Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệmkhoa CNTY - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ củagiáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập chúng em
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TIÊN PHƯƠNG, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2013 - 2017
Thái nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Tên chuyên đề:
TRƯƠNG QUỐC ĐẠT
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN BẢY TUÂN, XÃ
TIÊN PHƯƠNG, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIÊP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 – Thú y N01 Khóa học: 2013 – 2017 Khoa: Chăn nuôi Thú y
` Giảng viên HD: Th.SLê Minh Toàn
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên và thời gian học tập ở trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội Em đãnhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô,gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới bangiám hiệu nhà trường, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khao chăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Em xin đặc biệt cảm ơn đến thầy giáo ThS Lê Minh Toàn đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, động viên vàgiúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình thựctập và tiến hành làm khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn: Cô Nguyễn Thị Bảy (chủ trại) và anh NguyễnVăn Trường (quản lý trại) nơi cơ sở em thực tập, đã tạo điều kiện và giúp đỡ
em trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng em xin được cảm ơn sự động viên, khích lệ, giúp đỡ của các thầy
cô, gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình họctập trong suốt thời gian vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng12 năm 2017
Sinh viên
Trương Quốc Đạt
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội
qua 3 năm 2015 - 2017 33
Bảng 4.2: Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 36
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái đẻ nuôi tại trại 37
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 38
Bảng 4.5 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn tại trại 40
Bảng 4.6.Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 41
Bảng 4.7: Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 42
Trang 5TB: Trung bình
TT: Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHầN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3.Cơ cấu tổ chức của trại 3
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.2 Thuận lợi và khó khăn 5
2.2.1 Thuận lợi 5
2.2.2 Khó khăn 6
2.3 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6
2.3.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 6
2.3.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở 10
2.3.3 Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài 19
2.3.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 21
2.4 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 25
2.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
Trang 72.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30
3.3 Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu 30
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu 30
3.4.2 Các chỉ tiêu theo và tính toán số liệu 32
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
PHầN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội qua 3 năm từ 2015 - 2017 33
4.2 Thực hiện biên pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 34
4.2.1 Kết quả trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 34
4.2.2 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội 37
4.2.3 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 38
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội 39
4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 39
4.3.2 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn nái 39
4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 41
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết Luận 43
5.2 Đề Nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 81
Trang 9Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái
là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành côngtrong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta
để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và đâycũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng vàchất lượng
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệmkhoa CNTY - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ củagiáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập chúng em thực hiện chuyên đề:
“Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội”.
Trang 101.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
Ðánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bảy Tuân, Chương Mỹ, Hà Nội Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nuôi tại trại Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và trị
bệnh
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
Biết được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn vàcách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
Biết được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương phápphòng trị bệnh hiệu quả nhất
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn Bảy Tuân nằm ở huyện Chương Mỹ, trại lợn nằm cách trung tâmhuyện 8km, huyện Chương Mỹ nằm chính giữa rìa phía Tây Nam Hà Nội,phía Đông giáp huyện Thanh Oai, một góc phía Tây Bắc giáp quận Hà Đông,phía Bắc và phía Tây Bắc giáphuyện Quốc Oai, phía chính Nam giáp huyện
Mỹ Đức, một góc phía Đông Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Tây và TâyNam giáp huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Trại lợn Bảy Tuân ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội nằm trong vùng khí hậunhiệt đới nóng ẩm,hai mùa rõ rệt: Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, nóng vàmưa nhiều, lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa trong năm Mùađông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết khô, hanh, mưa ít chỉ khoảng
10 % tổng lượng mưa trong năm Tính 5 năm 2000-2004 có: Tổng giờ nắngtrung bình 1475,5 giờ/năm, lượng mưa trung bình 1407,3 mm/năm, độ ẩmtrung bình 80,1 % và nhiệt độtrung bình 23,90C
2.1.3.Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 29 người trong đó có:
+ 1 quản lý
+ 3 kỹ sư
+ 2 tổ trưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ)
+ 17 công nhân và 4 sinh viên thực tập
+ 2 kế toán
Trang 12Với số lượng nhân viên như vậy được phân chia vào các tổ khác nhaunhư tổ chuồng bầu,tổ chuồng đẻ,tổ chuồng thịt,nhà bếp,điện nước mỗi tổ, mỗikhâu đều được khoán đến từng người nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sựphát triển của trại.
Với đội ngũ trên, tất cả được thống nhất với sự quản lý của kỹ sư và chủtrại đem lại tính nhất quán và thống nhất, sinh viên thực tập được làm tất cảcác khâu trong trại được học hỏi toàn diện
2.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại
thống dàn mát, cuối chuồng có các quạt thông gió và có dàn phun mái ở trên
- Trại còn có phòng pha tinh riêng với các thiết bị như: Máy nâng nhiệt, kính hiển vi, tủ lạnh
Trang 13- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông.
- Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điệncho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
- Trong trại giữa các ô chuồng và các khu khác đều được đổ bê tôngthường xuyên được quét vôi và phun sát trùng
- Nước sử dụng chủ yếu ở trại là nước giếng khoan được lọc và đượclọc giữ trong bể chứa Gồm 2 bể chứa lớn và 3 bể chứa nhỏ được bơm tới hệthông cung cấp nước uống cho các chuồng cũng như cung cấp nước sinh hoạt
- Về cơ sở hạ tầng:
+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của côngnhân,sinh viên và khu chuồng nuôi
+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi
+ Khu nhà bếp và nhà ăn được đặt cạnh nhau rộng rãi và sạch sẽ
+ Trại có một nhà kho chuyên để chứa cám để cung cấp cho các chuồngnuôi đến để lấy cám và kho thuốc để chứa các loại thuốc phòng và chữa bệnhcho lợn cũng như các loại vaccine được giữ trong tủ lạnh tại kho
- Hệ thống chuồng nuôi
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễthoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân,gồm: 3 chuồng đẻ, 3 chuồng bầu và 4 chuồng thịt Chuồng nuôi được xâydựng theo hướng Đông – Tây, Nam – Bắc Đảm bảo thoáng mát về mùa hè và
ấm áp về mùa đông Chuồng lợn bầu gồm 2 chuồng với kiểu chuồng cũi sắt.Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng
2.2 Thuận lợi và khó khăn
2.2.1.Thuận lợi
Trại lợn được sự đầu tư đầy đủ để phù hợp với hướng chăn nuôi dạngcông nghiệp,trại có hệ thống đường xá, giao thông thuận lợi, thuận tiện
Trang 14chotrại giao thương với các vùng xung quanh, toàn bộ công nhân và quản lýtrại có lòng yêu nghề cao.
2.2.2 Khó khăn
Do trại kinh doanh theo kiểu tư nhân nên thay đổi giá cả lợn của thịtrường cũng ảnh hưởng đến tình hình sản xuất tại trại, điều kiện thời tiết nhưnắng nóng, nhiệt độ cao, nóng ẩm trong mùa mưa cũng tạo điều kiện thuận lợicho vi khuẩn đường hô hấp phát triển mạnh, dẫn đến vật nuôi dễ mắc bệnh vềđường hô hấp và tiêu chảy với tỷ lệ cao
2.3 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.3.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005), [17] bệnh xuất hiện trong một đànlợnthường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặckhôngtruyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã đượcđưara áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn.Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tácnhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Trang 15Theo Trần Văn Phùng (2004), [16] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chấtnhưCrezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồnglợn
nái trước khi đẻ
Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trườngxungquanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch,đểkhô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồngítnhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản
Với những chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyềnnhiễm, cần phải vệsinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏichuồng, xử lý theohướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịchsát trùng và phuntheo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từmái, các dụng cụ vàmôi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thảirắn trong chăn nuôicần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nướcrửa chuồng cần thugom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cầnphun sát trùng 1 - 2lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong30 ngày Các thiết bị,dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng vàđưa vào kho bảo quản
Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
Phòng bệnh bằng vaccine:
Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động cóhiệuquả nhất
Theo Nguyễn Bá Hiên (2012) [10] vaccine là một chế phẩm sinhhọc
mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễmnào
đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyềnnhư
Trang 16ARN, AND… ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhânvật
lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệmới vaccine công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnhcho đốitượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đápứng miễmdịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gâybệnh củamầm bệnh tương ứng
-Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chốngbệnhngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vaccine) mới có miễndịch
2.3.1.2.Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên (2012), [10] nguyên tắc để điều trị bệnh là:
Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng,dùng thuốc
- Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh vàhạnchế lây lan
- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng củacơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ítbịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc cóthểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốnkémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữathìkhông nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên (2012), [10] các biện pháp chữa bệnhtruyềnnhiễm là:
- Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiệnvệsinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô
Trang 17hấp,phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thờiđốiphó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh.
Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vìvậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữabệnhbằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn,
có tácdụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độctố)
Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một
số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh.Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn
có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chấtquen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiềuloại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưacó tác dụngđến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăncản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn.Tuy nhiên sử dụngkhángsinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,domột lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố,làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còngây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh củakháng sinh Vì vậy khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽchữakhông khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đãxácđịnh Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gianđểphát huy tác dụng của kháng sinh
Trang 18- Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượngvàđộc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăngtácdụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc.
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡngtốt,dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.3.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơ sở
2.3.2.1 Bệnh viêm tử cung
Nguyên nhân gây bệnh:
Theo cac tac gia Nguyên Xuân Bin h (2000) [3], Phạm Sỹ Lăng (2002)[11], bênh viêm tư cung ơ lơn nai thương do cac nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giốngbằngphương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụdẫntinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợnnáigây viêm
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêmmạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dươngvậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêmâmđạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyềnnhiễm,phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sauđẻkhông sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiệnđểxâm nhập vào gây viêmĐoan Kim Dung va Lê Thi Tai (2002), [7] cho biêt:
Nguyên nhân gây viêm tư cung la do vi khuân tu câu vang (Staphylococcus
Trang 19aureus), liên câu dung huyêt (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…
- Lê Văn Năm(1999) [14], cho răng có rất nh iêu nguyên nhân tư ngoạicảnh gây bệnh như : do thưc ăn ngheo din h dương , do can thiêp đơ đe băngdụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật d ẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh duc bi pha huy hoăc kêt tua , kêt hơp vơi viêc chăm soc nuôi dươngbât hơp ly va thiêu vân đông đa lam châm qua trinh thu teo sinh ly cuada con (trong điêu kiên cai sưa binh thương da con trơ vê khôi lương kich thươc ban đâu khoang 3 tuân sau đe ) Đây la điêu k iên tôt đê vi khuân xâmnhâp vao tư cung gây bệnh Biên trưng nhiêm trung do vi khuân xâm nhâpvao da con gây lên trong thơi gian đông đưc (vì lúc đó tử cung mở) và do thụtinh nhân tạo sai
kỹ thuật
- Bênh con xay ra do thiêu sót về dinh dưỡng và quản lý: khâu phânthiêu hay thưa protein trươc , trong thơi ky mang thai co anh hương đên viêmtư cung Lơn nai sư dung qua nhiêu tinh bôt gây đe kho, viêm tư cung do xâyxat.Khoáng chất, vitamin cung anh hương đên viêm tư cung
- Theo F.Madec và C.Neva (1995) [9], bệnh viêm tử cung và các bệnhởđường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũngpháttriển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
- Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitaminAgây sưng niêm mạc, sót nhau (Nguyễn Thị Thuận, 2010), [21]
- Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ởmộtcơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bịchưaphối nhưng đã bị viêm tử cung
Triệu chứng thể hiện qua các thể viêm sau:
- Viêm dạng nhờn là thể viêm nhẹ xuất hiện sau khi sinh 2 - 3 ngày,niêmmạc tử cung bị viêm nhẹ, tử cung tiết dịch nhờn, trong hoặc đục lợn cợncó
Trang 20mùi tanh vài ngày sau tiết dịch nhờn giảm lại đặc và hết hẳn Con vậtkhôngsốt họặc sốt nhẹ, vẫn cho con bú bình thường.
- Viêm dạng mủ là thể viêm nặng thường xuất hiện trên con vật cóthểtrạng xấu, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều, cũng có thể viêmtửcung dạng nhờn kế phát Con vật thường sốt 40 - 41°C, khát nước, kémăn,nằm nhiều, tiểu ít, nước tiểu vàng, phân có màng nhầy, mệt mỏi ít cho conbúhay đè con
- Viêm dạng mủ lẫn máu là phản ứng ăn sâu vào lớp tử cung, tổnthươngmạch mao quản gây chảy máu Các biểu hiện như : viêm sền sệt cómủ lẫnmáu mùi rất tanh Thân nhiệt rất cao sốt kéo dài Không ăn kéo dài
- Sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, thở nhiều khát nước, mệt mỏi kémphản xạvới tác động bên ngòai đôi khi đè con Con vật có biểu hiện thần kinhsuynhược, thân nhiệt tăng, mạch tăng, thở hổn hển
Hậu quả:
- Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổvàđược đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ởtửcung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của con vật, khi convậtbị viêm tử cung lúc con vật động dục niêm dịch không thoát ra được do cổtửcung bị tắc
Theo Trần Tiến Dũng(2002) [8] và Trần Thị Dân (2004) [5], khilợn nái
bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai.Lớp cơ trơn ở thành tử cung
có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tácdụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung.Khi tử cung
bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiềuprostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứngbằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch
Trang 21hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thểvàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượngProgesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cungtăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai.
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chếtlưu.Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cungđểgiúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượngProgesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tửcunggiảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡngtừmẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặcmất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy Khi lợnnái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn
E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo
sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữagiảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trởlại.Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàngvẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thuỳ trướctuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồngtrứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung saukhisinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻsau
là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trongcácnguyên nhân dẫ đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôisốngthấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnhhưởngtới hoạt động của buồng trứng
Chẩn đoán bệnh viêm tử cung:
Trang 22- Để chẩn đoán bệnh viêm tử cung thường dựa vào các triệu chứnglâmsàng điển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân nhưthânnhiệt và dịch viêm.
- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12], lợn nái bị viêm
tử cung còn có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có dịch tiết không bìnhthường trong 3-4 ngày sau khi đẻ, nếu sau khi đẻ kiểm tra âm đạo sẽ thấynhững miếng nhau thai sót hay thai chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt Cũngtheo F.Madec và C.Neva (1995) [9], bệnh viêm tử cung thườngbiểu hiện vàolúc đẻ và thời kì tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cungmở nên dịchviêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định Tínhchất mủ cũngkhác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xámhoặc vàng,đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sausinh đẻ hayxuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thườnggặp trong thời
kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể nghi bị viêmnội mạc tử cung
- Ngoài ra, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khicónhững mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chấtkết
tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộlợnnái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
- Khi lợn nái măng thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu cómủchảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đựcthìcó thể bị nhầm lẫn
- Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tramủnên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục.Mặtkhác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoánchochính xác
Trang 23- Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mứcđộảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tốithiểuhậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thểviên từđó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị caonhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp.
- Với nguyên nhân chấn thương cơ học hoặc lơn con bú không hếtsữa,bệnh viêm vú chỉ xuất hiện trên vài vú Trường hợp kế phát viêm tửcunghoặc cai sữa không hợp lý, nhiều vú có khi toàn bộ bầu vú đều bị viêm.Triệu chứng:
- Biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ,cóbiểu hiện đau sau khi sờ nắn, không tiết sữa nếu vắt mạnh sữa chảy racónhiều cặn lẫn máu, sau 1 - 2 ngày thấy có mủ lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn,sốtcao 40,5°C - 42°C
Trang 24- Tuỳ số lượng vú bị nhiễm, nái có biểu hiện khác nhau Nếu donhiễmtrùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bịviêm.Tuy vậy lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa liên tục đòi bú,kêurít, đồng thời do bú sữa bị viêm lợn con dễ bị nhiễm trùng đường ruột,lợncon bị tiêu chảy toàn đàn Trường hợp kế phát bệnh viêm tử cung có mủdẫnđến nhiễm trùng máu, thì toàn bộ các bầu vú đều bị viêm.
-Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], cũng khẳng định: Mất sữa saukhi
đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơthểthường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bịgiảmảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chấtdinhdưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phụchồichức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
- Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữacónhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợnconbú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnhvàtrọng lượng cai sữa thấp
- Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thìkhóchữa, lợn nái có thể chết
- Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tửảnhhưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
2.3.2.3 Bệnh sát nhau
Trang 25Trong quá trình sinh đẻ bình thường, sau khi thai ra một thời giannhấtđịnh tuỳ thuộc vào từng loài gia súc: Ngựa 20 - 60 phút, trâu bò 4 - 6giờ(Bình thường không quá 12 giờ), dê, cừu 30 phút - 2 giờ, và ở lợn là 10 –60phút nhau thai sẽ được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ Nếu quá thời gian trungbìnhtrên, nhau thai còn nằm lại trong tử cung thì được gọi là bệnh sát nhau.Nguyên nhân:
- Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [19], sau khi đẻ
tử cungco bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vậtkhôngđược vận động phù hợp Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca
và P.Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quánhiềuthai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
- Nhau mẹ và nhau con dính vào nhau: do con mẹ bị viêm tử cung hoặcbịbệnh sảy thai truyền nhiễm làm cho các núm nhau bị viêm, làm phá vỡmốiquan hệ giữa nhau mẹ và nhau con nên dính vào nhau Do sự dính chặtnàymà nhiều khi tử cung co bóp mạnh nhau thai cũng không bong ra được.Triệu chứng tuỳ thuộc vào mức độ xảy ra của bệnh, có thể chia ra cácloại như sau:
Thể sát nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai con còn dínhvớiniêm mạc tử cung mẹ ở cả hai sừng tử cung
Thể sát nhau không hoàn toàn: Phía sừng tử cung không thai, nhauthaicon tách ra khỏi niêm mạc tử cung mẹ
Thể sát nhau từng phần: Một phần của màng nhung hay một ít númnhaucon còn dính với niêm mạc tử cung, đa phần màng thai đã tách ra khỏiniêmmạc tử cung
Theo Đỗ Quốc Tuấn (2005), [18]: Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bịsótnhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước,sảndịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻcho
Trang 26lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếmsốnhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không.
Hậu quả:
Khi gia súc bị bệnh sát nhau nếu không xử lý kịp thời và triệt để sẽkếphát sang nhiều bệnh nguy hiểm khác: Viêm âm đạo, viêm tử cung, viêmốngdẫn trứng, ảnh hưởng nhiều đến quá trình thụ tinh và khả năng sinh đẻlầnsau Có trường hợp gây viêm tử cung tích mủ mãn tính, dẫn đến tình trạnglợnnái mất khả năng sinh sản
Ngoài ra bệnh thường kế phát gây nên chướng hơi, liệt dạ cỏ, sảnlượngsữa giảm hoặc mất hẳn, ngay sau khi khỏi bệnh vẫn hoàn toàn mất sữa
Sát nhau là bệnh gây nhiều tổn thất kinh tế, vì vậy việc đề phòng và điềutrịbệnh kịp thời, tránh hiện tượng kế phát
Chẩn đoán:
- Để chẩn đoán bệnh sát nhau chủ yếu dựa vào các triệu chứng cục bộvàtoàn thân như: lợn mẹ không yên tĩnh, đau nhẹ, thỉnh thoảng cong lưngrặn,thân nhiệt tăng, lợn hay uống nước Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗndịchmàu nâu
- Quan sát trực tiếp trực tiếp qua âm đạo: Trường hợp sát nhau hoàntoàn,chỉ nhìn thấy màng mỏng và trong suốt (màng ối, màng niệu) còn ởtrong âmđạo, hay còn treo lòng thòng ở mép âm môn
- Trường hợp sát nhau không hoàn toàn nhìn thấy được các màng thaivàmột số núm nhau con (trâu, bò) hay nhung mao trên bề mặt màngnhung(ngựa, lợn)
- Trường hợp sát nhau từng phần thì quan sát phần rau đã ra ngoài.Trảinó lên mặt đất có thể phát hiện được những phần mang thai đã bị đứt,phầnmàng thai còn lại nằm trong tử cung
Điều trị:
Trang 27- Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quámuộnsẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay,tránhnhững tổn thương Tiêm Oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cungchonhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muốisinh lý0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục.
2.3.3.Một số hiểu biết về thuốc phòng và trị bệnh sử dụng trong đề tài
Pendistrep LA
- Dạng thuốc: huyễn dịch tiêm
- Quy cách sản phẩm: lọ 100 ml
- Thành phần: Trong 100 ml có:
Procaine penicillin G 20 triệu UI vàstreptomycin 20.000 mg
- Công dụng: Điều trị nhiễm trùng vết thương, viêm phổi, tụ huyết trùng,đóng dấu, viêm tử cung, đau móng, viêm vú
- Liều lượng và cách dùng: tiêm bắp 2 ngày/lần, tiêm 1 ml/15 kg TT,điều trị trong 5 ngày Kết hợp sử dụng một số thuốc có tác dụng giảm đau, hạsốt, trợ sức, trợ lực… làm tăng hiệu quả điều trị của thuốc kháng sinh Lắc kĩtrước khi dùng
Cơ chế tác dụng của Streptomycin và Penicillin
Penicillin có cơ chế tác dụng gần như amoxicillin
Streptomycin là kháng sinh thuộc nhóm aminoglycosid (AG – amonosid)
là thuốc kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn, ức chế sự tổng hợp protein của vikhuẩn ở mức ribosome Streptomycin gắn đặc hiệu vào tiểu phần 30s củaribosome Do vậy mã bị đọc sai, gây tổng hợp và tích lũy các protein sai lạckìm hãm hãm vi khuẩn phát triển Streptomycin còn gây rối loạn cả giai đoạntổng hợp protein từ khâu khởi đầu, kéo dài đến kết thúc Ngoài ra, còn các cơchế khác như: thay đổi tính thấm màng, hô hấp tế bào, thay đổi ADN của vikhuẩn Một số AG khác còn gắn vào tiểu phần 50s
Trang 28+ Cơ chế tác dụng của Oxytocin:
Oxytocin tác dụng gây co bóp cơ trơn tử cung, có tác dụng đẩy thai rangoài trong quá trình đẻ
Một tác dụng khác không kém phần quan trọng của Oxytocin là kíchthích bài tiết sữa
Oxytocin cũng có ảnh hưởng nhẹ lên sự co bóp của cơ trơn bàng quang
và cơ trơn ruột Oxytocin còn gây co mạch máu tử cung