhiệt đới cây lá rộng thường xanh

Trang 11

+ Điểm 3 Rừng á nhiệt đới hỗn giao cây lá rộng, lá kim

+ Điểm 4 Rừng cây lùn trên núi cao Phương pháp thu thập mẫu

Thu thập trên 200 mẫu, trong đó có 120 mẫu thuộc họ nấm Ganodermataceae Donk

Phương pháp mô tả hình thái và đặc điểm quả thể nấm

Quan sát bằng mắt thường với sự trợ giúp của kính lúp độ phóng đại 20 lần, lần lượt xem xét và mô tả những đặc điểm về hình thái, màu sắc của nấm

Phương pháp mô tả đặc điểm hiển vi của nấm Linh Chi

Trình tự của quá trình phân tích cấu trúc hiển vi như sau: Hệ sợi mũ nấm, bào

tử, đảm, liệt bào và các cấu trúc khác (nếu có)

Phương pháp định loại/định danh theo tên nấm

Phân tích đặc điểm hiển vi: Bào tử, bào tầng hệ sợi, đảm… sử dụng kính hiển

vi Olympus (Nhật), hiển vi điện tử quét S-4800 (Hitachi), kính lúp Olympus (Nhật) Phân tích đặc điểm hình thái ngoài: Bảng so màu, dung dịch KOH…

Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái

Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, độ cao) sử dụng các thiết bị như Tiger Direct HMAMT-110 (USA), GPS Garmine Trex Vista HCx (USA)

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

a Thành phần nhóm loài thuộc họ Ganodermataceae Donk tại vườn Quốc Gia Chư Yang Sin

Kết quả nghiên cứu tại vườn quốc gia Chư Yang Sin thuộc khu vực Tây Nguyên sau 01 lần đi khảo sát và thu mẫu thực địa đã thu được 200 mẫu trong đó có

120 mẫu thuộc thuộc họ nấm Ganodermataceae Tiến hành phân loại được 16 loài

thuộc chi Ganoderma và 3 loài thuộc chi Amauroderma

b Sự phân bố của họ nấm Ganodermataceae Donk tại vườn Quốc Gia Chư Yang Sin

Trang 12

Nấm sinh trưởng thích hợp ở nhiệt độ 17-22 0C, độ ẩm 90 – 95% và độ cao 200 – 800m so với mực nước biển

c Đưa ra giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý họ nấn Ganodermataceae Donk

ở vườn Quốc Gia Chư Yang Sin

- Bảo tồn nguyên vị

- Bảo tồn chuyển vị

- Bảo tồn trang trại

Trang 13

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU – CHỮ VIẾT TẮT

Trang 14

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Danh mục các loài nấm họ Ganodermataceae Donk ở VQG CYS 28

Bảng 3.2 Phân bố các loài nấm họ Ganodermataceae theo sinh cảnh 52 Bảng 3.3: Phân bố các loài nấm của họ Ganodermataceae theo nhiệt độ tại Vườn quốc gia CYS 54 Bảng 3.4: Phân bố các loài nấm của họ Ganodermataceae theo nhiệt độ tại Vườn quốc gia CYS 55 Bảng 3.5: Phân bố các loài nấm của họ Ganodermataceae theo độ cao tại Vườn quốc gia CYS 56

Trang 15

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Bản đồ Khu vực nghiên cứu – Vườn quốc gia Chư Yang Sin 3

Hình 3.1: Ganoderma lucidum 31

Hình 3.2: Ganoderma appanatum 32

Hình 3.3: Ganoderma fornicatum 35

Hình 3.4: Ganoderma cochlear 37

Hình 3.5: Ganoderma amboinense 39

Hình 3.6: Ganoderma flexipes 41

Hình 3.7: Ganoderma triangulatum 44

Hình 3.8: Ganoderma steyaertanum 47

Trang 16

MỞ ĐẦU

Nấm là những sinh vật sống trong môi trường sinh thái Nấm có khả năng tiết

ra các enzim vào môi trường để phân giải các phân tử phức tạp thành các chất đơn giản, vì thế chúng có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tốc độ chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên, khoáng hoá các hợp chất hữu cơ, làm sạch môi trường sinh thái và tăng độ phì nhiêu cho đất thông qua đó làm tăng năng suất cây trồng và cây rừng

Tây nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và 2 tỉnh Ratanakiri và Mondulkiri(Campuchia), chiếm 1/6 diện tích nước ta gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng Địa hình Tây Nguyên bị phân cắt nhiều bởi các dãy núi khác nhau (dãy Ngọc Linh, dãy

An Khê, dãy Chư Dju, dãy Chư Yang Sin ) độ cao trung bình từ 400-2200m so với mặt biển Khí hậu Tây nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Hệ sinh thái ở Tây Nguyên rất đa dạng với 6 kiểu hệ sinh thái chính gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới, rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, rừng hỗn giao tre nứa, hệ sinh thái trảng cây bụi và đồng

cỏ, hệ sinh thái đồng ruộng và khu dân cư đã tạo nên các hệ động vật, thực vật và hệ nấm khá đa dạng và phong phú trong đó có rất nhiều loài có trong sách đỏ và một số loài đang trong tình trạng báo động tuyệt chủng Với điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên rất thuận lợi cho sự phát triển của nấm lớn nói chung và họ nấm Ganodermataceae nói riêng Nấm lớn Việt Nam hiện nay có rất ít tác giả nghiên cứu, nếu có nghiên cứu chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bằng trung du Đối với khu vực Tây Nguyên chủ yếu tập trung nghiên cứu ở Nam Tây Nguyên còn ở các khu vực còn lại hầu như chưa có tác giả nào nghiên cứu Họ Ganodermataceae đóng vai trò rất quan trọng trong khu hệ nấm lớn nói chung, chúng có ý nghĩa rất lớn về tính đa dạng và đặc biệt là giá trị dược liệu của chúng, từ thời Hoàng đế (trên 4000

Trang 17

năm về trước) cho đến nay Linh chi (họ Ganodermataceae) vẫn được xem là

“thượng dược”- được xếp vào hàng siêu dược liệu Ở nước ta các loài nấm Linh chi (thuộc họ Nấm họ Ganodermataceae) ngoài tự nhiên từ hàng ngàn năm nay vẫn còn

là hoang dại và đang ngày càng bị xói mòn nguồn gen quí hiếm trong thời mở cửa

và tình trạng phá rừng như hiện nay đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh sống của chúng

Vườn quôc gia Chư Yang Sin nằm trong khu vực Tây Nguyên và là nơi có sự đa dạng cao của các loài nấm lớn trong đó có các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae Các công trình nghiên cứu về sự đa dạng của thành phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở đây còn ít và hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm sinh học và sinh thái học của các loài thuộc họ Nấm Ganodermataceae ở đây

Chính vì vậy tôi đề xuất đề tài luận văn là “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin” nhằm góp

phần làm rõ sự đa dạng về thành phần loài của họ Nấm Ganodermataceae ở VQG CYS để đề xuất các giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững chúng như là một nguồn tài nguyên sinh vật quý, có giá trị ở vùng này

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn

Xác định thành phần loài, sự phân bố và đặc trưng nơi sống của các loài nấm trong họ Nấm Linh chi Ganodermataceae ở Vườn quốc gia Chư Yang Sin (VQG CYS)

3 Các nội dung nghiên cứu:

- Tính đa dạng về loài của họ nấm Ganodermataceae ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

- Phân bố của các loài nấm thuộc họ Ganodermataceae ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lý các loài thuộc họ nấm Ganodermataceae Donk ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

Trang 18

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu

1.1.1 Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Chư Yang Sin

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm trên địa bàn các xã: Yang Mao, Cư Drăm,

Cư Pui, Hòa Phong, Hòa Lễ, Hòa Sơn, Khuê Ngọc Điền thuộc huyện Krông Bông

và các xã: Yang Tao, Bông Krang, Krông Nô, Đắk Phơi thuộc huyện Lắk, tỉnh Đăk Lăk Tại đây có đỉnh núi Chư Yang Sin (2.442 mét) cao nhất hệ thống núi cao cực Nam Trung Bộ Phía Đông: dọc sông Krông Bông đến ngã ba suối Ya Brô đến đường phân thủy sông Krông Ana Phía Tây: từ suối Đắk Cao đến ngã ba suối Đắk Kial và đến đường phân thủy giữa Đắk Cao và Đắk Phơi Phía Nam: dọc sông Krông Nô, ranh giới Đắk Lắk và Lâm Đồng Phía Bắc: bắt đầu từ thác Krông Kmar qua dãy Chư Ju - Chư Jang Bông đến suối Ea Ktuor

Trang 19

1.1.1.2 Khí hậu, thủy văn

*Khí hậu

Khu vực VQG Chư Yang Sin thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Tây Nguyên, hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ cuối tháng 4 đến hết tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến đầu tháng 4 năm sau

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm khu vực đạt 220C ở vùng chân núi (độ cao 400-500 m) Tuy nhiên theo quy luật đai cao, càng lên cao, nhiệt độ càng giảm Trên đai cao >900 m, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng

140 -200 C Nhiệt độ tháng nóng nhất là tháng 4 với nhiệt độ trung bình tháng là 23,70 C, tháng lạnh nhất là tháng 1 dưới 120 C

+ Lượng mưa: Chư Yang Sin là khu vực có lượng mưa tương đối lớn Tổng lượng mưa trung bình năm dao động từ 1800 - 2000 mm Song, do yếu tố địa hình nên lượng mưa năm có sự dao động lớn, có năm đạt trên 3.000 mm Có sự biến động khá lớn về lượng mưa năm ít nhất Lượng mưa tập trung vào mùa mưa Độ ẩm tương đối trung bình năm là 84%

*Thủy văn

Vườn quốc gia Chư Yang Sin có hệ thống nước mặt khá phong phú với mạng lưới sông suối dày ở cả sườn bắc và sườn nam Mật độ sông, suối trong khu vực khoảng 0,35 km/km2 Phần lớn các sông suối trong VQG có dòng chảy quanh năm, chất lượng nước mặt khá tốt, thường có độ khoáng hóa nhỏ, pH trung tính Phía Bắc

và Đông có suối Krông Kmar, Đăk Liêng và các suối nhỏ như Đăk Kliên, Đăk Vil, Đăk Sất, Đăk Trop Tai, Ea K’Tour, Ya Tong, Ya Sobla, Ya R’mau, Ya Knoa, Ya Bro, Ya Korko Các suối này đều là thượng nguồn của lưu vực sông Ea Krông Ana Phía Nam và Tây có các suối Đăk Kao, Đăk Pair, Ya Mal, Đăk Gui, Đăk Mé, Đăk Yang Klam, Đăk Knar Các suối này đều là thượng nguồn của sông Krông Knô Sông Krông Knô là ranh giới phía Nam của VQG, dài khoảng 42 km và cũng

là ranh giới giữa 2 tỉnh Lâm Đồng và Đăk Lăk

Trang 20

1.1.1.3 Địa hình, thổ nhưỡng, thảm thực vật

* Địa hình

Chư Yang Sin là hệ thống núi trung bình và núi cao ở cực Nam Trung Bộ, nằm về phía Nam vùng trũng Krông Pach- Lắk, chạy dài theo hướng Đông Bắc-Tây Nam Khu vực VQG bao gồm các núi Chư Ba nak (1858 m), Chư Hae’le (1204 m), Chư Pan phan (1885 m), Chư Đrung Yang (1812 m), Chư Yang Siêng (1128 m), Yang Klinh (1271 m), Chư Yang Saone (1176 m), Chư Hrang Kreou (1071 m) và dãy núi có đỉnh cao nhất ở Nam Trường Sơn đó là Chư Yang Sin có độ cao 2.442

m

Với sự hoạt động mạnh mẽ của quá trình nội và ngoại sinh, trong đó đặc biệt

là quá trình ngoại sinh đã làm cho địa hình khu vực bị chia cắt mạnh, tạo thành nhiều thung lung nhỏ, hẹp Tuy vậy, kết quả khảo sát cho thấy, có một số thung lũng khá bằng phẳng phân bố theo các triền sông, suối lớn

Độ cao VQG chênh lệch rất lớn, từ 450 m đến 2442 m Độ chia cắt sâu >500

m, độ chia cắt ngang dao động 2-2,4 km/km2 Yếu tố sườn cũng là một trong những đặc điểm có sự phân hóa rõ rệt của VQG Địa hình sườn phía Bắc và phía Tây có độ dốc lớn, phổ biến từ 250-350, thậm trí một số nơi độ dốc >400 Sườn Đông và Nam, địa hình trải dài và nâng lên từ từ, phần lớn có độ dốc từ 150-250

* Thổ nhưỡng

Căn cứ vào bản đồ đất Tây Nguyên tỷ lệ 1/200.000 và kết quả khảo sát thực địa cho thấy, trên lãnh thổ VQG Chư Yang Sin có một số nhóm đất:

+ Đất Feralit mùn vàng đỏ núi trung bình trên đá macma axit: Diện tích 38.220

ha, chiếm 64,2 % diện tích tự nhiên Nhóm đất phân bố chủ yếu trên đai cao 1.800 m và chiếm đại đa số diện tích VQG

900-+ Đất Feralit đỏ vàng núi thấp trên đá macma axit: Có diện tích khá lớn, khoảng 8.898 ha, chiếm 14,9% diện tích tự nhiên

+ Đất Feralit vàng nhạt núi thấp trên đá cát: Diện tích khoảng 4.827 ha, chiếm trên 8% diện tích tự nhiên Nhóm đất phân bố ở đai cao <900 m, trên kiểu địa hình núi thấp, tập trung ở xã Yang Mao huyện Krông Bông

Trang 21

+ Đất Feralit mùn vàng nhạt núi trung bình trên đá cát: Diện tích 4.232 ha, chiếm 7% diện tích tự nhiên Đất phân bố tập trung ở các núi có độ cao trung bình như Chư Po Liên (1.309 m), Chư R’Ha Đang (1.224 m), Chư Kour Ki (1.272 m) thuộc xã Yang Mao, huyện Krông Bông

+ Đất mùn Alit trên núi cao: Diện tích 2.770ha, chiếm 4,7% tổng diện tích tự nhiên Đất phân bố tập trung ở khu vực phụ cận đỉnh Chư Yang Sin ở đai cao

>1.800m

* Thảm thực vật

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới:

Kiểu rừng này ít nhiều đã bị tác động, song nhiều nơi còn giữ được tính nguyên sinh Thực vật tạo rừng khá phong phú, phổ biến là các loài trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đậu (Fabaceae)

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình:

Mức độ tác động nhìn chung yếu, nên thảm thực vật còn giữ được tính nguyên sinh Độ che phủ đạt 0,7-0,8, thậm chí đạt 0,9 Thực vật chiếm ưu thế là các loài cây

lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae), họ Tô hạp (Altingiaceae), họ Chè (Theaceae), họ Trâm (Myrtaceae) Tham gia vào tổ thành loài còn là các loài thực vật hạt trần với những cây gỗ có kích thước lớn, trong đó có nhiều loài là những cây

trong tầng vượt tán như Thông lá dẹt (Pinus krempfii), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông 3 lá (Pinus kesiya), Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis) Bên cạnh đó còn có Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia wallichiana)

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình, núi cao (Sinh cảnh rừng lùn trên núi cao): Có diện tích không lớn, phân bố tập trung phụ cận đỉnh Chư Yang Sin độ cao 1.900-2.200m Chiều cao thực vật trong kiểu thảm biến đổi khá nhiều theo dạng địa hình, có thể từ 10-17 m, song phổ biến 10-15 m, đường kính đạt 20-25 cm, có khi 35 cm Những loài cây hạt trần trong kiểu thảm này bắt

Trang 22

gặp là Thông lá dẹt (Pinus krempfii), Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis) và Pơ mu (Fokienia hodginsii) Thân cây thường nhiều cành, phủ rêu và địa y Hiện tượng này

càng gần đỉnh núi càng rõ nét

+ Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp: Loài ưu thế là Thông

3 lá (Pinus kesiya) Cây mọc gần như thuần loài thành những dải hẹp ở thung lũng

Ea Krông Kmar và thung lũng Đăk Mé Rừng có cấu trúc rất đặc trưng của rừng thưa cây lá kim, với mật độ cây thường không quá 220 cây/ha Rừng có 2 tầng cây

gỗ và 1 tầng cây bụi thảm tươi

Tầng ưu thế sinh thái gồm Thông 3 lá với chiều cao 18-25 m, đường kính trung bình 30 cm, tán khá liên tục

Tầng dưới tán là các cây lá rộng như Chẹo răng cưa (Engelhardtia spicata), Dâu rượu (Myrica esculenta), Hồng quang (Rhodoleia championii), Vối thuốc (Schima wallichii) cùng nhiều loài đến từ họ Dẻ, họ Re, họ Sim

Tầng cây bụi và thảm tươi, thảm khô khá phát triển làm cho khả năng tái sinh dưới tán rừng kém, hầu như không thấy Thông 3 lá tái sinh

1.2 Nấm đảm và hệ thống phân loại của nó

1.2.1 Khái niệm chung

Nấm đảm là những nấm bậc cao, cơ thể của nấm đảm dạng sợi phân nhánh Giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu trình sống Thể dinh dưỡng của nấm đảm

là dạng sợi đa bào nguyên thủy, có vách ngăn ngang với lỗ thông phức tạp dạng dolyporus, phân nhánh mạnh, màng được cấu tạo chủ yếu từ Kitin [5].Sinh sản vô tính bằng nhiều kiểu khác nhau còn sinh sản hữu tính bằng bào từ đảm (Basidiospore) được hình thành trên thể sinh sản

Cá thể phát sinh của nấm đảm (Basidiomycetes)

Theo một số tác giả như Trịnh tam Kiệt[11], Lê Bá Dũng[5], Leif Ryvarden[50] thì cá thể phát sinh của nấm đảm trong trường hợp điển hình diễn ra như sau: Bào tử đảm khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm, hình thành sợi sơ cấp với các tế bào đơn nhân, đơn bội (1n) Sợi sơ cấp tồn tại rất ngắn trong chu trình sống Sau đó chúng mau chóng tiếp hợp với sợi khác tính, giao phối sinh chất, song

Trang 23

hạch hóa để tạo ra sợi song nhân đơn bội (n + n) - sợi thứ cấp Sợi thứ cấp phát triển rất mạnh và tồn tại lâu dài trong chu trình sống Ở phần lớn các loài, tế bào đinh sợi hình thành một mẩu nhỏ thường gọi là khóa hay cầu nối giữa hai nhân khác tính Sau đó cả hai nhân đều phân chia cho bốn nhân con, một nhân đi vào nhánh còn một nhân ở lại gốc, còn hai nhân khác tính ở phần đầu của sợi Sau đó khuỷu cong xuống, hòa tan màng nhân đồ nội thất và nhân vào tế bào gốc đồng thời xuất hiện vách ngăn với tế bào đinh Kết quả là hình thành nên một tế bào song hạch mới Như vậy tế bào dưới tế bào đinh lại trở nên song hạch và vết tích còn lại như chiếc cầu của ổ khóa nên được gọi là cầu nối, móc nối hay khóa Sợi song hạch được tạo thành có khả năng sinh trưởng vô hạn và hầu như chiếm toàn bộ đời sống của nấm Trong những điều kiện xác định thì các sợi song hạch này sẽ bện kết lại để tạo nên quả thể nấm với những hình dạng, kích thước và cấu trúc rất đa dạng Sau

đó trên quả thể hình thành nên lớp sinh sản, lớp này phần lớn bao gồm các tế bào song hạch hữu thụ (là tế bào mẹ của đảm về sau) Các đảm có thể dược sắp xếp thành dạng bờ dậu trên mặt giá thể (trường hợp các nấm đảm không hình thành thể sinh sản trong chu trình sống) hay tập trung thành lớp sinh sản – quả thể[5,11,50]

Tế bào mẹ của đảm (hymenia) tăng kích thước chứa đầy chất nguyên sinh, thường có dạng chùy chuyển thành đảm non và diễn ra sự giao phối giữa hai nhân khác tính Sau khi phân chia hai lần, trong đó có một lần phân chia giảm nhiễm để cho bốn nhân con Lúc này ở phần đinh của đảm mọc ra bốn mấu lồi, nội chất cũng như nhân từng chiếc một đi qua mấu lồi, hình thành nên bốn bào tử đảm ngoại sinh bằng cách này chồi phình lên và thắt dần lại Phần kết nối giữa các đảm và bào tử đảm gọi là tiểu bính (sterigma) hay gọi là cuống bào tử Khi bào tử chín sẽ được phát tán chủ động vào không gian và lặp lại chu trình sống

1.2.2 Đảm và bào tử đảm

Đảm là tế bào đinh phình to lên của một số sợi nấm song nhân mọc ở phiến nấm trong quả thể Tế bào này gọi là nguyên đảm[5] Đảm là nơi diễn ra quá trình giảm phân để hình thành nên các bào tử của nấm đảm và bào tử của đảm sẽ phát triển tại đó Cấu trúc của đảm (khi đã trưởng thành) dường như là được bảo tồn qua

Trang 24

quá trình tiến hóa Chính vì thế sự tương đồng về hình thái học của đảm trong các Taxon chính được xem như những chỉ định cho các mức độ quan hệ giữa những Taxon đó [5,11] Các dẫn liệu về hóa thạch của nấm đảm hầu như là không có hoặc rất khó diễn giải, vì vậy những nghiên cứu về hình thái được đưa ra chỉ dựa trên những hiểu biết về tiến hóa trong nấm đảm[11,50,58]

Đảm ở Basidimycota có 2 dạng cơ bản: Đảm đơn bào (holabasidie) gặp ở các đại diện thuộc Hymenomycetes và Gasteromycetes Chúng có hình dạng kích thước khác nhau như: hình trứng, hình chùy, hình thoi… Trên mỗi đảm có 4 cuống bào tử (sterigma), trên mỗi cuống bào tử mang một bào tử đảm Đảm đa bào (phragmobasidie) thường được tạo thành từ phần dưới đảm (hypobasidium) và phần trên đảm (epibasidium) với những vách ngăn Tùy theo từng loại vách ngăn người

ta chia thành hai loại đảm đa bào Loại có 3 vách ngăn ngang tạo nên bốn tế bào nối tiếp nhau, ở mỗi tế bào hình thành một tiểu bính (sterigma), trên đó mang một bào

tử Loại thứ hai có 3 vách ngăn dọc, hình thành nên bốn tế bào, ở mỗi tế bào có một cuống sinh bào tử[5, 32, 50]

Bào tử đảm thường chỉ cấu tạo từ một tế bào (hoàn toàn không có vách ngăn ngang hay ngăn dọc) và chỉ có một nhân Bào tử đảm rất khác nhau về hình dạng và kích thước Chúng có thể hình cầu, hình trứng, hình elip, hình bầu dục hay hình thoi Kích thước bào tử đảm của đa số các loại nấm thường gặp thay đổi từ 3 đến 29 micromet Màng bào tử của tuyệt đại đa số các loài là 1 lớp, chỉ có bào tử đảm của các loài thuộc họ Ganodermataceae có màng 2 lớp[5, 22, 32] Màng của chúng có thể không màu, màu xám, màu vàng – nâu, màu nâu, màu hồng hay màu đen Màng của chúng có thể phẳng nhẵn hay có gai, có u lồi, đôi khi dạng mạng lưới [22] Vách bào tử đảm cũng như bào tử túi có thành phần cấu tạo từ kitin ngoài ra trong cấu tạo vách bào tử còn có callosa, hemicellulose, các hợp chất pectin, amyloid, protein và các sắc tố Người ta có thể phân biệt 5 lớp khác nhau của vách bào tử đảm là: lớp vách trong, lớp vách giữa, lớp vách trung gian, lớp vách ngoài, lớp vách bao Thông thường thì các sắc tố nằm ở lớp vách trung gian, nhưng ngoài lớp vách

đó thì các sắc tố còn có thể nằm trên các lớp khác nữa[5, 20]

Trang 25

Bào tử đảm là cấu trúc sinh sản hữu tính duy nhất của nấm đảm Trong các điều kiện môi trường có biến đổi lớn thì các cấu trúc đặc thù của chúng luôn được bảo tồn một cách ổn định hơn cả so với các cấu tạo hình thái khác, chính vì thế bào

tử đảm được dùng như là một trong những yếu tố cơ bản khi bàn về chủng loại phát sinh của các nhóm nấm đảm

Quá trình hình thành đảm và bào tử đảm xảy ra như sau: Khi tế bào đầu sợi nấm bắt đầu xảy ra quá trình phân chia, thì phần gốc tế bào này hình thành một ống nhỏ và hai nhân khác tính phân chia độc lập với nhau để tạo thành bốn nhân con Một nhân con sẽ chuyển vào ống, một nhân khác chuyển về gốc tế bào và hai nhân khác tính sẽ chuyển lên đỉnh tế bào Tiếp đó hình thành nên hai vách ngăn ngang tạo ra 3 tế bào: tế bào đinh có hai nhân khác tính, tế bào gốc 1 nhân và tế bào ống 1 nhân Sau đó tế bào gốc và tế bào ống hòa tan màng vào nhau để tạo thành tế bào có hai nhân khác tính Tế bào đinh tiếp tục phát triển thành đảm Nghĩa là hai nhân khác tính kết hợp với nhau để tạo thành nhân lưỡng hội, sau đó nhân lưỡng hội này phân chia tiếp hai lần, lần đầu giảm nhiễm, lần sau nguyên nhiễm để tạo thành bốn nhân đơn bội Song song với quá trình trên tế bào mẹ lớn lên và hình thành nên bốn mấu lồi nhỏ, sau đó các nhân này chuyển vào các mấu lồi đó và tạo thành bào tử đảm

1.3 Hệ thống nấm đảm theo Trịnh Tam Kiệt [10, 11]

Ngành Basidiomycota R T Moore (1980) – Nấm đảm

Cơ chế nấm dạng sợi phân nhánh, giai đoạn song hạch chiếm phần lớn chu kỳ sống và dinh dưỡng độc lập Trường hợp điển hình có cấu trúc phức tạp của lỗ thủng trên màng ngăn ngang (dạng doliporus), có bọn chỉ có lỗ thủng đơn giản; có khóa hay không có khóa Sinh sản hữu tính bằng bào tử đảm (basidiospore) hình thành trên đảm (basidie) Theo quan điểm hiện đại nấm đảm được chia thành 3 ngành phụ: Puciniomycotina, Ustilaginomycotina, Agaricomycotina; với 16 lớp, 52

bộ, 177 họ, 1589 chi, 31515 loài Chúng bao gồm hầu hết các loại nấm lớn được dùng làm thực phẩm, dược phẩm và nhiều loại nấm nhỏ gây bệnh rỉ sắt, bệnh than

Trang 26

cho cây trồng, cây công nghiệp, cây rừng và ngay cả con người Vì vậy Nấm đảm là nhóm nấm có ý nghĩa khoa học và kinh tế to lớn

1.4 Hệ thống học và đa dạng sinh học của họ nấm Ganodermatacea Donk

Họ nấm Linh chi Ganodermataceae Donk đã nổi tiếng từ rất lâu ở các nước Á Đông, theo tiếng Trung Quốc gọi là Lingzhi, theo tiếng Nhật là Reishi, ở Việt Nam thì hay gọi là nấm Lim Trên thực tế người ta thường dùng nhiều tên khác nhau để nói về các loài của họ nấm dược liệu quý này, không phải ngẫu nhiên mà từ thời Hoàng đế (trên 4000 năm về trước) cho đến nay Linh chi vẫn được xem là “thượng dược” – được xếp vào hàng siêu dược liệu

Trong số rất nhiều tên gọi khác nhau như Chi linh, Mộc chi linh, Linh chi… thì tên Linh chi có lẽ là tiêu biểu và mang tính lịch sử cần giữ lại hơn cả, trong sách “ Thần nông bản thảo” cách đây hơn 2000 năm, tên này đã chính thức được sử dụng[19]

Ở nước ta Linh chi ngoài tự nhiên từ hàng ngàn năm nay vẫn còn là hoang dại

và đang ngày càng bị xói mòn nguồn gen quý hiếm trong thời mở cửa và tình trạng phá rừng hiện nay

Trên thực tế nấm Linh chi có khá đa dạng về màu sắc cứ mỗi loại màu phải tương ứng với vài loài Bên cạnh đó các vùng sinh thái nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam và đặc biệt hơn khu vực Tây Nguyên có điều kiện khí hậu khác nhau ở các tiểu vùng từ đó tạo nên nhiều vùng sinh thái khác nhau đã tạo nên tính đa dạng sinh y học ở các loài nấm nói chung và họ Ganoermataceae nói riêng Trên cơ sở đó nguồn tài nguyên về nấm của nước ta cần phải được phát triển để có thể so sánh với các nước trong khu vực

Ở khu vực châu Á cũng có một số nhà Nấm học như Patouillard [46,47], Teng, Trịnh Tam Kiệt, Lê Xuân Thám , Lê Bá Dũng và gần đây Lai et al., Silva et

al , Cao Yun et al … đã khảo cứu về khu hệ nấm trong khu vực châu Á

Lịch sử hệ thống Họ Ganodermataceae Donk

Họ nấm Ganodermataceae (nấm Linh chi) trước đây được xếp trong nhóm nấm Nhiều lỗ (polypore), cho đến năm 1933 vẫn duy trì trong Họ Polyporaceaese

Trang 27

sensu lato Cách đây khoảng gần 50 năm họ Linh chi Ganodermataceae Donk (1948) đã được thừa nhận tồn tại tự nhiên theo luật danh pháp

Lịch sử nghiên cứu hệ thống tự nhiên của Họ Linh chi có thể nói là lịch sử nghiên cứu cấu trúc bào tử đảm của chúng

Từ 120 năm trở về trước, Kersten (1881) [5, 19]nhà Nấm học Phần Lan đã

tách và xây dựng chi nấm Ganoderma Karst từ các Nấm thành một chi độc lập theo

kiểu bào tử đảm có lớp vỏ kép hình trứng cụt, bề mặt sần sùi mụn cóc nhỏ Đây là bước tiến quan trọng trong việc nghiên cứu và phân loại họ nấm Ganodermataceae

Từ đó những nhà nghiên cứ nấm học sau này đặc biệt là nghiên cứu về họ Ganodermataceae đã dễ dạng lọc ra từ các nhóm Polyporus, Fomes, Boletu Bên cạnh đó tác giả Patouillard[46]cũng đóng góp vào việc khái quát bào tử đặc trưng của

Ganoderma Karst Tuy rằng bản thân tên chi Ganoderma cũng thể hiện được hình thái

quả thể bên ngoài (derma nghĩa là lớp vỏ, bì và gano nghĩa là láng bóng), theo Lê Xuân Thám và cộng sự [19, 20] đã xác nhận sự có mặt của các vách chống mảnh xen kẽ và nối liền với trụ chống (cấu trúc gai) và tìm thấy cấu trúc mấu lồi nhỏ như kiểu lỗ nẩy mầm ở đáy bào tử Sau này một số tác giả như Pegler và Yuong [48], Trịnh Tam Kiệt[11], Lê Xuân Thám , Lê Bá Dũng [19]đã xác nhận lại điều này

Phần lớn các loài nấm sống đa niên, không cuống chỉ gặp ở chi này và chúng hầu như chỉ sống trên các gốc cây Trong khi đó vào năm 1905, Murrill[43,44] lại phát hiện ra một nhóm nấm có cuống đính gần tâm, đính tâm có chu trình sống ngắn

(1 – 3 tháng), rất giống các loài Ganoderma và tác giả đề nghị xác lập một chi mới độc lập là chi Amauroderma Murr, với tính đồng nhất cao trong cấu tạo lớp vỏ nâu

đen (amauro nghĩa là đen) Đối với chi này cũng có độ đồng nhất cao trong cấu trúc bào tử đảm [50, 52]và một số tư liệu khác gần đây như Trịnh Tam Kiệt[11], Lê Bá Dũng[5], Lê Xuân Thám, Ngô Anh[1]các dẫn liệu này cũng chứng tỏ được các đặc

trung của kiểu bào tử đảm cúa chi Amauroderma, chúng khá giống kiểu bào tử cúa chi Ganoderma, song hầu như hình cầu hay gần cầu, bề mặt vỏ bào tử ít khác biệt với chi Ganoderma Riêng lỗ nảy mầm đã được tiến hóa rõ hơn thành mấu bé khó

tìm thấy

Trang 28

Đối với nấm Linh chi, kết hợp với các đặc trưng về hình thái thể quả, sinh lý

sinh trưởng và phân hóa lối sống, chúng ta có thể kết luận, chi Amauroderma là nhánh phân hóa chủ đạo từ các loài của chi Ganoderma trên thân cây xuống đất Lê

Xuân Thám[19] cũng bày tỏ mối quan hệ gần gũi của 2 chi này Vì vậy mà các nấm Linh chi đen mọc tự do trên nền đất ẩm, nơi có tầng cơ chất thích hợp

Nhà nấm học Hà Lan Donk (1948) [5, 19] đã xây dựng nên Họ Linh chi Ganodermataceae Donk được tách ra từ họ Polytaraceae và cho đến nay đã được thừa nhận rộng rãi Thực ra trước đố năm 1933 chính tác giả Donk cũng đã đề xuất phân họ Ganodermataceae và cho rằng chúng có thể đưa lên thành một họ độc lập

và sau đó một tác giả khác sử dụng công nghệ cao hơn đã khảo sát tinh vi trên kính hiển vi khảo sát điện tử quét (SEM) đã xác lập nên 2 chi nữa thuộc họ

Ganodermataceae đó là Humphreya Stey, với 4 loài và Haddowia Stey với vẻn vẹn 2

loài Tuy nhiên, đây cũng là bước ngoặt cho lịch sử hệ thống họ Ganodermataceae Donk Công trình của Steyaert năm (1972) [58]sau thời gian dài (8 năm) nhà nấm học Ryvarden và Johansen (1980)[56, 57]cũng đã nghiên cứu và tán đồng với Steyaert về 2 chi mới này

Từ trước đến nay hầu như chưa có tác giả nào đưa ra các quan hệ chủng loại phát sinh và tiến hóa của Họ Ganodermataceae Donk, đặc biệt là quá trình tiến hóa bào tử đảm tuy vậy những dẫn liệu của các tác giả hầu như đã thể hiện đầy đủ chẳng hạn Steyaert (1972, 1977) [56, 57]đã xác lập 04 kiểu bào tử đặc trưng cho bốn chi của Họ Ganodermataceae Donk

Năm 1996 Lê Xuân Thám và cộng sự [19]đã nghiên cứu cấu trúc bào tử của

Ganoderma pseudoferreum, có cấu trúc màng mỏng ngăn ngang rãnh khía giống hệt với kiểu cấu trúc khe dọc ở Haddowia longipes Điều đó có thể thấy dduwwocj mối liên hệ về cấu trúc bào tử đảm, của Ganoderma Karst và Haddowia Stey đã tiến hóa

từ một nhóm Ganoderma nào đó có kiểu tế bào tử đảm kiểu như Ganoderma pseudoferreum nghĩa là vừa mang đặc trưng của kiểu Ganoderma lại vừa mang các đặc điểm của kiểu dẫn xuất Haddowia hay nói một cách khác Ganoderma pseudoferreum được xem là giai đoạn trung gian của sự phát sinh của 2 chi

Trang 29

Ganoderma Karst và Haddowia Stey tiếp đến theo tác giả Lê Bá Dũng (2003) [5]

nghiên cứu về thành phần loài của họ nấm Ganodermataceae cho rằng thành phần loài của họ nấm này khá đa dạng về cấu trúc bào tử, bào tầng và hình dạng quả thể tuy vậy cấu trúc bào tử được ổn định nhất ít biến đổi so với các đặc điểm khác khi điều kiện môi trường thay đổi đây là đặc điểm quan trọng để phân loại Đây cũng là thành tựu nghiên cứu quan trọng của các tác giả có thể giúp cho các nhà khoa học nghiên cứu sau này kế thừa trong quá tŕnh nghiên cứu về họ Ganodermataceae

Qua đó các cách thức sống của các nhóm Ganoderma được thay đổi từ trên

cây xuống đất và quá trình tiến hóa cấu trúc bào tử đảm đảm dẫn đến kết quả là hình

thành nên 4 chi: Ganoderma, Amauroderma, Humphreya và Haddowia thuộc họ

Ganodermataceae Ngày nay với công nghệ hiện đại sử dụng sinh học phân tử có thể giúp cho chúng ta nghiên cứu, xác định sự tiến hóa và định dạng loài dễ dàng hơn

1.5 Một số công trình nghiên cứu về họ Ganodermataceae

1.5.1 Công trình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam có rất ít tác giả nghiên cứu về họ nấm Ganodermataceae Donk, phần lớn tập trung nghiên cứu ở các vùng Bắc bộ như tác giả Trịnh Tam Kiệt (1980,

1981, 1996, 2011, 2012…) [8, 9, 10, 11, 12], Phan Huy Dục và cộng sự (2004)[4], Đảm Nhận (1996) [15], Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô (2003) [24], các công trình này nghiên cứu về tính đa dạng của họ nấm Ganodermataceae Donk ở khu vực phía Bắc Ở Miền Trung có tác giả Ngô Anh (2003, 2007)[1, 2]đã nghiên cứu về thành phần loài của họ nấm Ganodermataceae Donk ở tình Thừa Thiên Huế Vùng phía Nam có tác giả Lê Xuân Thám (1996, 2005, 2009, 2011) đã nghiên cứu thành phần loài của họ nấm Ganodermataceae ở Vườn Quốc gia Cát Tiên Khu vực Tây

Nguyên có tác giả Lê Bá Dũng đã mô tả chi tiết 13 loài gồm 2 chi Ganoderma và Amauroderma ở Nam Tây Nguyên Từ những công trình nghiên cứu trên nhận thấy

rằng hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung ở miền Bắc, Trung và miền Nam còn ở VQG CYS chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách đầy đủ

Trang 30

1.5.2 Công trình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu về tính đa dạng họ nấm Ganodermataceae Donk trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu ở các nước khác nhau như Trung Quốc, Brazil, Mexico,

Ấn Độ, Pháp… Cho đến nay có nhiều tác giả nghiên cứu như Alcindo et al (2011) [30], Stéphane & Régis (2010) [55], Bhosle et al (2010) [31], Dong – Mei & Sheng – Hua (2010)[34], Muthelo (2009) [45], Campacci & Gugliotta (2009) [33], Dong – Mei & Sheng – Hua et al (2009)[34], Dine et al (2008) [34], Foroutan et al (2007)[39],Smania et al (2007) [53], Fleischmann et al (2007) [38],Loguercia – Leite et al (2005)[41], Lai et al (2004) [42], Smith et al (2003) [54], Sheng - Hua et

al (2003)[55], Ryvarden (1991, 200, 2004)[49,50,51], Ryvarden anh Johansen (1980)[52], Gottlieb et al (1999) [40], Steyaer (1977, 1972, 1962)[56, 57, 58], Teng (1986)[61], Singer (1960, 1986) [59, 60], Pegler et al (1973)[48], Bessey (1950) [34], Patouillard (1897, 1923, 1927, 1928)[46, 47] Hầu hết các tác giả trên nghiên cứu về tính đa dạng của họ nấm Ganodermataceae Donk ở các vùng khác nhau còn

về đặc điểm sinh thái hiện chưa có tác giả nào đề cập đến

Trang 31

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

Để phục vụ cho việc nghiên cứu của luận văn, đã thu thập trên 200 mẫu, trong

đó có 120 mẫu thuộc họ nấm Ganodermataceae Donk

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Vườn Quốc gia Chư Yang Sin

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp điều tra theo điểm

2.2.1.1 Phương pháp điều tra theo điểm

Điểm 1 Rừng lá kim ưu thế Thông 3 lá Pinus kesiya, độ cao 600-1000m;

tọa độ N 12027.705’; E 108022.449’ Địa hình dốc trung bình, nhiều khu vực khá thoải Cấu trúc rừng gồm 3 tầng: Tầng ưu thế sinh thái là Thông 3 lá, cao khoảng trên dưới 30m, độ che phủ khoảng 0,3, tầng cây gỗ dưới tán gồm một số loài cây thuộc họ Fabaceae, chiều cao cây khoảng 20-25m,tầng cây bụi chủ yếu là dương xỉ

và cỏ cao dưới1m, mọc thành từng cụm không liên tục, độ che phủ thấp,vật rơi rụng chủ yếu là lá và quả thông, độ dày thảm mục mỏng, khoảng0,5cm

Điểm 2 Rừng á nhiệt đới cây lá rộng thường xanh ở độ cao 1000-1500m;

tọa độ N 12025.110’; E 108022.161’ với ưu thế là các loài thuộc họ Dẻ Fagaceae, họ Ngọc lan Magnoliaceae, họ Re Lauraceae với chiều cao tầng tánưu thế vào khoảng 20-30m và giảm dần khi lên các đai cao hơn

Điểm 3 Rừng á nhiệt đới hỗn giao cây lá rộng, lá kim ở độ cao

1500-1900m; tọa độ N12025.300’; E 108024.153’ với các loài ưu thế cây lá kim là Pơ mu

Fokienia hodginsii, Thông đà lạtPinus dalatensis, Du sam núiđấtKeteleeria

Trang 32

evelyniana; cây lá rộng chủ yếuthuộc về các loài thuộc DẻFagaceae, Ngọc Lan

Magnoliaceae, Re Lauraceae, họ Bứa Clusiaceae

Điểm 4 Rừng cây lùn trên núi cao ở độ cao 1.900-2.200m; tọa độ N

12025.822’; E 108023.348’, thực vật thân gỗ chủ yếu là các loài thuộc họ Ericaceae,

chi Đỗ quyên Rhododendron, các loài thuộc họ DẻFagaceae, Chè Theaceae, Ngọc

lan Magnoliaceae, Hồi Illiaceae

2.2.1.2 Phương pháp điều tra theo tuyến

Các tuyến điều tra được thiết kế bằng cách nối các điểm điều tra 1, 2, 3, 4 với nhau và kết hợp với điều tra ngẫu nhiên ở trên lãnh thổ Vườn quốc gia Chư Jang Sin

2.2.2 Phương pháp thu thập mẫu

Thu mẫu và phân tích mẫu nấm được thực hiện theo các phương pháp của Teng (1964) [87], Trịnh Tam Kiệt (1981) [8], Singer R (1986) [59], Ryvarden (1991) [50]

Nguyên tắc của phương pháp:

+ Thu thập mẫu vật trên các loại hình sinh cảnh khác nhau (rừng lá rộng, rừng

lá kim, rừng hỗn giao…)

+ Phân tích các đặc điểm hình thái, cấu trúc hiển vi của các mẫu thu thập được, ngoài ra trong quá trình thu thập mẫu vật ngoài tự nhiên, chúng tôi còn ghi nhận các nhu cầu sinh thái của từng loài Xác định thời gian mùa vụ, phân bố, ý nghĩa của chúng

2.2.3 Phương pháp mô tả hình thái và đặc điểm quả thể nấm

Khi thu thập mẫu vật ngoài tự nhiên ghi chép đầy đủ các chi tiết như hình dạng, kích thước, màu sắc mùi vị, các phản ứng với dung dịch hoá học ngay tại nơi thu mẫu (đặc biệt ghi nhận đầy đủ các đặc điểm dễ mất khi bảo quản tiêu bản ở trạng khô) Quan sát bằng mắt thường với sự trợ giúp của kính lúp độ phóng đại 20 lần, lần lượt xem xét và mô tả những đặc điểm về hình thái, màu sắc của nấm theo trình tự như sau:

Trang 33

- Hình dạng quả thể: dạng rốn, dạng phễu, dạng chuông…

- Màu sắc quả thể: Có rất nhiều màu khác nhau như vàng chanh, màu nâu đỏ, xanh nhạt…

- Cấu trúc bề mặt: Khô, nhớt, nhẵn, long, vảy…

- Phản ứng đổi màu khi tiếp xúc với không khí

2.2.4 Phương pháp mô tả đặc điểm hiển vi của nấm Linh Chi

Phân tích các đặc điểm hiển vi của mẫu vật thuận lợi nhất là dùng mẫu tươi vừa mới thu hái được Trước hết cắt lấy một quả thể gồm mô nhũ nấm và bào tầng (phiến nấm hay ống nấm) Từ phần quả thể này, phân tích được mối quan hệ giữa

mô bất thụ của mũ nấm và mô bất thụ của bào tầng ngoài ra còn phân tích được màu sắc, mùi vị và độ dày thịt nấm Cũng từ phần quả thể này chúng tôi dùng kim

Trang 34

nhọn tách một phần nhỏ đặt trên lam kính để phân tích cấu trúc của hệ sợi Dùng dao nhọn cắt vuông gốc với phiến nấm hay ống nấm (cắt song song với chiều thẳng đứng của quả thể) để quan sát và phân tích các hình thái và cấu trúc của các yếu tố trên bào tầng như đảm, đảm bào tử, liệt bào, gai nhọn… trên kính hiển vi với độ phóng đại từ 400 tới 1000 lần Những mẫu tươi thường được quan sát với nước cất,

ở đó ta thu được màu sắc tự nhiên của nấm Với các mẫu khô thì phải tiến hành quan sát trong dung dịch NaOH 3% để cho các tế bào trương phồng lên trở lại trạng thái ban đầu Ngoài ra một số mẫu khó quan sát chúng tôi có thể nhuộm bằng dung dịch đỏ Congo, xanh Colton… rồi sau đó dùng giấy lọc thấm khô dung dịch thừa, cho nước cất vào rửa sạch rồi quan sát

Mặt khác, để quan sát những cấu trúc siêu hiển vi như những trang trí trên bề mặt vỏ bào tử chúng tôi phải tiến hành các phản ứng nhuộm màu bằng Anilin trong Acid lactic, hay dung dịch Melzer để xác định sự tồn tại của tinh bột và làm đậm hơn các cấu trúc hiển vi

Trình tự của quá trình phân tích cấu trúc hiển vi như sau:

Hệ sợi mũ nấm

- Phân nhánh hay không phân nhánh, có vách ngăn ngang hay không, có khoá hay không có khoá

- Kích thước đường kính sợi

- Cấu trúc sợi: Thành sợi dày, mỏng, bắt màu hay không bắt màu

Trang 35

2.2.5 Phương pháp định loại/định danh theo tên nấm

Phân tích đặc điểm hiển vi và hình thái ngoài ở phòng thí nghiệm bộ môn Sinh học Trường Đại học Tây Nguyên và phòng chụp hình điện tử & siêu cấu trúc ở viện

vệ sinh dịch tễ Trung Ương

Phân tích đặc điểm hiển vi: Bào tử, bào tầng hệ sợi, đảm… sử dụng kính hiển

vi Olympus (Nhật), hiển vi điện tử quét S-4800 (Hitachi), kính lúp Olympus (Nhật) Phân tích đặc điểm hình thái ngoài: Bảng so màu, dung dịch KOH…

Mẫu nấm được thu thập và định danh theo phương pháp hình thái giải phẫu so sánh dựa trên tư liệu của Furtado (1962, 1965) [36,37], Teng (1964) [61], Steyaen (1972, 1980) [56, 58], Ryvarden L (1991, 2000) [50, 51], Trịnh Tam Kiệt (2011, 2012) [9, 11], Campace Thiago Silva et Al (2009) [33], Bhosle (2010) [31], Pegler Young (2012) [48]

2.3.6 Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái

Phương pháp xác định các nhân tố sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, độ cao) sử dụng các thiết bị như Tiger Direct HMAMT-110 (USA), GPS Garmine Trex Vista HCx (USA)

Trang 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm sinh học và phân loại của họ Ganodermataceae Donk

3.1.1 Đặc điểm sinh học họ Ganodermataceae Donk

3.1.1.1 Đặc điểm về cấu trúc bào tử của họ nấm Ganodermataceae Donk

Họ Ganodermataceae Donk có cấu trúc bào tử khá đặc biệt so vợi nấm khác,

sự nhận diện hình thái cấu trúc bào tử rất rõ nét, đa số bào tử có hình trứng nhụt một đầu, bầu dục, hay gần tròn gồm 2 lớp, lớp ngoài nhẵn, lớp trong có gai nhỏ (trụ chống) có nhiều hình dạng khác nhau (hình bán nguyệt, hình trụ, ) Đặc điểm này chỉ có duy nhất ở họ Ganodermataeae Donk và hoàn toàn không có ở các họ nấm khác Cấu trúc bề mặt ngoài khá đa dạng như hình lưới, hình gai hay nhẵn Bên cạnh đó bào tử của một số loài xuất hiện cấu trúc mấu lồi njor như kiểu lỗ nảy mầm

ở đáy bào tử đối diện với lỗ nấm thường lệch sang 1 phía trái hay phải tùy loài 3.1.1.2 Đặc điểm khác biệt của cấu trúc bào tử ở các chi trong họ Ganodermataceae Donk

Đặc điểm cấu trúc bào tử của họ Ganodermataceae Donk có đặc trưng riêng

là bào tử có dạng hình trứng, hình tròn hay hình bầu dục, gồm hai lớp màng (lớp màng ngoài thường nhẵn, màng trong có gai nhỏ )

Đối với chi Ganoderma thuộc họ Ganodermataceae Donk có đặc trưng riêng

là dạng hình trứng nhụt một đầu (phần lỗ nảy mầm)

Đối với chi Amauroderma thuộc họ Ganodermataceae có đặc trưng là dạng

hình trứng hay gần tròn không nhụt đầu

3.1.1.3 Đặc điểm về quả thể

Hình thái của quả thể (thể sinh bào tử)

Quả thể hay thể sinh bào tử của họ nấm Ganodermataceae Donk rất đa dạng

và thường gặp ở các dạng sau:

Dạng mũ đính bên, mũ hình bán cầu dẹp hay dạng hến sò, dạng quạt, đính vào giá thể trên một diện rộng Quả thể nấm trong trường hợp này thường phẳng, dẹp Quả thể có thể đính đơn độc hay xếp thành dạng ngói lợp, cái nọ trên cái kia Ngoài ra còn xuất hiện một số hình dạng khác như dạng chùy, dạng san hô phân

Trang 37

nhánh, dạng phiến đơn độc hay phân nhánh Dạng tán, gồm những mũ nấm đính trên cuống nấm với dạng phụ như có cuống ngắn đến gần như không cuống, cuống đính phía bên trên mũ, cuống lệch và cuống đính giữa

Mũ nấm cũng gồm rất nhiều dạng khác nhau như:

Mặt mũ nấm cũng rất khác nhau tùy vào từng loài Mũ nhẵn hay có vảy, mụn,

u, lồi ; có lông thô hay nhày, dính, màu sắc của mũ nấm hết sức đa dạng và khác nhau, ngoài ra bề mặt mũ nấm tạo nên những đường vân đồng tâm cũng như phóng

xạ ở nhiều loại nấm

Thịt nấm cũng rất khác nhau Chúng bao gồm chất thịt, chất keo, chất sáp, chất sụn, chất thịt bì, chất bì, chất lie mềm, chất gỗ cứng, chất sừng, Chúng có cấu trúc đồng nhất phân tầng gồm 2, 3 lớp có khi có đường đen chạy qua, cấu trúc của thịt nấm và nô của thể sinh sản có thể đồng nhất hay khác nhau Thịt nấm rất khác nhau về màu sắc, mùi, vị cũng như phản ứng với không khí và các chất hóa học, ví dụ như phản ứng với KOH chuyển sang màu tối hay xanh đen

Cuống nấm cũng có nhiều kiểu khác nhau:

Cuống ngắn hay cuống phôi thai

Cuống đính bên

Cuống nấm rất khác nhau về hình dạng:

Hình trụ nếu kích thước ở các phần đều nhau

Phình dạng bụng nếu ở phần giữa cuống phình to hơn

Dạng cù nếu phình to ở gốc cuống

Dạng hình thoi nếu thót cả phần trên đỉnh và phần gốc của cuống

Dạng rễ nếu gốc của cuống thót dần lại

Trang 38

Cuống nấm có thể đặc, xốp hay rỗng giữa Chất thịt của cuống tương tự như

mũ hay khác nhau như chất thịt dạng sợi (chất xenluloza), chất thịt, sụn, sừng, gỗ, Trên cuống có thể nhẵn hay có các phần phụ như vảy, lông,

Lớp mặt của mũ

Trong phân loại nấm hiện đại, cấu trúc hiển vi của lớp mặt của mũ trong nhiều trường hợp có ý nghĩa to lớn Các tế bào cấu trúc nên lớp vỏ của mũ có hình dạng, kích thước, màu sắc, sự sắp xếp rất khác nhau ở các taxon khác nhau Với các nấm chất gỗ, đáng để ý nhất là cấu trúc lớp vỏ bóng như được đánh vecni hay được sơn Chúng được tạo thành từ những tế bào phình hình chùy, xen xít nhau thành dạng hàng rào

Bụi bào tử: ở họ nấm Ganodermateae Donk khi thành thục chúng đều phóng bào tử một cách chủ động vào không khí, màu sắc của bụi bào tử có màu đất đỏ

Hệ thống sợi nấm

Bao gồm tập hợp các loại sợi cấu trúc nên mô ở các phần khác nhau của quả thể như mô thịt nấm, mô ống hay phiến cũng như cuống nấm Chúng được tạo thành từ các loại sợi sau:

Sợi nguyên thủy: là sợi nấm khởi đầu, màng mỏng, có chứa nội chất, có vách ngăn điển hình Chúng có thể có khóa hay không Chúng có thể khác nhau về độ dày, chiều dài của các tế bào, cấu trúc của nội chất bên trong, bao giờ cũng còn màng ngăn ngang

Sợi cứng: gồm sợi nấm có màng dày, ít hay hầu như không phân nhánh Chúng không có vách ngăn và dĩ nhiên không bao giờ hình thành khóa; thường không chứa nội chất ngay từ giai đoạn đầu của quá trình phát triển, vì vậy thường

có dạng ống vách dày Chúng xuất hiện ở phần dính vào giá thể của quả thể nấm và như vậy cùng sự phát triển của quả thể sẽ kéo dài dần ra và hầu như toàn bộ quả thể nấm

Sợi bện: Sợi nấm mọc trong trường hợp này có màng dày tới màng bình thường, phân nhánh rất nhiều, không có vách ngăn Chúng xuất hiện từ dạng sợi nguyên thủy, mọc xuyên giữa mô, bện kết các sợi khác lại

Trang 39

Dựa vào sự có mặt của các sợi trên mô, người ta chia ra các hệ thống sợi nấm sau:

Hệ sợi đơn độc chỉ gồm những sợi nấm nguyên thủy

Hệ sợi hai loại (dimitric) gồm những sợi nấm nguyên thủy và sợi cứng hay gồm sợi nguyên thủy và sợi bện, cũng dòn được gọi là hệ sợi hai loại với sợi bện

Hệ sợi ba loại (trimitric) gồm cả 3 loại sợi nguyên thủy, sợi cứng và sợi bện Ngoài ba loại sợi trên, trong mô còn có thể gặp sợi nấm dạng lông cứng khổng lồ, liệt bào dạng cầu Hơn thế nữa giữa 3 dạng chính trên còn có những dạng chuyển tiếp, vì vậy ranh giới giưa chúng không bao giờ rõ rệt Trong phân loại hiện đại, việc phân tích sợi ngày càng có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt khi xem xét quan

hệ họ hàng giữa các nhóm nấm

3.1.2 Phân loại họ Ganodermataceae Donk

Thành phần loài của họ nấm này cũng khá đa dạng Quả thể dày, có mũ và

cuống, cuống nấm thường đính lệch bên hay không cuống, mũ nấm bóng láng thường có màu sáng như màu đỏ, vecni, nâu, nâu đỏ, xám

Thịt nấm chất gỗ hay chất bì dai, màu nâu, nâu vàng hay nâu tối

Bào tầng dạng hình ống hình tròn hay hình đa giác, phân thành lớp rõ ràng so với thịt nấm

Bào tử có hai lớp màng: màng ngoài nhẵn, màng trong có gai nhỏ ( đặc điểm này chỉ có ở họ Ganodermataceaae không có ở bất kỳ loài nấm lớn nào) thường có màu rỉ sắt

Hầu hết nấm thuộc họ Ganodermataceae mọc thành cụm, liền hay rời gốc trên gỗ, hay trên tàn dư thực vật ở dưới tán rừng, một số ít mọc nhiều năm (nấm đa niên)

3.1.2.1 Khóa định loại tới chi của họ Ganodermataceae

Quả thể chất gỗ đến chất bě dai, sống hoại sinh tręn gỗ, ít khi kí sinh Quả thể

có mũ và cuống hay không cuống, cuống nấm thường nằm lệch một bên, màu nâu hay nâu đen, lớp màng ngoài nhẵn, lớp màng trong có gai nhỏ

Trang 40

1A Quả thể thường có vỏ cứng và thường láng bóng; bào tử hai lớp vỏ hình

trứng nhụt một đầu chi Ganoderma

1B Quả thể thường có vỏ cứng và không láng bóng; bào tử hai lớp vỏ; hình

trứng không nhụt đầu chi Amauroderma

Đặc điểm chi Ganoderma Karst

Quả thể có cuống hoặc không cuống, mọc trên gỗ Mũ nấm đa số bóng láng thường dạng thận hay quạt có khi tròn Thịt nấm màu nâu chất gỗ đến chất bì dai Ống nấm một tầng, một số ít có hai tầng

Bào tử có dạng trứng nhụt một đầu, vỏ bào tử gồm hai lớp, lớp ngoài nhẵn, lớp trong có gai nhẹ hoặc sần sùi có màu vàng rỉ sắt

Đặc điểm của chi Amauroderma (Pat.) Murill

Quả thể đa số có cuống hoàn chỉnh đính giữa hay đính bên, rất ít khi không cuống mũ nấm đa số không láng bóng rất ít loài láng bóng mọc trên gỗ hay trên tàn

dư thực vật Thịt nấm gần như màu trắng hoặc màu nâu, chất gỗ đến chất bì dai, ống nấm một tầng ít khi nhiều tầng Bào tử gồm hai lớp màng có hình trứng hay gần hình bầu dục không nhụt đầu thường màu nhạt, vỏ ngoài nhẵn bóng, vỏ trong sần sùi

3.1.2.2 Khóa định loại tới loài của chi Ganoderma Karst

1 Biểu bì mũ nấm nhẵn bóng (bóng láng) ……… ………….2

1 Biểu bì mũ nấm không nhẵn bóng (Không láng bóng) ………9

2 Quả thể có cuống dài ……….3

2 Quả thể không cuống hoặc cuống ngắn ……… ….15

3 Quả thể có cuống đính bên hoặc đính giữa ……… 4

3 Quả thể có cuống mọc chính bên, có cấu trúc vòng đồng tâm ………….8

3 Quả thể có cuống đính ở mặt trên của quả thể, quả thể màu đen bóng, kích

thước bào tử khoảng 4-6 x 9x12 µm, 1mm có 5-7 ống nấm ………… Ganoderma fornicatum

4 Quả thể có bề mặt dạng phễu, mặt trên có cấu trúc san hô

……… ……… Ganoderma multipileum

Ngày đăng: 10/11/2018, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w