Bồi dưỡng là hoạt động diễn ra sau quá trình đào tạo, nghĩa là, một cán bộ, công chức sau khi đã trãi qua quá trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo được bố trí vào làm một công việc nhất đ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Cán bộ, công chức là bộ phận quan trọng của bất kỳ nền hành chínhnhà nước nào, là nhân tố con người góp phần quan trọng trong hoạt động của
bộ máy nhà nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Muôn việcthành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”[3-269] Nếu có cán bộtốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiệntiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi, không có cán bộ tốtthì dù đường lối chính sách đúng cũng khó biến thành sự thật Do vậy, trongbất kỳ tổ chức bộ máy nhà nước nào cũng đặt ra yêu cầu là phải xây dựngđược đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt Tại Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nêu một trong những giải pháp để đẩymạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là “Xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầutrong tình hình mới”[36-252], trong đó thể hiện rõ là phải nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức,năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước
Nói đến đội ngũ cán bộ công chức trong đó bao gồm cả đội ngũ côngchức cấp xã, để xây dựng một đất nước vững mạnh về mọi mặt không thể nàokhông nói đến vai trò của công chức cấp xã Vì công chức xã là cánh tay nốidài của hệ thống chính trị, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, làngười gần dân nhất, trực tiếp đưa đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng
và nhà nước đến với nhân dân Công chức xã là người thường xuyên liên hệmật thiết với nhân dân, mọi hành động của công chức xã đều ảnh hưởng đếntâm tư, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với chính quyền địa phương
Trang 2Với vai trò to lớn như thế cho nên đội ngũ công chức xã cần được quantâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ lý luận chính trị để có thểphục vụ nhà nước và nhân dân được tốt hơn Một trong những nhiệm vụ đểxây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãđược Đảng đề ra là cải cách nền hành chính, trong đó bao gồm cải cách cán
bộ, công chức Đây là vấn đề Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong tiếntrình đổi mới đất nước Làm sao để xây dựng được đội ngũ cán bộ công chức
có bản lĩnh vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, có tư duy đổi mới, cókiến thức chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có tinh thần đoàn kết hợp tác, có ý thức tổchức và kỷ luật cao, có phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn
bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Do đó, đội ngũcán bộ công chức muốn hoạt động có hiệu quả cần phải được đào tạo, bồidưỡng, đặc biệt là đội ngũ công chức xã, phường, thị trấn (gọi tắt là côngchức cấp xã)
Bến Tre là một tỉnh, thành phố thuộc miền Tây Nam bộ, có bộ máyhành chính giống với các địa phương khác trong cả nước, đó là hệ thống các
cơ quan hành chính được chia làm 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong
đó xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thực hiện trực tiếp và cụ thể các chủtrương của Đảng, pháp luật của nhà nước, nơi giải quyết các nhu cầu cấp thiếtcủa người dân Vì vậy việc quan tâm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có
đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của Đảng và nhànước ta hiện nay Tuy nhiên trong thời gian qua, đội ngũ công chức cấp xã ởBến Tre nhìn chung còn hạn chế, bất cập nhiều mặt, phần lớn chưa được đàotạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ Bên cạnh đó nhận thức trong đội ngũcông chức không đồng đều, thiếu tính chủ động sáng tạo, việc vận dụng cácchủ trương chính sách của cấp trên vào điều kiện cụ thể của từng địa phương
Trang 3chưa linh hoạt Không ít công chức cấp xã chưa nắm vững chức năng nhiệm
vụ, thẩm quyền được giao, không nắm vững các quy định pháp luật, vì vậythực hiện nhiệm vụ, giải quyết công việc mang tính chủ quan, tùy tiện…
Trước tình hình cụ thể đó, tác giả chọn đề tài: “Đào tạo, bồi dưỡng
công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Bến Tre” để nghiên cứu và làm luận
văn tốt nghiệp cao học quản lý hành chính công
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp, kiếnnghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở BếnTre để tạo ra những công chức có năng lực Để thực hiện mục tiêu đó, đề tàiphải giải quyết các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, tìm hiểu về công chức cấp xã, đặc điểm và vai trò củacông chức cấp xã
- Nghiên cứu tìm hiểu khái niệm và đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng côngchức cấp xã
- Nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở pháp lý và kinh nghiệm của Việt Nam quacác thời kỳ cũng như kinh nghiệm của các nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng
- Đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ởBến Tre
- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượngcông tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre
3 Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Hiện nay, trên phương diện khoa học quản lý hành chính nhà nước đã
có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến công tác đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức như:
Trang 4- Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập -PGS.TS Bùi Đức Kháng- Đềtài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia HồChí Minh, 2009.
bộ Một số biện pháp hoàn thiện công tác quy hoạch và kế hoạch đào tạocán bộ, công chức của Thành phố Hồ Chí Minh -Nguyễn Thị Việt Thường-Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công, Học viện hành chính Quốc gia,2001
- Một số giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức cơ quan Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước -Phan TháiNguyên- Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công, Học viện hành chínhQuốc gia, 2003
- Những giải pháp chủ yếu trong việc tạo nguồn cán bộ, công chức cấp
cơ sở trên địa bàn tỉnh Trà Vinh -Dương Thanh Tuấn- Luận văn thạc sỹ hànhchính công, Học viện hành chính Quốc gia 2006
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấnkhu vực đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-2015 -Vũ xuân Khoan-Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công, Học viện hành chính Quốc gia2010
Nhìn chung, các đề tài này đã đề cập đến công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức ở các địa phương khác nhau nhưng chưa có công trìnhnghiên cứu khoa học nào về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre
Từ thực tiễn đó, vấn đề cần thiết là nên có một công trình nghiên cứu, đánhgiá tổng quát công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trang 5Đề tài đề cập đến những vấn đề cơ bản về công tác đào tạo, bồi dưỡngcông chức cấp xã nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở BếnTre nói riêng.
Đề tài tập trung phân tích, đánh giá các vấn đề thực tiễn của công tácđào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre trong những năm gần đây vàđưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡngcông chức xã ở Bến Tre trong thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp duy vậtbiện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và một số phương pháp
cụ thể: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp,phương pháp thống kê, phương pháp so sánh để có đủ tài liệu, luận cứ cơ bảnnhằm giải quyết các vấn đề đã nêu
6 Những đóng góp của luận văn:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn nêu lên các kháiniệm cơ bản về công chức cấp xã và vai trò, đặc điểm công chức cấp xã trong
hệ thống chính quyền nhà nước, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong côngtác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre và đưa ra một số giải phápnhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tretrong thời gian tới
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm các nội dung cụ thể nhưsau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về việc đào tạo, bồi dưỡng côngchức cấp xã
Trang 6- Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
ở Bến Tre
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đàotạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre
8 Đề cương chi tiết của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã.
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng công chức cấpxã
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò công chức cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm công chức cấp xã
1.1.1.2 Đặc điểm công chức cấp xã
1.1.1.3 Vai trò công chức cấp xã
1.1.2 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
1.1.2.1 Khái niệm đào tạo công chức cấp xã
1.1.2.2 Khái niệm bồi dưỡng công chức cấp xã
1.2 Đặc điểm của đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
1.3 Cơ sở pháp lý của việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã
1.4 Một số kinh nghiệm về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công công chức cấp xã
chức-1.4.1 Kinh nghiệm nhà nước Việt Nam trong việc đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức qua các thời kỳ
1.4.2 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của một sốnước trên thế giới
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã ở Bến Tre.
Trang 72.1 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp
xã ở Bến Tre
2.2 Thực trạng đội ngũ công chức cấp xã ở Bến Tre
2.3 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở BếnTre
2.3.1 Thực trạng về công tác đào tạo công chức cấp xã ở Bến Tre.2.3.2 Thực trạng về công tác bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre.2.4 Đánh giá, nhận xét
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre.
3.1 Định hướng của tỉnh Bến Tre trong việc đào tạo, bồi dưỡng côngchức cấp xã
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồidưỡng công chức cấp xã ở Bến Tre
3.2.1 Làm tốt công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức cấpxã
3.2.2 Đổi mới nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp vớiđối tượng người học, công chức cấp xã
3.2.3 Nâng cao chất lượng giảng viên
3.2.4 Xây dựng, cải tiến chế độ chính sách dành cho hoạt động đào tạo,bồi dưỡng công chức cấp xã
3.2.5 Xây dựng cơ chế đánh giá năng lực công chức cấp xã một cáchhợp lý
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ VIỆC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò công chức cấp xã.
1.1.1.1 Khái niệm công chức cấp xã.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức cấp xã được nhắc đến từ Pháp lệnhsửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hànhngày 29 tháng 4 năm 2003 và trước đó thì khái niệm công chức cấp xã không
có ý nghĩa về mặt pháp lý Pháp lệnh cán bộ công chức năm 2003 đã đề cậpđến những đối tượng được quy định là cán bộ, công chức trong đó có đề cậpđến công chức cấp xã, “… Những người được tuyển dụng, giao giữ một chứcdanh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã”[1-PLCBCC2003].Như vậy, theo pháp lệnh này, chúng ta có thể hiểu công chức xã là nhữngngười được tuyển dụng và giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụthuộc Ủy ban nhân dân cấp xã Để cụ thể hóa văn bản này, ngày 10 tháng 10năm 2003 Chính phủ ban hành Nghị định 114/2003/NĐ-CP quy định về cán
bộ, công chức xã, phường, thị trấn Tại văn bản này đã thể hiện rõ nhữngngười được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụthuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức xã), gồm các chứcdanh sau đây:
- Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy)
- Chỉ huy trưởng quân sự
- Văn phòng-Thống kê
- Địa chính-Xây dựng
Trang 9- Tài chính-Kế toán.
- Tư pháp-Hộ tịch
- Văn hóa-Xã hội
Như vậy, theo Nghị định 114 năm 2003 của Chính phủ đã thể hiệncông chức cấp xã gồm bảy chức danh cụ thể như đã nêu, mỗi chức danh sẽđược giao cho những nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể góp phần cùng bộ máychính quyền địa phương giải quyết những công việc liên quan trong mối quan
hệ với nhân dân địa phương
Hiện nay, để nâng cao vị thế, vai trò của những người công tác tại các
đơn vị xã, phường, thị trấn, Quốc hội đã ban hành Luật cán bộ, công chức,trong đó quy định rõ quyền, nghĩa vụ cụ thể của công chức xã, đây là cơ sởpháp lý vững chắc giúp công chức xã có thể thực hiện tốt chức năng và nhiệm
vụ của mình do nhà nước giao phó
Theo Điều 61 Luật cán bộ, công chức năm 2008, công chức cấp xã baogồm các chức danh sau đây [7-12]:
- Trưởng công an
- Chỉ huy trưởng quân sự
- Văn hóa-xã hội.
Như vậy, theo quy định trên, chúng ta thấy các chức danh của côngchức cấp xã được quy định một cách rõ ràng cụ thể hơn so với Nghị định114/2003NĐ-CP của chính phủ, qua đó, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của côngchức xã trong bộ máy chính quyền địa phương được thể hiện một cách đầy đủ
Trang 10hơn Như vậy, công chức xã là những người được tuyển dụng và giao giữ mộtchức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trong biênchế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Công chức xã có trách nhiệmgiúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác và thựchiện những nhiệm vụ khác do chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao Theo đó,mỗi một chức danh công chức sẽ có những nhiệm vụ và phải đạt một số tiêuchuẩn nhất định do pháp luật quy định về tuổi đời, về trình độ học vấn Do đó,công chức xã sau khi được tuyển dụng phải được tham gia các khóa đào tạo,bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của mình để có thể đáp ứng yêu cầu của công việcchuyên môn
Ngoài ra, để bộ máy nhà nước cấp xã hoạt động một cách hiệu quả thìbên cạnh những công chức còn có những cán bộ chuyên trách như: Bí thư,Phó bí thư đảng ủy; Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch, Phóchủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch các đoàn thể Tuy nhiên, trong phạm
vi đề tài này chỉ đề cập đến công chức cấp xã, làm thế nào để nâng cao chấtlượng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, những chức danh đã được đề cập
- Công chức xã phần lớn là những người được sinh ra và lớn lên ở địaphương, là những người cùng sinh sống, có quan hệ tình cảm với bà con nhân
Trang 11dân tại địa phương Do đó họ có thể nắm bắt, hiểu rõ đặc điểm, tình hình ở địaphương cũng như mối quan hệ tình làng, nghĩa xóm của nhân dân địa phương
từ đó có thể xem xét những vụ việc chuyên môn cụ thể do người dân địaphương đưa ra và tư vấn cho cán bộ lãnh đạo ở địa phương giải quyết vụ việchợp tình, hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật
- Công chức xã là cầu nối giữa chính quyền địa phương và nhân dân tốtnhất, vì họ trực tiếp xem xét công việc và trình lãnh đạo giải quyết nhữngcông việc đó Chính vì vậy họ luôn phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữanhà nước và nhân dân địa phương Tuy nhiên, do trình độ còn hạn chế cùngvới tính cục bộ trong mối quan hệ thân tộc, tình làng nghĩa xóm…nên côngchức xã đôi khi còn thể hiện sự thiên vị trong việc đề xuất hướng giải quyết
- Công chức xã ngoài việc có thu nhập từ lương công chức, họ còn làmkinh tế khác có như thế mới đảm bảo được cuộc sống của bản thân và giađình, do vậy nhìn ở một khía cạnh nào đó, chúng ta có thể thấy được rằngcông chức xã không thể toàn tâm toàn ý cho công việc chuyên môn của mình.Việc này phần nào cũng ít nhiều ảnh hưởng đến chức năng và nhiệm vụ của
Trang 12chính quyền cấp xã, vì vậy nhà nước cần phải có chính sách, chế độ đãi ngộđối với công chức xã nhiều hơn
1.1.1.3 Vai trò công chức cấp xã
- Công chức xã là những người làm việc trong bộ máy hành chính nhànước ở địa phương, là cánh tay nối dài của hệ thống chính trị, là người gầndân nhất, trực tiếp đưa đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhànước đến với nhân dân Với vai trò to lớn như thế, việc đào tạo, bồi dưỡngcông chức xã luôn luôn là vấn đề quan trọng đối với bất kỳ bộ máy chínhquyền địa phương nào Vì chỉ khi nào, đội ngũ công chức xã có kiến thức cơbản về lĩnh vực chuyên môn cũng như nắm rõ những quy định, chính sách,pháp luật của Nhà nước thì mới có thể tuyên truyền, chuyển tải đến người dânđịa phương giúp họ hiểu những yêu cầu của Nhà nước đối với từng vấn đề cụthể, từ đó dân địa phương sẽ chấp hành tốt những quy định của pháp luật, đảmbảo được trật tự quản lý xã hội cũng như đảm bảo được tính pháp chế xã hộichủ nghĩa
- Công chức xã là người trực tiếp xem xét công việc ở địa phương và tưvấn cho cán bộ lãnh đạo giải quyết việc theo đúng quy định của pháp luật Do
đó họ là người nắm bắt rõ nhất tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương
và cung cấp những thông tin trên cho cán bộ lãnh đạo Trên cơ sở đó, nhữngngười làm công tác quản lý có thể ban hành các văn bản điều chỉnh kịp thờinhững vấn đề xảy ra ở địa phương, đồng thời có hướng động viên khuyếnkhích những công chức xã cố gắng học tập, nâng cao trình độ, làm tốt nhiệm
vụ của mình, có như thế thì bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương có thểhoạt động tốt, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa ngàycàng vững mạnh
Trang 13- Công chức cấp xã là người thường xuyên liên hệ mật thiết với nhândân, công chức tốt hay không tốt đều có ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm củanhân dân đến bộ máy chính quyền địa phương Do đó, trước hết công chức xãphải là người tạo cho người dân một niềm tin sâu sắc đối với hoạt động củaĐảng và Nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể bằng hành động gương mẫu cụthể của chính bản thân mình Từ đó, họ không chỉ đảm bảo cho pháp luậtđược thực hiện nghiêm minh tại địa phương mà họ còn có thể làm tốt công tácdân vận, vận động nhân dân tuân thủ, chấp hành tốt quy định của pháp luậtcũng như những quy định của chính quyền địa phương Đây cũng là một vaitrò hết sức quan trọng của đội ngũ công chức xã, vì họ vừa là công bộc củanhân dân, vừa là đại diện cho quyền lực nhà nước trong từng lĩnh vực nhấtđịnh.
Như vậy, đội ngũ công chức xã có vai trò cực kỳ quan trọng trong bất
kỳ bộ máy hành chính nhà nước ở bất kỳ địa phương nào, do đó, cần phảiquan tâm đào tạo, bồi dưỡng hợp lý Thực tiễn đã cho thấy đội ngũ công chức
xã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội địa phương Địa phươngnào có đội ngũ công chức vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, cótrình độ, năng lực và phẫm chất đạo đức tốt thì địa phương đó luôn có sự pháttriển về kinh tế, chính trị, anh ninh, trật tự, và ngược lại, nơi nào có đội ngũcông chức yếu, không xem xét giải quyết thấu đáo những băn khoăn, thắcmắc của người dân thì nơi đó bao giờ cũng có những bất ổn về chính trị, anninh trật tự, tình trạng vi phạm pháp luật thường xuyên diễn ra Như Bác Hồtừng nhắc nhở rằng muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặckém, nếu không có đội ngũ cán bộ, công chức tốt thì dù có đường lối chínhsách đúng cũng khó có thể biến thành hiện thực được
1.1.2 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã.
Trang 141.1.2.1 Khái niệm đào tạo công chức cấp xã.
Trong hoạt động của bất kỳ bộ máy nhà nước nào, muốn nâng cao nănglực và hiệu quả quản lý nhà nước thì cần phải tăng cường công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nóiriêng Đây là hoạt động vô cùng quan trọng của nhà nước vì đội ngũ cán bộ,công chức mạnh thì tất yếu bộ máy nhà nước sẽ hoạt động đạt hiệu quả cao
Trước khi đi vào tìm hiểu thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượngđào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, chúng ta phải biết đào tạo là gì? Bồidưỡng là gì ? Từ đó, chúng ta sẽ tìm ra những nội dung và đặc điểm của đàotạo, bồi dưỡng công chức cấp xã Trên cơ sở này, chúng ta mới có thể đưa racác giải pháp đào tạo, bồi dưỡng chức xã một cách hợp lý
Theo từ điển Tiếng Việt thì đào tạo là “dạy dỗ rèn luyện để trở nênngười có hiểu biết, có nghề nghiệp”[29-593], khái niệm này đề cập đến việcđào tạo là dạy học các kỹ năng thực hành nghề nghiệp hay kiến thức liên quanđến một lĩnh vực cụ thể, thông qua đó người học sẽ nắm vững những trí thức
kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho họ thích nghi vớicuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Như vậytheo định nghĩa này, chúng ta có thể thấy rằng đào tạo là một quá trình giúpcho người học có một kiến thức nhất định về một lĩnh vực nhất định và họ cóthể sử dụng những kiến thức đó để phục vụ cho bản thân hoặc giúp ích cho xãhội
Tại điều 5 Nghị định 18 của Chính phủ năm 2010 về đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức quy định “đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận
có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậchọc”[15-1]
Trang 15Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về đổi mới phương thức vànâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ-công chức nhà nước đáp ứng yêucầu hội nhập của PGS.TS Bùi Đức Kháng đã nêu khái niệm đào tạo như sau:
“Đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội
và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, chuẩn
bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận sự phân công laođộng nhất định, hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ được giao”[16-15]
Như vậy, đào tạo là hoạt động có mục đích nhằm làm cho người học cónhững kiến thức cơ bản Một cá nhân từ khi sinh ra và lớn lên thì được đàotạo trong môi trường gia đình và trường học (cấp I, cấp II, cấp III và kể cả đạihọc) Tại đây cá nhân ấy được trang bị những kiến thức cơ bản về nhân cách,
về cái chân, cái thiện, cái mỹ của con người làm cho họ có nhận thức cơ bản
về xã hội cũng như những kiến thức chuyên môn nhất định theo từng lĩnh vực
mà cá nhân ấy đăng ký dự học
Đào tạo là quá trình truyền thụ kiến thức mới cho con người từ nhữngngười có học vị cao trong xã hội hoặc từ những người có kinh nghiệm trongtừng lĩnh vực nhất định
Đào tạo còn là quá trình tác động đến con người, từ những kiến thứcđược truyền đạt, con người sắp xếp chúng theo một hệ thống nhất định để cóthể hiểu và thích nghi với xã hội loài người, từ đó có thể hoàn thành được sựphân công lao động của xã hội cũng như hoàn thành nhiệm vụ được giao Đàotạo là quá trình học tập làm cho con người có thể thực hiện được chức năng,nhiệm vụ của mình một cách tốt hơn
Đào tạo cán bộ, công chức là hoạt động đặc thù, khác so với đào tạo nóichung Vì đào tạo cán bộ, công chức có đối tượng là những cán bộ, công chứclàm việc trong bộ máy nhà nước, là những người được giao nhiệm vụ thực
Trang 16hiện chức năng của nhà nước Cán bộ, công chức là những người đã được đàotạo qua hệ thống giáo dục quốc dân, họ đã có những kiến thức nhất định tronglĩnh vực mình công tác, do đó đào tạo cán bộ, công chức là việc truyền đạtnhững kiến thức chuyên môn cao hơn, sâu hơn nhằm giúp họ có kỹ năng tốt
để có thể thực hiện công việc mà mình được giao phó một cách tốt hơn
Đào tạo cán bộ, công chức được thể hiện dưới nhiều hình thức khácnhau Đối với việc nâng cao trình độ cán bộ, công chức thì các tổ chức, nhàquản lý có thể đưa đi đào tạo tập trung ở một cơ sở đào tạo thuộc hệ thốnggiáo dục quốc dân, hay như đưa đi đào tạo hệ không chính quy (tại chức),hoặc là đưa đi đào tạo dưới hình thức đào tạo từ xa Đối với việc đào tạo đểtrang bị kỹ năng và rèn luyện kiến thức thì có thể đưa cán bộ, công chức họccác lớp ngắn ngày (từ 3 đến 10 ngày) hoặc kèm cặp tại nơi làm việc
Công chức cấp xã là những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, làcầu nối trong mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, do đó đào tạo côngchức cấp xã là một hoạt động vô cùng quan trọng
Đào tạo công chức cấp xã là quá trình trang bị cho họ những kiến thức,kinh nghiệm nhất định trong công việc chuyên môn cũng như trong mối quan
hệ tiếp xúc với công dân khi xem xét giải quyết một vụ việc cụ thể Vì một sốcông chức xã chưa được đào tạo qua trường lớp cụ thể, đo đó, trong quá trìnhđào tạo, những người làm công tác truyền đạt phải cung cấp một lượng kiếnthức cơ bản cần thiết giúp cho công chức cấp xã có thể tiếp thu một cách cóhiệu quả và qua đó có thể vận dụng để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ củamình Đào tạo công chức cấp xã cũng được thể hiện nhiều hình thức khácnhau như là đào tạo tập trung, đào tạo không chính qui, đào tạo ngắn ngày,đào tạo từ xa Để hoạt động đào tạo đạt chất lượng cao, ngoài việc quan tâmđến hình thức đào tạo, các nhà quản lý cũng cần tạo điều kiện về thời gian,kinh phí học tập công chức cấp xã có thể học tập, nâng cao trình độ một cách
Trang 17hoàn thiện nhất, có như thế công chức xã mới có thể tiếp thu và lĩnh hộinhững kiến thức một cách tốt nhất
1.1.2.2 Khái niệm bồi dưỡng công chức cấp xã.
“Bồi dưỡng là quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, kiếnthức, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng lực nói chung trên cơ sở của mặtbằng kiến thức đã được đào tạo trước đó Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức, bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm, trang bịmới về kiến thức, kỹ năng thực thi nhiệm vụ, công vụ của người cán bộ, côngchức”[16-18]
Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất, đó là quá trìnhhoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới, đòi hỏi và bổ sung những kỹnăng hoạt động đối với những cán bộ, công chức đang giữ một chức danh,một ngạch công chức, viên chức nhất định
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật nâng cao kiến thức, kỹ nănglàm việc cho cán bộ, công chức nhằm mục đích củng cố tri thức cũ, mở mangkiến thức mới giúp họ có thể công tác tốt hơn và hoàn thành chức năng,nhiệm vụ được giao Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, mở rộng kinh tế thị trường, vì vậy việc bồi dưỡng kiến thức chođội ngũ cán bộ, công chức là một hoạt động vô cùng thiết yếu Chính điều này
có thể trang bị cho cán bộ, công chức một số kiến thức nhất định trong quátrình công tác hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như thực hiện mối quan
hệ ngoại giao với bên ngoài
Bồi dưỡng là hoạt động diễn ra sau quá trình đào tạo, nghĩa là, một cán
bộ, công chức sau khi đã trãi qua quá trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo được
bố trí vào làm một công việc nhất định trong bộ máy nhà nước, trong thờigian công tác cán bộ, công chức đó sẽ được đưa đi bồi dưỡng kiến thức về lý
Trang 18luận chính trị, kiến thức về quản lý nhà nước hoặc kiến thức chuyên ngành.Mục đích của bồi dưỡng là trang bị kiến thức, kỹ năng làm việc cho cán bộ,công chức, để thực hiện được điều này nhà nước thường mở các lớp bồidưỡng để trang bị kiến thức mới hoặc mở lớp bồi dưỡng chuyên sâu để nângcao, củng cố lại những tri thức mà họ đã được tiếp thu trong quá trình đượcđào tạo Chính vì vậy, thời gian bồi dưỡng sẽ ngắn hơn so với thời gian đàotạo, thông thường khoảng 1 đến 3 tháng, có khóa bồi dưỡng chỉ kéo dài 1 đến
2 tuần hoặc vài ngày Sau khi kết thúc, cán bộ, công chức tham gia khóa bồidưỡng sẽ được cấp chứng nhận đã hoàn thành khóa học
Như vậy, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, công chức là hoạt độngkhông thể thiếu trong chiến lược cán bộ, công chức nói chung Đối với côngchức cấp xã, việc bồi dưỡng kiến thức là một hoạt động vô cùng quan trọng.Trong quá trình hoạt động thực thi công vụ, công chức xã cũng cần được bồidưỡng kiến thức thường xuyên nhằm củng cố và mở mang tri thức mới tronglĩnh vực công tác cũng như trong các hoạt động khác Hiện nay nhà nước tađang trong quá trình thực hiện cải cách hành chính với cơ chế một cửa mộtdấu Do đó, đối với công chức xã bên cạnh việc được đào tạo, bồi dưỡng kiếnthức chuyên môn nhất định, họ còn phải được bồi dưỡng kiến thức trong cáclĩnh vực khác để có thể đáp ứng được yêu cầu thiết yếu của nhà nước, đảmbảo một người biết nhiều việc Ngoài việc được bồi dưỡng kiến thức chuyênmôn, công chức xã còn có thể được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, lýluận chính trị, bồi dưỡng kiến thức về đạo đức cán bộ, công chức, xây dựngnếp sống và làm việc theo pháp luật, tôn trọng dân, tận tụy với nhân dân, bồidưỡng kiến thức pháp luật, cải cách hành chính, quốc phòng an ninh và các kỹnăng khác… nhằm trang bị cho họ có sự hiểu biết về tất cả các lĩnh vực trongđời sống xã hội, góp phần nâng cao tay nghề và kỹ năng sống, làm việc trongmột tổ chức, tập thể nhất định
Trang 19Tóm lại, đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là một hoạt động vô cùngquan trọng và không thể thiếu trong chiến lược cán bộ của nhà nước ta hiệnnay Trong đời sống thực tiễn, chúng ta thấy rằng, việc đào tạo bồi dưỡngcông chức xã phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, vì tình hình kinh tế,
xã hội cũng như quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước sẽ thay đổi theotừng giai đoạn, thời kỳ lịch sử nhất định Nếu những kiến thức mới ấy khôngđược đào tạo, bồi dưỡng kịp thời sẽ dẫn đến việc công chức xã làm việckhông phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước, sẽ làm mất lòng tin của nhân dân với Nhà nước, và Nhà nướccũng không thể tạo ra một xã hội ổn định
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ
Khi đánh giá về vai trò, tầm quan trọng của cán bộ, công tác cán bộ,Đảng ta đã khẳng định, cán bộ và công tác cán bộ giữ vai trò quyết định đến
sự thành bại của toàn bộ sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước Như Bác
Hồ đã từng nói muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ, tốt hay xấu,
có năng lực hay không, điều này không tự nhiên mà có mà phải do quá trìnhhọc tập rèn luyện tạo nên Do vậy, bất kỳ cán bộ, công chức nào làm việctrong bộ máy nhà nước cũng phải trải qua quá trình tu luyện, đào tạo, bồidưỡng kiến thức, phẩm chất đạo đức Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức là nhu cầu tất yếu của nhà nước trong mọi thời đại So với quátrình đào tạo, bồi dưỡng nói chung, đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cónhững đặc điểm cơ bản như sau:
- Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là công chức cấp xã: đây là một đặcđiểm cơ bản của đào tạo, bồi dưỡng công chức xã và cũng là một cơ sở đểchúng ta có thể thấy sự khác nhau giữa đào tạo công chức xã và đào tạo nói
Trang 20chung cũng như đào tạo, bồi dưỡng cho những người hoạt động công vụ trongcác cơ quan nhà nước khác Đào tạo nói chung cung cấp nguồn nhân lực chotoàn xã hội, trong đó có một phần là cán bộ, công chức Đào tạo cán bộ côngchức phải căn cứ vào quy chế pháp lý, chức năng nhiệm vụ cũng như yêu cầucủa từng đơn vị mà có kế hoạch cụ thể Hơn nữa, cán bộ, công chức là nhữngngười hoạt động trong các cơ quan nhà nước, nắm giữ một chức trách quantrọng trong bộ máy nhà nước, giúp nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụcủa nhà nước trong mối quan hệ ngoại giao với những đơn vị, tổ chức xungquanh, trong mối quan hệ với công dân và trong mối quan hệ với các quốc giakhác trên thế giới Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải tậptrung đi sâu vào chuyên môn nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng hành nghềmột cách cụ thể Công chức xã là những người gần dân nhất, liên hệ trực tiếpvới nhân dân và tham mưu cho lãnh đạo giải quyết những công việc có liênquan trực tiếp với nhân dân địa phương Do đó, đào tạo công chức xã nhằmtạo cho công chức xã những những kiến thức chuyên môn nhất định để thammưu cho lãnh đạo giải quyết công việc và giao tiếp với nhân dân.
- Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng: do đối tượng đào tạo là công chức
xã, với đặc thù là trình độ công chức xã không cao, không đồng đều, việc tiếpthu nhận thức có thể còn chậm hơn so với các đối tượng khác Vì thế ngườitruyền đạt kiến thức phải nắm bắt được điều này và có phương pháp giảngdạy hợp lý, giới thiệu những kiến thức cơ bản, cụ thể, không trừu tượng, lồngghép các bài tập tình huống để người học có thể tiếp thu một cách nhanh nhất
và vận dụng vào điều kiện thực tế ở địa phương một cách dễ dàng Cuối khóahọc, cơ sở đào tạo có thể tổ chức cho học viên đi tham quan nghiên cứu thực
tế một mô hình hoạt động cụ thể để học viên có thể học hỏi kinh nghiệm vàvận dụng vào thực tiễn ở địa phương Bên cạnh đó, người học cũng phải thểhiện sự năng nổ, quan tâm đến việc học nhiều hơn, phải tự nghiên cứu và tìm
Trang 21hiểu kiến thức mới trước khi giảng viên trình bày, có như thế, học viên có thểnắm bắt nội dung bài nhanh hơn và có những tư duy mới thông qua việc báocao của giảng viên
- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã phải dựa trên tiêuchuẩn của từng chức danh công chức xã để xây dựng chương trình cho phùhợp Nội dung cần thiết thực, phù hợp với yêu cầu từng loại công chức, từngchức danh cụ thể chú trọng cả phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên mônnghiệp vụ, cả lý luận và thực tiễn Đặc biệt chú trọng bồi dưỡng chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiến thức pháp luật và các kiến thứcchuyên ngành khác Theo quyết định 04/QĐ-BNV được ban hành ngày 16tháng 01 năm 2004, có quy định cụ thể về tiêu chuẩn của từng chức danhcông chức cấp xã, theo đó đối với từng chức danh cụ thể, cơ quan, tổ chứccần có kế hoạch đào tạo cụ thể như sau:
+ Công chức tài chính-kế toán: đào tạo trình độ Trung cấp tài chính-kếtoán trở lên
+ Công chức tư pháp-Hộ tịch: đào tạo trình độ trung cấp luật trở lên.+ Công chức địa chính-nông nghiệp-xây dựng và môi trường: đào tạotrình độ trung cấp địa chính, xây dựng, quản lý đô thị, kỹ thuật môi trường,nông nghiệp và phát triển nông thôn trở lên
+ Công chức văn phòng-thống kê: đào tạo trình độ trung cấp văn lưu trữ, hành chính, thống kê hoặc luật trở lên
thư-+ Công chức văn hóa-xã hội: đào tạo trình độ trung cấp văn hóa nghệthuật (chuyên ngành) hoặc quản lý văn hóa thông tin hoặc lao động-thươngbinh-xã hội trở lên
+ Công chức Trưởng công an: đào tạo trình độ tương đương trung cấpchuyên ngành công an trở lên
Trang 22+ Công chức Chỉ huy trưởng quân sự: đào tạo trình độ tương đươngtrung cấp về quân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên.
Như vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng công chức xã phải dựa trên kế hoạch,phù hợp với chức năng nhiệm vụ của cơ quan đơn vị, với từng chức danh cụthể Bất kỳ cơ quan, đơn vị nào khi sử dụng cán bộ, công chức cũng xây dựngcho cơ quan, đơn vị mình một kế hoạch quy hoạch sử dụng cán bộ, công chứctrong tương lai, và trên cơ sở đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức phù hợp với quy hoạch đã đề ra Như vậy, thông qua việc đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức, các cơ quan quản lý nhà nước sẽ tạo ra một nguồnnhân lực vững mạnh, phục vụ cho hoạt động của cơ quan đơn vị Nếu đào tạo,bồi dưỡng không theo quy trình ấy sẽ tạo ra sự lãng phí rất lớn Đối với côngchức cấp xã, việc đào tạo, bồi dưỡng cũng phải được thực hiện theo quy trìnhnày Nhưng thực tế hiện nay, ở một số địa phương việc đào tạo, bồi dưỡngkhông diễn ra theo quy trình nhất định mà thường được thực hiện do ý thức tựgiác của công chức: muốn được đào tạo để chuẩn hóa chức danh, để đượcnâng lương…dẫn đến tình trạng đào tạo không đúng chuyên ngành, có bằngcấp nhưng kiến thức để phục vụ cho hoạt động chuyên môn lại thiếu, kiếnthức sau khi đào tạo không sử dụng được, gây lãng phí về thời gian cũng nhưkinh phí của cá nhân công chức đồng thời ảnh hưởng lớn đến công việc chungcủa chính quyền địa phương
- Mô hình đào tạo, bồi dưỡng: đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là côngchức cấp xã, những người thực hiện những công việc chuyên môn, nghiệp vụtrong bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương, khi đi học sẽ không cóngười thay thế thực hiện những công việc chuyên môn đó Do đó trongphương thức, mô hình đào tạo, bồi dưỡng cần kết hợp hình thức đào tạo chínhquy với các hình thức đào tạo khác như là vừa học vừa làm, học từ xa… Vềthời gian học, các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo cũng có thể linh hoạt hơn
Trang 23tạo điều kiện cho công chức xã có thể tham gia học tập một cách đầy đủ,thường xuyên nhất, đối với những công chức có điều kiện có thể học vào banngày, các ngày làm việc, tuy nhiên đối với những công chức xã không có điềukiện có thể được bố trí học ban đêm hoặc học vào các ngày nghỉ trong tuần …Như vậy, tùy vào điều kiện của mình, từng địa phương sẽ tạo điều kiện thuậnlợi để công chức có thể tham gia học tập một cách tốt nhất Bên cạnh đó,chính quyền địa phương có thể tạo điều kiện cho công chức xã học tập kinhnghiệm của các địa phương khác, kết hợp với việc đào tạo qua thực tế côngtác và qua các hoạt động phong trào của các đoàn hội và của tổ chức quầnchúng Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cũng như nângcao ý thức của công chức xã trong việc học tập nâng cao trình độ, các cơ sởđào tạo cần có chế độ khuyến khích và bắt buộc công chức tự nghiên cứu, tìmhiểu kiến thức mới thông qua hệ thống thông tin như báo, đài, sách thamkhảo…nhằm nâng cao khả năng làm việc Cuối cùng, để đánh giá chất lượngđào tạo, bồi dưỡng các cơ quan đơn vị sử dụng công chức xã có thể tổ chứckiểm tra sát hạch, đánh giá chất lượng công chức theo định kỳ hàng quý hayhàng năm, từ đó có kế hoạch bố trí sử dụng công chức một cách hợp lý và xâydựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian tiếp theo.
1.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ.
Cán bộ, công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng đóng vaitrò quan trọng trong hoạt động công vụ, trong xây dựng và hoàn thiện bộ máynhà nước Với vai trò quan trọng ấy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải nâng caoviệc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức đặc biệt là công chức cấp
xã nhằm trang bị cho đội ngũ này những kiến thức cơ bản để phục vụ chocông việc chuyên môn của mình góp phần xây dựng bộ máy hành chính nhànước ở địa phương ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
Trang 24quốc tế, yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước cũng như đáp ứngyêu cầu cơ bản của người dân ngày càng tốt hơn
Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là để phục vụ cho chính quyền,nhân dân địa phương đáp ứng yêu cầu ngày càng đổi mới về kinh tế xã hội, về
cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước nói chung và ở địa phương nóiriêng, đồng thời nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở Trên cơ sởnhững kiến thức chuyên môn, những kỹ năng mới đã được tiếp thu thông quahoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức xã sẽ áp dụng vào công việc thực tế
mà mình đảm nhận để xem xét, trình lãnh đạo giải quyết những nhu cầu, yêucầu chính đáng, hợp pháp của nhân dân địa phương theo đúng chính sách,pháp luật do nhà nước ban hành Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức - công chức cấp xã là vấn đề cần thiết trong giai đoạn hiện nay Nhưng
để việc đào tạo, bồi dưỡng đó đạt hiệu quả cao, các nhà quản lý cần phải có
kế hoạch và phải dựa trên cơ sở pháp lý cụ thể
Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh làngười luôn quan tâm đến công tác cán bộ, Người khẳng định: “ Muôn việcthành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”[3-269] Nếu có cán bộtốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiệntiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi, không có đội ngũ cán
bộ tốt thì dù có đường lối chính sách đúng thì cũng khó biến thành sự thật.Muốn biến đường lối thành hiện thực, cần phải có con người sử dụng đườnglối, đó là đội ngũ cán bộ Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “ Cán bộ là người đemchính sách của Đảng của Chính phủ đến giải thích cho dân chúng hiểu rõ, đểđặt chính sách cho đúng” [3-273] Như vậy cán bộ là cầu nối giữa Chính phủvới quần chúng nhân dân, để làm được điều này đòi hỏi cán bộ phải có trình
độ và năng lực nhất định Nếu không có trình độ và năng lực, người cán bộkhông thể quán triệt hết tinh thần, nội dung chính sách mà thậm chí còn hiểu
Trang 25sai làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm thiệt hại đến Nhà nước và nhândân Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ khi có chính sách đúng, thì sự thànhcông hay thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, do nơi lựachọn cán bộ, do nơi kiểm tra Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấycũng vô ích” [3-273].
Hồ Chí Minh đề ra yêu cầu nghiêm ngặt đối với cán bộ là phải thườngxuyên nâng cao trình độ, nếu không thì khó có thể hoàn thành nhiệm vụ.Người cho rằng : “Cán bộ là người đầy tớ trung thành của nhân dân Lòngtrung thành vô hạn với cách mạng, có bản lĩnh vững vàng trước mọi khókhăn; óc sáng suốt, tháo vát, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, chấp hành nghiêmchỉnh luật pháp, các chỉ thị, nghị quyết, biết tiết kiệm không tham ô, lãng phí
có quan hệ chặt chẽ với quần chúng, có năng lực hiểu biết về con người, quy
tụ đoàn kết được tập thể, có năng lực giải quyết những vấn đề tổ chức thựctiễn, có tri thức rộng nhất và sâu nhất về thực tiễn, có nhiều kinh nghiệm côngtác trong lĩnh vực chuyên môn của mình, đó là tiêu chuẩn cơ bản nhất củangười cán bộ, công chức trong thời đại ngày nay Tuy nhiên, những yếu tố đókhông phải tự nhiên mà có, mà phải trải qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng, tựrèn luyện qua trường học thực tiễn và chỉ qua con đường đó người ta mới cóthể trở thành những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, chủ chốt của Đảng và nhànước”[4; 236-237]
Trong công tác cán bộ, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác huấn luyện,đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Người xem: “ Huấn luyện cán bộ là công việc gốccủa Đảng” [3-273].Người cho rằng: “ Nuôi dạy cán bộ như người làm vườnvun trồng những cây cối quý báu Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗimột người có ích cho công việc chung của chúng ta”[3-269] Chủ tịch Hồ ChíMinh rất coi trọng chương trình, nội dung huấn luyện, người phê bình gay gắtnhững chương trình nội dung huấn luyện cho cán bộ ít thiết thực, học mà
Trang 26không dùng được.Người luôn đề cao việc học gắn liền với thực hành, nếu chỉhọc lý thuyết mà không vận dụng được vào điều kiện thực tế ở địa phương thì
sẽ gây lãng phí kinh phí và thời gian của nhà nước cũng như của bản thân
Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức, Đảng, nhà nước ta cũng đã quan tâm xây dựng chương trình, kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong từng giai đoạn nhất định cho phùhợp với tình hình thực tiễn Ngay từ khi mới thành lập nước, Đảng và Nhànước đã chỉ rõ sự cần thiết phải đào tạo, xây dựng một đội ngũ cán bộ, côngchức thực sự có năng lực để đáp ứng yêu cầu công việc trong xã hội mới
Trong công cuộc đổi mới, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chứccàng trở nên cấp bách, và trở thành một nhiệm vụ trọng tâm trong mục tiêucải cách hành chính Chiến lược cán bộ thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước được nêu trong nghị quyết Trung ương khóa VIII “ Học tập làquyền lợi và nghĩa vụ của mỗi cán bộ, công chức; mỗi cán bộ, công chức phải
có kế hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyênmôn đạo đức cách mạng và năng lực hoạt động thực tiễn” [33]
Nghị quyết hội nghị lần 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IXngày 18 tháng 3 năm 2002 về “ Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thốngchính trị ở cơ sở xã phường, thị trấn” đã xác định: “ Tích cực đào tạo, bố trícán bộ trẻ và từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở” [13-16],Nghị quyết cũng thể hiện việc đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả củachính quyền cấp cơ sở dựa trên các nguyên tắc và nội dung: xác định rõ chứcnăng, nhiệm vụ của chính quyền cơ sở; đổi mới hoạt động của hội đồng nhândân; nâng cao hiệu lực của cơ quan hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ,
cơ sở gồm: cán bộ chuyên trách, cán bộ không chuyên trách và công chứcchuyên môn Như vậy, ngay từ đại hội Đảng lần IX Đảng ta cũng đã thể hiện
Trang 27sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở
cơ sở và đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng đội ngũ công chức ở địaphương sao cho vững mạnh về chuyên môn, vững vàng về bản lĩnh chính trị
để có thể hoàn thành được sứ mệnh lịch sử mà nhà nước giao phó
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc XI, Đảng đã đề cao việc phát triển, đàotạo nguồn nhân lực mạnh mẽ có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt phục vụcho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ đổi mới, cụ thể nhưsau: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn;đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhucầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối quan hệ liênkết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo Xây dựng và thực hiệncác chương, đề án đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn,đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân….Quan tâm hơn tới phát triểngiáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn…” [35; 216-217] “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân
cả về số lượng và chất lượng…” [35 – 240]. “Xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới…Nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạođức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước” [35-252]
Trên cơ sở Nghị quyết, các văn kiện của Đảng, các tổ chức, cơ quan từTrung ương tới địa phương đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến cán bộ,công chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và cộng chức cấp
xã nói riêng Cụ thể như sau:
Trang 28- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 số 17-NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm
2002 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đổi mới và nâng caochất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn
- Quyết định số 04/QĐ-BNV ngày 06 tháng 01 năm 2004 của Bộ Nội
vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xãphường, thị trấn
- Luật cán bộ, công chức được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11năm 2008 quy định về cán bộ, công chức nói chung và cán bộ công chức cấp;trong đó còn có những điều khoản quy định về công tác đào tạo bồi dưỡngcán bộ, công chức
- Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của chínhphủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, côngchức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ởcấp xã
- Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 Thủ tướngchính phủ phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm2020
- Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ
về đào tạo, bồi dưỡng công chức
- Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Tỉnh ủy BếnTre về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2006 -
2010 và định hướng 2015
- Nghị quyết số 22-NQ-HĐND ngày 08 tháng 12 năm 2009 của Hộiđồng nhân dân tỉnh Bến Tre về đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chứctrong hệ thống chính trị tỉnh Bến Tre giai đoạn từ năm 2010 đến 2015
1.4 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC-CÔNG CHỨC CẤP XÃ.
Trang 291.4.1 Kinh nghiệm nhà nước Việt Nam trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức qua các thời kỳ.
Đất nước Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước,qua các triều đại khác nhau, nhà nước cũng đã rất quan tâm đến việc đào tạo,bồi dưỡng nhân tài Trong chiếu cầu hiền của vua Lê năm 1942 đã ghi: “ Đấtnước thịnh vượng tất ở việc cử hiền, người làm vua thiên hạ phải lo công việc
đó trước tiên” [10-263], sau khi đã tuyển chọn được những hiền tài cho đấtnước, nhà vua bao giờ cũng có kế hoạch tôn vinh những người có đức, có tài
có công lớn với quê hương đất nước, nhà vua đích thân trọng thưởng chongười có công lớn Về sau, việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài được thực hiệnmột cách chính quy và khoa học hơn, đó là việc đào tạo nhân tài qua cáctrường lớp từ thấp đến cao và chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng nho giáo,thông qua thi tuyển để tuyển chọn nhân tài Sau khi đã tuyển chọn được nhântài, các triều đại phong kiến đều có quy định về các chức sắc, vị trí trong xãhội phù hợp với học vấn và tài năng của từng người Trong quá trình sử dụngnhững người hiền tài, các triều đại phong kiến nước ta thường xuyên tổ chứccác cuộc khảo hạch để bồi dưỡng kiến thức và có chế độ đãi ngộ phù hợp; cóchính sách ban phát bổng lộc tùy theo phẩm cấp và công trạng, sử dụng chế
độ thưởng phạt nghiêm minh để phát huy tài năng và ngăn chặn những việclàm sai trái
Trong tác phẩm “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng độingũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”của tác giả PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm có thểhiện kinh nghiệm của nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng, đào tạo, bồidưỡng đội ngũ cán bộ, công chức qua các thời kỳ như sau:
Trang 30- Thời Lý - Trần (Thế kỷ XI đến thế kỷ XV) đã sử dụng biện phápnhiệm tử và thủ sĩ trong việc đào tạo và sử dụng nhân tài Nhiệm tử là việcnhà vua dựa vào con cháu quý tộc mà cất nhắc, sử dụng Thủ sĩ là lối tuyểndụng người qua khoa cử, qua đó chọn những nhân tài cho đất nước Thời kỳnày nhà nước đã có kinh nghiệm trong việc phát huy năng lực sở trường cánhân trong các quan chức nhà nước, đề bạt sắp xếp đúng chỗ hợp lý, trên cả
ba cấp độ: nhà nước, địa phương và vùng thiểu số Thời Lý - Trần cũng đã cóbiện pháp thường xuyên kiểm tra nhân cách, năng lực quan lại Kỳ hạn khảosát chín năm một lần
- Thời nhà Nguyễn (1802-1945), việc tuyển dụng quan lại chủ yếuthông qua hình thức khoa cử (đào tạo và thi cử) Vào năm 1803, Quốc TửGiám được mở ở Huế để phục vụ cho việc đào tạo quan lại cho nhà nước, vớinguồn đào tạo rộng mở không chỉ dành cho con em của hoàng tộc, đại thần
mà còn bao gồm đông đảo con em của thứ dân Qua khoa cử, nhà nước căn cứvào học vị để bổ nhiệm quan lại: cử nhân thì làm tri huyện, phó bảng hoặctiến sĩ thì bổ nhiệm làm tri phủ Nhà Nguyễn cũng đề cao việc thanh tra, giámsát việc thực thi công vụ của quan lại các tỉnh, các địa phương, bên cạnh đó,
để xây dựng nhà nước vững mạnh, quan lại làm việc công bằng, vô tư, ngoàichế độ lương bổng, nhà Nguyễn còn có chế độ phụ cấp dưỡng liêm, triềuđình hy vọng quan lại vì lợi ích vật chất mà phải cân nhắc hơn khi làm việcxấu, nhũng nhiễu nhân dân
- Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền:
+ Giai đoạn 1930-1945: đây là thời kỳ Việt Nam bị thực dân pháp xâmlược Đặc điểm cơ bản của việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ này làphải tạo ra một lớp cán bộ mới, khác hẳn về chất so với các quan chức trongchế độ phong kiến trước đây Trong giai doạn này Đảng đã chú trọng rèn
Trang 31luyện nâng cao trình độ cho cán bộ có thể thích ứng với tình hình trong nhữngbước chuyển của cách mạng và thi hành các chính sách mới của Đảng.
+ Giai đoạn 1945-1975: đây là giai đoạn nhân dân ta vừa kháng chiếnvừa kiến quốc Trong giai đoạn này Đảng ta đã quan tâm đào tạo cán bộ toàndiện, hệ thống, thu hút các nhân sĩ trí thức, đáp ứng yêu cầu cán bộ lãnh đạotrong chiến tranh giải phóng Bên cạnh việc đào tạo, Đảng còn chú ý đến vấn
đề sử dụng đúng ngành nghề và chuyên môn của cán bộ Việc sử dụng lâu dàinhững cán bộ có nghiệp vụ, có kinh nghiệm ở các lĩnh vực kinh tế, quân sự,ngoại giao, đối ngoại, văn hóa văn nghệ …là một thành công rất lớn của Đảngtrong thời kỳ này
- Giai đoạn 1975 đến nay:
+ Thời kỳ 1975-1986: Đây là thời kỳ cả nước bắt tay vào xây dựng chủnghĩa xã hội theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp, tình hình kinh tế khókhăn, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng tầm trọng Trong giai đoạnnày nhiều nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ phải bồi dưỡng và nâng cao nhanhchóng trình độ và năng lực công tác của các loại cán bộ, trước hết là cán bộlãnh đạo, cán bộ quản lý Tuy nhiên, Đảng có sai lầm là không đưa đi đào tạo,bồi dưỡng những cán bộ ưu tú một cách có kế hoạch, bài bản dẫn đến tìnhtrạng xem trọng bằng cấp mà không chú ý đến thực chất năng lực của ngườicán bộ
+ Thời kỳ 1986 đến nay: Thời kỳ mới cho sự phát triển của đất nước,đây là thời kỳ đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở rộng giao lưuquốc tế, thực hiện dân chủ xã hội hóa Do đó một trong những nội dung quantrọng trong công tác cán bộ trong thời kỳ này là phải xây dựng quy hoạch cán
bộ và chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Trong công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ cần phải kết hợp với yêu cầu dự kiến bố trí công tác sao cho khi nhận
Trang 32nhiệm vụ mới, người cán bộ có thể phát huy được tác dụng ngay, tránh tìnhtrạng đề bạt rồi mới đưa đi đào tạo.
Như vậy, ngay từ thời kỳ phong kiến đến ngày nay bất kỳ giai đoạnnào, nhà nước cũng đã rất quan tâm đến việc xây dựng cũng như đào tạo nhântài, quan lại cho đất nước Một người khi được tuyển dụng phải qua một kỳthi sát hạch, và trong quá trình làm việc, họ thường xuyên được kiểm tra hoặcđào tạo lại để nâng cao năng lực và có thể sẽ được bổ nhiệm một cương vị caohơn Trong thời đại ngày xưa việc, đào tạo, bồi dưỡng nhân tài còn hạn chế,nhưng đây cũng là những bài học kinh nghiệm cho nhà nước ta trong việc đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - những người góp phần xây dựng thànhcông và bảo vệ vững chắc nhà nước Việt Nam trong mối quan hệ với nhândân và thế giới bên ngoài
1.4.2 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của một
số nước trên thế giới.
Trong thời đại ngày nay, các nước trên thế giới nhận thức được rằngxây dựng được đội ngũ cán bộ công chức vững mạnh là điều kiện tiên quyếtđảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước Đào tạo, bồi dưỡng, sửdụng đúng cán bộ, công chức không chỉ cần thiết cho sự phát triển kinh tế, xãhội mà còn mang ý nghĩa thực tiễn là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của
bộ máy hành chính nhà nước Chính vì vậy, ở các nước phương tây đã xemviệc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một một việc làm bắt buộc phải
có của chiến lược cán bộ, công chức Trong tác phẩm “Luận cứ khoa học choviệc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả PGS.TS Nguyễn Phú Trọng vàPGS.TS Trần Xuân Sầm có thể hiện kinh nghiệm của các một số nước trên
Trang 33thế giới trong việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chứcnhư sau:
- Mỹ: Nước Mỹ rất quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng phát triểnnhân tài cho đất nước Trước hết, nước Mỹ quan tâm đến việc tuyển chọn sinhviên vào các trường đại học có uy tín với chế độ thi tuyển chặt chẽ trên cơ sở
đó lựa chọn được những sinh viên tài năng và đây cũng chính là cơ sở đào tạonguồn nhân lực có trình độ cao và nhân tài cho đất nước Trong quá trình sửdụng lao động, Mỹ áp dụng chế độ thi tuyển nghiêm ngặt, ký hợp đồng,thường xuyên xem xét, đánh giá kết quả nghiên cứu, cống hiến của các nhàkhoa học và thực hiện chế độ chi trả theo kết quả lao động, theo sự cống hiếngiá trị tri thức được ứng dụng Với cách tuyển chọn và chính sách đãi ngộ đó,nước Mỹ đã tạo ra những động lực để những người tài năng luôn quan tâmđến việc tích lũy tri thức, tích cực và chủ động làm việc đạt kết quả cao
- Nhật Bản: Trong những năm gần đây, Nhật Bản tiến hành công tácđào tạo quan chức nhà nước theo một quy trình chặt chẽ; hàng năm Viện nhân
sự chọn 1000 sinh viên đạt loại một từ 5-6 vạn sinh viên năm thứ 4 để đào tạocho các bộ ngành Số sinh viên này sau khi tốt nghiệp được tập sự từ 1 đến 3năm, nếu phấn đấu xuất sắc được đi học ở nước ngoài hai - ba năm, sau đó vềnước làm nhóm trưởng hai năm, những người xuất sắc được đề bạt làm giámđốc một cơ quan nhỏ khoảng một năm với trách nhiệm độc lập, những ngườixuất sắc trong nhóm này được đề bạt làm phó trưởng phòng trong thời gian 10năm, trong thời gian này họ sẽ tham gia vào quá trình lập các chính sách, hếtthời gian này những người xuất sắc sẽ được đề bạt làm phó trưởng ty, rồi làmphó vụ trưởng, vụ trưởng, trong các vụ trưởng chọn người xuất sắc nhất làmthứ trưởng Sau khi được tuyển chọn vào các cơ quan, chức vụ nhất định, cácquan chức này tiếp tục được đào tạo với hai hình thức: hình thức đào tạo quakinh nghiệm làm việc tại nhiều cơ sở khác nhau và hình thức đào tạo qua các
Trang 34lớp tập huấn, bồi dưỡng ở nhiều cấp khác nhau Ở mỗi bộ trong bộ máy nhànước đều xây dựng chương trình huấn luyện, bồi dưỡng định kỳ hàng nămnhằm mục đích cập nhật hóa kiến thức cho các quan chức của bộ, đặc biệt làcác quan chức trẻ Ngoài ra ở cấp trưởng phòng, hàng năm có lớp bồi dưỡng
do Cục Tổng vụ hoặc Viện nhân sự tổ chức với mục đích làm cho cán bộ lãnhđạo nắm bắt những vấn đề mới trong quản lý hành chính, phân tích nhữngkhuynh hướng mới trong kinh tế, chính trị của đất nước và thế giới để vậndụng vào việc định ra các chính sách mới trong tương lai Như vậy, trong mộtthời gian dài từ khi được phát hiện là sinh viên xuất sắc cho đến khi được đềbạt với chức vụ cao làm việc trong bộ máy nhà nước, một quan chức nhànước phải thông qua rất nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng tại trường đại họctrong nước, ngoài nước, thông qua thực tiễn công việc trên cơ sở đó, kiếnthức của các quan chức Nhật Bản ngày càng nhiều, sâu sắc và trải rộng trênnhiều lĩnh vực khác nhau
- Trung Quốc: Trung Quốc đề cao việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chocông cuộc hiện đại hóa đất nước Trung Quốc cho rằng sự nghiệp hưng suymấu chốt là ở con người Mọi việc thành công hay thất bại đều do con ngườithực hiện, chính vì vây, nhà nước cần phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡngcon người, những người là cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy nhànước, để có đủ tri thức thực hiện được các chức năng nhiệm vụ của nhà nướctrong một thời kỳ nhất định Trung Quốc chủ trương tiến hành công tác đàotạo, bồi dưỡng trên cơ sở có quy hoạch và quy trình nghiêm ngặt Tháng 5năm 1996, Đảng cộng sản Trung Quốc đã có quy hoạch đào tạo, bồi dưỡngcán bộ cho các cơ quan trong thời gian từ 1996 đến năm 2000, trong đó yêucầu đào tạo phải kết hợp thật tốt lý luận với thực tiễn, phải tiếp cận lý luậnmới vào thực tiễn mới đang vận động Thời gian đào tạo, bồi dưỡng thường làmột năm, nều ngắn hạn thì 3 hoặc 4 tháng Công tác bồi dưỡng cán bộ ở
Trang 35Trung Quốc rất linh hoạt: thiếu gì, bồi dưỡng nấy, bồi dưỡng cả tư cách nhậmchức cho cán bộ Nếu cán bộ không được bồi dưỡng đủ thì không được đềbạt Đặc biệt Trung Quốc chú trọng rèn luyện năng lực thực hành của cán bộtrong thực tiễn, coi việc rèn luyện trong thực tiễn là một trong ba tố chất chủyếu tạo nên phẩm chất cán bộ Ba tố chất đó là: trình độ lý luận chính trị,năng lực hoạt động thực tiễn và đức tính tự trọng, tự lập, tự nghiêm Bên cạnh
đó, việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ cũng phải hướng vào việc rèn luyện phẩmchất đạo đức, nhằm hình thành ở cán bộ một tố chất đạo đức cao, xứng đáng
là tấm gương cho nhân dân noi theo
- Singapore: Singapore là một quốc đảo nhỏ nhưng có nền kinh tế xãhội rất phát triển, được xếp vào loại nước phát triển và được đánh giá khá caotrên trường quốc tế Một trong những nguyên nhân tạo nên thành công củaSingapore là do nhà nước rất chú trọng việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài,công chức nhà nước Việc tuyển chọn và đào tạo nhân tài ở Singapore đượcxem là quốc sách để xây dựng và phát triển đất nước Chính phủ Singaporechú trọng đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo nhân tài ngay từ cấp học phổ thông.Đối với những học sinh giỏi ở các kỳ thi đều được nhà nước cấp học bổng đi
du học nước ngoài theo cơ cấu ngành nghề của nhà nước, sau khi kết thúckhóa học sẽ được nhà nước bố trí công việc phù hợp với ngành nghề đã đàotạo và được trả lương tương xứng với trình độ Đây chính là động lực thúcđẩy cán bộ, công chức nhà nước Singarpor luôn cố gắng trong việc học tậpnâng cao trình độ để phục vụ cho đất nước đồng thời được hưởng mức lươngthỏa đáng có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của gia đình và bảnthân
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức các nước trên thế giới, chúng ta có thể thấy rằng ở tất cả cácquốc gia, cán bộ, công chức đều được đào tạo bồi dưỡng theo yêu cầu của
Trang 36từng loại công việc mà nhà nước cần Bên cạnh đó việc đào tạo bồi dưỡngđược thực hiện theo từng lĩnh vực, chuyên ngành cụ thể chứ không đào tạomang tính chất cào bằng và đào tạo, bồi dưỡng công chức của các nước trênthế giới bao giờ cũng được thực hiện trên cơ sở kế hoạch, quy hoạch cụ thể.
Có thể nói rằng kinh nghiệm của một số nước vừa nêu trên là những bài họcquí giá đối với Việt Nam trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đặcbiệt là công chức cấp xã trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa - hiện đạihóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Con người là vốn quý của xã hội, là mục tiêu của sự phát triển kinh
tế-xã hội, vì mọi thành quả của tế-xã hội đều do con người với khả năng lao độngsáng tạo làm ra Công chức cấp xã cũng là con người trong xã hội, con ngườimang trọng trách thực thi công vụ phục vụ nhân dân trong một phạm vi địabàn nhất định Đây chính là nguồn nhân lực quyết định sự thành công hay thấtbại của công cuộc xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay
Phát triển nguồn nhân lực là sự phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnhvực: đạo đức, năng lực, kỹ năng công tác…Vì thế, nguồn nhân lực này cầnphải được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên để có thể tạo ra đội ngũ côngchức cấp xã có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu cải cách hành chính của nhà nước
Để có thể nêu lên thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã, trong phần cơ sở lý luận của luận văn đãthể hiện một số nội dung cơ bản như sau:
- Công chức xã là những người được tuyển dụng và giao giữ một chứcdanh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân xã trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước, từ đó làm rõ đặc điểm vai trò công chức
xã trong bộ máy hành chính nhà nước
- Khái niệm, đặc điểm về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cũngnhư hệ thống các văn bản pháp luật làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức xã ở địa phương
- Việc tham khảo kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứccủa Việt Nam qua các thời kỳ cũng như kinh nghiệm của các nước trên thếgiới có thể làm thay đổi nhận thức của các nhà quản lý từ đó có thể thamkhảo, vận dụng vào thực tiễn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ côngchức xã sao cho hiệu quả hơn
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở BẾN TRE 2.1 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở BẾN TRE
Bến Tre là một trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu long, có diện tích tựnhiên là 2.315 km2, dân số 1.358.314 người, mật độ dân số 576 người/km2
gồm 8 huyện, 1 thành phố, 164 xã, phường, thị trấn Tỉnh Bến Tre được hìnhthành bởi cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4 nhánhsông Cửu long bồi đắp qua nhiều thế kỷ Điểm cực bắc của Bến Tre nằm trên
vĩ độ 9048 đông, điểm cực tây nằm trên kinh độ 105057 đông
Địa hình Bến Tre bằng phẳng, rải rác những giồng cát xen kẻ với ruộngvườn, không có rừng cây lớn, chỉ có một số rừng chồi và những dãi rừng ngậpmặn ở ven biển và các cửa sông Nhìn từ trên cao xuống, Bến Tre có hình rẻquạt, đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn như hình quạt nanxòe rộng ở phía đông Phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía nam giáp Trà Vinh,phía tây giáp Vĩnh Long, phía đông giáp biển đông, với chiều dài bờ biển là
65 km Những con sông lớn nối từ biển đông qua các cửa chính ngược vềthượng nguồn đến tận Campuchia, cùng hệ thống kênh rạch chằng chịtkhoảng 6.000 km đan vào nhau chở nặng phù sa chảy khắp ba dãi cù lao làmột lợi thế của Bến Tre trong phát triển giao thông thủy, hệ thống thủy lợi,phát tiển kinh tế biển, kinh tế vườn, trao đổi hàng hóa với các tỉnh lân cận TừBến Tre tàu bè có thể đến thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền tây.Ngược lại, tàu bè từ thành phố Hồ Chí Minh về các tỉnh miền tây đều phảiqua Bến Tre
Trang 39Ngược lại với hệ thống giao thông đường thủy, giao thông đường bộ ởBến Tre có nhiều bất lợi hơn Bến Tre có nhiều cầu bắc qua các con sông,kênh rạch để nối liền giao thông với các địa phương trong tỉnh và các tỉnhkhác: Thành phố Bến Tre nối liền tỉnh Tiền Giang và thành phố Hồ Chí Minhqua cầu rạch Miễu Quốc lộ 60 từ cầu Rạch Miễu qua thành phố Bến Tre, quasông Hàm Luông, thị trấn Mỏ Cày, qua thị trấn Chợ Lách đến phà Đình Khaosang Vĩnh Long Tỉnh lộ 888 nối thị trấn Mỏ Cày với thị trấn Thạnh Phú.Tỉnh lộ 885 nối thành phố Bến Tre với thị trấn Giồng Trôm và Thị trấn BaTri Tỉnh lộ 884 từ ngã tư Tân Thành đến bến phà Tân Phú Tỉnh lộ 882 nốiquốc lộ 60 với quốc lộ 57 Tỉnh lộ 883 nối quốc lộ 60 qua thị trấn Bình Đạiđến xã Thới Thuận Tỉnh lộ 887 từ cầu Bến Tre đến ngã 3 Sơn Đốc.
Với địa hình như thế, Bến Tre thuận lợi trong giao thông đường thủynhưng về giao thông đường bộ thì không thuận lợi, đây chính là khó khăn củaBến Tre trong việc phát triển kinh tế xã hội, kêu gọi đầu tư cũng như đào tạothu hút nhân tài cho địa phương
Trong tình hình hiện nay, Bến Tre đã đặt ra yêu cầu phải đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức đặc biệt là công chức cấp xã nhằm đáp ứng yêu cầucủa thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo hướng bền vững đápứng tình hình thực tế ở địa phương Tuy nhiên với những đặc điểm về địa lý,
tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh đã phần nào ảnh hưởng đến công tác đào tạo,bồi dưỡng công chức cấp xã phục vụ cho nhu cầu thiết thực của chính quyềnđịa phương
2.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở BẾN TRE.
Từ khi Luật cán bộ, công chức ra đời năm 2008 và có hiệu lực thi hànhvào năm 2010, đây chính là cơ sở pháp lý vững chắc cho công chức cấp xã
Trang 40hoạt động, thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà nước, tạo điều kiện cho cácđịa phương xây dựng, củng cố việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức xãtheo tiêu chuẩn chức danh đã được quy định
Thực hiện quy định của pháp luật về số lượng các chức danh, chế độchính sách đối với công chức ở xã, phường thị trấn, Ủy ban nhân dân tỉnh BếnTre ban hành quyết định số 02/2011/QĐ-UBND về số lượng công chức cụ thể
ở địa phương như sau:
- Đối với xã, phường thị trấn loại 1, công chức xã gồm các chức danhvới số lượng như sau:
+ Trưởng Công an;
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
+ Văn Thống kê: bố trí 02 công chức, trong đó: 01 Văn Thống kê phụ trách chung, trực tiếp phụ trách văn phòng, thống kê, nội vụ; và
phòng-01 Văn phòng-Thống kê phụ trách kinh tế - kế hoạch;
+ Địa chính-xây dựng-đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn vàmột số xã đang trong quá trình đô thị hoá) hoặc Địa chính-nông nghiệp-xâydựng và môi trường (đối với xã) được bố trí 02 Công chức (theo tình hình cụthể về công chức ở cơ sở để bố trí cho phù hợp)
+ Tài chính-kế toán;
+ Tư pháp-hộ tịch bố trí 02 công chức, trong đó: 01 Tư pháp-hộ tịch phụtrách tư pháp chung và 01 Tư pháp-hộ tịch phụ trách hộ tịch kiêm bộ phậnmột cửa
+ Văn hóa-Xã hội bố trí 02 công chức trong đó: 01 Văn hóa-xã hội phụtrách Văn hoá-Thông tin, Thể dục-Thể thao, Y tế, Giáo dục; và 01Văn hóa-xãhội phụ trách Lao động-Thương binh và Xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội,giảm nghèo