Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội, trong khoa học pháp lý được xác định là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ cơ sở khoa học của hoạt động bảo hiểm xã hội, xuất phát từ bản chất của cá
Trang 1A Phân tích các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội.
I Khái quát chung về các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội:
1 Khái niệm:
Theo từ điển tiếng Việt, nguyên tắc được hiểu là những điều cơ bản nhất thiết phải tuân theo trong một loạt các việc làm Với cách hiểu như vậy thì trong bất
kỳ một ngành khoa học hay lĩnh vực hoạt động cụ thể nào đều cần phải có những nguyên tắc chung thống nhất, điều chỉnh xuyên suốt toàn bộ hoạt động đó
Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội, trong khoa học pháp lý được xác định
là những tư tưởng chủ đạo bắt nguồn từ cơ sở khoa học của hoạt động bảo hiểm
xã hội, xuất phát từ bản chất của các chế độ bảo hiểm xã hội và được coi là cơ
sở nền tảng cho việc tổ chức quản lý và thực thi chính sách của BHXH
2 Quá trình hình thành và phát triển:
Về lịch sử hình thành và phát triển của các nguyên tắc của BHXH ở nước ta,
có thể thấy trước năm 1961do điều kiện kinh tế xã hội hạn chế cho nên các nguyên tắc của BHXH có giai đoạn chưa xuất hiện hoặc nếu có cũng rất mờ nhạt Phải đến năm 1961 khi Chính Phủ ban hành Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định
218/NĐ-CP ngày 27/12/1961 thì các nguyên tắc hoạt động BHXH mới chính thức được đưa ra trong một văn bản pháp lý Có thể nói sự ra đời của Điều lệ tạm thời về BHXH đã đánh dấu một bước phát triển mới đối với các nguyên tắc cơ bản của BHXH ở nước ta, hình thành nên một kim chỉ nam cho hoạt động điều hành quản lý và thực hiện các chính sách BHXH mặc dù nhiều nguyên tắc còn chưa mang tính khả thi, tỏ ra thiếu thực tế và mang tính hình thức Tuy nhiên, tiếp đó, Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 26/1/1995 ra đời kèm theo bản Điều lệ BHXH đã hình thành nên các nguyên tắc BHXH mới phù hợp với thời đại mới
Trên cơ sở kế thừa chọn lọc và phát huy những điểm hợp lý trong các văn bản pháp luật trên, Luật Bảo hiểm xã hội đã quy định 5 nguyên tắc cơ bản của
Trang 2BHXH và các nguyên tắc này cho đến nay đã thực sự trở thành những tư tưởng chỉ đạo hoạt động BHXH, đưa sự nghiệp BHXH nước ta ngày càng phát triển
Cụ thể, 5 nguyên tắc cơ bản của BHXH theo luật hiện hành được quy định tại Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 Dưới đây em xin đi vào phân tích nội dung cụ thể của các nguyên tắc của BHXH
II Phân tích các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội:
1 Nguyên tắc 1: Mức hưởng của bảo hiểm xã hội (BHXH) được tính trên
cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH
Cơ sở hình thành nguyên tắc: BHXH là loại bảo hiểm vừa mang tính kinh tế,
vừa mang tính xã hội Tính kinh tế của BHXH thể hiện ở chức năng tổ chức phân phối thu nhập, đảm bảo đời sống của cá nhân cũng như của gia đình người lao động Để thực hiện việc phân phối đó một cách hiệu quả, BHXH trong quá trình triển khai phải có sự kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ và sự tương xứng tương đối giữa mức đóng và mức hưởng Tuy nhiên, ngoài ra BHXH còn mang tính xã hội, trong đó nổi trội là sự chia sẻ những rủi ro xã hội, lấy số đông bù số ít
Nội dung của nguyên tắc:
- Đảm bảo sự hợp lý giữa mức đóng góp và mức hưởng thụ Cần căn cứ vào sự cống hiến của người lao động như mức đóng góp, thời gian đóng góp cho các quỹ bảo hiểm xã hội…để dựa vào đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng sao cho phù hợp với sự đóng góp cho xã hội của người lao động
- Sự tương xứng giữa mức đóng và mức hưởng BHXH chỉ mang tính chất tương đối bởi không phải người lao động cứ đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội bao nhiêu thì sẽ nhận được bấy nhiêu chế độ bảo hiểm xã hôi Ví dụ như, chế độ thai sản nói chung chủ yếu do đối tượng là lao động nữ thụ hưởng nhưng lao động nam cũng tham gia đóng góp
Trang 3- Mặc dù mức hưởng phải căn cứ trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH nhưng vẫn mang tính chất chia sẻ, hỗ trợ giữa những người tham gia bảo hiểm Điều này thể hiện ngay từ việc đóng góp của họ vào quỹ BHXH Để được hưởng các chế độ BHXH thì đối tượng thụ hưởng phải đáp ứng các điều kiện luật định Hơn nữa, trong số đông những người tham gia đóng góp (Người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước) thì chỉ có người lao động mới là đối tượng được hưởng trợ cấp Vì thế số trợ cấp mà họ nhận được thường lớn hơn rất nhiều số tiền mà họ đã đóng góp Và việc chi trả các chế độ BHXH được tiến hành trên cơ sở lấy kết quả của số đông người tham gia để bù cho số ít người được hưởng Ngoài ra, đây cũng là cách mà cộng đồng giúp đỡ những đối tượng gặp rủi ro mà nếu không có sự chia sẻ, tương trợ cộng đồng thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống
2 Nguyên tắc 2: Mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được
tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung
Cơ sở của nguyên tắc: Đối tượng của BHXH là phần thu nhập của người lao
động trong trường hợp bị giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm Cho nên mức đóng BHXH phải căn cứ vào mức thu nhập được bảo hiểm thì mới đảm bảo nguyên tắc mức hưởng của BHXH phải tính trên cơ sở mức đóng
Nội dung:
- Mức thu nhập được bảo hiểm là mức tiền lương hoặc một mức thu nhập bằng tiền nào đó do Nhà nước quy định Mức thu nhập này là công cụ để Nhà nước giám sát kiểm tra, điều tiết trên giác độ quản lý vĩ mô đối với BHXH và quản lý lao động trong nền kinh tế quốc dân Yêu cầu trong việc lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm được Nhà nước quán triệt là phải dựa trên cơ sở mức sống, mức thu nhập bình quân thực tế của đại đa số người lao động…để đảm bảo cho mức thu nhập này luôn thăng bằng tương đối, đảm bảo đời sống cho
Trang 4người lao động tham gia bảo hiểm và gia đình họ Trên thực tế, có 2 cách để lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm tùy theo đối tượng tham gia bảo hiểm là lấy tiền lương làm cơ sở để quy định mức thu nhập được bảo hiểm hoặc quy định một mức thu nhập nhất định đối với người lao động Xu hướng hiện nay là lựa chọn tiền lương làm căn cứ xác định mức thu nhập được bảo hiểm
- Dựa trên quy định chung về mức thu nhập được bảo hiểm, BHXH lựa chọn mức đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền công , tiền lương của người lao động Nguyên tắc này là phù hợp với xu hướng chung hiện nay, đảm bảo được sự cân bằng giữa mức đóng BHXH với thu nhập của người lao động Hơn nữa, nó cũng đảm bảo sự ổn định cho quỹ BHXH trước sự biến động của giá cả thị trường Bên cạnh đó, cùng với nguyên tắc thứ nhất, nguyên tắc này sẽ tạo nên sự bình đẳng tương đối giữa những người tham gia BHXH trong việc thụ hưởng quyền lợi khi mức đóng góp của mỗi người là không giống nhau, bởi vì mức hưởng thì tính trên cơ sở mức đóng BHXH và mức đóng BHXH thì lại được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động, từ đó tạo ra sự cân xứng trong việc đóng góp và thụ hưởng
- Đối với mức đóng BHXH tự nguyện thì sẽ do người lao động lựa chọn tính trên cơ sở mức thu nhập của họ nhưng không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu chung BHXH thất nghiệp được áp dụng đối với những đối tượng không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và do vậy, việc quản lý thu nhập của họ không thể được thực hiện như đối với những người thuộc đối tượng bắt buộc đóng BHXH bắt buộc Hơn nữa, để phát huy sự tự do ý chí của các chủ thể tham gia loại bảo hiểm này, luật quy định nguyên tắc mức đóng BHXH tự nguyện sẽ do người lao động lựa chọn trên cơ sở mức thu nhập của họ là hợp lý Đồng thời Luật cũng giới hạn mức đóng BHXH tự nguyện không được thấp hơn mức tiền lương tối thiểu chung Người đóng bảo hiểm tự nguyện sẽ được chi trả chế độ bảo hiểm hưu trí và chế độ tử tuất mà mức trợ cấp hưu trí ít nhất bằng tiền lương tối thiểu chung nên phải quy định giới hạn mức phí đóng để đảm bảo sự an toàn và khả năng chi trả bảo hiểm của quỹ bảo hiểm
Trang 53 Nguyên tắc 3: Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm bắt buộc
vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội
Cơ sở của nguyên tắc:
- Theo quy định của pháp luật về hình thức thì BHXH gồm có bảo hiểm xã hội bắt buộc và BHXH tự nguyện Mặc dù số lượng người tham gia mỗi loại BHXH không giống nhau nhưng về phương diện pháp lý, việc tham gia BHXH bắt buộc hay BHXH tự nguyện đều tạo nên các quyền lợi về BHXH có giá trị như nhau
- Xét trên thực tế, có rất nhiều trường hợp người lao động có thể có những thời gian tham gia BHXH theo các loại hình khác nhau Từ đó đặt ra yêu cầu giải quyết quyền lợi cho họ sao cho hợp lý nhất
Nội dung: Chế độ hưu trí và chế độ tử tuất là hai chế độ đòi hỏi thời gian
đóng bảo hiểm xã hội khá dài để có thể được hưởng bảo hiểm (20 năm đối với chế độ bảo hiểm hưu trí và 15 năm đối với chế độ trợ cấp tử tuất hàng tháng) Cho nên, trong trường hợp người lao động vừa có thời gian tham gia cả BHXH bắt buộc vừa có thời gian tham gia BHXH tự nguyện thì luật quy định người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí, tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội Đây là quy định được Luật BHXH nâng lên thành nguyên tắc cơ bản, nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động và tính liên thông trong quan hệ bảo hiểm xã hội, hạn chế tình trạng thực tế có rất nhiều người lao động bị “cắt xén” quyền lợi khi rơi vào trường hợp như trên
4 Nguyên tắc 4: Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai,
minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp
Cơ sở của nguyên tắc:
- BHXH là chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý Cho nên vấn đề quản lý và sử dụng quỹ BHXH có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo
Trang 6thực hiện hài hòa các nội dung trên, là cơ sở để đạt được mục tiên do BHXH đề ra
- Những khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế ILO về việc quản lý, sử dụng quỹ BHXH nói riêng và các nguyên tắc cơ bản của BHXH nói chung là cơ
sở pháp lý quan trọng trong việc xây dựng nguyên tắc trên
Nội dung nguyên tắc:
- Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch: Quỹ BHXH là một nguồn quỹ tiền tệ được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, Nhà nước và một số nguồn khác như được tài trợ, lãi từ hoạt động đầu tư quỹ…và được dùng để giúp đỡ về mặt vật chất cho người lao động khi họ gặp các rủi ro, khó khăn trong cuộc sống Để thực hiện đầy đủ, thống nhất kịp thời các chế độ BHXH đối với tất cả mọi người lao động, nhất thiết quỹ BHXH phải trở thành nguồn lực tài chính ổn định lâu dài, đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH Để có thể thực hiện được điều đó, Nhà nước nhất thiết phải thực hiện việc quản lý tập trung thống nhất quỹ BHXH Trách nhiệm đó được thể hiện trước hết ở chỗ Nhà nước trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, quản lý toàn bộ sự nghiệp BHXH thông qua việc ban hành các quy định pháp luật về BHXH và kiểm tra thực hiện các quy định đó Vì vậy,
ở nước ta mặc dù tổ chức BHXH là tổ chức sự nghiệp do Chính phủ thành lập nhưng việc chỉ đạo và giám sát hoạt động cua tổ chức này (trong đó có quỹ BHXH) do Hội đồng quản lý BHXH thống nhất thực hiện
Bên cạnh đó, với ý nghĩa xã hội to lớn của BHXH và thực hiện theo khuyến nghị của ILO về các nguyên tắc của BHXH, theo đó việc quản lý, sử dụng quỹ BHXH phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch và trên cơ sở của cơ chế ba bên Nguyên tắc này là tư tưởng chỉ đạo để xây dựng các quy định mang tính chất xã hội, công bằng trong BHXH
- Theo quy định của pháp luật, quỹ BHXH bao gồm các quỹ thành phần: BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp Cho nên mặc dù
Trang 7được quản lý thống nhất nhưng việc hạch toán quỹ BHXH được tiến hành độc lập theo các quỹ thành phần
- Vấn đề sử dụng quỹ BHXH là vấn đề rất quan trọng vì hoạt động của BHXH là một hoạt động sự nghiệp vì lợi ích chung của toàn xã hội, phục vụ cho mọi thành viên trong xã hội Đây cũng chính là mục đích sử dụng quỹ BHXH Trong cơ cấu của quỹ BHXH, mỗi một quỹ thành phần có yêu cầu sử dụng khác nhau, thậm chí với các đối tượng và trong các trường hợp khác nhau, do đó việc
sử dụng quỹ đúng mục đích không chỉ cần phải hướng đến bảo vệ các mục tiêu chung của BHXH mà còn phải đáp ứng yêu cầu sử dụng của từng loại quỹ khác nhau Có như vậy, hiệu quả và giá trị của các chế độ BHXH mới có ý nghĩa
5 Nguyên tắc 5: Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng thuận tiện và
bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH
- Người tham gia BHXH là người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước Trong đó, người sử dụng lao động là người có nghĩa vụ phải đóng góp bảo hiểm cho người lao động nhưng họ lại không đồng thơi là người thụ hưởng Cho nên, đối tượng chủ thể này thường ít khi mặn mà với việc thực hiện trách nhiệm của mình Để khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ trên, trình tự thủ tục đóng góp cũng như thực hiện BHXH phải giảm thiểu sự phiền hà, phức tạp đến mức tối đa
- Những trường hợp được hưởng các chế độ BHXH là những trường hợp xảy ra rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập của người lao động Trong tình huống
đó họ và gia đình rất cần đến khoản tiền BHXH một cách kịp thời, nhanh chóng
để giải quyết khó khăn, ổn định cuộc sống Chính vì vậy, việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đảm bảo đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, kịp thời đặc biệt là thủ tục hành chính để có thể đảm bảo giải quyết một cách nhanh chóng, đầy đủ quyền lợi, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của người tham gia BHXH
Tóm lại, các nguyên tắc cơ bản của BHXH theo Luật bảo hiểm xã hội năm
2006 đã cho thấy một bước tiến mới trong quy định của pháp luật về các nguyên tắc của BHXH, khắc phục được một số hạn chế trong quy định cũ như về hình
Trang 8thức pháp lý, phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc về mức đóng, mức hưởng trợ cấp BHXH và về vấn đề quản lý quỹ BHXH Với những quy định tiến bộ, phù hợp với tình hình thực hiện BHXH trong giai đoạn mới, các nguyên tắc cơ bản của Luật BHXH năm 2006 đã thực sự trở thành tư tưởng chỉ đạo chung, xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng luật bảo hiểm xã hội và tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong thực tiễn thực hiện Mỗi nguyên tắc BHXH có nội dung riêng, phản ánh những quy luật khách quan khác nhau của chính sách BHXH Tuy vậy giữa chúng luôn tồn tại mối quan hệ tác động qua lại với nhau, tạo thành một hệ thống thống nhất, việc thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc khác Cho nên trong hoạt động BHXH cần phải kết hợp thực hiện giữa các nguyên tắc nhằm nâng cao hiệu quả của việc quản lý
tổ chức, thực hiện các chính sách BHXH
B Giải quyết tình huống:
Anh H là thương binh mất sức lao động 45% Năm 1990, anh vào làm nhân viên tại công ty X theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn Năm 2010, anh bị tai nạn lao động phải vào viện điều trị 2 tháng Kết quả giám định lại anh
bị suy giảm 63% khả năng lao động Lúc này, tuy mới 53 tuổi nhưng vì sức khỏe yếu nên anh H làm đơn xin nghỉ hưu
Anh (chị) hãy giải quyết quyền lợi cho anh H theo quy định của pháp luật an sinh xã hội
GIẢI QUYẾT
Trước hết, anh H là thương binh cho nên anh H được hưởng chế độ ưu đãi đối với thương binh theo quy định tại Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 ưu đãi người có công với cách mạng Cụ thể, Anh H sẽ được hưởng các chế độ sau:
- Hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Pháp lệnh về ưu đãi người có công với cách mạng thì thương
binh được hưởng: “Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức
Trang 9độ suy giảm khả năng lao động và loại thương binh” Cụ thể tại Điều 13 Nghị
định 54/2006/ NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi
người có công với cách mạng quy định: “Thương binh được hưởng trợ cấp
thương tật hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ giao thông vận tải (gọi chung là Hội đồng Giám định y khoa) kết luận suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 21% trở lên.
Tình huống trên nêu rõ anh H là thương binh mất sức lao động 45% nên anh
đủ điều kiện hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng theo quy định của pháp luật Đối chiếu theo bảng mức trợ cấp thương tật đối với thương binh được ban hành kèm theo Nghị định số 52/2011/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Chính Phủ thì với thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 45% như anh H sẽ được hưởng mức trợ cấp hàng tháng là 1.264.000 đồng
- Chế độ ưu đãi đối với anh H còn bao gồm cả bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; phục hồi chức năng lao động; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào thương tật của từng người và khả năng của Nhà nước
- Anh H cũng được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; căn cứ vào thương tật và trình độ nghề nghiệp được tạo điều kiện làm việc trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo;
- Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, được miễn hoặc giảm thuế, miễn nghĩa vụ lao động công ích theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ cải thiện nhà ở căn cứ vào hoàn cảnh của từng người, khả năng của Nhà nước và địa phương
Thứ hai, trường hợp của anh H cũng được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, xuất phát từ những căn cứ sau:
Anh H là nhân viên của công ty X theo hợp đồng không xác định thời hạn nên anh H phải là đối tượng thuộc nhóm người lao động áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006.Do vậy,
Trang 10anh H có thể được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc nếu đáp ứng đủ các điều kiện
Tình huống trên đã xác định, vào năm 2010 anh H bị tai nạn lao động phải vào viện điều trị 2 tháng Cho nên quyển lợi trước tiên anh H được hưởng là được người sử dụng lao động sơ cứu, đưa đi cấp cứu và được thanh toán toàn bộ chi phí y tế, tiền lương cho đến khi điều trị ổn định thương tật theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật lao động Sau đó, khi thương tật đã được điều trị ổn định, anh H sẽ được công ty X giới thiệu đến Hội đồng giám định y khoa để xác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động, lấy đó làm căn cứ để xem xét có được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động hay không
Kết quả giám định lại của anh H sau khi đã điều trị ổn định thương tật do tai nạn lao động là bị suy giảm khả năng lao động 63% Tuy nhiên, đây không phải
là tỷ lệ suy giảm khả năng lao động hoàn toàn chỉ do tai nạn lao động mang lại bởi trước khi bị tai nạn, bản thân anh H đã là thương binh bị suy giảm khả năng lao động 45% Cho nên không thể lấy tỷ lệ 63% làm căn cứ xác định mức độ suy giảm khả năng lao động của anh H do tai nạn lao động gây ra Trong trường hợp này, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động được tính bằng: 63% - 45% = 18% Vậy, anh H bị suy giảm 18% khả năng lao động do tai nạn lao động
Như vậy, theo quy định tại Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, trường hợp của anh H đáp ứng đủ các điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động đó là bị tai nạn lao động và suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn lao động Theo đó, anh H được hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bao gồm:
- Trợ cấp tai nạn lao động: Mức suy giảm khả năng lao động sẽ được lấy làm căn cứ để xác định anh H được hưởng trợ cấp 1 lần hay trợ cấp hàng tháng
Ở đây, anh H bị suy giảm 18% khả năng lao động do bị tai nạn lao động nên anh sẽ được hưởng trợ cấp một lần theo quy đinh tại khoản 1 Điều 42 Luật
BHXH: “Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì