Với trách nhiệm nhà trường, không còn con đường nào khác là nhanh chóng đổi mới phương pháp và nội dung giảng dạy để đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới đó là: đối với giảng viên cần chuyể
Trang 1NGHIÊN CỨU CẢI TIẾN PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG GIẢNG DẠY
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THEO HỆ TÍN CHỈ CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG
XÃ HỘI (CSII) TPHCM
I- Mục đích nghiên cứu:
Đổi mới phương pháp và nội dung giảng dạy là một đòi hỏi của thực tế khách quan Thực
tế được kiểm chứng trong hàng chục năm qua phương pháp đào tạo theo học phần niên chế gắn với phương pháp giảng dạy truyền thống đã bộc lộ nhiều nhược điểm cần sớm khắc phục, với cách dạy theo niên chế người thầy cố gắng truyền lại tất cả những gì mình biết cho sinh viên, còn người học thì cố gắng nhớ, chép và học những gì thầy truyền đạt Về phía mình, thầy với kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, khả năng sư phạm, truyền đạt, nghiên cứu và hợp tác với các đồng nghiệp để thực hiện quy trình thầy đọc giảng - trò chép Đổi mới dạy học ở cấp đại học là yêu cầu cấp bách, nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Để nâng cao hiệu quả việc giảng dạy làm cơ sở cho việc nâng cao lợi ích của sinh viên khi tham gia vào thị trường lao động Với trách nhiệm nhà trường, không còn con đường nào khác là nhanh chóng đổi mới phương pháp và nội dung giảng dạy
để đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới đó là: đối với giảng viên cần chuyển từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang phương pháp giảng dạy hiện đại và chuyển dần từ cách học bị động sang cách học chủ động đối với sinh viên, song song đối với hệ thống đào tạo phải chuyển từ hình thức đào tạo theo hệ niên chế sang đào tạo hệ tín chỉ
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là phương thức đào tạo tiên tiến đã được các trường đại học danh tiếng trên thế giới áp dụng gần cả trăm năm nay nhờ các ưu điểm vượt trội như: hiệu quả tổng thể cao, đáp ứng đa dạng nhu cầu đa dạng của sinh viên thể hiện nổi bật với tính cách áp dụng linh hoạt, tăng cường tính chủ động trong học tập của sinh viên
Từ một trường vốn tập trung đào tạo chuyên ngành Lao động Tiền lương hệ trung cấp, một chuyên ngành hẹp phục vụ nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho ngành LĐTBXH của những năm đầu mới giải phóng, trải qua quá trình 40 năm, nâng cấp trở thành một trường đại học, trường ĐHLĐXH đã dần lớn mạnh, không ngừng phát triển từ đội ngũ giảng viên đến quy mô đào
Trang 2tạo, trở thành một trường đại học đa ngành có uy tín ở phía Nam Mục tiêu đào tạo hiện nay của nhà trường trong thời kỳ mới là đào tạo ra những chuyên viên, nhà quản trị thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, tài chính nói chung có đầy đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của thị trường
Theo QĐ số 2003/QĐ-ĐHLĐXH ngày 8/11/2013 về việc ban hành chương trình đào tạo
ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của trường, qua gần 3 niên học với một số kết quả tích cực trong phương thức đào tạo mới được ghi nhận Toàn trường có tổng số 31 lớp với 2741 sinh viên được đào tạo tín chỉ trong đó ĐH có 27 lớp, CĐ có 4 lớp riêng khoa QLLĐ có tổng
số 10 lớp gồm 9 lớp ĐH và 1 lớp CĐ Tuy nhiên nhìn lại bao quát những những chuyển biến kết quả đang còn rất hạn chế, nhất là sự thay đổi trong phương pháp giảng dạy Bài tham luận này là những nghiên cứu của tác giả nhằm đúc kết từ các phương pháp giảng dạy tiên tiến tại Việt Nam cũng như ở một số trường đại học trên thế giới cùng với kinh nghiệm thực tiễn bước đầu giảng dạy theo tín chỉ trong ba năm qua, qua đó gợi ý một số nội dung cải tiến để hướng đến việc nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên đại học hệ tín chỉ thuộc chuyên ngành QTNL ở trường đại học Lao động Xã hội (CSII) TPHCM
II- Giới thiệu về phương pháp giảng dạy hiện đại:
1- Thế nào là phương pháp giảng dạy hiện đại?
Phương pháp giảng dạy hiện đại được hiểu là phương pháp dạy học được tổ chức tích hợp nhiều phương tiện kỹ thuật gắn với sự tác nghiệp của giảng viên và hợp tác học tập của sinh viên Phương pháp giảng dạy hiện đại yêu cầu giảng viên phải chuẩn bị một bài giảng hoàn chỉnh, trong đó đòi hỏi trước hết người dạy phải xác định được 3 nội dung cơ bản: mục tiêu giảng dạy, nội dung bài giảng, sau hết phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện giảng dạy Cụ thể như sau:
+ Mục tiêu thực hiện bài giảng: xây dựng bài giảng cần phải hướng tới việc giúp sinh viên
hiểu, nắm rõ những nội dung gì? Có khả năng tiếp thu được kiến thức đến đâu? Khả năng sau khi học, sinh viên lĩnh hội và áp dụng được những kiến thức, kinh nghiệm đã học được vào thực tế cuộc sống đến mức nào?
+ Nội dung bài giảng: gồm có những hợp phần thông tin mà giảng viên muốn cung cấp cho
sinh viên như những khái niệm về học thuật, những phạm trù liên quan, những mô đun kiến thức chuyên sâu, những kỹ năng cần được huấn luyện và hướng dẫn thực hành,…
Trang 3+ Phương tiện giảng dạy: bao gồm giáo án và các phương tiện khác như máy móc, phòng
thí nghiệm, môi trường thực tập tại doanh nghiệp,… hoặc đơn giản chỉ gồm những học cụ như sơ đồ, hình ảnh, giấy màu,…
2- Sự khác nhau giữa phương pháp giảng dạy truyền thống trước đây và phương pháp hiện đại:
Mô hình 1.1 : Các thành phần và sự tương tác trong giảng dạy theo phương pháp
truyền thống
(Nguồn: Đinh Kiệm, Nghiên cứu đổi mới PP giảng dạy hệ đại học-Đại học ULSA2)
Với quy trình giảng dạy truyền thống, gồm 3 yếu tố chủ đạo nối kết hoạt động theo hình thức đơn giản, chủ yếu tồn tại quan hệ một chiều, quan hệ có tính chất đơn tuyến, tuần tự như sau: sau khi xác định được mục tiêu giảng dạy, giảng viên sẽ thiết lập nội dung đề cương, bài giảng của mình có tính đến sự hỗ trợ của các phương tiện giảng dạy Các yếu tố tồn tại độc lập theo từng giai đoạn chuẩn bị bài giảng và lên lớp
Mô hình 1.2 : Các thành phần và sự tương tác trong giảng dạy theo
phương pháp hiện đại
(Nguồn: Đinh Kiệm, Nghiên cứu đổi mới PP giảng dạy hệ đại học-Đại học ULSA2)
Trang 4Nét mới trong phương pháp giảng dạy hiện đại, khắc phục những tương tác hạn chế một chiều, nó thay đổi dựa trên sự xác lập lại vai trò của người dạy và người học, cụ thể là có sự thay đổi dựa trên sự tương hỗ của ba yếu tố nêu trên, nghĩa là các yếu tố mục tiêu giảng dạy, nội dung bài giảng và phương tiện truyền đạt không còn tồn tại độc lập, gắn với quan hệ đơn tuyến mà phải có sự tương tác hỗ trợ qua lại Nội dung bài giảng và phương tiện giảng dạy bổ sung, minh họa trực quan nhằm thể hiện rõ mục tiêu của bài giảng, chủ đích/ý đồ truyền tải thông tin từ phía giảng viên trong suốt quá trình thực hiện bài giảng Trong giảng dạy theo PP hiện đại yêu cầu giảng viên phải kết hợp nhuần nhuyễn cả ba yếu tố trong từng bài giảng nhằm giúp sinh viên hiểu và tiếp thu được kiến thức một cách hiệu quả nhất
Trong PP giảng dạy hiện đại cần xác định rõ hai chủ thể của quá trình là người dạy và người học Theo mô hình 1.2 cho chúng ta thấy mối quan hệ mang tính bản chất sinh động và bao quát của quá trình dạy và học, người thầy kết hợp linh hoạt, nhuần nhuyễn các yếu tố mục tiêu, nội dung bài giảng và phương tiện giảng dạy với chủ thể là sinh viên Ngược lại, trong quá trình học, sinh viên có sự tương tác trở lại đối với giảng viên của mình và giúp cho giảng viên nhận diện, điều chỉnh các mục tiêu hoặc nội dung bài giảng sao cho phù hợp với nhu cầu, khả năng thực tế của sinh viên Thông qua sự phản hồi từ phía sinh viên, giảng viên
có điều kiện chọn lọc được phương pháp giảng dạy thích hợp, phương tiện minh họa đạt hiệu quả cao và sát với thực tiễn, phù hợp với sinh viên từ đó giúp sinh viên nhanh chóng tiếp cận nắm bắt được những vấn đề mấu chốt của bài giảng
3-Mối quan hệ tương tác giữa hai chủ thể giảng viên và sinh viên trong PP giảng dạy hiện đại
Ngoài ra để quản lý tốt quá trình dạy học trong phương pháp giảng dạy hiện đại rất chú trọng đến hai yếu tố nhận diện và kiểm soát bao gồm: phương pháp truyền đạt và sự đánh giá như mô hình 1.3 dưới đây:
Mô hình 1.3: Mô hình 5 thành phần trong phương pháp giảng dạy hiện đại
Trang 5
Mục tiêu
Nội dung Phương tiện
Phương pháp Đánh giá
(Nguồn: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Giáo trình phương pháp giảng dạy hiện đại, ĐHQG Hà Nội)
Việc hình thành thêm hai yếu tố phương pháp truyền đạt và đánh giá từ phía sinh viên đã làm cho phương pháp giảng dạy hiện đại hoạt động trở nên chuẩn mực, năng động và hiệu quả hơn so với cách dạy truyền thống, giúp nâng cao vai trò tích cực của sinh viên trong mối quan hệ tương hỗ của quá trình dạy và học
4- Chu trình tương tác của giảng viên và sinh viên trong PP giảng dạy hiện đại thuộc
chuyên ngành quản trị nhân lực:
Với mục đích cuối cùng của giảng dạy theo phương pháp hiện đại là tăng hiệu quả đào tạo, giúp cho sinh viên thấu hiểu được các khái niệm khoa học xã hội trừu tượng, các quy luật kinh tế và nguyên tắc quản lý đang diễn biến một cách tích cực chủ động, từ đó có thể vận dụng được các kiến thức nền tảng cho vào việc phân tích chính sách, thấu hiểu sự vận động của các quy luật kinh tế- xã hội đang diễn ra ở môi trường chung quanh, hình thành nên những thái độ và kỹ năng tác nghiệp về lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực Trước nhiệm vụ nặng nề đó, người giảng viên cần xây dựng một phương pháp dạy học tích cực, Chuyển mục
tiêu giảng dạy từ trọng tâm trang bị tri thức sang rèn luyện năng lực vận dụng thực tiễn vào
ngành nghề cho sinh viên, Trong giảng dạy họ không chỉ có trách nhiệm truyền đạt thông tin theo cách thức thông thường theo hệ thống từ trên xuống mà còn phải hiểu rõ được khả năng sinh viên tiếp nhận được kiến thức đó trong chừng mực nào và với thái độ như thế nào Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động, giảng viên cần phải hiểu người sử dụng lao động cần gì ở sinh viên của mình, để tạo thế chủ động cho sinh viên giảng viên phải chuyển phương pháp từ dạy sinh viên học sang dạy sinh viên cách học, cách giải quyết những vấn đề trong cuộc sống Việc phối hợp cộng tác trong dạy và học của giảng viên và sinh viên được đánh giá là hoạt động hiệu quả và bền vững nhất trong giảng dạy chuyên ngành quản trị nguồn nhân lực
Trang 6Kinh nghiệm giảng dạy theo phương pháp hiện đại cho thấy việc dạy và học các môn chuyên ngành quản trị nhân lực cần chú trọng đến 2 yếu tố mà sinh viên thường tiếp cận: tiếp cận theo hướng tư duy và tiếp cận theo hướng kỹ năng Sinh viên khá giỏi thường thích tiếp cận hướng tư duy, sinh viên trung bình thích tiếp cận hướng kỹ năng Với cả hai hướng tiếp cận giảng viên nên xây dựng nhiều tình huống, để các nhóm sinh viên chọn tính huống thích hợp để tạo được sự thích thú, tìm hiểu cách thức giải quyết Tổng quát cần đi theo chu trình khép kín như sau:
Sơ đồ 1.1: Chu trình thực hiện trong giảng dạy theo phương pháp hiện đại
(Nguồn: Nguyễn thị Mỹ Lộc, Giáo trình phương pháp giảng dạy hiện đại, ĐHQG Hà Nội và
bổ sung của tác giả)
5-Một nghiên cứu đánh giá từ phía sinh viên về các phương pháp khác nhau trong giảng dạy theo phương pháp hiện đại:
Một nghiên cứu chuyên sâu, mục đích tìm hiểu đánh giá từ phía sinh viên về phương pháp
giảng dạy hiện đại với nhiều hình thức tiến hành được sử dụng bởi các giảng viên ở các khoa khác nhau của trường đại học Karachi-Pakistan với mẫu 220 sinh viên, cho thấy kết quả đánh giá của SV lần lượt đối với các phương pháp này như sau:
Bảng 1.1 Kết quả khảo sát về sự đánh giá của sinh viên về các phương pháp giảng dạy đại
học
Trang 7Phương pháp giảng dạy
Đánh giá thú vị
và hay nhất
Chú thích Phân hạng các đánh giá
Số lượng (SV)
Tỷ lệ (%)
4- Thực hiện bài tập lớn hoặc viết tiểu luận 26 12 (8)
(Nguồn: Shahida Sajjad,University of Pakistan)
Hầu hết đánh gía phương pháp thuyết trình và thảo luận nhóm được cho là hai hình thức giảng dạy hay nhất, thú vị nhất (chiếm từ 36-40%), sau đó là hình thức nghiên cứu tình huống (25%), tiếp đến là hình thức tổ chức hội nghị chuyên đề (24%), và cá nhân thuyết trình (20%), đánh giá thấp nhất rơi vào hai phương pháp động não và thực hiện bài tập lớn hoặc viết tiểu luận (từ 11-12%),…
Đào tạo theo HT tín chỉ không tổ chức theo năm học mà theo học kỳ Một năm học có thể tổ chức đào tạo từ 2 đến 3 học kỳ, mỗi chương trình đào tạo của một ngành học nhất định không tính theo năm mà tính theo sự tích lũy kiến thức của sinh viên, sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho một ngành học nào đó thì được cấp bằng tốt nghiệp đại học ra trường
Tại Việt Nam một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thỏa luận, 45-90 giờ thực tập tại cơ sở, 45-60 giới làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tin chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân Hiệu trưởng các trường quy định cụ thể số tiết, số giờ đối với từng học phần cho phù hợp với đặc điểm của trường Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ Một tiết học được tính bằng 50 phút (5)
Khối lượng kiến thức tích lũy được đánh giá theo thang điểm chữ A,B,C,D được gán tương ứng giữa chữ và điểm số như sau:
Trang 8+ Loạt đạt: gồm Giỏi A (8,5 – 10), Khá B (7,0-8,4), Trung bình C (5,5-6,9), Trung bình yếu
D (4,0-5,4)
+ Loại không đạt: Kém F (dưới 4,0)
Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm loại đạt
2- Những thuận tiện trong đào tạo tín chỉ đối với chuyên ngành Quản trị nguồn nhân lực: Theo Chu Bảo Hiệp và bổ sung của tác giả, những thuận tiện được ghi nhận gồm:
- Phương thức đào tạo theo tín chỉ lấy người học là trung tâm trong quá trình dạy và học Phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học Với hệ tín chỉ việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được xem trọng và được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình Trong đào tạo theo niên chế sinh viên bị bắt buộc học theo tất cả những gì nhà trường sắp đặt, không có sự phân biệt giữa sinh viên có năng lực, có điều kiện học tập với sinh viên có năng lực yếu, có hoản cảnh khó khăn Ngược lại trong đào tạo theo hệ tín chỉ cho phép sinh viên chủ động tổ chức học theo năng lực và điều kiện học tập của mình
- Với hệ tín chỉ sinh viên được phép kéo dài thời gian khóa học (trong một thời gian nhất định theo quy định tùy mỗi trường) Nếu chẳng may có vấn đề về sức khỏe, hoặc trở ngại
về điều kiện kinh tế buộc họ phải nghỉ học nữa chừng thì sinh viên đó vẫn được tiếp tục theo học sau đó mà không bị ảnh hưởng gì khi quay lại tiếp tục chương trình học
- Sinh viên còn có lợi thế về chủ động thời gian, lựa chọn chương trình học theo sở thích cuả mình, ngoài ra còn cho phép tổ chức bố trí việc học tùy theo năng lực của mỗi người Phần cứng bắt buộc và phần mềm do sinh viên lựa chọn
- Hệ tín chỉ giúp cho sinh viên chuyển đổi ngành mình đang học một cách khá dễ dàng mà không buộc phải học lại từ đầu Nếu biết sắp xếp những tín chỉ giống nhau giữa hai ngành một cách hợp lý, sinh viên có thể rút ngắn đáng kể để tốt nghiệp đồng thời hai chương trình học so với hệ niên chế cũ
- Trong hệ đào tạo tín chỉ khuyến khích phương pháp học tập chủ động nên sinh viên có thể phát huy tối đa năng lực tự nghiên cứu và kỹ năng làm việc theo nhóm với nhiều tình huống và đề tài khác nhau, điều này giúp sinh viên tự tin hơn khi làm việc trước đám đông
Trang 93- Những bất cập trong đào tạo theo hệ tín chỉ với chuyên ngành quản trị nguồn nhân lực:
Nhìn chung những bất cập khi áp dụng đào tạo theo hệ tín chỉ qua thực hiện bộc lộ hai nhược điểm chính trong quá trình giảng dạy chuyên ngành QTNL có thể nhận diện như sau:
- Kiến thức về chuyên ngành QTNL là một mạch liên tục nhưng thường bị chia cắt:
Theo quy định hiện nay các mô đun trong học chế tín chỉ tương đối nhỏ, quy định từ 3 hoặc 4 tín chỉ nên khi dạy giảng viên không đủ thời gian để trình bày kiến thức một cách đầy đủ, bài bản theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó có cảm nhận như việc tiếp thu kiến thức của sinh viên bị chia cắt rời rạc
- Hình thức tổ chức lớp học không ổn định: vì sinh viên có thể tự do lựa chọn môn học và chủ động sắp xếp thời gian đăng ký dự lớp, nên các lớp học theo tín chỉ không cố định được việc tổ chức lớp học như trước đây, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học niên chế nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của sinh viên gặp khó khăn
Ngoài ra nếu xem xét trên từng đối tượng dạy và học trong toàn khoa QLLĐ cùng với nhà trường có thể thấy những bất cập tồn tại đó là:
+Về phía sinh viên: việc xem xét đăng ký lựa chọn các tín chỉ phù hợp với không phải
là dễ dàng đối với sinh viên Hiện tại sinh viên rất bị động và lúng túng trong công đoạn này Sinh viên chưa chủ động và linh hoạt trong việc nắm thông tin về chương trình học tập cũng như việc sắp xếp lộ trình học tập của mình cho hợp lý theo đúng quy trình đào tạo
+ Về phía giảng viên: lực lượng giảng viên trong khoa QLLĐ hầu hết là người cũ, nhiều người được đào tạo và làm việc “quen sâu” với hình thức niên chế Cách giảng chủ yếu
là thầy giảng nên khi giao quyền chủ động gắn với vai trò trung tâm của việc dạy và học cho sinh viên trong cách dạy theo tín chỉ dường như chưa hoàn toàn thuyết phục được
họ, do đó trước mắt giảng viên thực hiện dạy theo tín chỉ còn mang tính dò dẫm, chỉ mới dừng ở hình thức mà thôi (có cải tiến từ đọc-chép sang nhìn -chép qua màn chiếu)
+ Về phía nhà trường: để đạt tính đồng bộ trong công tác đào tạo nhằm nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu nhiều hơn và chủ động ở sinh viên đòi hỏi nhà trường phải đáp
Trang 10ứng tốt nguồn giáo trình và tài liệu học tập, tham khảo một cách đầy đủ, phong phú đa dạng cho người học Ngoài ra các điều kiện vật chất phục vụ cho việc giảng dạy như Khả năng phục vụ của thư viện, bố trí phòng ốc, máy móc thiết bị dùng cho giảng dạy vẫn chưa thể đáp ứng đủ cho việc phân chia, tổ chức lớp học cho sinh viên
Tóm lại tuy hình thức đào tạo tín chỉ vẫn còn tồn tại một số bất cập như vừa nêu, nhưng những ưu thế của nó là cơ bản, thể hiện tính chất của một phương thức đào tạo tiên tiến vượt trội, việc tiếp tục thực hiện đào tạo theo phương pháp giáo dục hiện đại gắn với hệ thống đào tạo tín chỉ là một xu thế tất yếu trong hoạt động giáo dục trong thế giới ngày nay (6)
IV/ Một số gợi ý đề xuất cải tiến phương pháp dạy học theo hệ thống tín chỉ trong các môn chuyên ngành quản trị nguồn nhân lực:
Qua phân tích phương pháp giảng dạy, các hình thức đào tạo hệ tín chỉ, thực trạng việc đào tạo tại trường đại học lao đông xã hội CSII, tôi đề xuất một số nội dung cải tiến phương pháp giảng dạy chuyên ngành QTNL như sau:
1/ Đẩy mạnh, khuyến khích tính tích cực, sáng tạo, độc lập của sinh viên
Định hướng này giúp chúng ta thực hiện hiệu quả việc chuyển hóa từ quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo theo yêu cầu của việc đào tạo hệ thống tín chỉ, cụ thể:
Trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần phải chú trọng, hỗ trợ sinh viên phát huy các chức năng tâm lý, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo thông qua việc tạo điều kiện cho sinh viên được thảo luận, trình bày các quan điểm, tư duy về các vấn đề chính trị, kinh
tế và xã hội (6)
Giảng viên cần phải phối hợp các phương pháp giảng dạy khác một cách hợp lý, linh hoạt theo từng bối cảnh cụ thể.Trong đó chú ý hướng dẫn, giải thích cho sinh viên hiểu biết rõ quy trình tái tạo tri thức cũng như phương pháp giảng dạy của giảng viên Từ
đó, dịnh hướng sinh viên tự vận dụng trong quá trình học tập, nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu của giảng viên (6)
Trong giảng dạy giảng viên cần chú trọng đến các phương pháp học tập gây hứng thú cho sinh viên như: PP thuyết trình, PP thảo luận nhóm, PP nghiên cứu tình huống, PP
tổ chức hội nghị chuyên đề,…