Khái niệm hợp đồng vay tài sản Hợp đồng được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, nếu xét ở khía cạnhkhách quan thì hợp đồng do nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật nhằmđiều chỉnh các q
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, không phải cá nhân, chủ thể nàocũng có nguồn vốn nhất định để thực hiện những dự định đặt ra Để giải quyếtvấn đề cũng như tránh những rủi ro phát sinh, những khó khăn tạm thời họ phảivay tiền hay tài sản của người khác Vì vậy, vay tài sản là một trong nhữngphương pháp hiệu quả để đáp ứng được nhu cầu về kinh tế
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, luôn thay đổi phù hợp với
sự thay đổi của thế giới, kèm theo đó là các quan hệ xã hội thay đổi từ đơn giảnđến phức tạp mà các quy phạm pháp luật hiện hành chưa kịp thời thay đổi đểđiều chỉnh, hoặc có pháp luật điều chỉnh nhưng chưa phù hợp, còn mang tínhchung chung, không quy định cụ thể Hiện nay, các quan hệ xã hội được điềuchỉnh bằng các văn bản pháp luật như Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, LuậtThi hành án dân sự… Tuy nhiên những quy định pháp luật đó vẫn chưa đượcthực thi một cách triệt để, pháp luật chưa đi vào thực tế cuộc sống
Cùng với quá trình phát triển của đất nước, của tỉnh Bến Tre, Thành phốBến Tre cũng đang trên đà phát triển toàn diện cả về đời sống kinh tế, chính trị,
xã hội Vấn đề áp dụng pháp luật hiện nay trên địa bàn thành phố Bến Tre cũngđang vướng trên nhiều lĩnh vực, nhất là liên quan đến lĩnh vực quản lý kinh tế,cho vay tài sản Trong lĩnh vực cho vay tài sản, khi một bên vi phạm hợp đồnghoặc khi hết thời hạn vay mà bên vay không có khả năng trả nợ hoặc người đivay bỏ trốn khỏi địa phương…, việc xử lý gặp nhiều khó khăn do vướng các thủtục mà pháp luật đặt ra Qua thực tiễn làm việc trong cơ quan điều tra tôi nhậnthấy các quan hệ xã hội ngày càng phát triển song song với các quan hệ kinh tế,các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội trên có nhưng không thể áp dụngđược hoặc có áp dụng nhưng có những điều kiện ràng buộc mà văn bản hướngdẫn chưa rõ ràng nên không thể áp dụng trong thực tế Vấn đề huy động vốnthông qua hợp đồng dân sự nhưng sau đó sử dụng vốn sai mục đích dẫn đếnkhông khả năng chi trả hoặc việc chơi hụi mà chủ hụi thu tiền của hụi viên sau
đó sử dụng vào mục đích khác dẫn đến không khả năng thanh toán cho các hụiviên Những vướng mắt, bất cập trong việc áp dụng pháp luật và những vẫn đề
mà pháp luật chưa điều chỉnh tôi sẽ tìm hiểu, nghiên cứu trong thời gian họcchương trình cao học luật kinh tế và sẽ góp phần nhỏ trong việc xử lý một sốtình huồng cụ thể trong việc áp dụng pháp luật trong cuộc sống
Trang 2Xuất phát từ tình hình trên tôi chọn đề tài áp dụng pháp luật trong vấn đềcho vay tài sản và thực tiển áp dụng trên địa bàn thành phố Bến Tre.
Đây là một lĩnh vực rộng, bao trùm cả nền kinh tế, trong phạm vi đề tàinày tôi chỉ đề cập đến một lĩnh vực gần gủi cuộc sống hàng ngày mà chúng tagặp phải, thường xuyên diễn ra đó là tranh chấp giữa các cá nhân với nhau, hoặcgiữa cá nhân với pháp nhân, tổ chức liên quan đến tài sản
Theo quy định hiện hành, những quy định của pháp luật điều chỉnh vấn
đề trên bao gồm: Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật đầu tư, Luậtlao động, Luật kinh doanh bất động sản, Luật đất đai… Vì vậy, trong phạm vi
đề tài này tôi sẽ đưa ra một số vần đề cần giải quyết như sau:
- Thứ nhất: Phân tích cơ sở lý luận về hợp đồng vay tài sản và việc ápdụng pháp luật trong hoạt động cho vay
- Thứ hai: Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong vấn đề vay tài sảntrên địa bàn thành phố Bến Tre
- Thứ ba: Phân tích các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật tronghợp đồng vay tài sản
* Mục đích nghiên cứu của đề tài cần nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm làm rõ các quan hệ xã hộitrong lĩnh vực vay tài sản mà pháp luật chưa điều chỉnh hoặc pháp luật có quyđịnh nhưng trong quá trình áp dụng còn những vướng mắt như việc áp dụngpháp luật trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng, vi phạm hợp đồng hoặc làkhi hết thời hạn trong hợp đồng mà người đi vay cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả
nợ hoặc bỏ trốn khỏi địa phương
* Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh các sốliệu cụ thể về việc vay tài sản giữa các chủ thể trên địa bàn thành phố Bến Tre từ
đó làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu Đề tài được chia thành các phần cụ thể sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hợp đồng vay tài sản và việc áp dụng phápluật trong hoạt động cho vay tài sản
Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng vay tàisản
Trang 3Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng vay tài sản trên địabàn thành phố Bến Tre và một số kiến nghị
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
VÀ VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY TÀI SẢN 1.1 Khái niệm và đặc điểm, các hình thức của hợp đồng vay tài sản
1.1.1 Khái niệm hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, nếu xét ở khía cạnhkhách quan thì hợp đồng do nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật nhằmđiều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các quan hệ
xã hội giữa các chủ thể tham gia hợp đồng với nhau; nếu xét ở khía cạnh chủquan thì hợp đồng là một giao dịch dân sự mà các bên trao đổi ý chí với nhaunhằm đi đến sự thỏa thuận là cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụdân sự
Theo Điều 385 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sựthỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụdân sự”
Hợp đồng vay tài sản la một giao dịch dân sự, khi giao kết bất cứ mộthợp đồng nào, các bên phải tuân thủ nguyên tắc “thỏa thuận”, thỏa thuận ở đây
là sự thỏa thuận giữa các chủ thể trong hợp đồng, đó là bên vay và bên cho vay.Hợp đồng có được thực hiện hay không là do sự thỏa thuận giữa các bên, là sựthống nhất của các bên về việc thực hiện hay không thực hiện một việc cụ thể,các bên được quyền bày tỏ ý chí của mình và ý chí đó đã được thống nhất
Điều 471, Bộ Luật dân sự 2015 quy định “Hợp đồng vay tài sản là sựthỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đếnhạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng,chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”
Qua từng giai đoạn khác nhau, quy định pháp luật về hợp đồng vay tàisản khác nhau Nếu Luật Dân sự năm 2005 quy định có một số tài sản vaykhông thể trả tài sản đã vay được, do người vay về sử dụng nó không còn trênthực tế và cũng không có tài sản cùng loại để trả, đến hạn trả nợ vay thì khôngthể thực hiện nghĩa vụ Luật Dân sự năm 2015 quy định rõ ràng hơn, bên vay chỉtrả tài sản là tiền hoặc hiện vật tương đương mà không nhất thiết phải trả đúngtài sản ban đầu
Trang 51.1.2 Đặc điểm hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là một dạng của hợp đồng dân sự, do vậy bêncạnh những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự, hợp đồng vay tài sản cónhững gđặc điểm riêng của nó
Thứ nhất, hợp đồng vay tài sản là một hợp đồng ưng thuận Hợp đồngưng thuận là những hợp đồng mà theo quy định pháp luật, quyền và nghĩa vụcủa các bên phát sinh nagy sau khi các bên đã thỏa thuận xong nôi dung cơ bảncủa hợp đồng Quyền, nghĩa vụ đối với nhau giữa các chù thể trong hợp đồngvay tài sản được bắt đầu từ khi hợp đồng có hiệu lực Khi hợp đồng vay tài sản
đã phát sinh hiệu lực mà bên cho vay không thực hiện nghĩa vụ giao tiền hoặcvật thì bên vay có quyền kiện do bên cho vay vi phạm nghĩa vụ được cam kếttrong hợp đồng
Thứ hai, là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu tài sản một cách tạmthời Hợp đồng cho vay thì chỉ chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản vaymột cách tạm thời Trên thực tế thì bên vay được quyền định đoạt tài sản vaynhư chủ sở hữu đối với tài sản đó để thực hiện mục đích vay nhưng chỉ trongmột thời gian nhất định Khi hết thời hạn đó, bên vay phải trả lại tài sản cho bêncho vay Quyền sở hữu vẫn được chuyển giao từ người cho vay sang người vay,nhưng nó chỉ mang tính chất nhất thời, trong một khoảng thời gian cố định Khihết thời gian trong hợp đồng thì người vay phải hoàn trả lại tài sản đó, nếu tàisản không còn thì người vay phải trả một số tiền hoặc hiện vật tương đương nhưlúc đầu đã nhận, không nhất thiết phải trả đúng tài sản đó (một số trường hợp tàisản vay đã sử dụng và tiêu hao không còn trên thực tế)
Thứ ba, hợp đồng vay tài sản có thể là hợp đồng có đền bù hoặc không
có đền bù Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có tính đền bù khi mà một bên saukhi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích (cho vay) sẽ nhận lại một lợi ích tươngứng (nhận lại lãi suất) Tính đền bù được áp dụng có tính chất bắt buộc tronghoạt động tín dụng của Ngân hàng (trừ một số Ngân hàng hoạt động công ít vàđối tượng cho vay là diện chính sách thì không tính lãi) Tất cả các tổ chức tíndụng cho vay tiền đều có quy định mức lãi suất tương ứng tùy thuộc vào từngthời điểm, tính chất và đặc điểm của hợp đồng vay tài sản (các ngân hàng hiệnnay áp dụng hình thức lãi thả nổi) Trong trường hợp bên này cho bên kia vay và
Trang 6có thỏa thuận là vay có lãi thì tới thời hạn trả nợ bên vay phải trả nợ gốc tiền vàlãi như đã thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng không có tính đền bù trong các hợpđồng vay không có trả lãi Khi đến hạn trả nợ, bên vay chỉ có nghĩa vụ hoàn trảđầy đủ một lượng tài sản cùng loại, cùng giá trị cho bên cho vay, mà không trảthêm bất kỳ một khoảng lợi ích vật chất nào khác, hay một giá trị tài sản nàokhác Loại hợp đồng này có tính chất tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủthể nhằm khắc phục những khó khăn tạm thời của đời sống hoặc giúp đỡ nhauphát triển sản xuất kinh doanh là chính, chủ yếu được giao kết giữa các chủ thể
có mối quan hệ quen biết lẫn nhau
Thứ tư, hợp đồng vay tài sản có thể là hợp đồng đơn vụ hoặc hợpđồng song vụ Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ.Trong hợp đồng này, chỉ có một hay nhiều chủ thể có nghĩa
vụ mà không có quyền gì đối với chủ thể bên kia, còn mộthay nhiều chủ thể kia là người có quyền nhưng không phảithực hiện nghĩa vụ nào cả
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên tham giahợp đồng đều có nghĩa vụ đối với nhau, hay nói cách cụ thểhơn thì mỗi bên chủ thể khi tham gia hợp đồng vừa là người
có quyền lại vừa là người có nghĩa vụ Trong nội dung của hợpđồng thì quyền dân sự của chủ thể này đối lập với nghĩa vụcủa chủ thể kia và ngược lại
1.1.3 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản muốn có hiệu lực pháp luật thìphải thõa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồngdân sự Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015,hợp đồng vay tài sản có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sauđây:
Thứ nhất, người tham gia giao dịch có năng lực hành
vi dân sự hay nói cách khác chủ thể của hợp đồng vay tài sản
Trang 7phải có năng lực giao kết Năng lực chủ thể của hợp đồng vaytài sản phải thỏa mãn đầy đủ về độ tuổi, năng lực hành vitheo quy định pháp luật hành vi giao kết hợp đồng sẽ làmphát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên, do vậy để hợp đồng
có hiệu lực pháp lý và có khả năng thực hiện, củ thể giao kếthợp đồng phải có khả năng nhận thức hành vi Đối với tổ chứcgiao kết hành vi phải đảm bảo đúng thẩm quyền
Thứ hai, mục đích và nội dung của hợp đồng vay tàisản không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạođức xã hội
Mục đích của hợp đồng là những lợi ích hợp pháp màcác bên mang muốn đạt được khi giao kết hợp đồng Nộidung hợp đồng bao gồm các điều khoản mà các bên đã thỏathuận, thống nhất Để hợp đồng có hiệu lực và có khả năngthực hiện, pháp luật quy định mục đích, nội dung của hợpđồng không trái pháp luật, đạo đức xã hội Trong thực tiễn cónhững tranh chấp về hợp đồng vay tài sản với lãi suất vượtquá quy định của nhà nước, hoặc có những hợp đồng vay tàisản nhằm mục đích lừa dối hay che dấu một quan hệ phápluật khác Hậu quả pháp lý của hợp đồng không hợp pháp làTòa án tuyên bố hủy một phần hoặc toàn bộ hợp đồng vay tàisản giữa các bên đã giao kết
Thứ ba, Người tham gia giao dịch tự nguyện, hay nóicách khác là phải có sự thỏa thuận thống nhất ý chí giữa bênvay và bên cho vay Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng giữacác chủ thể trong quan hệ giao kết, sự thỏa thuận giữa cácbên phải hoàn toàn tự nguyện, không có bất kỳ một sự épbuộc nào Việc thể hiện ý chí của các bên phù hợp với nguyệnvọng của học, hướng đến lợi ích chính đáng, đồng thời khôngxâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ
Trang 8Thứ tư, Hình thức của hợp đồng phải tuân theo quyđịnh của pháp luật Tùy theo từng đối tượng, giá trị của tàisản cho vay mà sự thỏa thuận thống nhất ý của các bên cóthể bằng miệng, bằng văn bản hoặc văn bản có công chứng,chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hiện nay,hình thức giao kết trong hợp đồng vay tài sản chủ yếu bằnghai hình thức chính, là bằng miệng đối với những tài sản cógiá trị không lớn và bàng văn bản đối với những hợp đồng cógiá trị tài sản tương đối lớn
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật đối với hợp đồng vay tài sản 1.2.1 Sự phát triển của pháp luật về hợp đồng vay tài sản
1.2.1.1.Thời kỳ phong kiến
Quy định về hợp đồng vay tài sản được pháp luật phong kiến ghinhận, xem trọng, làm nền tảng cho việc phát triển kinh tế, xã hội, là cơ sở để giảiquyết các tranh chấp dân sự phát sinh trong nhân dân Trong xã hội phong kiến,ìquan hệ vay mượn chủ yếu là vay tiền và lúa gạo; hình thức hợp đồng cũng thểhiện ở ba dạng: Lời nói, văn tự hay bằng hành vi cụ thể Nhưng phổ biến nhấtvẫn là bằng lời nói như vay tiền, lúa gạo vì đây là tài sản không lớn, thời gianvay không dài, phục vụ trực tiếp cho con người hàng ngày Còn hình thức cũngkhá phổ biến khác nữa là bằng văn tự, loại này thì thường là dùng cho vay cáctài sản lớn, dài hạn như ruộng lúa, đất đai, trâu bò…
Dưới triều đại triều đại Lý - Trần, quan hệ vay mượn tài sản đã đượcnhà nước thừa nhận qua quy định cụ thể bằng văn tự [78, tr 70] Tuy nhiên,pháp luật thời kỳ này chưa được phát triển một cách rõ nét, quy định chưa rạchròi, cụ thể Đến thời kỳ nhà Lê (1428 - 1788) quan hệ vay mượn tài sản đượcquy định cụ thể trong Bộ Luật Hồng Đức, trong đó quy định cụ thể về lãi suấtcao nhất (trần lãi) để không chế việc cho vay lãi nặng Luật Hồng Đức cũng quyđịnh về lãi suất: người cho vay không được cho vay với lãi suất lớn hơn mức lãisuất tối đa do luật định Tại Điều 587 Bộ luật Hồng Đức có quy định:"dù vayvới thời hạn dài bao nhiêu năm, cũng không tính tiền lãi quá một gốc một lãi,trái luật thì xử biếm một tư và mất tiền lãi Nếu chủ nợ tính gồm lãi vào gốc, rồi
Trang 9bắt làm văn tự khác, thì sẽ bị xử tội nặng hơn sự lạm thu tiền lãi trái phép mộtbậc"
Bộ Luật Gia Long dưới triều Nguyễn (1802-1858) thể hiện một giaiđoạn cao hơn về kỹ thuật lập pháp và nội dung các quy phạm pháp luật, thể hiệntính kế thừa của các văn bản luật trước đó và nâng lên một tầm cao hơn nhằmđiều chỉnh các quan hệ xã hội sao cho phù hợp với thực tế Tại Điều 134 Bộ luậtGia Long quy định mức lãi suất lãi là 3% một tháng, chủ nợ chỉ có thể đòi tiềnvốn và một số tiền lãi ngang với tiền vốn và khi đáo hạn, bên vay không trả nợ,bên cho vay không được tùy tiện chiếm đoạt các tài sản của con nợ Luật quyđịnh khi đáo hạn nếu bên vay không trả nợ, họ bị phạt từ 10 roi đến 60 trượngtùy theo số tiền và sự chậm trễ trả nợ, nhưng bao giờ cũng cho họ khất một thờihạn là 3 tháng để thi hành các nghĩa vụ cam kết trong khế ước Cũng theo quyđịnh của Bộ luật Gia Long thì có quy định điều khoản quyền của chủ nợ đượcphép xin bỏ tù bên vay nếu không trả được nợ: Nếu nợ trên 30 lạng bạc có thểcầm tù người vay trong thời hạn một năm để cưỡng bách trả nợ cho chủ nợ Quáhạn một năm, nếu quả thực người vay không có điều kiện để hoàn trả số tiềnnợ,thì sẽ tâu lên vua để vua định liệu Trong trường hợp nếu số tiền không đến
30 lạng bạc, sau khi người vay bị cầm tù một năm, nếu quả thực họ không cókhả năng trả nợ, họ sẽ không bị đòi nợ nữa mà chỉ phải chịu hình phạt theo quyđịnh của pháp luật [14]
Từ những quy định của hai bộ luật trên, có thể nói rằng khế ước vaymượn nhất là vay tiền là loại khế ước rất thông dụng trong xã hội, nên được cácnhà lập pháp thời kỳ này quan tâm Nếu như Bộ luật Gia Long chỉ có 01 điều(Điều 134) quy định loại khế ước này, thì trong Bộ luật Hồng Đức đã dành 05điều (từ Điều 587 đến Điều 591) quy định khá chi tiết và bảo vệ quyền lợi chocác bên Điều đó có nghĩa là các nhà lập pháp thời Lê đã đạt đến trình độ lậppháp cao và rất am hiểu tâm lý của các bên trong quan hệ vay nợ
1.2.1.2.Thời kỳ pháp thuộc
Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dưới sự cai trị và ảnh hưởngsâu sắc của pháp luật chế độ thực dân Pháp, pháp luật Việt Nam đã có sự chuyểnbiến rõ nét Bắt đầu đã có sự phân hoá hai ngành luật: Dân luật và Hình luật theopháp luật của Pháp Có ba Bộ dân luật áp dụng cho ba miền khác nhau: Bộ Dânluật giản yếu Nam Kỳ ban hành 10/3/1883 (miền Nam), Bộ Dân luật Bắc Kỳ
Trang 10ban hành 01/04/1931 (miền Bắc), Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật ban hành31/10/1936 (miền Trung)
Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ gồm có 11 thiên, cả về bố cục lẫn nội dungphỏng theo Quyển I quy định về nhân thân của Bộ luật Dân sự Pháp Bộ luật nàykhông đề cập đến các vấn đề về nghĩa vụ, hợp đồng, thừa kế… mà chỉ quy địnhcác vấn đề về nhân thân Do vậy, ở Miền Nam thời kỳ này, khi giao kết các hợpđồng vay tài sản, các bên thường tuân theo các chuẩn mực pháp lý trong Bộ luậtHồng Đức và Bộ luật Gia Long Khi xét xử các tranh chấp về vấn đề này, Toà ánPháp ở Nam Kỳ phải tham khảo Bộ luật Gia Long với tính cách là tục lệ, có khicác thẩm phán lại dựa vào Bộ luật nhà Lê Bộ dân luật Bắc kỳ quy định về hợpđồng vay mượn từ Điều 1277 đến Điều 1326
Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật chia việc vay mượn thành hai loại: Vaymượn những vật có thể dùng được mà không mất đi, vay mượn những vật có thểdùng được mà mất đi (gọi là cho mượn để tiêu hoặc cho vay); đối tượng vay cóthể là tiền kẽm, vàng nén, bạc nén, thực phẩm như thóc lúa… bên vay phải trảlãi nếu đã vay đúng như số lượng cùng phẩm hạn lúc vay và phải đúng hạn Bêncạnh đó, Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật cũng áp dụng hình phạt chậm trả chonhững đối tượng (bên vay) đã đến hạn trả nợ mà không trả, điều đó thể hiện tạiĐiều 1306 "Nếu đến hạn mà bên vay không hoàn lại của vay hay giá tiền, thìngười ấy phải chịu tiền lời về sự trả chậm theo điều kiện hai bên đã định vớinhau, kể từ ngày đáo hạn lần đầu, và Điều 1309 quy định: Tiền lời có ước địnhtrước, thì bên vay nợ mới phải trả, tư tưởng này đến nay vẫn còn giá trị Mặtkhác, tại tiết thứ hai này (tức vay mượn những vật dùng mà tiêu mất đi) đã cóquy định hai loại hợp đồng: vay có kỳ hạn và vay không kỳ hạn tại các điều
1300, 1301, 1918, 1919 Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật Những quy định này
đã phát huy được hành lang pháp lý cho việc xác lập các quan hệ về vay tài sản,tạo chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các chủ thể khi giao kết hợp đồngvay tài sản, tạo cơ sở pháp lý cho Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp vềhợp đồng vay tài sản
1.2.1.3.Thời kỳ từ Cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, vào Ngày 10/10/1945 Chủtịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 90, trong Sắc lệnh đề cập đến một số luật lệ ởBắc, Trung, Nam: trong đó có nêu “Những luật lệ ấy không trái nguyên tắc độc
Trang 11lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa” có tính nguyên tắc chungcho tất cả các lĩnh vực và pháp luật về hợp đồng vay tài sản Ngày 22/5/1950,Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ban hành Sắc lệnh số 97 sửa đổi một số chế địnhtrong dân luật Tại Điều 13 Sắc lệnh số 97 quy định: “khi lập ước mà có sự tổnthiệt do sự bóc lột của một bên vì điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thìkhế ước có thể bị coi là vô hiệu” Sắc lệnh này làm nền tảng, cơ sở cho sự hìnhthành và phát triển pháp luật dân sự mới ở nước ta.
Đến năm 1959, thì Tòa án tối cao ban hành Chỉ thị số 772/CT-TATCđình chỉ Sắc lệnh số 97, nhưng Sắc lệnh số 90 vẫn còn hiệu lực Trong giai đoạn
từ năm 1959 cho tới trước khi Pháp lệnh Hợp đồng dân sự được ban hành năm
1991, thì các quan hệ về hợp đồng nói chung và quan hệ về hợp đồng vay tài sảnnói riêng không được quy định cụ thể trong văn bản nào thống nhất ba Miền
Ngày 07/05/1991, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ban hành Lệnh số LCT/HĐNN công bố Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (có hiệu lực từ 01/07/1991).Pháp lệnh đã tạo hành lang pháp lý cho việc áp dụng giải quyết các quan hệ dân
52-sự trong cả nước Cũng tại Điều 1 Pháp lệnh quy định cụ thể hơn về hợp đồng:Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi haychấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặngcho tài sản, làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác màtrong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng
Do đất nước phát triển sau công cuộc đổi mới nên Pháp lệnh hợp đồngkhông còn phù hợp với với thực tiễn xã hội nên cần phải thay đổi sao cho phùhợp Xét thấy sự cần thiết đó nên ngày 28/10/1995, Quốc hội khoá IX nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã biểu quyết thông qua Bộ luật Dân sự,tạo ra bước phát triển mới của ngành lập pháp nói chung và pháp luật dân sự dân
sự nói riêng
Bộ luật dành Mục 4, Chương II, Phần thứ ba quy định về Hợp đồngvay tài sản cụ thể là từ Điều 467 đến Điều 474 Chế định Hợp đồng vay tài sảnđiều chỉnh các quan hệ vay tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên, cũng như là bảo đảm sự bình đẳng giữa bên trong hợp đồng (bên cho vay
và bên vay)
Tuy nhiên, Qua thời gian thi hành thì Luật Dân sự năm 1995 trở nênlạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn xã hội, xuất hiện những bất cập, không
Trang 12đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội chung Trước tình hình đó, ngày14/6/2005, Bộ luật Dân sự đã được Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ 7 thôngqua, Bộ luật này đã thay thế Bộ luật Dân sự năm 1995 Chế định hợp đồng vaytài sản quy định tại Mục 4, Chương XVIII, Phần thứ ba, từ Điều 471 đến Điều
479 của Bộ Luật So với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sựnăm 2005 đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định, hợp đồng vay tài sản là mộtdạng cụ thể của hợp đồng dân sự chứ không quy định chung chung nữa
Đây là loại quan hệ dân sự được hình thành, tồn tại lâu đời và pháttriển trong đời sống xã hội Hợp đồng vay tài sản là phương tiện pháp lý có ýnghĩa rất quan trọng trong việc điều tiết, lưu thông tiền tệ trong phạm vi nhànước và giữa các công dân với nhau Nó có tác dụng giúp bên vay giải quyếtnhững khó khăn trước mắt, giúp các tổ chức, doanh nghiệp vay vốn để sản xuấtkinh doanh, đáp ứng nhu cầu vật chất trong sự tồn tại của con người, tăng tìnhlàng nghĩa xóm, tình bạn bè, tình đoàn kết giữa nhà nước với nhân dân, giữacông dân với nhau, góp phần vào việc thúc đẩy nền kinh tế của đất nước pháttriển, nâng cao đời sống của nhân dân lao động Mặc dù ở mỗi thời kỳ, mỗi mộtgiai đoạn thì mức độ quy định của pháp luật có khác nhau nhưng nhìn chungpháp luật về hợp đồng vay tài sản vẫn đã, đang và sẽ ngày càng góp phần tạođiều kiện cho cuộc sống của người dân ngày một an toàn hơn và đầy đủ hơn Nó
sẽ tạo cho mỗi người một tâm lý an tâm khi tham gia quan hệ dân sự nói chung
và trong quan hệ hợp đồng vay tài sản nói riêng
Bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước, trước yêu cầu thểchế hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW của BộChính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đếnnăm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chínhtrị về Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020 và đặc biệt là yêu cầu vể côngnhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, về hoànthiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tếđược ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 thì Bộ luật Dân sự năm 2005 bộc lộnhiều hạn chế bất cập Vì vậy ngày 24/11/2015, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóaXIII thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 Bộ luật đã dành 05 điều (từ Điều 471đến điều 479) quy định về hợp đồng vay tài sản
1.3 Nội dung cơ bản của hợp đồng vay tài sản
Trang 13Thứ nhất, giao kết hợp đồng: là việc các bên có liên quan bày tỏ ý chí,nguyện vọng của mình để qua đó xác lập hợp đồng dân sự với nội dung, hìnhthức phù hợp với ý chí của các bên Tuy nhiên, giao kết hợp đồng dân sự khôngphải là sự tùy tiện, các bên tùy ý lựa chọn cách thức thực hiện, nội dung màkhông tuân theo những nguyên tắc nhất định, phù hợp với những nguyên tắc cơbản được nêu trong Hiến pháp và những nguyên tắc chung của Bộ luật dân sự
Việc tham gia giao kết hợp đồng dân sự, các chủ thể, trước tiên, mongmuốn mang lại một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định cho bản thân mình,
vì vậy, nguyên tắc đầu tiên được bộ luật nêu ra đối với giao kết hợp đồng đó làcác chủ thể được tự do giao két hợp đồng nhằm tạo điều kiện cho các ch ủ thể
có thể thỏa mãn nhu cầu của mình Nguyên tắc tự do giao kết ở đây được hiểudưới ba khía cạnh: tự do về chủ thể, tự do lựa chọn hình thức Trừ những trườnghợp pháp luật quy định hợp đồng phải tuân theo một hình thức nhất định, cácchủ thể trong quan hệ hợp đồng, có toàn quyền trong việc sử dụng một cách linhhoạt hình thức cho giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa của mình, hợp đồngthông qua lời nói, văn bản, …
Khi tham gia giao kết hợp đồng, các bên phải hoàn toàn tự nguyện, khôngbên nào áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào Nguyên tắc nàynhằm bảo đảm quyền và lợi ích của các bên trong việc giao kết hợp đồng Việcgiao kết hợp đồng chỉ được coi là tự nguyện nếu hình thức của hợp đồng phảnánh một cách khách quan, trung thực mong muốn, nguyện vọng của các bên
Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bêntham gia giao dịch dân sự là hoạt động của các bên chủ thể, liên quan trực tiếpđến lợi ích của các bên và những người có liên quan Những lợi ích đó khôngđược xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợiích hợp pháp của người khác, nếu xâm phạm thì sẽ bị vô hiệu
Thứ hai, hình thức giao kết hợp đồng được thể hiện bằng lời nói, bằnghành vi cụ thể và bằng văn bản
Khi tham gia giao kết hợp đồng các bên có thể thực hiện giao kết trựctiếp thông qua lời nói nhưng với điều kiện là lời nói đó phải bao hàm đầy đủ nộidung của hợp đồng Giao kết hợp đồng dân sự dưới hình thức này rất thuận tiện
và nhanh chóng Hình thức giao kết này rất ít được sử dụng bởi các bên khó cóthể chứng minh quyền và lợi ích của mình trong trường hợp xảy ra tranh chấp
Trang 14Giao kết bằng hành vi cụ thể, thông qua hành vi cụ thể của một ngườiđối với người khác với điều kiện hành vi đó phải được bên kia chấp nhận vàhành vi đó được xem là một lời đề nghị giao kết hợp đồng Trên thực tế thì hìnhthức này chỉ được thực hiện với những giao dịch dân sự đơn giản, tài sản có giátrị không lớn, phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con người.
Giao kết hợp đồng bằng văn bản, đây là là hình thức giao kết phổ biếnnhất, văn bản phải chứa đựng đầy đủ nội dung và thông tin liên quan đến cuộcgiao dịch Văn bản này có thể viết tay hoặc được soạn thảo bằng máy tính, cóthể được công chứng, chứng thực hoặc không tùy thuộc vào giao dịch lớn haynhỏ hoặc là bắt buộc của cơ quan nhà nước
Ngoài ba hình thức nói trên thì giao kết hợp đồng dân sự còn đượcthực hiện thông qua một số hình thức khác như thông qua công văn hoặc thôngqua hộp thư điện tử
Thứ ba, hiệu lực của hợp đồng vay tài sản Hợp đồng được giao kếthợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận kháchoặc luật liên quan có quy định khác Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, cácbên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ
có thể thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quyđịnh của pháp luật
Thứ tư, giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản qua hình thứcthương lượng, hòa giải, tài phán (Tòa án hoặc trọng tài thương mại)
Trang 15CHƯƠNG II.
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN 2.1 Chủ thể giao kết hợp đồng vay tài sản
- Các tổ chức tín dụng: Đây là một nhóm chủ thể quan trọng trong hợpđồng vay tài sản, trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, nhu cầu về vốn
để mở rộng sản xuất ngày càng lớn và nhóm chủ thể này cung cấp một lượngvốn lớn cho người kinh doanh (chiếm 90%), bao gồm ngân hàng, tổ chức tíndụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
Ngân hàng là cơ quan được Nhà nước giao cho những quyền hạn,nhiệm vụ vừa kinh doanh thực hiện nghiệp vụ ngân hàng vừa là cơ quan quản lýnhà nước có trách nhiệm quản lý, lưu thông tiền tệ của Nhà nước, nhằm tăngtrưởng kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và thực hiện kinh doanh có hiệu quả.Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện tất cả các hoạt độngcho vay, ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mai, ngân hàng chính sách, ngânhàng hợp tác xã; là một trong những đại diện tiêu biểu cho pháp nhân trong quan
hệ hợp đồng vay tài sản Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng vay tài sản, ngânhàng với tư cách là trung tâm kinh doanh tiền tệ vừa là người đi vay cũng vừa làngười cho vay Ngân hàng có quyền cho các tổ chức, cá nhân vay để hoạt độngsản xuất, kinh doanh với lãi suất nhất định, đồng thời cũng được phép huy độngnguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân dưới hình thức gửi tiết kiệm có lãi suất doNhà nước quy định để kinh doanh Về trách nhiệm thanh toán nợ, cho ngânhanag2 vay thì chủ thể cho vay có quyền đòi bất cứ lúc nào không cần phải hếtthời hạn cho vay, còn vay của ngân hàng thì ngân hàng chỉ được đòi khi thời hạncho vay đã hết Về biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, cho ngân hàng vaykhông cần có các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, còn vay củangân hàng phải có bện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Về thời hạnvay, cho ngân hàng vay thì tùy từng trường hợp có thể có hoặc không có thờihạn, còn vay của ngân hàng luôn luôn có thời hạn Về mục đích vay, cho ngânhàng vay thì trong hợp đồng không cần thể hiện rõ mục đích đi vay, còn vay củangân hàng thì phải thể hiện rõ mục đích đi vay
- Cá nhân: đây là chủ thể đầu tiên, phổ biến trong quan hệ vay tài sản,các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ dân sự cũng phải thông qua hanah2 vicủa cá nhân, con người cụ thể Để có thể giao kết hợp đồng vay tài sản, cá nhân
Trang 16phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Theo đó, năng lựcpháp luật dân sự là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập,thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự.
- Các chủ thể khác: ngoài cá nhân, pháp nhân, trong quan hệ vay tàisản còn phải kể đấn chủ thể khác đó là hộ gia đình, tổ hợp tác, các chủ thể nàykhi tham gia quan hệ vay tài sản cũng thông qua hành vi của người đại diện
Người đại diện cho hộ gia đình là chủ hộ hoặc người đã thành niêntrong hộ được chủ hộ ủy quyền Hộ gia đình chỉ được tham gia giao kết hợpđồng vay tài sản vì lợi ích chung của hộ như hoạt động sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh khác do pháp luật quy định Các giaodịch vay tài tài sản do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi íchchung của hộ mới làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của hộ gia đình, nếu không thìngười đó phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi của mình
Người đại diện của tổ hợp tác là tổ trưởng do các tổ viên cử ra hoặcngười được tổ trưởng ủy quyền trên cơ sở văn bản Đối với hành vi của ngườiđại diện tgheo ủy quyền của tổ hợp tác, phải thực hiện đúng nội dung công việc,
vì mục đích của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên và phù hợp với quyđịnh pháp luật thì hành vi đó mới có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền,nghĩa vụ của tổ hợp tác
Như vậy, chủ thể tham gia xác lập hợp đồng vay tài sản là cá nhân,pháp nhân hay chủ thể khác đều phải thông qua hành vi của cá nhân với các điềukiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi, việc giao kết hợp đồng phải phùhợp với chức năng, nhiệm vụ và mục đích hoạt động của củ thể thì hợp đồngmới có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể đó
2.2 Hình thức của hợp đồng vay tài sản
- Vay tín chấp: Đây là hình thức cho vay không cần có tài sản đảmbảo, dựa hoàn toàn vào uy tín của cá nhân và cơ quan đang công tác để phục vụcho các mục đích cá nhân Nhưng khoảng vay này thường rất thấp do không cótài sản đảm bảo Bên cho vay thường là Ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng,cũng có một số trường hợp là cá nhân Hiện nay, các cá nhân cũng bắt đầu chovay với hình thức này, nhưng lãi suất rất cao, có trường hợp cho vay lãi nặng
Trang 17Lợi thế của hình thức vay này là không cần tài sản thế chấp, thủ tụcnhanh gọn, đơn giản, bên cho vay không quan tâm đến mục đích sử dụng số tiềnvay Tuy nhiên, hình thức vay này có hạn chế là lãi suất cao vì cho vay với hìnhthức này rủi ro cao hơn vay thế chấp, khã năng thu hồi vốn không cao do không
có tài sản đảm bảo nếu người vay không trả nợ Ví dụ: Ngân hàng Việt NamThịnh Vượng cho vay hình thức người vay chỉ cần sử dụng sim di động Viettelthời gian ba năm hay có hóa đơn đóng tiền điện 500.000đ/tháng trở lên thì đượcvay thế chấp số tiền lên đến 30.000.000đ Thủ tục chỉ cần giấy CMNN, sim điệnthoại Viettel
- Vay tín chấp: là hình thức cho vay mà người đi vay phải có tài sảnđảm bảo (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ô tô, tàu, thuyền, ) Đối với tàisản thế chấp để vay, người đi vay vẫn quyền sở hữu tài sản nhưng bên cho vay
sẽ giữ các giấy tờ liên quan, chỉ khi người vay không thể trả được nợ thì tài sản
đó mới chuyển quyền sở hữu cho bên cho vay để trừ nợ
Đặc điểm của vay thế chấp: Phải có tài sản đảm bảo, tài sản này sẽđược bên cho vay hoặc một tổ chức, cá nhân độc lập thẩm định giá trị; lãi suấtthấp hơn nhiều so hình thức vay tín chấp; thời gian cho vay có thể kéo dài (ngănhạn, trung hạn, dài hạn); số tiền mà khách hàng có thể vay rất lớn và khoảng70% - 80% giá trị tài sản đảm bảo; hình thức trả nợ linh hoạt (hàng tháng, quý,sáu tháng); người vay vẫn được sử dụng tài sản của mình
Điều kiện để được vay thế chấp: người vay có nguồn thu nhập ổnđịnh, đảm bảo khả năng trả nợ; có tài sản đảm bảo phù hợp với từng ngân hàng;
có lịch sử tín dụng tốt Thủ tục cần thiết khi vay thế chấp: có giấy tờ tùy thân(CMND, SHK…), giấy tờ chứng minh mục đích vay vốn, giấy tờ chứng minhthu nhập, khả năng trả nợ, giấy tờ pháp lý của tài sản bảo đảm
Với những đặc điểm, lợi ích, điều kiện và thủ tục vay thế chấp ngânhàng rõ ràng, khách hàng hoàn toàn có thể tin tưởng về dịch vụ vay này, do lãisuất ưu đãi, thời gian kéo dài thuật lợi cho việc trả nợ
- Vay trả góp: là hình thức vay tiền mà khách hàng vay và trả lãi và nợgốc theo các kỳ hạn, số tiền trả trong mỗi kỳ là như nhau Đối với vay tiêu dùngtrả góp, người vay không cần thế chấp tài sản như các hình thức vay khác
Trang 18Lợi ích của vay tiêu dùng trả góp: Ít hạn chế về số lượng tiền vay, sốtiền cho vay nhiều ít tùy thuộc vào bên cho vay và khả năng nguồn vốn củangười vay; nhanh gọn, tiện lợi Khách mua hàng có thể có sản phẩm sử dụngngay mà không cần chờ đợi lâu như vay vốn có thế chấp, thay vì chờ đợi để vaytiền.
Các hình thức cho vay tiêu dùng trả góp: Thời hạn trả nợ linh hoạt,khách hàng lựa chọn thời gian trả nợ dài hay ngắn phụ thuộc vào số tiền vay(thông thường từ 3 đến 60 tháng) Ưu điểm của hình thức cho vay tiêu dùng làkhách hàng trực tiếp đến ngân hàng hoặc công ty tài chính để tìm hiểu và ký kếthợp đồng Hạn chế của cho vay tiêu dùng là lãi suất cao hơn lãi suất ngân hàngcho vay, ngoài ra có thể phát sinh thêm các phí khác như phí thu nợ, phí giấy tờ,bảo hiểm…, thời gian trả nợ ngắn
- Vay thấu chi: Thấu chi là hành vi của một tổ chức tín dụng chấpthuận bằng văn bản cho phép khách hàng đang sử dụng thẻ ghi nợ của tổ chức
đó có thể chi vượt số tiền khi thẻ có tài khoản bằng 0 Ngân hàng sẽ cấp chongười vay một hạn mức cho phép họ có thể rút tiền tùy ý khi cần mà không cầnhỏi trước Hạn mức này cao hay thấp tùy thuộc vào thu nhập hàng tháng (lương)của người đi vay
Ưu điểm của vay thấu chi: Không cần thủ tục rườm rà, làm một lầnvào đầu năm Khi khách hàng cần một khoản tiền nhưng vào cuối tháng chưanhận lương thì đây là cách tốt nhất, nhanh nhất đáp ứng nhu cầu cá nhân Hạnchế của vay thấu chi: lãi suất cao, số tiền vay thấp
Hiện nay chưa có quy định thống nhất về điều kiện cho vay thấu chi ởcác ngân hàng, tại mỗi ngân hàng có những quy định khác nhau, chỉ cần kháchhàng có công việc ổn định và có thu nhập được trả qua thẻ ngân hàng là có đủđiều kiện vay thấu chi
Vay thấu chi là hình thức vay được áp dụng cho các tài khoản vãng lai,không cố định; đáp ứng nhu cầu tiêu dùng một cách nhanh chóng, đột xuất; cóthể cần đến xét duyệt tài sản để đảm bảo kha năng thu hồi vốn, nhưng cũng cóthể không; đa số tổ chức tài chính áp dụng lãi suất thấu chi rất cao, có thể caogấp 1.5 lần so với mức lãi suất thông thường
Trang 19- Hụi: Chơi hụi là một hình thức huy động vốn trong dân gian Việt Nam
và thường do phụ nữ thực hiện; là hình thức trái ngược với trả góp Chơi hụigiống hình thức bỏ ống tiết kiệm nhưng giúp các hụi viên có cơ hội nhận trướctiền mà không cần có tài sản thế chấp, tổng số tiền mình định tiết kiệm nhiềuhơn, nhanh hơn Khi đã nhận được tiền hụi rồi thì người đó trở về giống hìnhthức trả góp
Trước đây, việc chơi hụi chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận vàbảo vệ quyền lợi, từ năm 2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-
CP quy định hướng dẫn về hụi và được quy định trong Luật Dân sự 2015
Trước đây, việc chơi hụi chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận vàbảo vệ quyền lợi nhưng kể từ năm 2006 đã có Nghị định 144/2006/NĐ-CP quyđịnh hướng dẫn về họ và được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015
Khi tham gia chơi hụi cần có 01 người đứng ra làm chủ hụi và chủ hụimời người khác tham gia gọi là hụi viên (con hụi) Chủ hụi có trách nhiệm thutiền của hụi viên Một dây hụi có thể không giới hạn số người chơi, nhưng hiệnnay chủ hụi giới hạn khoảng 24 thành viên tham gia Chủ hụi thường mở nhiềuhay ít dây hụi tùy theo số lượng hụi viên và đưa ra số tiền góp tùy thuộc vào khảnăng góp của các hụi viên Chủ hụi được hưởng hoa hồng từ việc đi thu hụi,thường thì được một nửa tiền của một phần (ví dụ một phần hụi 500.000đ thìchủ hụi được 250.000đ mỗi lần có người hốt hụi)
Có 02 hình thức hụi: hụi có lãi và hụi không có lãi
Hụi có lãi: một chu kỳ hụi có lãi theo tháng, hoặc nữa tháng hoặc hụituần…phần lời dư ra đó được xem là lãi khi chơi hụi Hụi chết là người hốttrước phải trả lãi, khi họ hốt trước thì nhận không đủ tiền do số tiền của ngữngngười tham gia đóng ít hơn số tiền của một phần hụi quy định chung Ví dụ hụi500.000đ, người kêu cao nhất 150.000đ, thì người nào hụi chết đóng đủ500.000đ, hụi sống chỉ đóng 350.000đ và như vậy thì người hốt trước sẽ bị lỗ.Hụi sống là người hốt sau là người được lời nhiều do họ đóng nhiều lần không
đủ tiền do những người trước kêu cao hơn được hốt trước và đến sau cùng thì họ
có lời rất cao
Hụi không lãi: hình thức giống như hụi có lãi nhưng người hốt trước
và hốt sau đều có số tiền bằng nhau, và không phải chịu một mức phí hay lãi
Trang 20suất nào Loại hụi này thường chơi trong các cơ quan nhà nước, tổ nhân dân tựquản, tương trợ vốn làm ăn, không tính lãi.
2.3.Nội dung cơ bản của hợp đồng vay tài sản
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu huy động vốntrở nên vô cùng cấp bách và hợp đồng vay tiền được xem là công cụ pháp lý hữuhiệu để đáp ứng yêu cầu đó Hợp đồng vay tài sản có thể được xác lập giữa các
cá nhân với nhau, giữa cá nhân với các tổ chức kinh doanh và các tổ chức tíndụng
Điều 471, Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sựthỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đếnhạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng sốlượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quyđịnh” Bên vay tài sản trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tàisản đó
Bên cho vay có nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chấtlượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm thỏa thuận; bồi thường thiệt hại chobên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báocho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó; Khôngđược yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp thực hiện hợpđồng vay có kỳ hạn
Nghĩa vụ trả nợ của bên vay: Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiềnkhi đến hạn, nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chấtlượng; nếu không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tạiđịa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý Gtrong trường hợpvay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thìbên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do ngân hàngnhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ Trường hợpvay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vayphải trả lãi nợ gốc và lãi nọ quá hạn theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nướccông bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ
Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phaỉ được sử dụng đúngmục đích vay, bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền