1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

HIỆU SUẤT CỦA TÃ EM BÉ CÓ THỂ Ủ PHÂN TRONG QUÁ TRÌNH LÀM PHÂN VỚI THÀNH PHẦN HỮU CƠ CỦA CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ.

14 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 285,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây, các thí nghiệm quy mô phòng thí nghiệm đã xác định rằng gần 50 % carbon của tã ủ phân được phát thải ra như CO2 trong điều kiện kiểm soát khí.. Liên quan đến việc phát sinh tã

Trang 1

HIỆU SUẤT CỦA TÃ EM BÉ CÓ THỂ Ủ PHÂN TRONG QUÁ TRÌNH LÀM PHÂN VỚI THÀNH PHẦN HỮU CƠ CỦA CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ.

GVHD: TS Tô Thị Hiền.

Nhóm 1- 10CMT

Trần Chế Đoan Hạnh 1022089

TÓM TẮT

Trong xã hội hiện đại, tã dùng một lần chiếm một tỷ lệ đáng kể trong chất thải rắn đô thị Chúng thường được chôn lấp hoặc đốt truyền thống như quá trình hạn chế việc tái chế đang được thực hiện trong một số nơi của châu Âu Với việc triển khai hệ thống thu gom riêng biệt cho chất thải hữu cơ của chất thải rắn đô thị (OFMSWs) và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường, tã ủ phân đã xuất hiện trên thị trường để tránh những tác động môi trường chính liên quan đến tã dùng một lần không phân hủy sinh học Trong nghiên cứu này, một phân bón đầy đủ quy mô thu gom tại nhà OFMSW với 3% (w/w) của tã ủ phân cũng đã được thực hiện Trước đây, các thí nghiệm quy mô phòng thí nghiệm đã xác định rằng gần 50 % carbon của tã ủ phân được phát thải ra như CO2 trong điều kiện kiểm soát khí Kết quả thu được ở quy mô lớn chứng minh rằng cả hai quá trình phân huỷ và các sản phẩm cuối cùng (phân bón) không bị thay đổi bởi sự hiện diện của tã ủ phân ở các khía cạnh quan trọng như yếu tố gây bệnh, tính ổn định và nguyên tố thành phần (bao gồm các chất dinh dưỡng và kim loại nặng) Kết luận chính của nghiên cứu này là việc thu gom của OFMSW với tã ủ phân có thể trở thành một hướng chuyển đổi mới để chuyển chất thải này thành phân bón chất lượng cao

I GIỚI THIỆU

Việc phát sinh chất thải là một trong số những vấn đề môi trường quan trọng của xã hội hiện nay, đặc biệt là những chất thải liên quan đến phân hủy sinh học Vấn đề quan trọng

là phát triển sản phẩm mới được tăng cường khả năng phân hủy sinh học để thay thế cho các sản phẩm hiện có (khả năng phân hủy sinh học thấp, có xu hướng tích lũy trong môi trường)

Trang 2

Tã lót thải bỏ bao gồm các chất hữu cơ (bột giấy cellulose, phân và nước tiểu) (Colón et al., 2011), thường được thu gom chung và xử lí như rác thải đô thị hoặc thiêu đốt (Manfredi et al., 2010) Vấn đề môi trường chính do việc chôn lấp chất thải có hàm lượng vật liệu hữu cơ cao là phát thải methane, góp phần vào hiệu ứng nóng lên toàn cầu, có khả năng thấm vào mạch nước ngầm, chiếm dụng đất, tiếng ồn và mùi hôi (Smith et al., 2001) Mặt khác, tiêu hủy chất thải có thể sinh ra khí ô nhiễm (NOx, SO2, bụi và dioxins), phát thải khí nhà kính (NO2, CO2) và tro; chúng nên được quản lí như chất thải nguy hại (Smith et al., 2001); nhưng chiến lược giảm thiểu để giải quyết vấn đề còn phụ thuộc vào công nghệ được sử dụng và tình hình tại địa phương

Ngoài ra, the European Union Landfill Directive (The Council of the European

Union, 1999) yêu cầu hạn chế việc xử lí vật liệu phân hủy sinh học tại bãi chôn lấp Theo

chỉ thi đó, đến năm 2016, chất thải đô thị phân hủy sinh học vận chuyển đến bãi chôn lấp phải giảm xuống 35% trên tổng số lượng (theo trọng lượng khô) chất thải đô thị phân hủy sinh học được sản xuất năm 1995 Việc quản lí hợp lí tã giấy có thể đóng góp vào việc đạt được mục tiêu trên

Liên quan đến việc phát sinh tã lót, trong lượng trung bình của tã lót đã qua sử dụng là 212g theo dữ liệu thí nghiệm trọng lượng trung bình của 610 tã thu gom được tại đô thị của Mancomunitat La Plana (Spain) từ 18 – 24/2/2008 Tại EU-27, 20,621 triệu tã giấy

đã được sử dụng năm 2009 (Eurostat, 2009), với ước lượng 4.3 triệu tấn chất thải, chiếm 1.7% tổng chất thải rắn đô thị phát sinh tại đây Mặc dù việc phát sinh thường diễn ra tại các hộ gia đình, nhà trẻ tập trung đáng kể tỉ lệ tã phát sinh Do đó, đây là yếu tố chiến lược quan trọng được đưa ra để thay thế tã giấy dùng một lần, như tái sử dụng hoặc làm phân hữu cơ Tuy nhiên, độ phổ biến của dịch vụ nhà trẻ rất khác nhau giữa các thành phố Bảng 1 cho ta thấy ước tính tổng tã lót đã sử dụng và tã lót sử dụng tại nhà trẻ tại các thành phố khác nhau ở European Nó cho thấy sự khác nhau quan trọng giữa các kết quả phân tích các thành phố Mặc dù không nghiên cứu sâu vấn đề này, có lẽ nó liên quan đến những khía cạnh về xã hội, kinh tế, văn hóa

Trang 3

Bảng 1 Ước tính lượng tã lót được sử dụng tại các đơn vị chăm sóc trẻ em được quốc gia cấp phép (%) (2009)

Chúng ta có 2 sự lựa chọn thay thế cho tã lót dùng 1 lần: tã tái sử dụng và tã làm phân hữu cơ Tã lót tái sử dụng có thể rửa sạch sau mỗi lần sử dụng, trong khi đó tã làm phân hữu cơ sẽ được thu gom cùng với chất thải sinh học và quả lí tại các cơ sở xử lí sinh học, đặc biệt là các nhà máy làm phân hữu cơ Trong trường hợp là tã lót dùng 1 lần, những kiến nghị pháp lí cho rằng nên thu gom nó cùng với những vật liệu bị thải bỏ (Catalan Waste Agency, 2009a) Ngày nay, số lượng các hãng tã lót dùng làm phân hữu cơ ngày càng tăng, mặc dù con số đáng tin cậy hoặc tỉ lệ sử dụng vẫn chưa nắm bắt được Tuy nhiên, nó lại rất quan trọng để biết được hiệu quả thật sự về mặt phân hủy sinh học của sản phẩm mới trước khi nó xuất hiện trên thị trường

Mặc dù không phải vấn đề chính của nghiên cứu, Hakala et al (1997) đã thực hiện một

so sánh cuộc sống đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA) giữa tã thông thường và tã làm phân ủ Trong trường hợp này, tã làm phân hữu cơ sử dụng axit polylactic (PLA) thay thế cho polypropylene (PP) và polyethylene (PE) Các điểm khác biệt được tìm thấy trong các tác động của tã thông thường và tã làm phân hữu cơ là nhỏ

Tác động chính của tã lót làm phân hữu cơ được tìm thấy trong suốt hoạt động nông nghiệp với vật liệu thô và trong quá trình lên men thành acid lactic (phát thải trong phú dưỡng và tiêu thụ năng lượng) Trái lại, tã lót làm phân hữu cơ có thể được chuyển đổi thành phân hữu cơ, nâng cao chất lượng đất và thay thế 1 phần phân khoáng Như vậy,

Trang 4

lượng chất thải chôn lấp sẽ giảm đi đáng kể Một lợi thế khác rằng polymer sinh học sẽ được tái tạo hằng năm từ vật liệu thô

Tác động chính của tã lót thường là phát thải hydrocarbon vào không khí và nước từ dây chuyền sản xuất PP và PE và tác động của việc chôn lấp hoặc thiêu đốt là cơ sở cho việc

xử lí chúng

Trong diễn giải kết quả của Hakala et al (1997), các yếu tố được đưa vào tài khoản Khu vực sản xuất polymer sinh học đã trải qua sự cải tiến lớn trong vòng vài năm (Wee et al., 2006; Madhavan Manpoothiri et al., 2010) và có thể cho thấy tác động hiện tại của polymer sinh học thấp hơn Đánh giá vòng đời sản phẩm PLA được trình bày bởi Vink et

al (2003) giảm tiềm năng năng lượng sử dụng từ 54MJ/kg xuống khoảng 7MJ/kg PLA,

và giảm khí nhà kính từ +1.8 xuống -1.7kg CO2 tương đường /kg PLA Trong những năm gần đây, khối lượng thông thường của tã đã giảm trung bình 30%, chủ yếu do việc giảm cellulose (EDANA, 2008; Hakala et al., 1997) Mặt khác, thành phần phát triển nhất là polymer siêu thấm (SAP) Theo thông tin từ nhà sản xuất tã lót ủ phân hữu cơ, SAP hoàn toàn bị thay thế bằng polymer sinh học từ tinh bột, không phát thải khí nhà kính

Kết quả là, mục tiêu của nghiên cứu này:

(i) Phân tích quá trình phân hủy sinh học của 2 hãng sản xuất tã lót ủ phân hữu cơ (ii) Nghiên cứu ở quy mô lớn hiệu suất quá trình ủ phân tã lót được thu gom tại các

nhà trẻ với OFMSW,

(iii) Đánh giá chất lượng sản phẩm cuối cùng giữa điều kiện thí nghiệm có và không

phối trộn tã lót

II.1 Thí nghiệm quy mô phòng thí nghiệm

Hai thí nghiệm quy mô phòng thí nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá khả năng phân hủy sinh sinh học của hai loại tã thương mại có khả năng làm phân (D1 và D2) trong xấp

xỉ 600h Bên cạnh đó một cuộc thí nghiệm (không dùng tã có khả năng làm phân) cũng được thực hiện Điều kiện thí nghiệm được hiệu chỉnh tối ưu cho việc ủ phân

Các bước thực hiện thí nghiệm:

1 Tã được dùng ủ phân (khoảng 0.5 kg cho mỗi hãng D1, D2) được cắt thành mảnh

nhỏ có kích thước <1cm, phù hợp với điều kiện xử lí tã tại nhà máy ủ phân (Colón

et al., 2011)

Trang 5

2 Tã giấy sau khi cắt (42.08g) được trộn với 100g phân compost ổn định từ nhà máy

làm phân compost Mancomunitat la Plana tạo thành hỗn hợp chứa 30wt% tả và 70wt% phân Tỷ lệ này được lựa chọn để phân có độ ổn định và quan sát sự khác biệt đáng kể trong việc hình thành CO2 để kiểm soát thí nghiệm Độ ẩm thì được hiệu chỉnh bởi việc kiểm tra nắm tay theo Cơ quan nông nghiệp và Hội đồng làm phân compost ở Mỹ (2001) bằng việc thêm vào mỗi mẫu 325g nước Độ xốp được hiệu chỉnh đến 50% theo Ruggieri et al (2009) Bình phản ứng bằng thủy tinh thể tích 1L được đổ đầy hỗn hợp cuối cùng Bản sao cho mỗi cái cũng được chuẩn bị

3 Bình phản ứng được đổ đầy với phân compost đến từ nhà máy làm phân compost

Mancomunitat la Plana với độ ẩm được hiệu chỉnh đến 50% Thí nghiệm này được coi như thí nghiệm kiểm soát Bản sao cũng được chuẩn bị

4 Trong suốt quá trình kiểm tra hô hấp, không khí được làm ẩm tại cùng nhiệt độ của

vật liệu được sử dụng, vì vậy độ ẩm của vật liệu chỉ thay đổi +/- 2%

Việc phát thải khí CO2 được đo liên tục bằng hệ thống respirometer được mô tả trong phương pháp phân tích và sau phương pháp được phát triển bởi Ponsa et al (2010)

Sự khác biệt về lượng CO2 giữa mẫu chức tã ( D1 và D2) với mẫu kiểm chứng được xem như là lượng CO2 thải ra do việc phân hủy tã

Công thức tính số gam C được phát sinh:

X g CO2 x 44.01 g CO 2 1 mol CO2 x 1mol CO 2 1 mol C x 12.01 g C 1 mol C = X g C (1)

Trong khi đó, tổng khối lượng của C trong tã được tính toán bằng cách sử dụng tổng carbon phân tích

II.2 Thí nghiệm quy mô lớn:

II.2.1 Việc cung cấp tã có khả năng làm phân compost

Trong 11 ngày làm việc, 75 trẻ em tại nhà trẻ Nova Espurna (Barcelona, Spain) đã sử dụng tã có thể làm phân thay cho tã sử dụng một lần Hai loại nhãn hiệu tã có thể dùng làm phân compost (D1 và D2, với sản lượng cao nhất tại Tây Ban Nha) được sử dụng,

35 trẻ em được sử dụng 558 tã loại D1 trong khi đó 40 trẻ em được sử dụng 542 tã D2 Thí nghiệm về việc sử dụng tã phân ủ được cam kết để thu thập đủ số lượng nhằm tiến hành thí nghiệm ủ phân quy mô lớn

Tã được thu về mỗi ngày Để làm chậm quá trình phân hủy sinh học của tã, trước khi đến cơ sở làm phân, tã thu về được giữ trong phòng lạnh với nhiệt độ 10oC

Trang 6

II.2.2 Cơ sở làm phân compost

Thí nghiệm quy mô lớn được thực hiện tại nhà máy làm phân compost Mancomunitat

la Plana (Malla, Barcelona, Spain) và nhận chất thải hữu cơ từ kế hoạch thu gom Nhà máy được đặt tại khu vực nông thôn với khí hậu Địa Trung Hải Công suất hiện nay của nhà máy là gần đến 2500 tấn / năm Chất thải làm phân được đặt trong những container hình thang làm từ bê tông với 3 ống dẫn được đục lỗ trên sàn nhằm cung cấp khí và thu thập nước rỉ rác, nước rỉ rác được lưu giữ trong một bể riêng biệt và được tái tuần hoàn lại cho quá trình phân hủy để duy trì độ ẩm đầy đủ (4-6 tuần) Sau đó, giai đoạn đóng rắn được thực hiện trong các ống quay (8-12 tuần)

II.2.3 Thiết lập thí nghiệm:

Hai quá trình khác nhau được thực hiện với việc có và không có tã ủ phân Chỉ có một bản sao được thực hiện ở quy mô lớn cho cả hai thí nghiệm vì số lượng nguyên liệu cần lớn Các bước sau đây được theo dõi để xây dựng hai cọc:

1 Chất nền chính cho việc làm phân là OFMSW đến từ các đô thị với hệ thống thu gom tại nhà Chất nền này bao gồm phần tồn dư của nhà bếp và cắt tỉa vườn Mức độ tạp chất trung bình của OFMSW là < 1% (Catalan Waste Agency, 2009a) Đặc tính cùa nguyên liệu được thể hiện ở bảng 2 OFMWS được trộn với chất trương nở để đảm bảo tỉ lệ thể tích 1:1, mặc dù tỉ lệ khối lượng thì khác nhau ít trong các hỗn hợp (có hay không có tã lót) do chất trương

nở sử dụng không đồng đều Tuy nhiên, sự khác biệt về độ xốp trong hai mẫu

đã được giảm thiểu tối đa (< 5%)

2 OFMSW (19.575kg) trộn với chất trương nở (8500kg) bao gồm chất thải cắt tỉa được xay nhỏ ra theo tỉ lệ thể tích 1:1 để đảm bảo độ xốp phù hợp Hỗn hợp này được coi như thí nghiệm không dùng tã Kích thước của ống xấp xỉ: cao 1.5-2

m, rộng 4-5 m, dài 10m

3 OFMSW (5380kg) được trộn với tã có khả năng phân hủy (160kg, 51% D1 và 49% D2) để tạo hỗn hợp chứa 3wt% của tã trẻ em trong OFMSW Cùng thời gian, chất trương nở (2830kg) được thêm vào để có tỉ lệ thể tích 1:1 Hỗn hợp này được coi là thí nghiệm làm phân compost với tã giấy Kích thước của ống xấp xỉ: cao 1.5-2m, rộng 4-5m, dài 5m

Cả 2 hỗn hợp (có và không có tã) được làm phân compost trong khu phản ứng dùng khí cưỡng bức tĩnh giống nhau trong 41 ngày (giai đoạn phân hủy chủ động) Khu phản ứng chia làm hai phần riêng biệt và được đổ đầy 2 hỗn hợp Sau khoảng thời gian đó, giai

Trang 7

đoạn đóng rắn được thực hiện trong 2 ống quay riêng biệt trong 65 ngày Trong quá trình đóng rắn, ống được quay 1 lần/tuần và làm ẩm khi cần thiết bằng thiết bị Blackhus turner Model 15.5 (Edewech Germany), thiết bị này có khả năng vừa quay vừa cung cấp độ ẩm cùng lúc Sau quá trình đóng rắn, vật liệu được sàng đến 10mm để được sản phẩm phân compost cuối cùng

Để giảm sát quá trình làm phân compost của hai loại vật liệu trong suốt giai đoạn phân hủy sử dụng khí cưỡng bức tĩnh, nhiệt độ được đo liên tục tại chỗ (tại 2 độ sâu vật liệu khác nhau: 0.4m và 1m), tại 2 điểm khác nhau của phản ứng Trong giai đoạn phân hủy

sử dụng khí cưỡng bức tĩnh thì nhiệt độ trung bình được thể hiện Trong suốt giai đoạn đóng rắn, nhiệt độ được đo vào ngày 73 và 106 của quá trình làm phân (bao gồm cả giai đoạn cấp khí chủ động), sử dụng đầu dò nhiệt (Pt-100; Desin Instrument, Barcelona, Spain)

Bảng 2: Thuộc tính của phần hữu cơ sử dụng của chất thải rắn đô thị khi trộn chất trương

nở theo tỷ lệ thể tích (1:1)

Việc lấy mẫu để phân tích cho cả hai vật liệu được thực hiện vào ngày 1, 21, 41, 73 và

106 trong 2 ống Bốn mẫu nhỏ (mỗi mẫu 5kg) được lấy ra từ 4 điểm của mỗi ống 4 mẫu nhỏ của mỗi ống được trộn bằng tay tạo thành mẫu đại diện cho mỗi ống Độ ẩm, vật chất hữu cơ và chỉ số hô hấp được xác định trong 1 dịch chất của ít nhất 1kg mẫu đại diện

Trang 8

II.3 Phương pháp phân tích chung:

Cacbon tổng (TC), thành phần khô (DM) và độ ẩm, hàm lượng chất hữu cơ (OM), pH, độ dẫn điện, tổng nitrogen Kjeldahl, tỉ lệ C/N và mật độ trương nở được xác định trong bản sao của mẫu đại diện theo phương pháp chuẩn của Sở nông nghiệp Mỹ và Hội đồng làm phân compost Mỹ (2001)

Độ xốp không khí được làm đầy (AFP) thì được đo tại vị trí cũ với hằng số lượng khí pycnometer được phát triển bởi Ruggieri et al (2009) AFP được thể hiện dưới dạng chỉ

số trung bình của ba lần đo

Thành phần kim loại nặng (niken, chì, đồng, kẽm, thủy ngân, cadimi, crom, crom VI) được xác định trong sản phẩm phân compost cuối cùng bởi phòng thí nghiệm bằng cách

sử dụng phổ hấp thu nguyên tử (Applus S.A., Lieida, Spain) Chỉ thị về thành phần gây

bệnh (E.coli, Salmonella) được phân tích trong phòng thí nghiệm bằng cách sử dụng

phương pháp liệt kê màng lọc (Applus S.A., Lieida, Spain)

Để giám sát sự hoạt động và độ ổn định của vật liệu, chỉ số hô hấp động (DRI) và CO 2

tích lũy (ATn) được xác định Trong nghiên cứu này, DRI và ATnwere xác định theo phương pháp được đề xuất bởi Ponsa et al (2010) Ngắn gọn, nó bao gồm 2 bình phản ứng bằng thủy tinh, phòng tĩnh nhiệt tại 37oC, tủ điều khiển, bộ cảm biến CO2 và O2, hệ thống cung cấp khí dựa trên flow meter và 1 máy tính DRI được biểu thị bằng mg oxy tiêu thụ mỗi gam thành phần hữu cơ mỗi giờ (mg O2 g-1 OM h-1) Nó tương ứng với giá trị trung bình của hoạt động hô hấp tối đa trong suốt 24h ATn là số g CO2 được tạo ra trên mỗi g thành phần khô (mg CO2 g-1 DM), trong đó n là thời gian thí nghiệm, nó cũng là giá trị trung bình của các phép đo

III KẾT QUẢ VÀO THẢO LUẬN

III.1 Thí nghiệm quy mô phòng thí nghiệm

Hình 1a cho thấy sự tiến triển của CO2 trong toàn bộ các thí nghiệm hô hấp Giá trị CO2

cao được thải ra trong 300h đầu tiên bởi các thí nghiệm D1 và D2, và nó cho thấy rõ ràng

sự phân hủy sinh học đáng kể của tã ủ phân Ngược lại, lượng khí thải CO2 của các thí nghiệm kiểm soát là rất thấp và liên quan đến sự ổn định cao của phân hữu cơ được sử dụng (chỉ số hô hấp 0,8 mg O2 g OM h-1) Nó được chỉ ra rằng phân ổn định đã được sử dụng như một chất nền đồng nhất với mục đích tối đa hóa sự khác biệt giữa lượng khí thải CO2 của D1, D2 và kiểm soát Khoảng thời gian đầu của sự sụt giảm mạnh được

thải nền tạo ra bởi thí nghiệm kiểm chứng Một giả thiết để giải thích sự sụt giảm nhanh chóng của hoạt động vi sinh trong mẫu D1 và D2 có thể là thiếu các chất dinh dưỡng có

Trang 9

trong mẫu, chủ yếu là N, do tỷ lệ C / N cao từ việc bổ sung một lượng lớn C (tã ủ phân chủ yếu được làm bằng carbon phân hủy sinh học) Tuy nhiên, để xác nhận lại điểm này, việc phân tích cụ thể hàm lượng nitrogen và một sự cân bằng hoàn toàn của hợp chất này bao gồm phát thải amoniac nên được thực hiện

Hình 1: Lượng CO2 tích lũy trong quá trình phân tích trong phòng thí nghiệm ở quá trình trao đổi khí của tã ủ phân

Hình 1b cho thấy lượng CO2 tích lũy trong suốt quá trình thí nghiệm Lượng CO2 phát thải ra từ quá trình phân hủy sinh học của tã (cả cellulose và những polymer phân hủy sinh học) tương ứng lần lượt là 8.04 và 7.91g C, có nghĩa là sự suy giảm của thành phần

C tã ban đầu tương ứng 44,72% và 44,00% Đây lại kết quả được tóm tắt trong bảng 3

Việc thiếu các chất dinh dưỡng, nhiệt độ mesophilic và việc sử dụng một hệ thống tĩnh

có thể là nguyên nhân của việc quan sát phân hủy sinh học không hoàn chỉnh này Cải thiện những điểm này, khi nó xảy ra tại một cơ sở có quy mô lớn, có thể nâng cao sự phân hủy sinh học của tã Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, ngay cả ở quy mô phòng thí nghiệm, phân hủy sinh học của tã dùng một lần có thể đạt giá trị gần 90% bằng cách sử dụng các điều kiện kiểm soát và điều kiện thuận lợi (Espinosa-Valdemar et al., 2011) Điều này sẽ phù hợp với tiêu chuẩn EN 13432 đối với nhựa phân hủy sinh học Mặc dù tiêu chuẩn này không đạt với tã lót làm phân ủ ở quy mô phòng thí nghiệm, mục đích chính là để quan sát phân hủy sinh học của chúng trong khoảng thời gian ngắn hơn

Theo thông tin của nhà sản xuất, sự phân hủy sinh học đạt được cho tã ủ phân xem xét yêu cầu thời gian của tiêu chuẩn EN 13432 là trên 95%.

Trang 10

Bảng 3: Sự suy giảm của tã ủ phân trong các thí nghiệm nuôi cấy ở quy mô phòng thí nghiệm

III.2 Thí nghiệm quy mô lớn

Nhìn chung, những mô hình tương tự trong suốt thời gian ủ phân của OFMSW có và không có tã ủ phân đã thu được, nó đã được quan sát cùng với các polymer phân hủy sinh học khác được sử dụng tại quy mô thực địa (Klauss và Bidlingmaier, 2004)

Hình 2 cho thấy các thông số nhiệt độ đo được trong quá trình phân huỷ, nhiệt độ theo

mô hình điển hình của một quá trình ủ và nhiệt độ ưa nhiệt đã đạt được trong cả hai trường hợp trong vài ngày (Barrena et al., 2006a; Ruggieri et al., 2008; Pognani et al., 2012) Một đỉnh điểm thứ hai nhiệt độ đã được quan sát sau 20 ngày thí nghiệm cho cả hai vật liệu, có thể do sự thay đổi trong tỷ lệ thông khí Do đó, có thể kết luận rằng toàn

bộ các vật liệu đã được tiếp xúc với nhiệt độ có đảm bảo hygienisation vật liệu (phá hủy

tác nhân gây bệnh và hữu hiệu với hạt cỏ dại) theo các tiêu chí nền về điều kiện nhiệt độ -thời gian do Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (1995) và Ủy ban châu Âu (2000) đề xuất

Trong tất cả các giai đoạn phân huỷ, độ ẩm luôn nằm trong khoảng 40-60% Độ ẩm không chỉ một xu hướng rõ ràng trong giai đoạn phân hủy do sự vận hành nhà máy (nước thải tuần hoàn liên tục) Trong giai đoạn đóng rắn, độ ẩm được duy trì khoảng 50% thông qua việc bổ sung nước máy khi cần thiết để duy trì sự phát triển của vi sinh vật ủ phân Hơn nữa, quá trình ủ phân diễn ra trong điều kiện mùa đông, và lượng mưa không cho phép phân khô trong những ngày cuối

Ngày đăng: 10/11/2018, 11:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w