1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm phát triển củng cố quan hệ kinh tế thương mại giữa 2 nước việt nam singapore

106 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 249,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Singapore - trung tâm chế tạo và lắp ráp các đồ điện tử Chính sách đổi mới công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành kĩthuật cao được thi hành vào cuối những năm 70 đã làm bùng

Trang 1

Lời mở đầuMối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Singapore đã phát triển nhanh chóngđáng khích lệ trên nhiều lĩnh vực trong hơn 3 thập kỷ qua, kể từ khi hai nướcthiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 01/08/1973 Đặc biệt sự hợp tác thươngmại giữa hai nước đã có bước phát triển lớn, mang lại lợi ích cho cả hai dân tộc.Hiện nay Singapore đã trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của ta và lànước có vốn đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.

Singapore là một nước trong khu vực Đông Nam á, rất gần ta về mặt địa lý,cùng là thành viên của ASEAN và có nhiều mặt giống nước ta về văn hoá, lịchsử; đặc biệt là cơ cấu kinh tế của hai nước có thể bổ sung cho nhau khi tiến hànhcông cuộc xây dựng đất nước Hai nước có chung một xuất phát điểm nhưngSingapore là nước phát triển trước Việt Nam về kinh tế Năm 1959, Singaporecũng có nền kinh tế yếu kém thiếu vốn như tình trạng của Việt Nam hiện nay, vàSingapore đã trở thành nước công nghiệp mới phát triển có công nghệ tiên tiến,

có tiềm năng về tài chính, có nhiều kinh nghiệm trong quản lý và kinh doanh.Với chính sách kinh tế đối ngoại theo hướng toàn cầu hoá, đa dạng hoá, đaphương hoá và hợp tác khu vực, rất tương đồng với chính sách ngoại giao rộng

mở, đa dạng hoá và đa phương hoá của Việt Nam; chính vì thế quan hệ kinh tếthương mại giữa hai nước không ngừng phát triển tốt đẹp

Singapore là một đối tác lớn của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, do vậy việcnghiên cứu mối quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước có ý nghĩa lớn về thựctiễn Qua nghiên cứu có thể thấy diễn biến phát triển mối quan hệ Việt Nam -Singapore, thông qua đó chúng ta có thể thu được nhiều kinh nghiệm phát triểnkinh tế của nước bạn

Phạm vi nghiên cứu của Khoá luận này là quan hệ kinh tế thương mại (cụ thểtập trung vào lĩnh vực xuất nhập khẩu và đầu tư) giữa hai nước Việt Nam -Singapore từ 1995 đến nay; trên cơ sở những đánh giá về mối quan hệ đó đề xuất

Trang 2

một số giải pháp nhằm phát triển và củng cố quan hệ kinh tế thương mại giữa hainước trong tương lai.

Dựa trên phương pháp nghiên cứu tổng hợp, thống kê so sánh tài liệu và phântích, ngoài mục lục, mục lục bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục; Khóa luậnđược bố cục như sau:

Lời mở đầu

Chương 1: Khái quát về đất nước và kinh tế Singapore

Chương 2: Thực trạng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Singapore

giai đoạn 1995 - 2001

Chương 3: Triển vọng và các giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế thương

mại Việt Nam - Singapore

Hà nội ngày 22/11/2002

Trang 3

1 Singapore Yearbook 2001 - http://www.sg/

Chương 1Khái quát về đất nước và kinh tế Singapore

I Vài nét về điều kiện tự nhiên, chính trị, xã hội của Singapore

1 Điều kiện địa lý, tự nhiên

1o09' đến 1o9' độ vĩ bắc và 103o36' đến 104o25' độ kinh đông; cách xích đạo vềphía Bắc khoảng 137 km; eo biển Johor ngăn cách Singapore với bán đảoMalaysia và eo biển Singapore là biên giới với quần đảo Indonesia1

Singapore có một vị trí địa lý lý tưởng: nằm trên trục đường vận tải biển từ ásang Âu, Đông sang Tây, là đầu cầu, cửa ngõ ra vào của Châu á Singapore còn làtâm điểm nối các Châu lục á - Âu - Phi - úc và Bắc, Nam Mỹ (phía Tây TháiBình Dương) Cùng với vị trí tự nhiên lý tưởng này cộng với thế mạnh của conngười tạo ra, Singapore đã trở thành nơi hấp dẫn nhất khu vực Tính đến năm

1998, đã có trên 10.500 công ty nước ngoài đầu tư, liên doanh tại đây (năm 1998vốn đầu tư vào Singapore đạt trên 8 tỷ USD); hơn 5.000 công ty thương mại, tàichính đa quốc gia có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại đây; trên 150 cơquan đầu não, trụ sở của các tổ chức quốc tế đặt văn phòng tại đây Singapore làmột trong những trung tâm lọc dầu lớn nhất thế giới với sự có mặt của hầu hếtcác hãng dầu khổng lồ BP, ESSO, Sheell, Caltex, Mobil với công suất lọc dầutrên 1 triệu thùng/ ngày Sự có mặt của những tập đoàn kinh tế khổng lồ đã mang

lại nguồn lợi to lớn cho Singapore

từ khoản thu thuế, dịch vụ và giải

Trang 4

Địa hình của Singapore là bình nguyên xen kẽ các gò, đống, đồi thấp và đầmlầy Gần 2/3 diện tích đảo không cao quá 15m so với mực nước biển Đỉnh caonhất của Singapore là Bukitpanjang cũng chỉ cao 177m Phần phía Đông của đảo

là một cao nguyên thấp đã bị bào mòn nhiều nên trở thành như đồng bằng, thỉnhthoảng có vài thung lũng nhỏ Với địa hình gần như bằng phẳng như vậy,Singapore không có điều kiện để phát triển thuỷ điện và do đó phải dựa vàonguồn dầu nhập khẩu

1.2 Khí hậu

Singapore nằm trong vùng khí hậu xích đạo nên nhiệt độ và độ ẩm không khíkhá cao Nhiệt độ trung bình hằng ngày là 26,7 độ C; nhiệt độ cao nhất vào buổichiều là 30,8 độ C và nhiệt độ thấp nhất lúc hoàng hôn là 23,9 độ C Tháng 12 vàtháng giêng thường là tháng mát nhất Tháng 5 là tháng nóng nhất trong năm.Lượng mưa hàng năm là 2.344ml; mưa quanh năm nhưng thường mưa to vàotháng 11 đến tháng giêng, tháng 7 là tháng mưa ít nhất Độ ẩm không khí bìnhquân trong năm cao, khoảng 84,3%3

2 Môi trường văn hoá xã hội

2.1 Đặc điểm dân cư

Singapore là một quốc gia trẻ, đa dân tộc, đa sắc thái văn hoá, được hìnhthành chủ yếu trên nền tảng dân nhập cư từ Trung Quốc, Malaysia, ấn Độ vàChâu Âu

Những ngày đầu tiên của Singapore năm 1819, khi Stamford Raffles (ngườiAnh) phát hiện ra thì Singapore chỉ có khoảng 150 người dân sống rải rác dọc bờsông Tính đến tháng 6/2001, dân số đã là 3.319.000 (bao gồm cư dân và nhữngngười cư trú lâu dài) Trong đó cộng đồng người Hoa chiếm 76,7%; ngườiMalaysia chiếm 13,9% và người ấn Độ chiếm 7,9%; còn lại 1,5% là người Châu

Âu, người A rập và các tộc người khác Cơ cấu dân cư của Singapore đã có biến

3 Singapore Yearbook 2001 - http://www.sg/

3

Trang 5

đổi đáng kể do ảnh hưởng của những biến cố trong lịch sử phát triển Năm 1824với số dân 10.683; người Malaysia chiếm 60%; người Trung Hoa chiếm 31% Sựthống trị của người Anh đối với Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông đã tạo điềukiện cho người nhập cư Trung Quốc làm thay đổi cơ cấu dân cư của nước này4.

Tỷ lệ nam nữ trong cơ cấu dân cư của Singapore hiện nay xấp xỉ bằng nhau vàngày càng có xu hướng cân bằng Năm 1995 tỷ lệ nam/ nữ là 1,013 đến năm

1999 con số này là 1,006 (theo Uỷ ban Thống kê của Singapore), cùng với sựphát triển của dân số (trung bình khoảng 1,9%/năm thời kì 1995-2000) mật độdân số của Singapore hiện nay là 5.900người/km2 Tuổi thọ của người dânSingapore ở mức cao trên thế giới; năm 1999 tuổi thọ của nam công dânSingapore là 75,6 năm và 79,6 năm đối với nữ5

2.2 Đặc điểm ngôn ngữ và tôn giáo

Ngôn ngữ chính của Singapore là tiếng Malaysia, tiếng Trung Quốc phổ thông,tiếng Anh và tiếng Tamil Tiếng Malaysia là ngôn ngữ quốc gia và tiếng Anh làtiếng sử dụng trong công sở Tiếng Anh đóng vai trò như một ngôn ngữ làm việc,giúp ngăn chặn những xung đột nảy sinh giữa các sắc tộc với nhau và đã đem lạicho Singapore ưu thế cạnh tranh, vì đó là ngôn ngữ giao dịch, đàm phán và làngôn ngữ của khoa học, kỹ thuật quốc tế Đại bộ phận dân chúng Singapore ngàynay thông thạo cả hai thứ tiếng: tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ Với một nền giáo dụckhá hoàn chỉnh, Singapore có tỷ lệ dân biết đọc biết viết tính từ 10 tuổi trở lêncũng đạt tới 92%

Singapore là quốc gia đa tôn giáo, chủ yếu là đạo Phật, Khổng chiếm 53,8%trong khối người Hoa; đạo Thiên chúa 12,9%; đạo Islam 14,9% và đạo Hindu3,3% ở Singapore, không một tôn giáo nào được coi là quốc giáo6

Trang 6

3 Hệ thống chính trị, pháp luật

Sau khi được thực dân Anh trao trả quyền tự trị cho Singapore (năm 1959)tháng 9 năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Malaysia Có nhiều bất đồng cơbản về chính sách đã nảy sinh giữa Singapore và chính quyền liên bang Ngày9/8/1965, Singapore đã tách ra thành một quốc gia độc lập

Singapore là nước cộng hoà với hệ thống chế độ đại nghị của Chính phủ Tổchức của nhà nước - cơ quan hành pháp, cơ quan lập pháp, và cơ quan tư pháp dohiến pháp quy định Đứng đầu nhà nước là Tổng thống; bộ máy chính phủ gồmNội các, đứng đầu Nội các là Thủ tướng Thủ tướng và các thành viên Nội cácđược chỉ định bởi Tổng thống và do các thành viên của Quốc hội cử Nội cácchịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội

Quốc hội (Nghị viện) Singapore với nhiệm kỳ 5 năm được bầu ra từ 2 loại đơn

vị bầu cử: đơn vị loại thành viên và đơn vị loại đại diện (GRCs: GroupRepresentation Constituencies) Những ứng cử viên thuộc các đơn vị bầu cử loạiđại diện (GRCs) là người gốc Malay, gốc ấn Độ hoặc nhóm các dân tộc thiểu sốkhác nhằm đảm bảo nghị viện phản ánh được tính chất đa chủng tộc của xã hộiSingapore Cuộc bầu cử lần thứ 9 tổ chức vào 02/01/1997 đã bầu ra 83 thành viêntrong đó 81 thành viên là người của Đảng Nhân dân Hành động PAP (People's-Action Party); 1 thành viên của Đảng Nhân dân Singapore (Singapore People'sParty) và người còn lại của Đảng Công nhân (Workers' Party)

Từ năm 1992, hiến pháp Singapore mới bổ sung yêu cầu về chức vụ tổngthống Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kì 6 năm, tổngthống có quyền cao hơn cả thủ tướng, chẳng hạn tổ chức các cuộc điều tra thamnhũng đối với chính thủ tướng và các bộ trưởng Cuộc bầu cử tổng thống đầutiên được tổ chức vào 28/08/1993 Ông Ong Teng Cheong đã được bầu Ngày18/8/1999, ông S.R Nathan đã thắng cử trong lần bầu cử tổng thống thứ 2 củacộng hoà Singapore; cùng điều hành đất nước với chính phủ của thủ tướng GohChok Tong và đảng cầm quyền PAP7

7 Singapore Yearbook 2001 - http://www.sg/

Trang 7

Đảng nhân dân hành động PAP cầm quyền từ trên 30 năm nay và vẫn tiếp tụcgiữ vị trí thống trị Lãnh tụ trước đây của PAP là ông Lý Quang Diệu, thủ tướngđầu tiên của Singapore từ năm 1959 - 1990; và hiện nay chủ tịch đảng là ông GohChok Tong thủ tướng đương nhiệm của Singapore Cùng tồn tại với PAP còn cókhoảng 20 đảng phái khác như Đảng công nhân, Đảng dân chủ, Đảng cộng sản,song thế lực của các đảng phái đối lập rất yếu, không có khả năng thách thứcđảng PAP cầm quyền

Hệ thống luật pháp ổn định, chặt chẽ, nghiêm ngặt được xếp vào loại tốt vàhoàn chỉnh nhất khu vực châu á; bảo đảm cho mọi hoạt động kinh tế xã hội đượcduy trì, ổn định và được điều chỉnh trong khuôn khổ luật pháp, tạo sự hấp dẫn,yên tâm cho các nhà kinh doanh, đầu tư trong và ngoài nước

Xây dựng một chính phủ trong sạch là mục tiêu mà nhà nước Singapore đãtheo đuổi và thực hiện khá thành công CPIB - Ban điều tra hành vi tham nhũng

là cơ quan trọng yếu giúp chính phủ Singapore trong việc làm sạch bộ máy nhànước Niên giám Cạnh tranh Thế giới năm 1997 của Viện Phát triển Quản lý sắpxếp theo thứ hạng cho các quốc gia ít tham nhũng nhất trên toàn thế giới, chođiểm 10 đối với quốc gia nào không có nạn tham nhũng và Singapore được xếpvào hàng ngũ các quốc gia ít tham nhũng nhất trong khu vực châu á với điểm số9,18 trước Hồng Kông, Nhật Bản và Đài Loan Transparency International (đặttại Berlin) xếp Singapore đứng thứ 7 trên thế giới năm 1998 cho thành tích "vắngmặt tham nhũng" Hệ thống luật pháp được đánh giá nhất thế giới căn cứ vào tiêuchuẩn hệ thống pháp luật hỗ trợ đắc lực cho phát triển kinh tế, là một sự khẳngđịnh cho những cố gắng không ngừng về hoàn thiện pháp luật của chính phủSingapore8

Trang 8

II Nền kinh tế Singapore trong những năm qua

1 Thành tựu trong phát triển kinh tế của Singapore

Singapore là một mẫu mực cho quá trình phát triển nhờ tạo dựng một nền côngnghiệp quốc gia trên cơ sở đầu tư của các tổ chức đa quốc gia Sau hơn ba thập kỉthực hiện những chính sách quản lý kinh tế Singapore đã đạt được nhiều thànhtựu kì diệu gây không ít ngạc nhiên đối với thế giới Từ một nền kinh tế mà thunhập chủ yếu dựa vào buôn bán chuyển khẩu, chỉ trong một thời gian ngắn, quốcgia nhỏ bé này đã vươn lên thành một nước có nền công nghiệp chế biến - chế tạohiện đại cùng với một hệ thống dịch vụ thương mại tài chính và du lịch hấp dẫn,

có sức cạnh tranh vào bậc nhất trên thế giới Sự thành công về kinh tế đã mởđường cho Singapore bước vào danh sách các nước thành viên của NIEs châu ávào đầu thập niên 80 và là quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Nam á được OECDxếp vào hàng ngũ các nước phát triển (năm 1996) Singapore vẫn đang làm việccật lực, hoạch định và ứng biến nhằm củng cố địa vị là một quốc gia có khả năngliên kết mậu dịch, đầu tư với các nước công nghiệp hàng đầu, và là một trung tâmphân phối hàng hoá, dịch vụ, thông tin thành công trong khu vực và trên thế giới

1.1 Singapore - trung tâm lọc dầu

Cuối thập niên 70, ngành công nghiệp dầu đã phát triển thành công côngnghiệp hoá dầu Từ chỗ chỉ là kho chứa, trạm buôn bán và trung chuyển xăngdầu, vào thập niên 90, với tổng năng suất tinh chế 1,2 triệu thùng mỗi ngày,Singapore đã trở thành trung tâm tinh chế dầu đứng thứ 3 trên thế giới sauHouston và Rotterdam, trung tâm thương mại dầu đứng thứ 3 trên thế giới sauNew York và London, và là thị trường nhiên liệu xăng dầu lớn một về số lượngtrên thế giới Từ năm 1993, tại hòn đảo bé này có tới 18 nhà máy lọc dầu với sự

có mặt của hầu hết các hãng dầu khổng lồ BP, ESO, Shell, Caltex, Mobil, BritishPetroleum với công suất lọc dầu trên một triệu thùng một ngày

Trong thập kỉ 70, ngành công nghiệp lọc dầu Singapore rất phát đạt nhưng từgiữa những năm 80 hoạt động của ngành này có giảm sút Từ chỗ chiếm 20% -

Trang 9

25% tổng giá trị xuất khẩu giảm xuống còn tương ứng là 15% - 16% vào năm

1989 Nguyên nhân là do tính thiếu ổn định của thị trường xăng dầu thế giới và

do các nước láng giềng như Malaysia và Indonesia cũng xây dựng cơ sở để cạnhtranh Tuy nhiên từ năm 1993 trở lại đây, ngành lọc dầu của Singapore đang dầndần lấy lại phong độ và đang có chiều hướng phát triển tốt

Bảng 1.1: Ngoại thương Singapore

1.2 Singapore - trung tâm chế tạo và lắp ráp các đồ điện tử

Chính sách đổi mới công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành kĩthuật cao được thi hành vào cuối những năm 70 đã làm bùng nổ công nghệ điện

tử - bán dẫn và vi mạch điện tử tại Singapore, biến nơi đây trở thành trung tâmsản xuất và lắp ráp các mặt hàng như ti vi, máy vi tính lớn nhất Đông Nam á.Những ưu thế trong chính sách đầu tư đã giúp Singapore thu hút được các công

ty hàng đầu thế giới như: Sony, Sharp, Philips, Hewlett-packard, Compaq, TexasInstruments, Motorola, Aiwa và Siemens, vào các lĩnh vực mũi nhọn với côngnghệ tiên tiến Theo thống kê hàng điện tử chiếm tới 50% giá trị của khu vực chếtạo, đóng góp tới 22% sản phẩm quốc nội GDP của Singapore9 Kim ngạch xuấtkhẩu điện tử của Singapore chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu Từ thập kỷ 90,

Trang 10

sản lượng công nghiệp điện tử của Singapore là 5,2% tỷ trọng của cả thế giới và

tỷ trọng đó hầu như không thay đổi trong những năm gần đây10

Hiện nay trước xu hướng phát triển kinh tế tri thức của nền kinh tế thế giới, vớinhững lợi thế về khoa hoc kĩ thuật, Singapore đã tỏ ra rất năng động trong việcchú trọng đầu tư phát triển các ngành công nghệ cao Singapore đã chuyển dần cơcấu từ các dây chuyền chế tạo đòi hỏi tay nghề thấp sang các quá trình sản xuấttiên tiến gồm cả R&D (nghiên cứu phát triển) và chế tạo trọn gói hàng điện tử.Vừa qua công ty máy tính khổng lồ Hewlett-Packark của Mỹ, một trong nhữngnhà đầu tư nước ngoài đầu tiên của Singapore (từ năm 1968), đã khai trương mộtnhà máy sản xuất lát bán dẫn trị giá 100 triệu USD Đây là nhà sản xuất lát bándẫn thứ hai của Hewlett-Packark tại Singapore, sẽ sản xuất lát bán dẫn siliconđược sử dụng trong ngành phun mực của máy in vi tính Nhà máy này sẽ manglại 2 tỷ S$ (1,1 tỷ USD) cho Singapore vào năm 2004 Tháng 4/2000, nhà máysản xuất Lycra, một loại nguyên liệu hoá học tổng hợp cao cấp dùng trong nhiềungành chế tạo của tập đoàn Dupont (Mỹ) đã được khai trương tại Singapore11

1.3 Singapore - trung tâm dịch vụ thương mại thế giới

Với vị trí cực kỳ xung yếu trên tuyến đường biển từ đông sang tây, Singaporengay từ thời còn thuộc quyền cai trị của thực dân Anh đã sớm được xem là trạmtrung chuyển hàng hoá lớn nhất khu vực Phát huy ưu thế đó, chính phủSingapore đã biến dịch vụ buôn bán chuyển khẩu ở nơi đây trở thành trung tâmdịch vụ thương mại quốc tế

Khi mới giành độc lập dân tộc, nền kinh tế do lịch sử để lại có cơ cấu thiên vềcác hoạt động kinh tế buôn bán chuyển khẩu và dịch vụ tái xuất khẩu Đây là hoạtđộng đem lại phần lớn nguồn thu nhập cho quốc gia Cùng với sự hình thành vàphát triển một loạt các ngành công nghiệp có hàm lượng kĩ thuật cao, một tỷ lệlớn trong xuất khẩu trực tiếp đã dần thay thế cho mậu dịch quá cảnh Năm 1960,hàng tái xuất chiếm 90% giá trị kim ngạch xuất khẩu còn hàng xuất khẩu trực

10 Korea Focus số 7/8/2000

11 Tạp chí Kinh tế Châu á Thái bình dương số 2 (37) T2/2002

Trang 11

tiếp chiếm 10% Đến năm 1991, hàng tái xuất giảm nhiều trong khi đó hàng xuấtkhẩu trực tiếp lại tăng nhanh, năm 1998 hàng tái xuất chiếm khoảng 50% kimngạch xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp (xuất khẩu nội địa) củaSingapore ra thị trường thế giới tháng 07/2000: 10.667 triệu S$ và tháng 08/2002:10.381 triệu S$12 Mang đặc điểm là một nền kinh tế "hướng ngoại", đây là đầucầu trung chuyển lớn hàng hoá trong khu vực và sang các nước khác trên thếgiới, nó không bị hạn chế và không gò bó về cơ cấu xuất khẩu của thị trường nộiđịa với sự tham gia của nhiều công ty đa quốc gia có năng lực tài chính hùngmạnh; Singapore là một thị trường lớn, mặt hàng đa dạng từ hàng công nghiệp kĩthuật cao đến nguyên liệu nông, lâm, khoáng sản thô, thủ công mỹ nghệ đều cóthể kinh doanh cho nhiều mục đích khác nhau như chế biến tại chỗ, tái xuất,chuyển khẩu Tuy nhiên, Singapore tập trung xuất nhập khẩu vào một số hàng cóthế mạnh như cơ khí, điện tử, tin học, hoá chất, thực phẩm chế biến Năm 1998,kim ngạch các mặt hàng này chiếm tới 73% kim ngạch xuất khẩu, đạt 134,4 tỷS$ Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng này cũng chiếm 62% kim ngạch nhậpkhẩu, đạt 122,6 tỷ S$ Một khối lượng lớn các sản phẩm từ Malaysia, Indonesia

và các nước trong khu vực (chủ yếu là: gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hải sản, thủcông mỹ nghệ) vận chuyển quá cảnh qua các kho cảng của Singapore trước khigửi đi các thị trường Âu, Mỹ hay Trung Quốc Thêm vào đó là một số hàng côngnghiệp từ Châu Âu, vải lụa từ ấn Độ, Trung Quốc được Singapore nhập vào rồilại xuất khẩu đi khắp Châu á13

Với những hoạt động xuất khẩu như "chiếc bàn quay" giữa phương Tây vàphương Đông, đặc biệt với các bạn hàng lớn như Mỹ, Nhật, EU, Malaysia, Đàiloan Singapore liên tục được xếp trong 10 nước đứng đầu thế giới về tổng kimngạch xuất nhập khẩu trong những năm gần đây

Trang 12

1.4 Singapore - trung tâm dịch vụ hàng hải, cảng biển quốc tế

Nằm ở cuối cực Nam của eo biển Malacca nên Singapore đã trở thành điểm ánngữ chiến lược trên con đường buôn bán bằng đường bằng đường biển giữa ấn

Độ Dương và Thái Bình Dương; giữa Đông Nam á hải đảo và Đông Nam á lụcđịa Tận dụng lợi thế này, cơ quan cảng Singapore (PSA) thành lập năm 1964 đãbiến đổi cảng Singapore thành một trong những cảng tốt nhất thế giới Từ chỗ chỉ

có vài ba cảng nhỏ với đội tầu biển vài chục chiếc, đến năm 1998, đội tầu buôncủa Singapore đã lên đến 3.412 chiếc, tổng trọng tải là 22.025 triệu tấn (GT);trong đó gần 5 triệu tấn là chuyên dùng chở dầu Cảng Singapore là một trong bacảng lớn nhất thế giới về năng lực thông qua và lớn thứ ba thế giới về bốc rótdầu, với 26 cầu cảng container bốc xếp được 50 triệu TEU vào năm 2000 Ngoài

ra cảng Singapore còn cung cấp hàng loạt dịch vụ hàng hải như: hoa tiêu, tầu kéo,cung ứng nhiên liệu, kiểm tra miễn phí ga và nước, lưu kho, cung cấp vật dụngcần thiết cho tầu Toàn bộ hệ thống cảng biển của Singapore hiện nay đã được tựđộng hoá trong bốc dỡ hàng hoá cũng với một hệ thống đưa hàng bằng điện toánđiều khiển từ xa Điều này giúp cảng có thể tiếp nhận 800 tầu vào bốc xếp cùnglúc; mỗi năm tiếp nhận được 140.922 lượt tầu Riêng năm 1998, bốc xếp được

858 triệu tấn Cảng Singapore còn là một trong những trung tâm chế tạo và sửachữa tầu hàng năm tiếp nhận khoảng 2.500 đến 3.000 chiếc tầu đến sửa chữa14 Singapore đã xây dựng cảng container đầu tiên ở Đông Nam á, và trong nhiềunăm qua đã cố gắng biến Terminal Tanjong Pagon thành một trong nhữngTerminal hữu hiệu nhất thế giới Chương trình mở rộng cảng container PasinPaijang có tổng vốn đầu tư là 7 tỷ USD, hoàn thành vào năm 2002 sẽ càng nângcao vai trò và chức năng của cảng Singapore thành hải cảng trung tâm trungchuyển của khu vực Với diện tích kho có mái che 500.000 m2 và 1,5 triệu m2 bãicontainer, kho ngoài trời; cảng thu hút 400 hãng tầu hoạt động, nối với 700 cảngbiển khắp nơi trên thế giới Mười một năm liên tục cảng Singapore được Hiệp hộiHàng hải Quốc tế xếp là cảng tốt nhất khu vực Châu á15

14 Tổng quan thị trường Singapore, Vụ Châu á Thái bình dương, Bộ Thương mại

15 Tổng quan thị trường Singapore - Vụ Châu á Thái bình dương - Bộ Thương mại

Trang 13

1.5 Singapore - trung tâm dịch vụ hàng không quốc tế

Một trong những thành tựu nổi bật của kinh tế Singapore là sự phát triển hoànhảo của hệ thống dịch vụ (giao thông vận tải, bưu điện viễn thông, du lịch )trong đó ngành dịch vụ vận chuyển hàng không là ngành được phát triển mộtcách toàn diện với quy mô lớn, công nghệ hiện đại và đang có sức cạnh tranh bậcnhất trên thế giới

Chính sách "Bầu trời mở" do cục hàng không dân dụng Singapore (CivilAviation Authority Singapore - CAAS) thi hành một cách tích cực trong hơn haithập kỉ qua đã biến hòn đảo này trở thành đầu mối vận chuyển và dịch vụ hàngkhông quốc tế; đồng thời làm cho ngành hàng không dân dụng nước này trởthành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, làm ăn có hiệu quả và có sứccạnh tranh tốt nhất trên thế giới Với một diện tích nhỏ hẹp khoảng 647,5 km2,Singapore có tới 4 sân bay lớn nhỏ trong đó có Changi Air Port là niềm tự hàocủa người dân Singapore Sân bay Changi khi mở cửa vào tháng 7 năm 1981 làsân bay lớn nhất châu á; nó đã giúp Singapore trở thành sân bay trung tâm củakhu vực Từ Changi Airport có 65 hãng hàng không hoạt động trên 151 tuyến baynối với 51 quốc gia/ khu vực; thực hiện gần 90.000 chuyến bay mỗi năm (số liệuđến năm 1998)16 Ngoài Changi Airport, phi trường Seletar cũng khá nổi tiếngvới các dịch vụ thuê phi cơ và các hoạt động hàng không tổng quát

Một trong những thành tích nổi bật của ngành hàng không Singapore là sựvươn lên của hãng hàng không Singapore SIA (Singapore Air Lines) Được thànhlập vào ngày 01/10/1972 với khẩu hiệu hành động "Khách hàng trước tiên, chấtlượng trước tiên", SIA đã trở thành một trong những tập đoàn hàng không có chấtlượng phục vụ tốt nhất và có lãi nhiều nhất trên thế giới Tháng 5/1989, SIA làhãng hàng không đầu tiên trên thế giới có các chuyến bay thương mại bằng máybay Boeing 747 bay thẳng từ Singapore đến London mà không phải dừng lại ởbất cứ nơi nào thuộc châu á hoặc châu Âu Đến năm 1996, SIA đã có một trongnhững phi đội Boeing và Airbus lớn nhất và hiện đại nhất châu á, đã bay đến hầu

Trang 14

hết các lục địa Do phong cách phục vụ lịch thiệp, chu đáo, chính xác, an toàn vàgiá vé rẻ nên tháng 2/1994 SIA đã được nhận "Giải thưởng 20 năm phục vụ hoànhảo" của Tạp chí Hàng không Thế giới trao tặng17.

Để gia tăng sức cạnh tranh của mình trong một môi trường quốc tế đầy sôiđộng, những năm gần đây tập đoàn SIA đã đẩy mạnh tốc độ hợp tác và liên kếtđầu tư với những hãng hàng không và ngành hàng không của nhiều nước trên thếgiới Singapore đã ký hiệp định hàng không với 90 quốc gia và khu vực trên thếgiới ở Việt Nam, SIA có mặt từ nhiều năm nay Tháng 1/1995, SIA khai trươngchuyến bay hàng ngày đến TP Hồ Chí Minh, sau đó 3 năm SIA mỗi tuần có 2chuyến bay đến Hà nội Từ năm 1992, SIA đã giúp Việt Nam đào tạo cán bộquản lý cho Hãng hàng không Việt Nam Từ tháng 8 năm 1994, SIA đã đầu tưliên doanh với Hãng hàng không Việt Nam về xây dựng trạm dịch vụ vận chuyểnhàng hoá tại sân bay Tân Sơn Nhất18

1.6 Singapore - trung tâm dịch vụ viễn thông

Ngành dịch vụ viễn thông của Singapore trong khoảng một thập kỷ trở lại đâyphát triển một cách rầm rộ kể cả về các hình thức dịch vụ cũng như các tốc độ kỹthuật Hiện nay dịch vụ viễn thông tại nước này có giá cước rẻ vào bậc nhất thếgiới Singapore là nước đầu tiên ở Đông Nam á có trạm vệ tinh hàng hải mặt đất,

có thể liên lạc với tổ chức vệ tinh hàng hải Quốc tế Immarsast Ngành thông tinviễn thông cung cấp dịch vụ trên 14.000 đường truyền quốc tế; đường cáp viễnthông ngầm qua biển tới khắp thế giới với trình độ kỹ thuật cao Trong nỗ lực duytrì vị thế của một trong mười nước hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin vàtrở thành quốc gia số 1 ở châu á về cơ sở hạ tầng và kinh doanh điện tử,Singapore còn phấn đấu trở thành "Một trung tâm thương mại điện tử toàn cầuđáng tin cậy" Đầu năm 2000, Singapore đã thông báo những sáng kiến vềInforcomm 21 trong đó chú trọng đến thị trường viễn thông tạo điều kiện để mọingười dân Singapore được sử dụng mạng Internet Chính phủ đã khuyến khích và

17 TS Nguyễn Thị Hiền, Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN, NXB chính trị quốc gia, 2002

18 Tài liệu đã dẫn

Trang 15

giúp đỡ các doanh nghiệp, người dân đẩy mạnh kết nối sử dụng Internet vào kinhdoanh; và đã chi 30 triệu đô la Singapore cho mục đích này19

Chính nhờ có hệ thống dịch vụ viễn thông hiện đại và giá cước rẻ nên nhiềucông ty thế giới đã chọn Singapore làm trụ sở của họ để thiết lập các đầu mốithông tin và dữ liệu cho hoạt động kinh doanh ở khu vực châu á Thái BìnhDương Singapore dự tính đến năm 2020 trở thành một đất nước hoàn toàn vi tínhhoá với một kế hoạch đầy tham vọng thông minh hóa xã hội Từ năm 1989,Singapore đã xây dựng và vận hành hiệu quả hệ thống điện tử Tradenet để làmthủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá Thực chất đây là một mạng máy tính nối liềngiữa các cơ quan quản lý thủ tục nhà nước về xuất nhập khẩu với các doanhnghiệp và được nối mạng với một số nước khác, cho phép các công ty hoàn tấttoàn bộ thủ tục xin giấy phép xuất nhập khẩu qua mạng trong vòng 30 phút Nhờvậy, một container đi qua cổng cảng của Singapore chỉ tốn vẻn vẹn 45 giây Mỗinăm mạng Tradenet này tiết kiệm cho Singapore khoảng 1 tỷ S$ chi phí thủ tụchành chính và những lợi ích không thể đo lường khác liên quan đến cung cấpthông tin thương mại giữa các đối tác tham gia trong mạng này

Hiện nay các nước công nghiệp tiên tiến đang tích cực thực hiện "xa lộ thôngtin", vì hầu hết đều cho rằng nước nào giành được vị trí hàng đầu trong cuộc cạnhtranh này thì nước đó sẽ trở thành "siêu cường quốc" Singapore cũng nhận thức

rõ tầm quan trọng trên nên đã đưa ra kế hoạch lớn "Điện toán hóa toàn đảo" Hệthống này cho phép Singapore chẳng những thu và truyền đi những thông tin trithức mới nhất của thế giới mà còn có khả năng tự mở rộng và tự xử lý các tư liệu,sau đó căn cứ vào các yêu cầu khác nhau của khách hàng để truyền đi các tư liệunày tới từng địa chỉ khác nhau20

1.7 Singapore - trung tâm tài chính ngân hàng

Dịch vụ tài chính - ngân hàng là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn màchính phủ Singapore rất chú trọng đầu tư phát triển Chỉ trong vòng 15 năm sau

Trang 16

khi giành được độc lập, Singapore đã nổi lên như một trung tâm tài chính quốc tế

số một Đông Nam á, tập trung nhiều chi nhánh ngân hàng quốc tế lớn cũng nhưtập trung được khối lượng lớn giao dịch tiền tệ quan trọng và một mạng lưới kinhdoanh tài chính, dịch vụ điện tử và bảo hiểm hoàn chỉnh và hiện đại bậc nhất thếgiới Năm 1968 Singapore thành lập thị trường ngoại hối Sang năm 1969Singapore có thị trường vàng bạc và đến năm 1971 thị trường chứng khoán rađời Vào những năm 90 Singapore đã trở thành một trong những trung tâm tàichính tầm cỡ thế giới với thị trường ngoại hối đứng hàng thứ 4 sau London, NewYork và chỉ đứng sau Tokyo một chút; thị trường vàng bạc đứng thứ 3 khu vựcchâu á Thái Bình Dương sau Tokyo và Hongkong; thị trường chứng khoán xếphạng sau Tokyo và ngang ngửa với Hongkong Năm 1998, Sở giao dịch Tiền tệQuốc tế Singapore SIMEX được Thời báo Tài chính Quốc tế (InternationalFinancing Review) tại London trao giải thưởng sở hối đoái quốc tế trong năm

1998 Đây là sở hối đoái châu á duy nhất từng đoạt danh hiệu này và cũng là lầnthứ 4 SIMEX đoạt giải thưởng này21

Ngân hàng DBS Bank mà chính phủ có cổ phần trong đó được xếp vào 100ngân hàng lớn nhất thế giới Ngoài ra còn có 3 ngân hàng lớn là Overseas -Chinese Banking Corporation (Tập đoàn Ngân hàng Hoa kiều); United OverseasBank (Ngân hàng Liên hiệp Nước ngoài) và Overseas Union Bank (Ngân hàngLiên hợp Hải ngoại) là những ngân hàng nội địa lớn do Singapore quản lý

Trong lĩnh vực quản lý tài chính, đường lối thận trọng đã giúp Singapore khắcphục được khủng hoảng tài chính Đông á 1997-1998; tuy nhiên trước tình hìnhmới của kinh tế thế giới, ngành ngân hàng Singapore cần phải cải cách và tự dohoá hơn nữa Ngày 7/12/2001 Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS) đã cấp giấy phépchính thức cho hai tập đoàn ngân hàng nước ngoài là Ngân hàng Hongkong vàThượng hải, Ngân hàng May Bank của Malaysia được hoạt động ở Singapore từ01/01/2002 Đây là ví dụ nằm trong chương trình tự do hoá ngành tài chính được

áp dụng từ năm 1999 Những bổ sung mới này đã nâng số lượng các ngân hàng

21 Lý Quang Diệu, Bí quyết hoá rồng, Lịch sử Singapore 1965 - 2000, NXB trẻ T6/2001

Trang 17

đạt tiêu chuẩn ở Singapore lên tới 6 ngân hàng Tiếp đó là các ngân hàng của Mỹ,

Hà Lan, Anh và Pháp cũng lần lượt được cấp giấy phép Tháng 10/2001Singapore đã ký hiệp ước kinh tế Nhật Bản - Singapore mở ra một mối quan hệđối tác trong kỷ nguyên mới nhằm giám sát những trung tâm chứng khoán vànguồn vốn phát sinh từ chứng khoán - Phó Thủ tướng Lý Hiển Long trong bàiphát biểu trước các chủ ngân hàng đầu tư ở Singapore cho biết Sang năm 2002,Singapore sẽ thực hiện chính sách cấp phép hoạt động cho các Website, về tàichính trên mạng Internet, cung cấp dịch vụ tư vấn về đầu tư và kinh doanh chứngkhoán nhằm ngăn chặn các nhà quản lý không đáng tin cậy lừa gạt các nhà đầu

tư Những quy định mới này sẽ được đưa vào luật tư vấn tài chính và luật chứngkhoán của Singapore trong năm 2002 Tất cả những chính sách trên thể hiện nỗlực của chính phủ Singapore nhằm duy trì và phát triển một trung tâm tài chínhngân hàng quốc tế lớn của thế giới22

2 Những thành công, hạn chế và nguyên nhân

Singapore hiện nay vừa là thành tựu, vừa là nạn nhân của hiện tượng đã sảnsinh ra mình, đó là toàn cầu hoá

Singapore là nước có diện tích nhỏ nhất và dân số gần ít nhất trong các nướcASEAN nhưng có thể nói là nước thu được nhiều lợi ích nhất trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế và khu vực Trong thời gian không dài (khoảng 30 năm)nhưng đời sống kinh tế quốc gia được cải thiện rõ nét và địa vị của quốc gia trongcộng đồng quốc tế cũng thay đổi rất căn bản Từ một nước có trình độ kinh tếthấp kém, thu nhập quốc gia chủ yếu dựa vào hoạt động dịch vụ chuyển khẩu,tiềm năng nông nghiệp không có, phải nhập mọi sản phẩm thiết yếu (kể cả nướcuống); Singapore đã trở thành nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhấttrong khu vực và được xếp vào nhóm nước có thu nhập quốc dân bình quân đầungười hàng đầu thế giới Chính phủ điều hành đất nước rất có hiệu quả

Trang 18

Singapore đã được các tổ chức quốc tế, các cơ quan nghiên cứu đánh giá trongnăm 1998 như sau:23

1 Nền kinh tế tự do hoá NHất thế giới (trên cơ sở 10 tiêu thức: chính sáchthương mại, thuế, vai trò điều hành của chính phủ, chính sách tiền tệ, luân chuyểnvốn và FDI, tiền lương và kiểm soát giá cả, sở hữu công nghiệp, các quy định và

thị trường chợ đen - Heritage Foundation & The Wall Street Journal xếp hạng)

2 Sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhất thế giới (căn cứ vào các chỉ số: tính cởi

mở, điều hành của chính phủ, nền tài chính, hạ tầng cơ sở, lực lượng lao động và

luật pháp - World Economic Forum - WEF)

3 Hệ thống luật pháp Nhất thế giới (căn cứ xếp loại: hệ thống pháp luật hỗ trợ

đắc lực cho phát triển kinh tế - International Institute For Management

Development - IMD)

4 Môi trường kinh doanh Nhất khu vực châu á (căn cứ các chỉ số: ổn địnhchính trị, kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư nước ngoài, cơ hội kinh doanh, chínhsách của chính phủ đối với doanh nghiệp tư nhân và sự cạnh tranh, chính sáchngoại hối và thương mại, hệ thống thuế, tài chính, thi trường lao động và hạ tầng

cơ sở - Economic Intelligence Unit - EIU)

5 Chuẩn hoá chế độ quản lý doanh nghiệp Nhất châu á (tiêu chuẩn xếp hạng:

chất lượng quản lý tại các doanh nghiệp - Price Waterhouse)

6 Hồi vốn FDI thứ Nhì khu vực châu á thái bình dương (các chỉ số: vốn cổ

phần, thu nhập từ tái đầu tư, vay vốn liên công ty - UNCTAD)

7 Hệ thống bảo vệ pháp luật (toà án, cảnh sát) Nhất 11 nước châu á + Hoa kỳ(các chỉ số xếp hạng: giải quyết các vụ án nhanh, an ninh công cộng và mức tội

phạm thấp - Political and Economic Risk Consultancy - PERC)

8 Tình trạng tham nhũng ít Nhất châu á (các chỉ số xếp hạng: hệ thống luật

pháp, trình độ chuyên môn của các cơ quan bảo vệ luật pháp - PERC)

23 Tổng quan thị trường Singapore, Vụ Châu á Thái bình dương , Bộ Thương mại

Trang 19

9 Khu công nghiệp kỹ thuật cao Trong số 10 quốc gia hàng đầu thế giới (cácchỉ số xếp loại: số lượng các viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, tài năng công

nghệ cao, vốn đầu tư, hạ tầng cơ sở - Newsweek)

10 Chất lượng mức sống Thứ 4 trong 40 thành phố lớn châu á (các chỉ số: 24chỉ số gồm giáo dục, vận tải công cộng, nhà ở, điều kiện vệ sinh, chăm sóc sức

99-2003: ASIAN Development Outlook 2002, ADB, 4/2002

Có được thành công trên là nhờ vào những định hướng, chính sách phát triểnkinh tế hết sức hợp lý của chính phủ Singapore Ngay khi mới giành được độclập, Singapore đã nhận thức được đầy đủ những khó khăn về tình trạng đất chật,người đông, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm và hiểu rằng nếu không dựa vàobên ngoài, không "mở cửa" kinh tế thực hiện hội nhập, khó có thể đưa đất nướcthoát nhanh ra khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu Chính sách thu hút đầu tư khônngoan, đi trước nhiều nước đã có tác dụng thu hút một lượng vốn đầu tư rất lớn

đổ vào nền kinh tế Singapore trong thời gian ngắn Đây là yếu tố quyết định làmthay đổi nhanh chóng bộ mặt của nền kinh tế, hình thành cơ cấu dịch vụ - côngnghiệp hiện đại, tạo ra những lợi thế so sánh mới, biến Singapore thành quốc giadẫn đầu trong nhiều lĩnh vực về kỹ thuật và công nghệ trong vùng

Là một nước nhỏ nằm ở vị trí xung yếu, muốn phát triển nhanh, vấn đề cốt lõi

là phải giữ được sự ổn định về chính trị, duy trì được độc lập trong quan hệ vớibên ngoài Hơn nữa, trong tình hình khu vực phức tạp, có hạn chế được sự canthiệp quá sâu của các siêu cường quốc mới có thể ổn định nền an ninh quốc gia

và an toàn xã hội để phát triển Quyết định tham gia ASEAN là nhằm mục đích

Trang 20

kinh tế đa phương lẫn quan hệ kinh tế song phương Singapore là thành viên của

tổ chức khu vực đồng thời là thành viên của các tổ chức quốc tế như: WTO,IMF ; ngoài ra còn có quan hệ ngoại giao với hơn 150 quốc gia và tham gia kýkết Hiệp định đảm bảo đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với nhiều nước/lãnh thổ

Những chủ trương, chính sách hội nhập được triển khai trong thực tế đã làmcho tính quốc tế của nền kinh tế Singapore được tăng cường trong thời gian ngắn.Những lợi ích kinh tế có được từ tính quốc tế cao đã giúp Singapore có được mộtmôi trường cạnh tranh sôi động trong phát triển kinh tế, khai thác được một cáchtối đa những lợi thế bên ngoài Thành công của quá trình hội nhập kinh tế bênngoài không tách rời những đường lối chiến lược đúng đắn của chính phủ vàđảng cầm quyền Từ hoạt động ngoại giao mở đường cho đến việc ký kết nhữnghiệp định và cả việc hoàn thiện, bổ sung hệ thống pháp luật, điều tiết các quan hệkinh tế bên trong, bên ngoài đều đảm bảo thuận lợi cho việc thực hiện các hoạtđộng thương mại, đầu tư, dịch vụ Cũng phải nói thêm rằng, với những chủtrương, quyết sách đúng đắn và táo bạo, chính phủ và đảng cầm quyền ởSingapore đã có công lao rất lớn trong việc biến Singapore từ một nước mà ởđiểm xuất phát còn thấp kém hơn một số nước khác trong khu vực đã bứt phá vàvượt lên trước để trở thành trung tâm xuất nhập khẩu, trung tâm công nghệ kỹthuật cao, trung tâm tài chính và là nhà đầu tư lớn nhất trong khu vực

Bên cạnh những lợi ích, những thành tựu rất lớn thì quá trình hội nhập kinh tếcủa Singapore cũng còn có những hạn chế nhất định Nền kinh tế Singapore nóichung, lĩnh vực công nghiệp nói riêng còn bị nước ngoài chi phối trên nhiềuphương diện, đặc biệt về nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật và về thị trường tiêu thụsản phẩm và cung cấp nguyên liệu Đầu những năm 90 tư bản nước ngoài kiểmsoát ít nhất là 75% tổng số vốn đầu tư vào ngành công nghệ chế biến - chế tạo,đóng góp khoảng 65% tổng giá trị công nghiệp và 85% giá trị hàng xuất khẩutrực tiếp, cung cấp việc làm cho khoảng 60% lực lượng lao động công nghiệpSingapore Vốn đầu tư nước ngoài chiếm ưu thế hơn hẳn người địa phương kể cả

Trang 21

ở các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động cũng như ở các ngành sử dụngnhiều vốn Trong 5 ngành công nghiệp then chốt có đóng góp nhiều nhất vàotổng thu nhập nội địa thì phần sở hữu của nước ngoài trong ngành điện tử - bándẫn chiếm tỷ lệ là 87%, trong ngành lọc dầu: 84%, ngành chế tạo máy: 55%,ngành luyện thép: 43%, ngành sản xuất các thiết bị vận tải: 22%24.

Singspore còn phụ thuộc sâu sắc vào thị trường cung cấp nguyên liệu và tiêuthụ sản phẩm của quốc tế, trước hết là thị trường các nước tư bản chủ nghĩa pháttriển, đặc biệt là Mỹ và Nhật bản Từ những năm 80 trở lại đây, Mỹ là bạn hàngbuôn bán số một của Singapore Bình quân hàng năm thị trường Mỹ tiêu thụ từ18% đến 21% hàng xuất khẩu của Singapore và chiếm từ 14% đến 17% hàngnhập khẩu của nước này Nhật bản là bạn hàng lớn thứ hai nhưng là nước cungcấp nhiều nhất hàng nhập khẩu cho Singapore Malaysia là bạn hàng truyền thốngđứng vị trí thứ ba trong buôn bán xuất nhập khẩu của Singapore; trong nhữngnăm gần đây kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm giữa hai nước chiếm tới 14%tổng giá trị ngoại thương của Singapore.25

Sự phụ thuộc vào nước ngoài về nguồn vốn đầu tư và về thị trường tiêu thụ sảnphẩm, nhất là lại chỉ tập trung ở một số nước, thể hiện qua sự lên xuống về kinh

tế của Singapore hoàn toàn trùng lặp với sự lên xuống của kinh tế thế giới và cácnước công nghiệp phát triển, cũng như phụ thuộc vào việc duy trì của hệ thốngmậu dịch tự do trên thế giới Kinh tế Singapore phụ thuộc nhiều vào các công ty

đa quốc gia (MNCs), những cam kết của các công ty này trong việc quyết địnhđặt trụ sở hoạt động lâu dài tại đây hầu như mang một ý nghĩa hết sức quan trọngđối với nền kinh tế Singapore Trong khi đó, Singapore còn thiếu các nhà côngnghệ, các nhà quản lý giỏi tầm cỡ thế giới; các công ty nội địa còn yếu kém cả vềnguồn vốn, kỹ thuật và quản lý, chưa đủ sức cạnh tranh với các công ty xuyênquốc gia

Ngoài ra, là một quốc gia nhỏ bé, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, dân

số Singapore lại theo chiều hướng già đi, đã làm Singapore thiếu nguồn nhân lực

Trang 22

trầm trọng Hàng năm Singapore phải nhập khẩu một lượng lao động lớn biếnSingapore trở thành một trong những nước phụ thuộc vào nguồn lao động nhập

cư cao nhất châu á Việc nhập khẩu lao động đã có tác động xấu đến kết cấu xãhội nên Singapore đã cấm các doanh nghiệp tuyển nhận thêm lao động nướcngoài Tình hình này càng làm tăng thêm nạn thiếu lao động ở Singapore, giácông lao động ở Singapore tăng lên vào hàng cao trên thế giới (đứng thứ hai châu

á sau Nhật bản)26 Thêm vào đó, diện tích đất đai cho nhu cầu mở rộng các hoạtđộng kinh tế của Singapore ngày càng khan hiếm, khiến cho chi phí kinh doanhtăng cao Những khó khăn này đã làm hạ thấp tính cạnh tranh của Singapore trênthị trường thương mại và đầu tư quốc tế Singapore và các nước trong vùng cùng

có chung cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, trong khi đó các nước khác trong khu vực

có giá công lao động rẻ hơn; điều này sẽ làm cho giá thành sản phẩm củaSingapore cao hơn, ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu Singapore cũng như các nướctrong vùng đều đang thi hành chính sách kinh tế hướng ngoại nhằm thu hút vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài để hỗ trợ nền kinh tế trong nước phát triển Các nướcláng giềng đang cạnh tranh gay gắt về vấn đề này thông qua hàng loạt các ưu đãi

về chính sách đầu tư Singapore có nhiều hạn chế về nguồn tài nguyên cũng nhưlực lượng lao động, kém hơn về lợi thế so sánh với các quốc gia trong khu vựcgiàu tài nguyên thiên nhiên (đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt), có nguồn lao động rẻ,dồi dào

Những yếu tố trên đây đã tạo ra những thách thức mới đối với sự phát triển lâudài và liên tục của Singapore, đòi hỏi chính phủ phải có những biện pháp vàchính sách phù hợp để đáp ứng

III Kinh nghiệm phát triển kinh tế của Singapore đối với Việt Nam

Là hai nước cùng nằm trong khu vực Đông Nam á, Việt Nam và Singapore cónhững quan hệ truyền thống từ lâu đời Tuy nhiên, do tác động của những nhân tốlịch sử, chính trị bên trong và bên ngoài khu vực; quan hệ giữa hai nước trải quanhững bước thăng trầm đầy biến động Sau khi ''chiến tranh lạnh" kết thúc, đặc

26 The Economist 07/03/1998

Trang 23

biệt là sau Hiệp định Paris về Campuchia được ký tháng 10/1991, quan hệ ViệtNam - Singapore bước sang một thời kỳ phát triển mới Năm 1995, Singapore đãkhẳng định sự ủng hộ hoàn toàn đối với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 7của ASEAN Sự kiện này càng thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Singapore trên cơ sởhợp tác đa phương và song phương trong ASEAN Singapore đã nhanh chóng trởthành đối tác hàng đầu về thương mại và đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Có được

sự phát triển này trước hết là do những cố gắng nỗ lực từ hai phía Việt Nam vàSingapore Đối với Việt Nam, Việt Nam nhìn thấy ở Singapore một nước nhỏtrong khu vực có xuất phát điểm tương đồng, đã vươn lên thành một nước có nềnkinh tế phát triển ở khu vực và trên thế giới Là một nước đi sau trong quá trìnhcải cách kinh tế, những kinh nghiệm của Singapore trong phát triển kinh tế lànguồn tư liệu quý báu cho Việt Nam tham khảo và phát huy

Trang 24

mối quan hệ Kinh tế Singapore phụ thuộc nhiều vào các công ty đa quốc gia(MNC); vai trò của nhà nước chủ yếu là điều tiết các quan hệ kinh tế vĩ mô, tạođiều kiện cho tư bản nước ngoài và trong nước phát triển.

Trong khi đó, Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ mới bắt đầu làm quen vớinền kinh tế thị trường, thái độ đối với sự phát triển khu vực tư nhân so với cácdoanh nghiệp nhà nước còn thiếu nhất quán trong hoạch định và thực thi chiếnlược dài hạn cũng như trung và ngắn hạn; khuynh hướng của nền kinh tế còn lệthuộc nhiều vào các doanh nghiệp nhà nước được bảo hộ, kém hiệu quả, có tínhđộc quyền trong khi thiếu một cơ chế cạnh tranh khuyến khích sự phát triển củakhu vực tư

Hơn nữa, quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam và Singapore diễn ra tronghai giai đoạn khác hẳn nhau của nền kinh tế thế giới với những khó khăn và thuậnlợi riêng Do đó, việc hoạch định chiến lược phát triển và những bước đi cụ thểcũng không thể là một sự sao chép Tuy vậy, Singapore là một hình mẫu lý tưởng

về phát triển kinh tế cho những quốc gia ở thế giới thứ ba như Việt Nam; với mụctiêu tạo dựng một môi trường thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hoá- hiện đạihoá đất nước của Việt Nam, những kinh nghiệm của Singapore vẫn là những bàihọc đáng giá của người đi trước

2 Bài học kinh nghiệm

2.1 Sớm "mở cửa" nền kinh tế, chủ động thực hiện hội nhập

Sau khi giành độc lập, do ý thức được một cách rõ ràng tình trạng đất chậtngười đông, tài nguyên thiên nhiên - tiềm năng vật chất để phát triển kinh tếnghèo nàn nên Singapore đã thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuấtkhẩu để đi lên và phát triển Báo cáo của Uỷ ban Kinh tế Singapore trong nhữngnăm 1980 đã xác định nền kinh tế Singapore gắn liền với ngoại thương, đặc biệt

là đầu tư nước ngoài Xuất phát từ một nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp,Singapore cần một lượng vốn rất lớn để đổi mới cơ cấu và hiện đại hoá nền kinh

tế Vì vậy, ngay từ đầu họ đã rất chú trọng đến nguồn vốn bên ngoài, cụ thể lànguồn vốn đầu tư trực tiếp Singapore cho phép các nhà đầu tư quốc tế đầu tư qua

Trang 25

rất nhiều hình thức trong đó hình thức liên doanh được chú ý nhiều hơn để tạonền tảng cho nền công nghiệp quốc gia Về đối tác đầu tư, Singapore chủ trươngkhông phân biệt để tận dụng khả năng về vốn từ nhiều nguồn khác nhau; trong đóquan tâm nhiều hơn đến các đối tác có "công nghệ nguồn" (công nghệ cao) là

Mỹ, Nhật bản

Vấn đề hướng đầu tư cũng được xác định rõ trong các thời kỳ: ban đầu do cơ

sở kinh tế ở điểm xuất phát thấp, Singapore chủ trương thu hút FDI vào phát triểnnhững ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và nhanh tạo ra sản phẩm xuấtkhẩu như dệt may, lắp ráp thiết bị điện ; cùng với sự phát triển như vũ bão củacông nghiệp điện tử và các ngành kỹ thuật cao, hướng thu hút đầu tư tập trungvào những ngành như sản xuất hàng điện tử, máy vi tính, lọc dầu Nhà nước cóchính sách ưu tiên cho những ngành nghề, lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế vớinhững chính sách ưu đãi hợp lý

Trong những năm đầu tiên của thời kỳ đổi mới kinh tế, Việt Nam đã chọnchiến lược nghiêng nhiều hơn về phía mô hình công nghiệp hoá hướng về xuấtkhẩu Mô hình công nghiệp hoá cổ điển tuy tạo ra các nước công nghiệp pháttriển nhất ngày nay, nhưng phải kéo dài hàng trăm năm nên đã không còn đượcnêu ra làm bài học nữa Trong khi đó công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu đãkhông chỉ duy trì được tính bền vững của quá trình công nghiệp hoá mà còn đượccoi như sự "thần kỳ" với những thành tích tăng trưởng kinh tế và biến đổi xã hộihết sức ngoạn mục Điển hình trong số các nền kinh tế như thế là Singapore vàbài học về sự phát triển kinh tế của họ rất có ích cho Việt Nam trong giai đoạnhội nhập kinh tế này

2.2 Chính sách cơ cấu kinh tế hợp lý

Khi mới giành độc lập, nền kinh tế do lịch sử để lại có cơ cấu thiên về các hoạtđộng kinh tế buôn bán chuyển khẩu và dịch vụ tái xuất khẩu Đây là hoạt độngđem lại phần lớn nguồn thu cho quốc gia Với những định hướng chủ động trong

Trang 26

một mặt khai thác những ngành truyền thống để tạo việc làm và vốn tích luỹ, mặtkhác hướng tới một cơ cấu có những ngành sử dụng những thành tựu khoa họccông nghệ mới, mang lại thu nhập cao và có khả năng đẩy nhanh tốc độ phát triểncủa toàn nền kinh tế Việc thực hiện chính sách cơ cấu như vậy trong khoảng 20năm đã đưa đến kết quả khả quan: một tỷ lệ cao trong xuất khẩu trực tiếp đã dầnthay thế cho mậu dịch quá cảnh, sự chủ động trong hoạt động kinh tế tăng cao.Việt Nam có thể tìm hiểu bài học kinh nghiệm này cho việc đầu tư phát triểnnhững làng nghề truyền thống của mình nhằm cải thiện hoạt động sản xuất côngnghiệp ở khu vực nông thôn; từng bước giải quyết việc làm, nâng cao tỷ trọngđóng góp của khu vực nông thôn trong nền kinh tế cho hợp lý với tiềm năng củakhu vực này.

2.3 Chính sách thị trường và thương mại

Xuất phát từ truyền thống là trung tâm buôn bán chuyển khẩu quốc tế và thựchiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, chính sách thị trường làmột bộ phận đáng chú ý của chính sách kinh tế của Singapore

Chủ trương chung là giữ vững thị trường và tận dụng mọi cơ hội để mở rộngthị trường; và để làm được điều đó cần kết hợp sự trợ giúp, nâng đỡ của chínhphủ với nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ Singapore Trongchiến lược thị trường, Singapore đặc biệt chú ý việc đa dạng hoá thị trường cùngvới phát triển những thị trường quan trọng có ưu thế về địa lý, dung lượng nhưASEAN, Mỹ, EU

Do điều kiện tự nhiên, Singapore phải nhập khẩu hầu hết các nguyên nhiênliệu phục vụ cho đời sống và sản xuất (kể cả nước ngọt phải nhập từ Malaysia);chính phủ luôn chủ trương tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường Điều nàythể hiện ở chính sách bạn hàng của Singapore là mở rộng hết thảy các mối quan

hệ Singapore có quan hệ ngoại giao với 152 quốc gia, tổ chức quốc tế, có chântrong các tổ chức quốc tế lớn UN, APEC, ASEAN, WTO, NAM và đã ký Hiệpđịnh Đảm bảo đầu tư với 22 nước và Tránh đánh Thuế hai lần với 38 nước/ khu

Trang 27

vực/ lãnh thổ Như vậy Singapore đã có được thị trường xuất khẩu và nhập khẩurộng lớn đa dạng cho phát triển kinh tế.

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và trước ảnh hưởng của xu thếtoàn cầu hoá kinh tế, Việt Nam cũng đang nỗ lực tìm kiếm thị trường và liên kếtkinh tế Singapore đã ủng hộ Việt Nam trong việc Việt Nam gia nhập ASEAN;

và Việt Nam có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Singapore trong quá trình vậnđộng gia nhập WTO - tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu

2.4 Chính sách khoa học công nghệ

Thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, nhằm hiện đại hoá đất nước và nângcao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp ở cả thị trường nội địa lẫn thịtrường quốc tế, ngay từ đầu khoa học công nghệ đã được chính phủ Singapore rấtquan tâm Chính sách khoa học công nghệ của Singapore tập trung chú ý đến việcxây dựng năng lực kỹ thuật - công nghệ để có thể dẫn đầu trong nhiều lĩnh vực kỹthuật cao Theo đuổi chính sách đó Singapore đã có những biện pháp khuyếnkhích khá táo bạo, có thể kể như:

- Các khuyến khích liên quan đến thuế: việc nhập khẩu bằng phát minh, sángchế, bản quyền, các máy móc thiết bị và nguyên liệu được miễn thuế nhập khẩu;giảm hai lần thuế cho những phụ phí R & D của các công ty xuyên quốc gia cólập cơ sở nghiên cứu và phát triển của họ ở Singapore

- Nhà nước có sự hỗ trợ về nhiều mặt cho các doanh nghiệp, các công ty trongviệc nghiên cứu, triển khai và ứng dụng công nghệ, kỹ thuật mới Chẳng hạn đểđảm bảo cho các doanh nghiệp có thông tin tương đối chuẩn xác trên thị trườngcông nghệ quốc tế (đây là thị trường luôn thiếu hụt thông tin), chính phủSingapore đã thiết lập một hệ thống các cơ quan đại diện xúc tiến đầu tư và đổimới công nghệ tại các nước phát triển Các cơ quan đại diện trực tiếp bắt mối,sàng lọc các nhà đầu tư và làm dịch vụ cho các dự án kinh doanh quốc tế củaSingapore tại nước ngoài Ngoài ra, nhà nước còn lập các điểm chuyên ngành xúc

Trang 28

tiến mua sắm thiết bị, máy móc phục vụ cho việc đổi mới kỹ thuật của các ngànhmũi nhọn trong nền kinh tế

- Thành lập các công viên khoa học, các trung tâm nghiên cứu để huy độngmọi nguồn lực cho sự nghiệp hiện đại hoá kỹ thuật, công nghệ của nền kinh tếmột cách hiệu quả Giống mô hình ở nhiều nước phát triển, từ đây các chươngtrình nghiên cứu, triển khai đã được thực hiện bởi sự kết hợp nỗ lực của nhànước, của các công ty (trong nước và quốc tế) và của các viện nghiên cứu cũngnhư các trường đại học ở Singapore Đặc biệt các trung tâm này đã thu hút nhiềucông ty lớn quốc tế mở mang hoạt động nghiên cứu và triển khai Chẳng hạnIBM đã đầu tư 30 triệu USD trong vòng 5 năm để thành lập một trung tâm thiết

kế "chip" điện tử ở Singapore Công ty Hwelett-Packard tăng gấp đôi chi phínghiên cứu và phát triển trong năm 2000 Công ty Sunmicrosystem có kế hoạchtrợ giúp chính phủ thực thi kế hoạch biến Singapore thành trung tâm thương mạiđiện tử khu vực Ngoài ra Singapore còn ký thỏa thuận với một số trung tâm đàotạo quản lý của Pháp của Mỹ để mở mang các chi nhánh đào tạo ở Singapore27

- Có sự định hướng của chính phủ nhằm tập trung nguồn lực vào những ngànhnghề mũi nhọn và có triển vọng trong tương lai như kỹ thuật sinh học, dượcphẩm, thiết bị y tế và thiết bị thông tin liên lạc hiện đại Việc chuẩn bị đầy đủcác điều kiện như kết cấu vật chất hạ tầng, có chiến lược khai thác tiềm năngkhoa học và công nghệ của các công ty đa quốc gia cũng là những yếu tố thuậnlợi cho việc thực hiện chuyển giao công nghệ hiện đại nhất vào Singapore

Thực tế cho thấy việc thực hiện chính sách khoa học công nghệ của Singaporetrong thời gian qua đã đem lại những lợi ích kinh tế rất to lớn, giúp nền kinh tếSingapore đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ và hiện đại

2.5 Chính sách đào tạo nhân lực

Singapore có đội ngũ lao động tay nghề cao, hiểu biết kinh doanh, thương mạibiết và sử dụng thông thạo song ngữ (tiếng Anh và tiếng Hoa, Malay, Tamil)nhưng phải kể đến trình độ tay nghề, năng suất và kỷ luật lao động cao, sẵn sàng

27 Lý Quang Diệu, Bí quyết hoá rồng, Lịch sử Singapore 1965-2000, NXB Trẻ T6/2001

Trang 29

đáp ứng mọi nhu cầu của các ngành sản xuất kinh doanh Singapore được xếphạng là nước có nguồn lao động tốt nhất thế giới năm 1997 do BERI xếp hạng.

Có được điều đó là do chính phủ sớm nhận thức được tầm quan trọng của một lựclượng lao động có trình độ đối với việc phát triển kinh tế Với một đất nướcnghèo tài nguyên thiên nhiên như Singapore thì nhân tài là một yếu tố rất quantrọng Chính phủ Singapore hợp tác với các công ty xuyên quốc gia bỏ vốn lậpchương trình hỗn hợp đào tạo cán bộ và nhân viên chuyên môn, hoặc gửi người

ra nước ngoài học kỹ thuật hiện đại

Cùng với việc đầu tư mạnh mẽ vào nền giáo dục Singapore cũng rất chú ý đếnviệc thu hút nhân tài từ bên ngoài để bù đắp cho lực lượng lao động nhỏ bé củamình (Singapore chỉ có hơn 3 triệu dân) Vào năm 1980, Singapore thành lập hai

uỷ ban, một có nhiệm vụ giúp nhưng nhà doanh nghiệp, giáo sư, nghệ sĩ vànhững công nhân có tay nghề cao từ nước ngoài đến làm đúng nghề và một kếthợp họ thành xã hội Một đội ngũ nhân viên đã gặp các sinh viên châu á có triểnvọng ở các trường đại học để thu hút họ về làm việc ở Singapore Việc tìm kiếmnhân tài trên toàn cầu có hệ thống này đã thu hút được vài trăm sinh viên tốtnghiệp đại học mỗi năm Singapore còn đưa ra vài trăm học bổng cho các sinhviên giỏi đến từ Trung Quốc, ấn Độ và các nước khác trong khu vực; nhữngngười này khi trở về vẫn có thể hữu ích cho các công ty của Singapore ở nướcngoài Viện Sinh học Tế bào (TMCB) đã thu hút được 200 nhà khoa học quốc tếđến nghiên cứu và làm việc trong đó hơn 100 người có bằng tiến sĩ và 60 kỹ thuậtviên giúp việc được chính phủ và tư nhân tài trợ28

Ngoài ra, lực lượng lao động ở Singapore được quản lý chặt chẽ có kỷ luật bởiNTUC (Đại hội Nghiệp đoàn toàn quốc) và điều này cho phép giữa chính phủ vàngười lao động có một mối quan hệ gần gũi và chặt chẽ Sự phối hợp giữa ba lựclượng: giới chủ, chính phủ và công đoàn là lợi thế cạnh tranh độc đáo củaSingapore trong hơn ba thập kỷ qua

Trang 30

2.6 Chính sách cạnh tranh

Nhất quán trong phát triển kinh tế thị trường "mở" và thực hiện hội nhập kinh

tế quốc tế, Singapore cũng chủ trương thực hiện một chính sách cạnh tranh theocách thức riêng của mình Phối hợp cùng các chính sách khác, chính phủSingapore đã có những biện pháp nhằm tạo một môi trường cạnh tranh sôi động,tạo động lực phát triển kinh tế bên ngoài và hoạt động đầu tư trực tiếp nướcngoài

Việc hạn chế phạm vi lĩnh vực đầu tư của các công ty quốc tế ở Singapore hầunhư không tồn tại; hơn thế nữa trong một ngành Singapore còn tạo điều kiện chocông ty nước ngoài không phải ở một nước mà cho các công ty của các nướckhác nhau bỏ vốn đầu tư Với một môi trường cạnh tranh sôi động như vậy, cáccông ty quốc tế buộc phải đưa vào Singapore những kỹ thuật hiện đại, phươngpháp quản lý tiên tiến Nhờ đó mà các sản phẩm được tạo ra ở Singapore khôngchỉ có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa mà còn có khả năng cạnh tranhtrên thị trường quốc tế Vào năm 1999 theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thếgiới, Singapore được xếp thứ 1 trước cả Mỹ, Hongkong, Đài loan về sức cạnhtranh

Môi trường cạnh tranh sôi động, tuy nhiên chính phủ cũng có những trợ giúpnhất định để nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty, doanh nghiệp nội địa,nhằm chủ động hơn trong phát triển kinh tế Một ví dụ điển hình là của lĩnh vựckinh doanh hàng hải Chính phủ Singapore luôn theo đuổi chính sách "cạnh tranh

để ngỏ" để tự do kinh doanh hàng hải, nhưng lĩnh vực cảng biển và dịch vụ hànghải thì lại giành độc quyển hoàn toàn về Singapore Năm 1985, Singapore thànhlập Hiệp hội hàng hải quốc gia, chủ yếu để sát nhập 5 hội: chủ tầu quốc gia, chủtầu tư nhân, hội hàng hải, hội tầu kéo và sà lan, hội địa lý và môi giới thànhnhững nhóm mang cờ Singapore hoạt động ngoại thương và nội địa29

29 TS Nguyễn Thị Hiền, Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN, NXB Chính trị Quốc gia, 2002

Trang 31

Chương 2Thực trạng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Singapore giai

đoạn 1995-2001

I Vị trí của nền kinh tế Singapore

1 Vị trí của kinh tế Singapore trong kinh tế thế giới và ASEAN

Ba thập kỉ vừa qua, Singapore đã nổi lên như một vùng kinh tế năng động và

là một mẫu mực cho quá trình phát triển kinh tế Từ một nền kinh tế bị tàn phávào giữa thập kỷ 60, chính phủ Singapore đã nỗ lực biến Singapore trở thành

"một quốc gia độc lập có khả năng liên kết mậu dịch và đầu tư với các nước côngnghiệp hàng đầu và là một trung tâm phân phối hàng hoá, dịch vụ và thông tinthành công trong khu vực"30

Kinh tế chủ yếu dựa vào thương mại và dịch vụ, theo báo cáo của WTO, năm

1997, Singapore là nước có kim ngạch thương mại đứng thứ 13 trên thế giới.Theo thống kê của TDB - Singapore Trade Development Board - Cục Phát triểnThương mại Singapore, kim ngạch ngoại thương của Singapore gấp 3 lần GDP

và bằng 4/5 kim ngạch thương mại của Trung Quốc Năm 2001, vị trí này cógiảm xuống song Singapore vẫn nằm trong tốp đầu của thế giới về kim ngạchngoại thương

Trang 32

Bảng 2.1: Thương mại hàng hoá thế giới năm 2001:

Các nước xuất, nhập khẩu chính

Tỷ trọng

Tốc độ tăng, giảm

Thứ hạng

Nước nhập khẩu

Giá trị kim ngạch

Tỷ trọng

Tốc độ tăng, giảm

Nguồn: http://www.wto.org

Bảng 2.2: Thương mại dịch vụ thế giới năm 2001:

Các nước xuất, nhập khẩu chính.

Tỷ trọng

Tốc độ tăng, giảm

Thứ hạng

Nước nhập khẩu

Giá trị kim ngạch

Tỷ trọng

Tốc độ tăng, giảm

3 Pháp 79,8 5,5 -2,0 3 Nhật Bản 107,0 7,4 -7,0

Trang 33

Theo thống kê của WTO, năm 2001 xuất khẩu dịch vụ của Châu á là 302,6 tỷ

đô la, trong đó Singapore chiếm 26,4 tỷ đô la (tức là 8,7%) đứng thứ 5 toàn Châuá; tỷ trọng của Singapore trong nhập khẩu là 20 tỷ/355 tỷ USD chiếm 5,6%.Đứng trong hàng ngũ 10 nước hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin và đangphấn đấu trở thành quốc gia số 1 ở Châu á về cơ sở hạ tầng và kinh doanh điện

tử, từ thập kỷ 90, sản lượng công nghiệp điện tử của Singapore là 5,2% tỷ trọngcủa cả thế giới và tỷ trọng đó hầu như không thay đổi trong những năm gần đây.Kinh tế Singapore gắn bó với nền kinh tế thế giới đặc biệt là các trung tâm kinh

tế thế giới (Mỹ, Nhật, EU) trong hệ thống phân công lao động quốc tế, và là một

bộ phận trong hệ thống sản xuất, dịch vụ toàn cầu

Đối với ASEAN, Singapore là quốc gia đầu tầu trong phát triển kinh tế khuvực Đông Nam á; là cầu nối của khu vực đối với kinh tế thế giới, Singapore luônchiếm một tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất nhập khẩu của các nướcASEAN và là nhà đầu tư lớn trong khu vực

Năm 1990, đầu tư của Singapore ở khu vực Đông Nam á chỉ chiếm chưa đầy1% Đến năm 1997, Singapore trở thành nước cung cấp vốn lớn trong khu vựcbên cạnh các cường quốc như Mỹ, Nhật và một số nước Châu Âu Cũng trongnăm 1997, tổng vốn đầu tư của Singapore vào ASEAN là 8,1 tỷ USD (chiếm60,3% tổng lượng vốn đầu tư nội bộ khu vực)31 Kim ngạch xuất nhập khẩu của

Trang 34

Singapore luôn giữ tỷ trọng khoảng 30% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cảkhu vực; bỏ xa các nước như Malaysia, Thái Lan, Indonesia

Bảng 2.3: Xuất khẩu hàng hoá của các nước ASEAN

(Đơn vị: triệu USD)

-ASEAN 339 960 355 858 328 325 358 020 429 548 -

Nguồn: http://www.aseansec.org

Bảng 2.4: Nhập khẩu hàng hoá của các nước ASEAN

(Đơn vị: triệu USD)

Trang 35

9,7 tỷ USD Với Indonesia, ngoài việc hai nước là bạn hàng truyền thống củanhau trong quan hệ thương mại, Singapore là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ởIndonesia Tính riêng năm 1999, 13,3% đầu tư nước ngoài của Indonesia là củaSingapore Trong đó, riêng vùng Batam đầu tư của Singapore chiếm 44% Sự gắn

bó lẫn nhau giữa Singapore, Malaysia, Indonesia còn thể hiện ở kế hoạch xâydựng "vùng tam giác tăng trưởng" Singapore - Johor Malaysia - Riau (nhất là đảoBatam) Indonesia Johor và Batam giầu tài nguyên khoáng sản và có nguồn laođộng rẻ tiền sẽ được Singapore đầu tư cơ sở hạ tầng và công nghệ tiên tiến, cungcấp chuyên gia - những thế mạnh mà Singapore dồi dào khả năng cung cấp32 Lãnh thổ Philippins cũng là nơi các công ty quốc tế của Singapore đặc biệt đểmắt tới Điển hình là trường hợp của công ty CSE (System and Engineering) đãmua 43% cổ phần của công ty Internet Infinite Information của Philippin với giá

2 triệu USD CSE là công ty sản xuất và lắp đặt phần mềm Internet, hiện đang cómức thu nhập bán hàng với Mỹ chiếm 90%

Với Thái Lan, ngoài quan hệ thương mại, quan hệ tiểu vùng (Singapore,Malaysia, Thái Lan) tính riêng năm 1994, Singapore là nhà đầu tư lớn thứ 2 ởThái Lan, chiếm 21,1% tổng lượng vốn đầu tư nước ngoài ở đất nước này Các

dự án đầu tư ở Singapore cũng thể hiện trong nhiều lĩnh vực tài chính; ngân hànglớn nhất của Singapore là DBS Bank đã mua cổ phiếu của Thái Lan

Với Campuchia, những năm gần đây, Singapore đã tăng cường hoạt độngthương mại và đầu tư Vào năm 1998, tổng kim ngạch buôn bán giữa 2 nước là

595 triệu S$ (345 triệu USD) trong đó Singapore khuyến khích Campuchia xuấtkhẩu gạo cho họ Về đầu tư Singapore cũng là nhà đầu tư đáng kể vàoCampuchia trong các lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, sản xuấtống dẫn

Với Lào và Mianma cũng vậy, năm 1997 Singapore là nhà đầu tư nước ngoàilớn nhất của Mianma33

Trang 36

2 Vị trí của kinh tế Singapore trong quan hệ với Việt Nam

Với Việt Nam, quan hệ thương mại đầu tư đã thực hiện trong vòng 3 thập kỷqua và đặc biệt tăng trưởng mạnh mẽ từ sau năm 1991 Trong khoảng thời gian 5năm (1993-1997); kim ngạch ngoại thương giữa 2 nước đã tăng hơn 1,5 lần Đặcbiệt trong những năm gần đây, Singapore và Nhật Bản luôn là bạn hàng lớn nhấtnhì của Việt Nam Quan hệ thương mại hai nước phát triển theo hướng:Singapore là thị trường trung chuyển hàng hoá Việt Nam sang các nước thứ 3 vàViệt Nam cung cấp 1 phần nguyên liệu cho sản xuất trong nước và tiêu dùng nộiđịa Theo thống kê của hải quan Việt Nam, trong tháng 5/2001, Singapore là nhàxuất khẩu lớn sang thị trường Việt Nam 243,6 triệu USD, chiếm gần 60% kimngạch xuất khẩu của cả khối ASEAN sang Việt Nam Singapore cũng là thịtrường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong tháng 5/2001 đạt 107,1 triệu USDchiếm 39% xuất khẩu của Việt Nam sang khối ASEAN

Bảng 2.5: Xuất nhập khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN 6T/ 2002

Xuất Khẩu

so với 6T/01

Nhập Khẩu

so với 6T/01

Tỷ lệ

%

Nghìn USD

Tỷ

lệ %

Nghìn USD

%

% 2,248,386

Trang 37

Nguồn: Tạp chí Ngoại thương số 21 ngày 31/08/2002, trang 9.

Chú thích: *** không có số liệu

Về đầu tư sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, đầu

tư của các nước ASEAN vào Việt Nam tăng rất nhanh, cả về số dự án lẫn khốilượng vốn đầu tư Tổng số vốn đầu tư của ASEAN vào Việt Nam chiếm gần 30%tổng số vốn đầu tư từ các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới dầu tư vào ViệtNam trong đó Singapore luôn giữ vị trí số 1 (cả về số dự án lẫn vốn đầu tư)

Năm 1996, lần đầu tiên Singapore đã vươn lên thay thế vị trí số 1 của ĐàiLoan trong các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đạt 4,82 tỷ USD tính đến8/5/1997 Năm 1998, vốn đầu tư của Singapore đã đạt 6,4 tỷ USD và trở thànhnước dẫn đầu trong số các quốc gia đầu tư vào Việt Nam

Trong năm 2001, các nước thành viên khác của ASEAN có thêm 47 dự án đầu

tư tại Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký trên 330 triệu USD, trong đó riêngSingapore chiếm 19 dự án và 271 triệu USD34

Bảng 2.6: Ba nhà đầu tư lớn nhất của ASEAN tại Việt Nam

(Đơn vị: triệu USD)

Nguồn: Vụ quản lý dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Có thể nói quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Singapore kể từ khi thiết lập

đã có những bước phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ Singapore đã trở thành đối

Trang 38

tác hàng đầu về thương mại và đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, giữ một vị trí quantrọng trong hoạt động thương mại và đầu tư của Việt Nam với thế giới.

II Hiện trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Singapore giai đoạn 1995 - 2001

Do một số nguyên nhân khách quan nên trước kia, quan hệ thương mại giữaViệt Nam và Singapore hầu như không phát triển Chỉ từ khi hai nước chính thứcthiết lập cơ quan đại diện ngoại giao (năm 1991) thì mối quan hệ này mới đượccải thiện Đặc biệt năm 1995, với sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN, là mốcđánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ thương mại giữa hai nước; bắt đầuthời kỳ Singapore trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam.Quan hệ giữa hai nước phát triển mạnh cả về kim ngạch và cơ cấu các mặthàng xuất nhập khẩu, năm 1991, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước là1.152,2 triệu USD đến năm 1995, con số này là 3.173 triệu USD và luôn giữđược mức ổn định ở các năm tiếp theo Năm 1999, do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ khu vực, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Singapore vàViệt Nam giảm xuống còn 2.705 triệu USD; song đến năm 2001, con số này đãtăng lên 3.535 triệu USD Nhìn chung, kim ngạch buôn bán hai nước hàng năm

có tăng giảm đôi chút nhưng đánh giá chung vẫn theo xu hướng tăng về số tuyệtđối Riêng 6 tháng đầu năm 2002, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Namđối với Singapore là 1.742,994 triệu USD35

Bảng 2.7: Kim ngạch buôn bán của Việt Nam với Singapore

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu với thế giới

( Đơn vị: Triệu USD)

1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 6T/2002 KNXK với

Singapore (1) 3.173 3.034 3.280 3.240 2.705 3.645,7 3.535 1.742,94Tổng KNXNK

(2) 13.604,3 18.399,3 20.777,3 20.896 23.159 30.090 31.100 15.953,883(1)/(2)(%) 23,32 16,49 15,79 15,54 11,68 12,00 11,37 10,93

Nguồn: (1) Thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam

(2) Theo http://www.vneconomy.com.vn

35 Tạp chí Ngoại thương số 21, 31/08/2002

Trang 39

Có thể thấy, Singapore vẫn duy trì được vị thế là một đối tác thương mại hàngđầu với tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với thế giớiluôn lớn hơn 10% qua các năm Cùng với sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam,

tỷ trọng này từ 23,32% năm 1995 giảm xuống 11,37% năm 2001; song xét vềkim ngạch buôn bán Singapore vẫn là bạn hàng lớn của Việt Nam

1 Tình hình xuất khẩu từ Việt Nam vào Singapore

1.1 Kim ngạch

Singapore là một nước nhỏ, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn do đó Singaporephải nhập khẩu toàn bộ nguyên liệu để chế biến hàng xuất khẩu và tiêu dùngtrong nước Ngoài ra, với vị thế và điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi, Singaporecòn là nơi trung chuyển hàng hoá từ khu vực sang nước thứ 3 Hàng Việt Namxuấ sang Singapore những năm qua cũng nhằm đáp ứng những nhu cầu đó củathị trường này Giai đoạn 1995 - 2001, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá từ ViệtNam sang Singapore tăng đều qua các năm

Bảng 2.8: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore

(Đơn vị: triệu USD)

Năm

KNXK sang SGP(1)

Tăng, giảm (%)

Tổng KNXK với TG (2)

Tăng, giảm (%)

Tỷ trọng (1)/ (2) (%)

Trang 40

tăng 407 triệu USD tức là tăng gần 64% so với năm 1995 Năm 1997 là năm cómức tăng trưởng cao nhất tới 31,43% và tăng cả tỷ trọng trong tổng kim ngạchxuất khẩu với thế giới Năm 1998, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền

tệ khu vực, mức giảm của xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Singapore khá lớn12,14%; song so với tổng kim ngạch xuất khẩu với thế giới, tỷ trọng củaSingapore giảm chút ít từ 8,79% xuống 7,57% Từ năm 1999, xuất khẩu của ViệtNam sang Singapore hồi phục mạnh mẽ với mức tăng trưởng cao (trung bình gần12%/năm) tuy nhiên cột tỷ trọng có chiều hướng giảm xuống Lý do là kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam với thế giới có mức tăng trưởng lớn hơn Tuy nhiên, đâylại là dấu hiệu đáng mừng cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và thương mại nóiriêng 6 tháng đầu năm 2002, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Singapore

có xu hướng giảm sút so với năm 2001 (chỉ bằng 81,4% so với cùng kỳ nămngoái) Lý do là một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sangSingapore gặp khó khăn về khâu chuẩn bị hàng hoá của các doanh nghiệp xuấtkhẩu Việt Nam Ví dụ như mặt hàng gạo, sự phối kết hợp không chặt chẽ giữadoanh nghiệp xuất khẩu gạo và người sản xuất đã dẫn đến hiện tượng doanhnghiệp thiếu gạo xuất khẩu trong khi lúa của người nông dân vẫn nằm chờ trongnhà Ngoài ra, biến động bất lợi về giá cả của một số mặt hàng nông sản như càphê trên thị trường thế giới cũng là nguyên nhân làm giảm kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam quý I và quý II năm 200236

1.2 Cơ cấu xuất khẩu

Như trên đã trình bày, Singapore phải nhập khẩu toàn bộ nguyên liệu để chếbiến hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước Mặt khác, với vị thế và điều kiện

cơ sở hạ tầng thuận lợi, Singapore còn là nơi trung chuyển hàng hoá từ khu vựcsang nước thứ ba Hàng Việt Nam xuất sang Singapore những năm qua cũngnhằm đáp ứng những nhu cầu đó của thị trường Cơ cấu các mặt hàng chủ yếucủa Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu thô và sơ chế, có thể chia thành 2 nhómphục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu dùng của Singapore là dầu thô, tinh

36 Thông tin kinh tế xã hội số 2/2002

Ngày đăng: 10/11/2018, 09:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w