Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu phê bình đã vận dụng phân tâm học để áp dụng nghiên cứu trong một số trường hợp cụ thể như: Nguyễn Thành với Ảnh hưởng của phân tâm học Freud trong sáng t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU ANH
“YÊU VÀ SỐNG” CỦA LÊ VÂN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI – 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU ANH
“YÊU VÀ SỐNG” CỦA LÊ VÂN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC
Ngành/Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ THỊ TRANG
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ chính xác cao nhất có thể Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng, minh bạch
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 8 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Hữu Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: VÀI NÉT VỀ TỰ TRUYỆN LÊ VÂN YÊU VÀ SỐNG VÀ PHÂN TÂM HỌC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 10
1.1 Vài nét về tự truyện Lê Vân Yêu và Sống 10
1.1.1 Khái lược về Tự Truyện 10
1.1.2 Lê Vân với Lê Vân Yêu và Sống 14
1.2 Phân tâm học trong nghiên cứu văn học 17
1.2.1 Về thuật ngữ Phân tâm học 17
1.2.2 Về Phê bình phân tâm học 20
Chương 2: NHỮNG XUNG ĐỘT VÔ THỨC TRONG LÊ VÂN YÊU VÀ SỐNG 26
2.1 Tình yêu với bản năng vô thức (Yêu) 28
2.1.1 Bản năng chết trong tình yêu của Lê Vân 28
2.1.2 Quá trình tìm kiếm bản thể và sự khẳng định chính mình trong tình yêu 39
2.2 Trách nhiệm với ý thức cộng đồng (Sống) 47
2.2.1 Ý thức và trách nhiệm với gia đình 47
2.2.2 Ý thức và trách nhiệm với xã hội 53
Chương 3: TIẾP NHẬN LÊ VÂN YÊU VÀ SỐNG TỪ GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC NGƯỜI ĐỌC 56
3.1 Sự tiếp nhận của độc giả khi tác phẩm ra đời 57
3.1.1 Các ý kiến lên án 58
3.1.2 Đồng cảm và sẻ chia 66
3.2 Phân tích kết quả khảo sát 72
3.2.1 Nhóm người lên án 72
3.2.2 Nhóm người đồng cảm chia sẻ 74
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 86
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Từ sau Đổi mới năm 1986 đất nước thực hiện công cuộc mở cửa nền kinh tế kéo theo sự thay đổi về xã hội, văn hóa, tư tưởng Nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường dẫn đến việc nảy sinh nhiều mâu thuẫn mới trong mối quan hệ xã hội, con người trở nên cô đơn hơn trong cái tôi xung đột tâm lý Từ đó, các tác giả văn học quan tâm nhiều hơn tới thể hiện những trăn trở, suy nghĩ trong việc khai thác những tâm tư, tình cảm của cá nhân mà giai đoạn văn học trước đây chưa được quan tâm thể hiện nhiều Đây cũng chính là điều kiện để thể loại tự truyện phát triển mà trong đó tác giả của chúng tái hiện lại chính những
sự kiện xảy ra trong cuộc đời mình Vậy vì sao thể loại tự truyện lại thu hút được đông đảo người viết, kể cả những tác giả không phải nhà văn chuyên nghiệp? Điều
gì đóng vai trò chính trong sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của thể loại này? Tại sao thể loại này lại tạo được sức hút với các tác giả không chuyên và đặc biệt là các tác giả nữ như vậy?
1.2 Tự truyện Việt Nam đương đại cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu và chủ yếu theo hướng tiếp cận xã hội học và thi pháp học Điều này cho thấy việc nghiên cứu tự truyện còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ, đặc biệt là những nghiên cứu về tâm lý người viết và người tiếp nhận Những công trình ứng dụng từ Phê bình phân tâm học vào nghiên cứu tự truyện vẫn là một khoảng trống Chúng tôi cho rằng, chính ở thể loại Tự truyện, những ẩn ức thầm kín của tác giả được thể hiện một cách rõ ràng với những dữ kiện có thực trong đời sống Tự truyện chính là thể loại mà Phê bình phân tâm học có thể thể hiện những ưu việt của nó trong quá trình giải mã tác phẩm, giải mã hình tượng tác giả trong tác phẩm
1.3 Năm 2006 Lê Vân Yêu và Sống ra đời đây là một trong những tác phẩm hội tụ
những đặc trưng của thể loại tự truyện Lê Vân là một nghệ sĩ múa Việt Nam, một diễn viên điện ảnh nổi tiếng, sinh ra trong một gia đình nổi tiếng Sự tỏa sáng và tài năng của gia đình Lê Vân biểu hiện bằng sự ngưỡng mộ của khán giả và xã hội
Trang 6Nhưng tác giả Lê Vân trong cuốn tự truyện Lê Vân Yêu và Sống lại tự mình “công
bố” và “phanh phui” những bí mật gia đình, những góc khuất của đời sống cá nhân, tình cảm khiến dư luận ngỡ ngàng khi chứng kiến một hình ảnh khác không hề đẹp
đẽ như trong mường tượng Nhiều độc giả thắc mắc về sự ra đời này của tác phẩm Điều gì thôi thúc Lê Vân viết, trong khi tác phẩm ra đời có thể tạo ra những làn sóng trái chiều, những dư luận không tốt, những phản ứng của xã hội và gia đình dành cho tác giả?
Đó là lí do chúng tôi lựa chọn đề tài “Yêu và Sống của Lê Vân từ góc nhìn phê
bình phân tâm học” nhằm khai thác tâm lý sáng tác của tác giả và giải mã văn bản
khá độc đáo này
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Qua quá trình quan sát và thống kê chúng tôi nhận thấy chưa có công trình
nào nghiên cứu trực tiếp về Tự truyện Lê Vân Yêu và Sống một cách bài bản và độc
lập như một đối tượng văn học Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu về tự
truyện Việt Nam nói chung trong đó có nhắc đến Lê Vân Yêu và Sống hoặc một vài bài báo viết về một số khía cạnh được khai thác trong tác phẩm như bài Lê Vân và
những quan niệm về giới nữ Việt của John C Schafer Song các công trình trên chủ
yếu tiếp cận tự truyện nói chung hay Lê Vân Yêu và Sống nói riêng từ các góc độ của xã hội học hay thi pháp học mà chưa có công trình nào nghiên cứu Lê Vân Yêu
và Sống từ góc nhìn phê bình Phân tâm học
Có thể liệt kê các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:
2.1 Những nghiên cứu liên quan đến phê bình phân tâm học
Học thuyết phân tâm học của Sigmund Freud ra đời đã ảnh hưởng nhiều đến việc nghiên cứu và phê bình văn học nghệ thuật Xu hướng nhìn tác phẩm từ lý thuyết phân tâm học được quan tâm với nhiều khuynh hướng tiếp cận khác nhau Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn này chúng tôi chỉ đề cập khái quát đến tình hình áp dụng hướng nghiên cứu phê bình Phân tâm học ở Việt Nam Việc ứng dụng phân tâm học vào nghiên cứu văn học đã được nhiều nhà phê bình quan tâm như
Trang 7Trương Tửu, Nguyễn Văn Hanh, Bùi Đăng Duy, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Văn Trung, Vũ Đình Lưu… Hiện nay, tiêu biểu là nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy với các
công trình: Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 1999), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2000), Phân tâm học và văn hóa tâm linh (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, năm 2002), Phân tâm học và tình yêu (NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003), Bút pháp của ham muốn (NXB Tri Thức, Hà Nội, 2009),…có thể xem là
những công trình vận dụng phân tâm học vào nghiên cứu văn học nghệ thuật tiêu biểu và thành công Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu phê bình đã vận dụng phân tâm học để áp dụng nghiên cứu trong một số trường hợp cụ thể như: Nguyễn Thành
với Ảnh hưởng của phân tâm học Freud trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng (Tạp chí Văn học số 4-1997), Nguyễn Hoàng Đức với bài Dục tính, chân móng hay đỉnh
tháp văn chương?, Trần Minh Thương với bài Tản mạn về những yếu tố tính dục trong văn học Việt Nam, Trần Nhật Tân trong Dư vang nghệ thuật khi phân tích thơ Huy Cận, Thanh Huy trong Chế Lan Viên và khuynh hướng siêu thực, Trần Thanh
Hà với Học thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam (2008)…Hồ Thế Hà với loạt bài Hướng tiếp cận từ phân tâm học trong truyện ngắn
Việt Nam sau năm 1975; Tình yêu trong các truyện ngắn hiện đại Việt Nam nhìn từ các phức cảm đăng trên Tạp chí sông Hương (2008) Đầu thế kỉ XXI, các nhà
nghiên cứu đã ứng dụng phê bình phân tâm học vào nghiên cứu văn học với những khuynh hướng tiếp cận tác phẩm như: phê bình phân tâm học tiểu sử, phê bình phân tâm học văn bản, phê bình phân tâm học người đọc Gần đây nhất là công trình
trong luận án của tiến sĩ Vũ Thị Trang Sáng tác của Vũ Trọng Phụng nhìn từ Phê
bình phân tâm học đã khái quát những vấn đề cơ bản của học thuyết phân tâm học
và phân tích sự hình thành, phát triển của các phương pháp phê bình phân tâm học
tiêu biểu một cách khá lôgic và hệ thống
2.2 Những nghiên cứu về tự truyện
Trên thế giới, năm 1960 giống như một dấu mốc trong việc nghiên cứu về
tự truyện Design and Truth in Autobiography (Phác thảo và Sự thật trong Tự
Trang 8truyện) của Roy Pascal đề cập đến tự truyện như là một hoạt động sáng tạo, khác
với quan niệm thể loại phi hư cấu (nonfiction) của trước đây Các công trình: Những
Điều kiện và Giới hạn của Tự truyện (Conditions et Limites de L'autobiographie)
(1956) của Georges Gusdorf, Tự thú và tự truyện (Confessions and Autobiographies) (1955) của Stephen Spender, Hiệp ước Tự thuật (Le Pacte Autobiographique) (1975) của Philippe Lejeune, Lục địa tối của văn học: Tự truyện
(The Dark Continent of Literature: Autobiography) (1965) của Stephen A Shapiro,
Bút pháp của tự truyện (The Style of Autobiography) (1971) của Jean Starobinski, Một số nguyên tắc của tự truyện (Some Principles of Autobiography) (1974) của
William Howarth đã đưa tự truyện đến một ranh giới riêng biệt, ranh giới của một thể loại tồn tại với tư cách độc lập
Ở Việt Nam, tự truyện cũng có xu hướng phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên, đi ngược lại với sự phát triển của thể loại thì những nghiên cứu – phê bình về thể loại này vẫn chưa thực sự phát triển Mặc dù vậy, do sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết và phê bình tự truyện trên thế giới, khái niệm tự truyện cùng với những đặc điểm thể loại của nó đã xuất hiện trong một số bài nghiên cứu về văn học nước
ngoài (thường được dịch là tự thuật): Lê Hồng Sâm với “Tuổi thơ” cửa Nathalie
Sarraute và sự đổi mới thể loại tự thuật, Đặng Thị Hạnh với André Gide - nhà viết văn tự thuật và Tự thuật và tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX, Trịnh Thu Hồng với Thể loại tự truyện trong sáng tác của một số nhà văn nữ Tuy vậy, những kết quả này
dường như chưa thật sự được ứng dụng vào việc nghiên cứu tự truyện Việt Nam
Cho đến những năm đầu thế kỉ XXI, giới nghiên cứu Việt Nam mới thực sự
có cái nhìn rõ ràng hơn, mong muốn ghi lại diện mạo của thể loại này trong dòng chảy văn học nước nhà Đã có những công trình nghiên cứu như: Luận văn Thạc sĩ của Phạm Ngọc Lan (2006) – Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh về
Tự truyện trong Văn học Việt Nam hiện đại; Luận án của Tiến sĩ Đỗ Hải Ninh
(2012) – Học viện Khoa học Xã hội về Tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong
văn học Việt Nam đương đại, một số bài viết khác của TS Đỗ Hải Ninh về tự
truyện như Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, đăng
Trang 9ngày 31/12/2009 trên tạp chí Sông Hương, Mối quan hệ giữa tự truyện – tiểu thuyết
và một số dạng tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại đăng ngày 27/04/2014
tại trang Phê bình văn học; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Hưng – Trường Đại
học Khoa học – Huế (2016) về Đặc điểm hồi kí Văn học Việt Nam từ 1975 đến
2010; Luận án tiến sĩ của Trần Thị Mai Phương (2016) – Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn về Tư duy nghệ thuật trong hồi kí Văn học Việt Nam từ 1986
đến nay; Luận án Tiến sĩ của Hoàng Thị Tâm (2016) – Học viện Khoa học Xã hội
về Tự truyện Việt Nam đương đại: Nghiên cứu từ xã hội học văn học Những công
trình này đã nỗ lực và cơ bản khái quát được diện mạo chung của loại hình tự truyện cũng như những đặc sắc của tự truyện văn học Việt Nam Đây là các công trình nghiên cứu tự truyện dựa trên góc độ thể loại hoặc dưới góc nhìn xã hội học
2.3 Những nghiên cứu liên quan đến Lê Vân Yêu và Sống
Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu về tự truyện Việt Nam nói chung
trong đó có nhắc đến Lê Vân Yêu và Sống hoặc một số bài báo viết về một số khía cạnh được khai thác trong tác phẩm như bài Lê Vân và những quan niệm về giới nữ
Việt của John C Schafer, bài báo Tự truyện như một thể loại văn học của Lê Tú Anh; Tiểu luận Phân tích sự giống và khác nhau về điểm nhìn bên trong và điểm
nhìn bên ngoài của ba tác phẩm: Ba Người Khác (Tô Hoài), Văn Khoa Chân Dung
Kí (Hữu Đạt) và Lê Vân Yêu và Sống (Bùi Mai Hạnh – Lê Vân) Ngoài ra còn có rất
nhiều bài báo khác nhìn nhận và đánh giá Lê Vân Yêu và Sống trên các phương diện
thể loại và phương diện xã hội học mà chúng tôi sẽ liệt kê cụ thể ở các chương sau này trong luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn cố gắng thể hiện những nội dung chủ yếu trong việc nghiên cứu Lê
Vân Yêu và Sống từ những phương pháp phê bình phân tâm học Từ đó tìm hiểu về
quá trình sáng tạo của tác giả, cách thức xây dựng hình tượng nhân vật trong tự truyện, động cơ viết tự truyện của tác giả Đồng thời, chúng tôi khảo sát những ý
Trang 10kiến phê bình, đánh giá về tự truyện Lê Vân Yêu và Sống với mong muốn tìm ra cơ
chế trong quá trình tiếp nhận của độc giả từ góc nhìn phê bình phân tâm học người đọc Qua đó góp phần vào việc làm sáng tỏ mối quan hệ chiều sâu giữa ba thành tố nhà văn, văn bản, người đọc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để triển khai việc giải mã này, cần dựa theo ba khuynh hướng phê bình phân tâm học Trước tiên là khảo sát những chi tiết, dữ kiện đời sống của Lê Vân (sử dụng phê bình phân tâm học tiểu sử), soi chiếu những điều đó vào văn bản, tìm hiểu các tầng vô thức và ý thức hàm chứa trong diễn ngôn văn bản (phê bình phân tâm học văn bản), qua đó tìm hiểu về những xu hướng tiếp nhận của người đọc, lý giải
về những sự phản ứng xã hội, lên án tác giả hoặc chia sẻ và cảm thông (phê bình phân tâm học người đọc)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi trong luận văn là tự truyện Lê Vân
Yêu và Sống Đối tượng nghiên cứu thứ hai trong luận văn là nghiên cứu khái quát
về các lý thuyết phê bình phân tâm học Tuy nhiên, do giới hạn dung lượng của một luận văn thạc sĩ nên chúng tôi chỉ lựa chọn những chi tiết tiêu biểu để đại diện dẫn chứng cho mỗi luận điểm của mình Ngoài ra, chúng tôi thực hiện khảo sát các ý
kiến xung quanh tự truyện này để làm rõ quá trình tiếp nhận Lê Vân Yêu và Sống
của độc giả Hai hướng nghiên cứu này có mối quan hệ biện chứng và soi tỏ cho nhau để chứng minh vấn đề mà luận văn chúng tôi đặt ra
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do tính phức tạp và đa dạng của các phương pháp Phê bình phân tâm học nên chúng tôi giới hạn nghiên cứu đối tượng dựa trên góc nhìn Phê bình phân tâm học với một số phương pháp nổi bật, đại diện cho từng khuynh hướng cụ thể Đồng thời các phương pháp phê bình được luận văn chú trọng cũng tương thích với đối
tượng chính là tự truyện Lê Vân Yêu và Sống
Trang 11Luận văn, tập trung dùng phương pháp phê bình Phân tâm học để nghiên cứu
tự truyện Lê Vân Yêu và Sống, trong đó ngoài việc nghiên cứu văn bản chúng tôi
cũng khảo sát các ý kiến xoay quanh tự truyện này trên báo chí, mạng xã hội…soi chiếu chúng dưới góc độ phê bình phân tâm học tiểu sử, phê bình phân tâm học văn bản và phê bình phân tâm học người đọc để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu chính của luận văn
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cho đến nay, Phê bình phân tâm học vẫn tiếp tục phát triển với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau như nghiên cứu văn hóa với tâm bệnh học tộc người (G.Devereux), phân tâm học và thiền (E.Fromm), phân tâm học và folklore (V.Dundes) đến các nghiên cứu về chủ đề (C.Mauron, G.Bachelard), nghiên cứu tác giả (M.Bonapart, J.Delay, J.Bellemin-Noel), kết hợp phân tâm học với chủ nghĩa cấu trúc, nghiên cứu vô thức văn bản (Lacan), nghiên cứu về người đọc (N.Holland),… Thậm chí, còn xuất hiện nhiều trường phái phê bình trái ngược với những nội dung khởi thủy của phân tâm học như Phê bình nữ quyền (feminist criticism), Phân tâm học hiện sinh (psychanalise existentielle)…
Chúng tôi cố gắng thể hiện trong luận văn của mình các nội dung tiêu biểu của học thuyết phân tâm và vận dụng góc nhìn bao quát nhất về Phê bình phân tâm học Theo đó, Phê bình phân tâm được chúng tôi phân chia thành ba khuynh hướng:
Phê bình phân tâm học tiểu sử, Phê bình phân tâm học văn bản và Phê bình phân tâm học người đọc Chúng tôi không lựa chọn một phương pháp Phê bình phân tâm
học nào cụ thể mà sẽ vận dụng các thao tác một cách đa dạng và linh hoạt vào quá
trình nghiên cứu tự truyện Lê Vân Yêu và Sống Dựa trên lý thuyết phân tâm học và
những lý thuyết chung về tự truyện, chúng tôi cố gắng chỉ ra những đặc sắc trong tự truyện của Lê Vân – Bùi Mai Hạnh và phân tích, quá trình tiếp nhận tác phẩm trong bối cảnh thời đại xã hội Việt Nam hiện đại
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi phối hợp nhiều phương pháp trong quá trình nghiên cứu để tạo nên hiệu quả cao nhất, trong đó chủ yếu là các phương pháp:
- Phương pháp Phê bình phân tâm học: sử dụng các thủ pháp đặc thù của Phê bình
phân tâm học để nghiên cứu tâm lý tác giả, hình tượng nghệ thuật, tâm lý tiếp nhận của độc giả
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: khảo sát các bài báo, các ý kiến đánh giá về tự
truyện Lê Vân Yêu và Sống
- Phương pháp văn hóa – lịch sử: dùng để khảo sát quá trình hình thành lý thuyết
phân tâm học và Phê bình phân tâm học (điều kiện xã hội, hoàn cảnh văn hóa, quá trình phát triển…) và nghiên cứu những đặc trưng của văn hóa, xã hội, lịch sử trong
việc đánh giá, bình phẩm về tự truyện Lê Vân Yêu và Sống
- Phương pháp xã hội học văn học: dùng để khảo sát quá trình tiếp nhận tự truyện
Lê Vân Yêu và Sống, nghiên cứu về những đặc điểm của đối tượng tiếp nhận (mối
quan hệ xã hội, địa vị, nghề nghiệp) ảnh hưởng đến việc kiến tạo nghĩa của tác phẩm, quá trình tương tác của tâm lí xã hội với đời sống văn học
Ngoài ra chúng tôi sử dụng các thao tác nghiên cứu kết hợp: thống kê, so sánh, đối chiếu…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Dựa trên những kết quả nghiên cứu về Phê bình phân tâm học, luận văn đưa
ra những nhận định đánh giá mới về tự truyện Lê Vân Yêu và Sống cũng như tổng
hợp và lí giải kĩ hơn về những nội dung liên quan đến tự truyện này Đồng thời luận văn cũng thể hiện những nội dung chủ yếu của các khuynh hướng Phê bình phân tâm học cũng như việc áp dụng vào nghiên cứu thể loại tự truyện
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương sau đây:
Trang 13Chương 1 Vài nét về tự truyện Lê Vân Yêu và Sống và Phân tâm học trong
nghiên cứu văn học
Chương 2 Những xung đột vô thức trong Lê Vân Yêu và Sống
Chương 3 Tiếp nhận Lê Vân Yêu và Sống từ góc nhìn Phân tâm học người đọc
Trang 14Chương 1:
VÀI NÉT VỀ TỰ TRUYỆN LÊ VÂN YÊU VÀ SỐNG VÀ PHÂN TÂM HỌC
TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
1.1 Vài nét về tự truyện Lê Vân Yêu và Sống
1.1.1 Khái lược về Tự Truyện
- Khái niệm:
Tự truyện, trong hành trình phát triển của nó nhiều thời điểm được coi là một thể loại phi hư cấu – một tiểu loại của tiểu sử, nhưng theo thời gian, với sự sáng tạo của các tác giả và những nỗ lực xác lập của các nhà nghiên cứu, tự truyện đang được nhìn nhận như một thể loại văn học Tự truyện (autobiography: tiếng Anh) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nhìn vào có thể thấy tồn tại ba thành tố (auto: tự, bio: cuộc sống, graphy: viết) tạo nên nội hàm thể loại Từ đó có thể hiểu tự truyện là nơi tác giả tự “kể” hoặc “viết” về cuộc sống của chính mình Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tự truyện Năm 1970 Bruce Mazlish đưa ra định nghĩa: “Tự truyện là một thể loại văn học, khai sinh từ chủ nghĩa lãng mạn, cho chúng ta một bức chân dung về sự hình thành cuộc đời quá khứ của một cá nhân nào đó từ điểm nhìn của thời hiện tại, được hoàn thành thông qua nội quan và hồi ức, trong đó cái tôi hiện ra như một thực thể đang phát triển” [59] Philippe Lejeime trong tiểu luận Hiệp ước
tự thuật (Le Pacte Autobiographique) đưa ra định nghĩa quan trọng xác lập những yếu tố về mặt hình thức của tự truyện: Đó là “thể loại tự sự tái hiện dĩ vãng, trong
đó một con người có thật kể lại cuộc sống của mình, nhấn mạnh về đời sống riêng
tư, đặc biệt là về mặt lịch sử hình thành nhân cách” [62, tr.4] Trong cuốn Từ điển văn học nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã định nghĩa: “Tự truyện là thể loại văn học trong đó tác giả kể chuyện về cuộc đời mình Nhân vật chính của truyện chính là tác giả Tự truyện ở Phương Tây đặc biệt phát triển với sự phát triển của nội quan, con người quan sát lương tâm mình” [21, tr 1905]
Trang 15Theo từ điển thuật ngữ văn học: Tự truyện là “tác phẩm văn học thuộc thể loại
tự sự do tác giả tự viết về cuộc đời mình” [6, tr 389] Để phân định một cách rõ ràng hơn về thể loại văn học này, các tác giả đặt nó trong thế đối sánh với tự thuật:
“Tự thuật là sự thông báo về quá khứ, tự truyện lại là tác phẩm nghệ thuật làm cho quá khứ tái sinh Nhà văn viết tự truyện như được sống lại một lần nữa đoạn đời đã qua của mình Tự thuật đòi hỏi người viết phải hết sức tôn trọng tính xác thực của
sự kiện, trong tự truyện, tiểu sử nhà văn chỉ đóng vai trò cơ sở của sáng tạo nghệ thuật” [6, tr 389]
Các định nghĩa trên đã xác định những đặc điểm chính của tự truyện gồm:
Xác định tự truyện là một thể loại văn học đích thực
Đối tượng hướng đến là câu chuyện về sự biến đổi nhân cách của con người
Tác giả phải là một nhân vật có thật, kể về những hồi ức của chính mình
Điểm nhìn của người kể chuyện là hoài cố, ngược dòng kí ức kể về những sự kiện đã diễn ra, có trong hồi ức tác giả
Người kể chuyện và nhân vật chính trùng làm một, kể từ điểm nhìn bên trong, về những biến đổi trong nội tâm nhân vật và sự giao thiệp của nhân vật với thế giới bên ngoài
Có sử dụng yếu tố hư cấu nhưng yếu tố ấy nhằm mục đích làm nổi bật quá trình biến đổi nhân cách của nhân vật chính
Khi viết tự truyện, mỗi tác giả đều muốn bộc bạch những câu chuyện, những dấu ấn của cuộc đời mình rồi qua đó là những chiêm nghiệm và những suy nghĩ được hàm chứa trong từng trang viết Nếu tiểu thuyết là sự hư cấu từ những chất liệu đời thường, thì tự truyện là hành trình tìm bản ngã con người có thật trong sự hình thành nhân cách sau mỗi biến cố cuộc đời Trong quá trình sáng tác tự truyện,
có trường hợp tác giả trực tiếp viết, có trường hợp tác giả kể và có người chắp bút
Trang 16viết (ở trường hợp này những sự kiện quá khứ, suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua một lăng kính khác)
- Tự truyện với các thể loại: nhật ký/hồi ký/tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện
Để phân biệt tự truyện với một số thể loại gần với nó, chúng tôi dựa trên khái niệm của các thể loại
+ Tự truyện với Nhật kí: Thể loại Nhật kí (diary) là một dạng thức văn xuôi dùng để ghi chép lại những sinh hoạt thường ngày của cá nhân hoặc cảm xúc mang dấu ấn riêng tư không dễ chia sẻ được, có đánh dấu ngày tháng Nhật kí thường sử dụng hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất số ít Nếu nhật kí là thể loại theo sát cuộc đời con người theo hành trình thời gian biểu, tập trung vào điểm nhìn ở hiện tại thì
tự truyện lại là thể loại thiên về quá khứ, kể lại những việc đã qua Nhật kí đề cao tính xác thực bởi nó là nơi bộc lộ nội tâm trực tiếp theo tiến trình hiện tại với những
sự việc đang diễn ra; còn tự truyện vẫn có yếu tố hư cấu nhằm làm nổi bật nhân vật trung tâm với quá trình biến đổi nhân cách của mình theo thời gian Tự truyện khái quát lại cuộc đời của tác giả, trong đó là cả một thế giới với nhiều nhân vật (các mối quan hệ của tác giả) và những sự kiện, biến cố của cuộc đời Khi đọc tự truyện, độc giả có thể có những lý giải chiều sâu tâm lý của tác giả bằng cái nhìn tổng hợp đa chiều Nhật kí chủ yếu tập trung ghi lại diễn biến sinh hoạt hoặc cảm xúc của người viết theo ngày hoặc theo một giai đoạn thời gian nhất định Nhật kí giải quyết nhu cầu tâm sự, giải tỏa cảm xúc cá nhân một cách riêng tư (nên nhật kí dường như chỉ hướng tới 1 độc giả là chính tác giả); tự truyện thì khác, tự truyện là lời bộc bạch, tác giả viết tự truyện với mong muốn được công khai câu chuyện cuộc đời mình (với tất cả độc giả quan tâm) nhằm tìm kiếm sự cảm thông, thấu hiểu để bản thân được cảm thấy an ủi và sám hối sau khi giải tỏa khỏi mặc cảm tội lỗi Bởi vậy, tự truyện có sự tách bạch với thể loại nhật kí
+ Tự truyện với Hồi kí (memoir): mang đậm đặc trưng của thể kí với yêu cầu
sự chính xác của sự kiện và những đánh giá khách quan của tác giả viết kí Hồi kí ít
có những chi tiết hư cấu, trong trường hợp có thì đóng vai trò hỗ trợ và làm nổi bật
Trang 17tư tưởng của người viết Tự truyện vẫn giữ trong mình đặc trưng của “truyện” bằng việc xây dựng những hình tượng hoàn chỉnh nhằm kể một câu chuyện về cuộc đời một cá nhân, trọng tâm của tự truyện là quá trình hình thành và diễn biến nhân cách của cái tôi – hình tượng tác giả trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài, cái tôi luôn trong trạng thái động của sự thay đổi tâm lí và không hồi kết Còn hồi kí lấy tâm điểm là thế giới bên ngoài, gắn con người với hoàn cảnh của xã hội - lịch sử, cái tôi của tác giả là cái tôi của sự chứng kiến, là con mắt bên ngoài nhìn vào thời đại với những ghi chép cụ thể và nhận định khách quan Hồi kí và tự truyện có điểm tương đồng là cùng nhìn về quá khứ, kể lại những sự việc đã diễn ra Tuy nhiên, nếu như hồi kí nhìn về quá khứ để kể lại chính xác, thể hiện quan điểm đánh giá khách quan thì tự truyện lại là thể loại có thể có yếu tố hư cấu và thể hiện quá trình biến đổi nhân cách của chính bản thân mình Cái “Tôi” trong hồi
kí là cái tôi tĩnh, như một nhân chứng trước sự biến đổi của thời đại và diễn tả lại quá trình mang tính xã hội, tính thời đại ấy Cái “Tôi” trong tự truyện là cái tôi
có tính động, qua mỗi giai đoạn đều có sự biến đổi, tương tác với thế giới bên ngoài Nếu hồi kí quan tâm chủ yếu đến những vấn đề thời đại, muốn xây dựng lại bức hình thời đại thì tự truyện lại khai thác chính bản thân con người, tập trung xây dựng thế giới, chiều kích tâm hồn con người
+ Tự truyện và tiểu thuyết tự thuật (autobiographical novel): lại có nhiều điểm chung hơn nữa và thực sự gây khó khăn trong việc phân biệt hai thể loại này Tự truyện với bản chất là một thể loại đặc biệt trong loại hình tự sự nên luôn biến đổi trong quá trình phát triển Ở tự truyện, việc tạo ra bức tranh về cuộc đời tác giả được ưu tiên hàng đầu, những sự kiện hay biến cố trong quá khứ đều nằm chung trong một dòng mạch tự sự tạo thành một dòng chảy tạo nên cái tôi – hình tượng tác giả - sự trung tâm Còn ở tiểu thuyết tự thuật, những chi tiết trong cuộc đời tác giả lại chính là những chất liệu đặc biệt để tạo nên câu chuyện trong tiểu thuyết Những chi tiết đó giống như những mảnh ghép được nhào nặn của bàn tay hư cấu để trở thành những chi tiết nghệ thuật đóng vai trò là một phần của tác phẩm Theo Jean Starobinski: “Dạng thức truyền thống của tự truyện chiếm một vị trí trung gian giữa
Trang 18hai thái cực: tự sự ngôi thứ ba và độc thoại thuần túy” [60, tr 76] Nghĩa là, khi tác giả viết tự truyện, tác giả có thể đồng thời bình luận, lựa chọn điểm nhìn trần thuật hay là kể lại quá trình viết văn bản của chính mình và đưa những điều đó trở thành một phần của tác phẩm tự truyện Nghĩa là tác giả có thể đồng thời vừa là người viết, vừa là nhân vật một cách trực tiếp Ở trường hợp tiểu thuyết tự thuật thì khác, tác giả ít xuất hiện trực tiếp trong diễn ngôn văn bản hoặc nếu có thì cũng xuất hiện một cách gián tiếp Khi xuất hiện tác giả phải từ bỏ vị thế của chủ thể sáng tạo và sắm vào một vai mới, ngang quyền với nhân vật, mang một nét ý thức đặc trưng Nhìn về tổng quan, giữa tự truyện và tiểu thuyết tự thuật đều cùng một điểm nhìn hoài cố, cùng chung đối tượng khám phá là cuộc đời, chân dung tác giả, cùng sử dụng yếu tố hư cấu trong sáng tác của mình Tuy nhiên, điểm khác nhau cơ bản nhất của hai thể loại này nằm ở chỗ: tiểu thuyết tự thuật có mức độ hư cấu cao, trong khi
tự truyện chỉ sử dụng yếu tố hư cấu để làm rõ quá trình tái hiện những kí ức, những trải nghiệm trong cuộc đời của chính tác giả Bởi vậy, ở tự truyện tác giả có thể nói lời tự thú hay sám hối để giải thích cho quá trình viết tự truyện của mình như trong
trường hợp của Lê Vân Yêu và Sống còn ở tiểu thuyết tự thuật, tác giả lại không thể
làm được điều đó
Như vậy, có thể thấy nội tại các thể loại văn học luôn có sự biến chuyển và vận động Điều này tạo nên sự giao thoa giữa các thể loại văn học, tính chất giao thoa thể hiện ở chỗ có thể vừa nhận thấy những dấu hiệu gần gũi vừa tìm ra những nét đặc trưng của từng thể loại Trong tiến trình vận động của văn học sẽ có nhiều thể loại mới được ra đời từ những “thể loại nguồn” trước đó, đây là những biến thể mới mang những đặc trưng phù hợp với một thời đại xã hội mới Tự truyện là một trường hợp như vậy, nó là sự đan xen của các thể loại như nhật kí, hồi kí và tiểu thuyết tự thuật Nhưng để tồn tại như một thể loại văn học độc lập, tự truyện đã có riêng những đặc trưng để phù hợp với những thay đổi trong xã hội hiện đại hay những trăn trở, suy tư, cô đơn của con người
1.1.2 Lê Vân với Lê Vân Yêu và Sống
- Vài nét về tác giả Lê Vân
Trang 19Lê Vân (tên đầy đủ Trần Lê Vân, sinh 1958 tại Hà Nội) là một diễn viên điện
ảnh, nghệ sĩ múa Việt Nam Bà là con của hai nghệ sĩ nổi tiếng Trần Tiến và Lê
Mai Lê Vân từng được phong danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú của Việt Nam
Lê Vân còn hai em gái cũng rất nổi tiếng trong giới nghệ sĩ: Nghệ sĩ Nhân dân, diễn viên kịch và điện ảnh Lê Khanh và Nghệ sĩ Ưu tú, nghệ sĩ múa Lê Vy Cả
ba cô con gái của Nghệ sĩ Nhân dân Trần Tiến đều lấy họ mẹ làm tên đệm nghệ danh, và người hâm mộ nhiều khi quên mất họ thật của ba người theo họ bố là Trần Lê Vân, Trần Lê Khanh, Trần Lê Vy Nhắc đến Lê Vân, ai cũng biết đấy là một trong những nữ diễn viên thuộc thế hệ đầu của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam
Sinh ra trong gia đình cả bố và mẹ đều làm nghệ thuật nên việc Lê Vân tìm đến nghệ thuật và sớm tỏa sáng là điều dễ hiểu Lê Vân vốn là một diễn viên múa nhưng trong một lần tình cờ bén duyên với điện ảnh đã có được thành công ngoài mong đợi Cái tên Lê Vân đã có một vị trí riêng, sáng rõ với bộ môn nghệ thuật này
khi để lại hàng loạt các vai diễn ấn tượng trong nhiều bộ phim: "Chị Dậu", "Thương
nhớ đồng quê", "Đêm hội Long Trì", "Bao giờ cho đến tháng 10" Đặc biệt, với vai
Duyên trong "Bao giờ cho đến tháng 10" của đạo diễn Đặng Nhật Minh đã đem đến
cho Lê Vân giải Bông sen Vàng tại Liên hoan phim quốc gia lần thứ 7 năm 1985
Dù hiện tại, Lê Vân đã rời xa sân khấu, xa màn ảnh, trở về làm nghĩa vụ của người
vợ, người mẹ, chăm sóc gia đình nhưng nếu ai đó tình cờ nhắc đến tên Lê Vân, người ta vẫn không thể quên người con gái với nhan sắc đặc trưng Hà thành, với tài năng và tiếng tăm đáng kể
Tháng 10 năm 2006, Lê Vân xuất bản cuốn tự truyện Lê Vân Yêu và Sống nói
về cuộc đời trong quá khứ của mình, trong đó có nhiều phần viết khá chi tiết về gia đình và cuộc sống tình cảm riêng tư
- Lê Vân Yêu và Sống – viết như một cách “thanh lọc” tinh thần
Lê Vân Yêu và Sống là tự truyện của Lê Vân do nữ nhà văn Bùi Mai Hạnh
chắp bút, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tháng 10/2006 Vừa xuất hiện, ngay
Trang 20lập tức cuốn sách đã trở thành đề tài bàn luận nóng hổi của nhiều người, đặc biệt trong giới văn nghệ sĩ Chỉ sau hơn một tháng, cuốn sách đã phát hành và tái bản cả thảy hơn một vạn cuốn Cuốn sách đã khiến các nhà báo tốn nhiều giấy mực, với nhiều ý kiến khen, chê trái chiều Sở dĩ có sự tranh luận như vậy là bởi nội dung cuốn sách đã động chạm đến nhiều vấn đề nhạy cảm, đặc biệt là về “nội tình” bên trong của gia đình Trần Tiến – Lê Mai, về người nghệ sĩ mà nhiều người kính nể - Trần Tiến; bên cạnh đó, điểm nhấn khác chính là ba mối tình đầy ngang trái của Lê Vân Mỗi người có một cách nhìn nhận đánh giá khác nhau, nhưng riêng Lê Vân đã cảm thấy nhẹ lòng khi đã cho ra đời thành công cuốn tự truyện của mình Bản thân
Lê Vân, trong tự tuyện cũng thổ lộ rằng, viết là để sám hối, để thanh lọc tâm hồn mình Nhiều lần, khi được phỏng vấn trên báo chí, Lê Vân vẫn khẳng định chính kiến ấy:
“Mai Hạnh đặt vấn đề muốn viết cuốn sách về tôi Ban đầu tôi từ chối, sau tôi nhận lời vì Mai Hạnh vô cùng nhiệt tình và không hiểu sao tôi muốn trút hết gan ruột với “một người xa lạ ấy” Bằng linh cảm, tôi nhận thấy mình tìm được người bạn mà mấy chục năm nay tôi không hề có.” [9]
“Tôi không muốn làm tổn thương đến những người thân Chẳng bao giờ tôi muốn mang chuyện của cá nhân riêng tư ra để đàm tiếu Tôi chỉ làm những việc mà tôi thấy cần phải làm, cần phải được nhìn nhận khách quan và được chia sẻ…Tôi biết mình có những điều sai và cuốn sách là lời tôi sám hối…” [9]
"Tôi không nghĩ nó to chuyện đến thế Tự truyện nó là những dòng nhật kí thầm kín, tự mình trò chuyện với mình như là một sự giải tỏa Và một khi tôi trò chuyện với tôi, tôi không cần phải nói dối Chẳng lẽ tôi phải trả giá cho lòng thành thật?" [26]
“Cuốn tự truyện này ra đời, ngoài ý nghĩa tự thú, còn như là một sự trả lời cho câu hỏi tôi đang làm gì Vâng, mười năm qua tôi đã kịp làm mẹ của hai cậu con trai nghịch ngợm, như lời khuyên của một chị bạn: "Bé ơi, phải có một đứa con cho
Trang 21mình Công danh, tiền bạc, nhà cửa sẽ thật là vô nghĩa nếu là đàn bà mà lại không sinh con đẻ cái" Và tôi đã làm xuất sắc vai trò một người mẹ.” [26]
Như vậy, có thể thấy việc Lê Vân viết tự truyện là để giải tỏa những tâm sự dồn nén bên trong con người của Lê Vân Cuộc sống quá khứ với nhiềukhó khăn, tủi hờn, cả những ngang trái đã khiến Lê Vân luôn mang trong mình “mặc cảm tội
lỗi”, thứ mặc cảm khiến Lê Vân Yêu và Sống cần phải ra đời để tồn tại như một lời
sám hối và để thanh lọc tâm hồn cho những tháng ngày của cuộc sống hiện tại
1.2 Phân tâm học trong nghiên cứu văn học
1.2.1 Về thuật ngữ Phân tâm học
Trong cuộc khủng hoảng của tâm lý học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhiều học thuyết về Tâm lý học ra đời Tâm lý học hình thái ra đời vào năm 1913,
do ba nhà tâm lý học người Đức là Max Wertheimer(1880-1943), Kurt Koffka (1886-1941), Wolfgang Kohler (1887-1967) sáng lập Đây là học thuyết hướng theo kiểu mẫu của vật lý học để xây dựng một nền tâm lý học khách quan nghiên cứu sâu
về sự tri giác và tư duy của con người Tâm lý học hành vi, với những đại diện là những nhà tâm lý học xuất sắc như E.L Thorndike (1874-1949), J.B.J Watson (1878-1958), quan niệm đối tượng của tâm lý học không phải là ý thức mà là hành
vi và sử dụng phương pháp nghiên cứu là quan sát, thực nghiệm khách quan Khác với các học thuyết tâm lý đã có từ trước đó hướng nghiên cứu đến những vấn đề nội quan của đối tượng, tâm lý học hành vi hướng đến sự nghiên cứu bên ngoài chủ thể đối tượng, lý giải những hành vi của đối tượng thông qua sự ghi chép và thống kê
Trong khi những nhà nghiên cứu W James, J Watson, Max Wertheimer là những tên tuổi vĩ đại của khoa học tâm lý, nhưng những thành tựu của họ như học thuyết Tâm lý học hình thái, Tâm lý học hành vi lại ít được biết đến ngoài phạm vi
tâm lý học thì lý thuyết Phân tâm học được Sigmund Freud (1856 – 1939) đưa ra
năm 1896, lại có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều lĩnh vực như: tâm lý học, giáo dục học, y học, văn hóa nghệ thuật, … “Sự thích thú của chúng ta đối với văn chương
và kịch nghệ căn cứ vào sự kiện chúng ta nhìn nhận có một mối quan hệ giữa thân
Trang 22phận của nhân vật và thân phận của chúng ta” [11] Chính những phát hiện, lý giải
về vô thức, tính dục, giấc mơ, mặc cảm Oedipe… của Freud đã gây chú ý với các
ngành khoa học xã hội, trong đó có nghiên cứu văn học Có thể nhận định, trong quá trình phát triển của lịch sử, con người chứng kiến ba bước ngoặt lớn: Thứ nhất
là chứng minh của Nicolas Copernicus, trái đất không phải trung tâm của vũ trụ mà chỉ là một trong nhiều hành tinh quay xung quanh mặt trời Thứ hai là chứng minh của Charles Darwin, người đã chỉ ra rằng, con người xuất hiện trong quá trình tiến hóa từ những loài thấp hơn trở thành một loài động vật cao cấp Thứ ba, là Phân tâm học của S Freud, khi phát hiện ngoài ý thức, thứ mà con người có thể kiểm soát và điều chỉnh thì còn tồn tại một trạng thái đó là vô thức, không nằm trong địa hạt quản
lý của ý thức mà tiềm tàng những sức mạnh mà chính chủ nhân của nó là con người
cũng không thể kiểm soát được Thuật ngữ Phân tâm học (tiếng Anh:
Psychoanalysis, tiếng Pháp: Psychanalyse, tiếng Đức: Psychoanalyse) là tập hợp
những lý thuyết và phương pháp tâm lý học có mục đích tìm hiểu những mối quan
hệ vô thức của con người qua tiến trình liên tưởng tự do để chữa trị một số rối loạn nhiễu tâm (psychoneurotic disorders) Lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud mặc dù ngay từ khi xuất hiện đã gây nên nhiều tranh cãi nhưng có ảnh hưởng không nhỏ đến các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là văn học Phân tâm học lý giải động cơ hành vi con người vào các mặc cảm gây nên do sự dồn nén các bản năng, trong đó có bản năng tính dục ở thời quá khứ Nói đến phân tâm học là nói đến một thuật ngữ quan trọng - vô thức Khác với trực giác phi lí tính, thứ mà người ta dễ lầm tưởng với vô thức bởi sự liên quan ít nhiều của nó đến vấn đề vô thức Nhưng thực chất hai khái niệm có nội hàm rất khác nhau, có thể nói là sự tách biệt hoàn toàn Nếu trực giác là hướng đến cái kết quả kì diệu rõ ràng, chỉ có tác giả, mặc dù nhận biết nhưng ngạc nhiên không giải thích được mà thôi Còn vô thức là thiên về những động
cơ tiềm ẩn, mà chính nhà văn không hay biết gì, hoặc thường ngộ nhận là do một động cơ ý thức khác Điều không kém phần quan trọng là trực giác dù sao cũng là một trạng thái của tư duy, còn vô thức là trạng thái của tiền tư duy, tiền ý thức hoặc là tiềm thức Lý thuyết Phân tâm học được các nhà nghiên cứu và phê bình văn học
Trang 23nghệ thuật khai thác và sử dụng như một công cụ hữu hiệu tìm hiểu quá trình sáng tạo của tác giả “Phân tâm học không phải là một văn bản Đó là tiền văn bản Nó không lời mà sinh ra lời Nhà phân tâm học không phải chỉ lí giải một văn bản của vô thức
đã có sẵn, anh ta vừa lí giải vừa sản sinh ra nó.” ( Jacques Lancan)
- Các nghiên cứu liên quan đến văn học
Các nhà nghiên cứu phân tâm học đi sau S.Freud đã khai thác và nhận thấy văn học là đối tượng hàm chứa nhiều dữ kiện để phân tâm học có thể lý giải và nghiên cứu về những hoạt động tâm lý nên việc nghiên cứu tác phẩm theo xu hướng phân tâm học không ngừng phát triển Tiếp thu những thành tựu của S.Freud,
C.Jung đã đưa ra lý thuyết về cổ mẫu và vô thức tập thể, đây là một phát hiện có giá
trị lớn trong phê bình văn học Từ những cổ mẫu và vô thức tập thể, với phương pháp Phê bình phân tâm học vật chất, Gaston Bachelard đã phát triển thành các
công trình như Phân tâm học về lửa (1938), Nước và giấc mơ, Rượu và… Cũng
những chất liệu như vậy V.Dundes lại tìm về hướng nghiên cứu gắn phân tâm học
với văn hóa dân gian, văn học dân gian với chuyên luận Folklore - Nhìn từ Phân
tâm học Nhà phân tâm học Charles Baudouin đã kế thừa những thành tựu của Jung
và Freud để bàn về việc sử dụng những giá trị của thần thoại và cảm thức từ thời
nguyên thủy với Phân tâm học về nghệ thuật (La Psychanalyse de l’art) Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu phân tâm học liên quan đến văn học như: Sự thất
bại của Baudelaire (L’Échec de Baudelaire); Marie Bonaparte (1882-1962) với
cuốn Edgar Poe, năm 1933; Jean Delay với Tuổi trẻ của André Gide (La jeunesse d’André Gide) Đồng tính luyến ái của nam giới và văn học (Homosexualité
masculine et littérature) của Jacques Delattre năm 1970, công bố những nghiên cứu của ông về hiện tượng đồng tính luyến ái của nam giới trong văn học Jacques Lacan (1901-1981) là nhà nghiên cứu đã thành công trong việc kết hợp và dung hòa giữa hai học thuyết Phân tâm học của Freud và cấu trúc luận trong nghiên cứu văn học Ông coi vô thức như một diễn ngôn ngầm nằm trong cấu trúc của một văn bản
Luận thuyết (Écrits) của Lacan được xuất bản năm 1966, đã đưa ra nhiều cách đọc
văn bản văn học mới nhằm đọc vô thức từ cấu trúc luận Theo nhà nghiên cứu Liễu
Trang 24Trương: “Phê bình văn học theo xu hướng phân tâm học là một phê bình diễn giải
và là một phê bình biến đổi cách nhìn văn bản” [49, tr 110]
1.2.2 Về Phê bình phân tâm học
- Phê bình phân tâm học của C.Mauron
Charles Mauron (1899-1966) , là một nhà nghiên cứu kết hợp cả hai khuynh
hướng (văn bản và tiểu sử) với những công trình như “Aesthetics and Psychology” (1935), “Des métaphores obsédantes au mythe personnel” (1962) Cách C Mauron
tiếp cận văn học là nhìn văn học trong tư cách văn học, nhìn văn bản trong tư cách văn bản chứ không phải là nơi tập hợp những dấu hiệu của tâm lí một cách y học (không phải những dữ liệu lâm sàng) Ông coi phê bình tâm lý (psychocritique) như một phương pháp và kĩ thuật đọc để làm sáng tỏ văn bản Sự phân tích từ góc độ phê bình tâm lý được tiến hành qua bốn bước
+ Bước một, tìm vô thức được biểu hiện trong tác phẩm: ẩn dụ và biểu tượng chuyển tải một thực tế nội tâm, cơ chế sáng tạo gần gũi với cơ chế của giấc mơ tỉnh + Bước hai, xác nhận rằng các ẩn dụ và biển tượng này tồn tại trong các tác phẩm khác nhau của cùng một tác giả Đem các tác phẩm này đặt cạnh nhau để đối chiếu + Bước ba, nêu bật các “mạng lưới ẩn dụ” soi chiếu những chủ đề biểu tượng “ám ảnh” dưới một ánh sáng mới Mỗi một tác phẩm là một sự quan trọng hóa, một sự tái hiện các ham muốn, xung năng
+ Bước bốn, cuộc đời của tác giả, quá khứ của ông ta cho phép hiểu rõ hơn sự phổ biến của các mạng lưới ẩn dụ này: “huyền thoại cá nhân” của tác giả được định nghĩa như vậy
Bên cạnh đó là cuốn Từ những ẩn dụ có tính cảm ảnh đến huyền thoại cá nhân
(Des métaphores obsédantes au mythe personnel), đây là cuốn sách được coi là cuốn biên soạn đầy đủ về phê bình tâm lý học trong văn học Bằng phương pháp xếp chồng văn bản, tác giả đã làm nổi bật các cấu trúc qua đó tìm kiếm huyền thoại
cá nhân của nhà văn và làm nổi bật vô thức của tác giả được thể hiện trong văn bản
Trang 25Những ứng dụng của lý thuyết phân tâm học vào nghiên cứu, phê bình văn học có nhiều cách định danh như phê bình văn học theo phân tâm học (Vũ Đình Lưu), phương pháp phê bình tâm lý (Nguyễn Văn Dân), Ngoài ra, với mỗi nhà nghiên cứu việc tiếp cận và ứng dụng phân tâm học vào phê bình văn học lại có sự khác nhau, bởi lý thuyết phân tâm học được chia thành nhiều nhánh, mỗi nhánh lại
có những đặc trưng riêng (bởi mỗi nhà phân tâm học có thể kết hợp các lý thuyết khác với phân tâm học) Nghiên cứu từ góc nhìn folklore với tâm bệnh học tộc người (G.Devereux), phân tâm học và thiền (E.Fromm), nghiên cứu về văn bản, chủ đề văn bản (Ch.Mauron, G.Bachelard), nghiên cứu tiểu sử tác giả, quá trình sáng tạo tác phẩm (M.Bonapart, J.Delay, J.Bellemin-Noel), phân tâm học người đọc (N.Holland)…
Nhìn một cách khái quát, Phê bình phân tâm học có thể tìm hiểu cả quá trình sáng tạo của tác giả (Phê bình phân tâm học tiểu sử), sản phẩm sáng tạo (Phê bình phân tâm học văn bản) và quá trình tiếp nhận sản phẩm sáng tạo (Phê bình phân tâm
học người đọc) Thuật ngữ phê bình phân tâm học (psychoanalysis critisim) mà
chúng tôi sử dụng nhằm chỉ cách diễn giải văn học dựa trên những lý thuyết về phân tâm học Xuất phát từ việc truy tìm cội nguồn của quá trình sáng tạo, tác phẩm sáng tạo và sự tiếp nhận tác phẩm sáng tạo, những giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ
Trang 26tác giả, những ám ảnh đó bị dồn nén trong vô thức và thể hiện ẩn ức đó trong sáng tác của mình
Tư duy tiền hiện đại thể hiện trong nghiên cứu phân tâm học thời kì đầu với đại diện tiêu biểu là Sigmund Freud Ở giai đoạn này, phân tâm học đề cao việc tìm hiểu vô thức tác giả trong quá trình diễn giải văn học Từ những khám phá bước đầu của Sigmund Freud, các nhà phân tâm học thế hệ sau đã vận dụng và sáng tạo ra nhiều cách tiếp cận, khám phá các giá trị văn học Các nhà phê bình phân tâm giai đoạn này chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi phân tâm học Sigmund Freud, xem tác phẩm văn học như một biểu hiện của vô thức tác giả Nhà nghiên cứu sẽ xuất phát từ tiểu
sử tác giả, qua đó soi chiếu vào văn bản để thấy những biểu hiện của vô thức tác giả, làm sáng rõ quá trình sáng tạo và một số dữ kiện trong cuộc đời của tác giả Phê bình phân tâm học tiểu sử đặc biệt chú trọng đến những biến cố trong thời thơ ấu, những biến cố trong quá khứ thể hiện vào trong tác phẩm Cách tiếp cận này có những ưu điểm nhất định nhưng cũng tồn tại những giới hạn nhất định Đó là sự đơn giản hóa ý nghĩa, làm giảm tính đặc trưng của văn bản văn học, thu hẹp phạm
vi nghệ thuật ngôn từ và thay vào đó là mở rộng phạm vi của tâm lý sáng tạo, dùng văn học để diễn giải tâm lý Đó là việc suy đoán những biến cố, sự kiện thành vô thức tác giả và áp đặt vô thức tác giả thành một số mặc cảm kinh điển như mặc cảm tội lỗi, mặc cảm Oedipus…Nhưng với tư cách tiên phong, phương pháp phê bình này cũng để lại nhiều thành tựu với các đại diện tiêu biểu như Marie Bonaparte,
René Laforgue, Charles Mauron, Harold Bloom…
+ Phê bình phân tâm học văn bản: các nhà phê bình đã chuyển từ việc tập trung chú ý vào tiểu sử tác giả sang tập trung phân tích và soi chiếu sản phẩm của văn học – văn bản (như sự tồn tại tự thân) Phê bình phân tâm học cũng chuyển sang quan tâm nhiều hơn đến các giá trị tồn tại trong diễn ngôn văn bản, gạt bỏ dần những ảnh hưởng của ngoại quan đến việc lý giải giá trị tác phẩm Công việc của nhà phê bình lúc này là chuyển từ cố gắng giải mã cõi vô thức của tác giả, sang cố gắng giải mã văn bản Coi văn bản như là đối tượng hàm chứa các biểu hiện mà nhà phê bình cần phải khai thác Các đại diện tiêu biểu cho phương pháp phê bình này là
Trang 27Card Gustav Jung, Lacan, Gaston Barchelard…Đặc biệt là Card Gustav Jung với lý thuyết phê bình siêu mẫu (archetype) Trong lịch sử phát triển và tiến hóa của loài người, thời kì đầu từ lúc con người bắt đầu cuộc sống nguyên thủy khi xuất hiện những chi tiết chung điển hình thì cũng hình thành và tồn tại tương ứng các loại siêu mẫu: sinh nở, chết, quyền lực, anh hùng, trẻ con, ác quỷ, cha, mẹ, mặt trời, sông, nước, biển… Các siêu mẫu này có tác dụng dẫn đường và chi phối sự phát triển tâm lý con người từ một hình mẫu nguyên thuỷ chung thành những cá nhân riêng
biệt mà Jung gọi là quá trình cá nhân hoá (individuation) Trong đó, có năm loại siêu mẫu quan trọng nhất là: mặt nạ nhân cách (persona), căn tính nữ (anima), căn
tính nam (animus), bóng âm (shadow) và vô thức tự ngã (self) Jung cho rằng Self
“hoàn toàn có thể được gọi là chúa ở trong ta” [61, tr 238] Những điều này là căn
nguyên của vô thức tập thể, thứ có thể tìm thấy bên trong các văn bản
Tiếp nối những thành tựu về lý thuyết của C Jung về phương pháp phê bình siêu mẫu, Gaston Bachelard (1884-1962) đề xuất một hướng phê bình, đi tiên phong cho phương pháp Phê bình mới ở Pháp Bachelard vận dụng các lý thuyết phân tâm học thuần túy là vô thức không theo hướng tính dục như những người đi trước Cái
vô thức bắt nguồn từ những trạng thái vật chất như nước, lửa, không khí, đất… mà người ta gọi là phê bình phân tâm học vật chất Gaston Bachelard quan niệm những trạng thái vật chất nằm sâu trong vô thức và trong quá trình sáng tạo của nhà văn và
bộc lộ ra bằng sự sáng tạo văn bản Những tác phẩm nổi tiếng của ông như Phân
tâm học về lửa (1938), Nước và những giấc mơ (1938), Không khí và những giấc
mơ (1943), Đất và những mơ mộng của ý chí (1948)… Một nhà phê bình phân tâm
nổi tiếng khác cũng đặc biệt quan tâm đến vô thức là Jacques Lacan (1901-1981) Ông dựa vào cấu trúc luận, đồng thời chủ trương trở về học thuyết của Freud với
tuyên bố nổi tiếng Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ (L’inconscient est structuré comme un langage) Jacques Lacan xác lập trường phái phân tâm học cấu
trúc (structuralist psychoanalysis), tìm con đường từ Freud dưới góc độ của chủ
nghĩa cấu trúc (structuralism) và chủ nghĩa hậu cấu trúc (post-structuralism) Ông coi vô thức như một diễn ngôn, là một thành tố để sáng tạo ra cấu trúc văn bản Với
Trang 28Lacan “vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ” và “vô thức là diễn ngôn của kẻ
khác” [54]
Ngoài ra, thành tựu của phê bình phân tâm học văn bản còn được thể hiện trong nhiều công trình của các tác giả khác như André Green, Didier Anzieu, Jean Laplanche, Jacques Derrida…
+ Phê bình phân tâm học người đọc: Bắt nguồn từ tư duy: con người kiếm tìm ý
nghĩa của riêng mình Đây là tư duy của con người hậu hiện đại, khi con người trở
thành quyền uy cho chính mình và chỉ tin những gì mình đã từng trải nghiệm Lúc này, văn học nghệ thuật chú ý đến quá trình tiếp nhận của người đọc Mỗi người đọc với những tiền giả định bách khoa khác nhau, vốn sống và hoàn cảnh sống khác nhau sẽ có cách tiếp cận và lý giải văn bản khác nhau Phê bình phân tâm học lúc này coi sự tiếp nhận của người đọc là một đối tượng được ưu tiên trong quá trình nghiên cứu và tìm kiếm ý nghĩa của văn bản Phương pháp này chỉ ra vô thức của người đọc có vai trò như thế nào trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học Đại diện tiêu biểu cho phương pháp phê bình phân tâm học người đọc là nhà phê bình Norman Holland [65] Ông cho rằng văn học hay nhà phê bình văn học cần phải đưa độc giả cảm nhận được thế giới tác phẩm mà tác giả tạo ra, qua đó bằng vốn sống của mình để tìm ra giá trị của văn bản Holland chỉ ra các kiểu độc giả và cách
để các kiểu độc giả đó cảm nhận được thế giới mà văn học mang lại và coi đó là niềm đam mê lớn của cuộc đời Ông viết rằng: “Trong suốt cả cuộc đời, tôi đã bị mê hoặc bởi những gì liên quan đến văn học và nghệ thuật Và kết quả là tôi đã dạy và viết về phân tâm học, khoa học nhận thức và những gì liên quan đến văn học, cho chúng ta biết về phản ứng của độc giả với những văn bản văn học, phim ảnh hoặc các nghệ thuật khác” [66]
Với mỗi loại người đọc khác nhau sẽ có cách diễn giải khác nhau về ý nghĩa của từ Điều đó cho thấy, đối với mỗi một văn bản văn học sẽ bao gồm rất nhiều
từ mà nhà văn sử dụng, tạo ra nhiều cách diễn giải Những thành tựu của ông được
thể hiện trong các tác phẩm như Phân tâm học và Shakespeare (Psychoanalysis and
Trang 29Shakespeare, 1966); Nhân cách của Shakespeare (Shakespeare’s Personality, 1989),
Cái Tôi (The I), 5 readers reading (Năm kiểu người đọc, 1975) và Dynamics of Literary Response (Các động lực của phản ứng văn học, 1968)… Quan điểm về
phân tâm học người đọc của Holland giúp người đọc định hình được tầm đón đợi của bản thân bằng cách hiểu được tâm lý của nhà văn hoặc các nhân vật trong tác phẩm, qua đó hiểu hơn về thế giới xung quanh mình và tạo ra cách ứng xử hợp lý với thế giới
Tiểu kết chương 1:
Mỗi một khuynh hướng Phê bình phân tâm học lại có những ưu điểm, nhược điểm riêng: Phê bình phân tâm học tiểu sử thì cho phép người đọc hiểu được về chủ thể sáng tạo của văn học, Phê bình phân tâm học văn bản thì cho phép người đọc hiểu
và đi sâu vào thế giới văn bản còn Phê bình phân tâm học người đọc lại cho họ hiểu chính họ thông qua việc hiểu tác giả và văn bản Từ lý thuyết Phê bình phân tâm học, tác phẩm được giải mã cho chúng ta một bức chân dung về sự hình thành cuộc đời quá khứ của nghệ sĩ Lê Vân từ điểm nhìn của thời hiện tại, được hoàn thành thông qua những xung đột giữa ý thức và vô thức Tự truyện được viết từ những dữ kiện có thực trong đời sống của tác giả, bao gồm cả những bí mật riêng tư của cá nhân Việc xuất bản tự truyện cũng đồng nghĩa với việc có thể tạo ra những làn sóng trái chiều, những dư luận không tốt, những phản ứng của xã hội dành cho tác giả Nhưng động
cơ nào đã thôi thúc Lê Vân viết? Sử dụng lý thuyết phê bình Phân tâm học trong việc phân tích các hình tượng nghệ thuật sẽ làm sáng rõ câu trả lời đó
Trang 30Chương 2:
NHỮNG XUNG ĐỘT VÔ THỨC TRONG LÊ VÂN YÊU VÀ SỐNG
Trong Lê Vân, luôn có sự đối lập mạnh mẽ giữa “Yêu” và “Sống”, nó cũng chính là sự đối lập của ý thức và vô thức trong con người theo quan điểm phân tâm học Lê Vân bộc bạch rằng, mục đích viết tự truyện là để “sám hối” nhưng thực tế, chính Lê Vân, khi viết tự truyện này lại luôn tìm những lí lẽ để biện minh cho những lựa chọn của mình Đó cũng là hành động theo bản năng, dù muốn bộc bạch
để thanh lọc tâm hồn mình, nhưng vẫn khao khát được “an toàn”, mà vỏ bọc an toàn được tạo ra bằng sự biện minh
Lê Vân cho rằng mình hợp và có nhiều nét đẹp tiêu biểu của người con gái Á Đông, nhưng dường như chính những lỗi lầm của Lê Vân lại hoàn toàn đi ngược với chuẩn mực vốn có của văn hóa Á Đông truyền thống, nhất là chuẩn mực của phụ nữ Việt Nam Sự mâu thuẫn ấy, bắt nguồn từ nhu cầu “Yêu” và chuẩn mực
“Sống” Lê Vân vẫn có ý thức, có cái bản ngã chế ngự, để Lê Vân không đồng tình với người cha nghệ sĩ mà Lê Vân cho là không toàn tâm toàn ý với gia đình Nhưng bản thân Lê Vân, với cái “tôi” (bản ngã) của mình, lại cho phép bản thân sa đà vào những cuộc tình “sai trái”, với những người đàn ông đã có gia đình, thậm chí không chỉ một lần, mà cả ba lần, với cảm giác chiến thắng
Lê Vân giận cha mẹ khi chia con trong giấy li hôn, không ai nhận nuôi và sống trong mặc cảm bị bỏ rơi, nhưng chính mình lại tự tay bỏ đi đứa con trong bụng khi
nó chưa kịp chào đời Sau những lỗi lầm đã gây ra, Lê Vân lại dùng những nguyên tắc xã hội, những mặc cảm bản thân để lí giải cho hành động từ bỏ đứa con của mình Dù đã để phần “bản ngã” chiến thắng, dẫn đến sự xuất hiện của đứa con, nhưng Lê Vân nhanh chóng cũng bị gục ngã bởi những ý thức “siêu ngã” trong mình, để cuối cùng lựa chọn cách bỏ đi đứa con, bảo toàn danh dự bản thân Như vậy, những mặc cảm về đạo đức của người phụ nữ theo truyền thống Á Đông đã ám
Trang 31ảnh Lê Vân rất nhiều Lê Vân không thoát khỏi cái bóng của chính mình trong vô thức tập thể của xã hội Theo lý giải của nhà nghiên cứu phân tâm học Jung cấu trúc tâm lý của con người bao gồm ba phần là: ý thức, vô thức cá thể và vô thức tập thể - tiềm thức Vô thức tập thể nằm trong những kinh nghiệm nguyên thủy và truyền
thống xã hội, yếu tố căn bản của nó là những siêu mẫu (archétype) Trong Lê Vân
Yêu và Sống có thể nhận thấy sự biểu hiện của siêu mẫu mặt nạ nhân cách (persona)
trong tiềm thức của Lê Vân Mặt nạ nhân cách là một loại siêu mẫu của tâm lý cộng đồng mà mỗi khi giao tiếp với người khác, con người thường sử dụng một mặt nạ nhân cách để che đậy đi cái tôi thực sự Lý giải về hành động từ bỏ đứa con của mình, Lê Vân đã không thoát khỏi khuôn khổ lễ giáo truyền thống quy định về đạo đức của một người phụ nữ trong hoàn cảnh khi Lê Vân vẫn có chồng (dù đã ly thân) nhưng lại có thai với một người đàn ông khác (qua hành động ngoại tình) Vì không thoát khỏi khuôn khổ nên Lê Vân đã lựa chọn mặt nạ nhân cách như một sự trú ngụ
an toàn trước dư luận xã hội thời điểm đó
Lê Vân ý thức được, con cái cần yêu thương và tôn trọng cha mẹ, nhưng chính
Lê Vân không yêu cha mình, và bởi sự ngang bướng của mình, Lê Vân thậm chí cũng khiến mẹ phải buông lời từ mặt Với các em, dù yêu mến, dù người ta vẫn ngợi ca bộ ba trời sinh, nhưng Lê Vân vẫn tự thấy mình lạc lõng: “Đáng lẽ chị em gái thì hay gần gũi nhau tâm sự với nhau, vì cũng cách nhau không nhiêu tuổi Và ở tuổi nào thì cũng rất dễ để nói với nhau những chuyện thầm kín, tình cảm, những mối quan hệ, sẽ dễ hơn là nói với bố mẹ Nhưng không hiểu sao, trời sinh ra thế, lúc nào tôi cũng bị lạc loài Khanh với Vy thì thân thiết chia sẻ với nhau lắm, còn tôi cứ
bị long ra khỏi cái khối gia đình chung ấy Đến bây giờ vẫn thế.” [7, tr.68] Thậm chí, ngay kể cả khi Lê Vân hoàn thành tự truyện này, với những “bí mật gia đình”
mà Lê Vân giấu kín lâu nay giờ được phơi bày trên mặt giấy, Lê Vân cũng giúp tâm hồn mình “thanh thản”, nhưng lại khiến cha mình – Nghệ sĩ ưu tú Trần Tiến bị suy sụp, tuyệt vọng
Thậm chí, với cái nghề mà Lê Vân “Yêu” say đắm, ý thức rõ những chuẩn mực, sự thanh cao của nghề, nhưng bản thân Lê Vân, đôi khi vẫn phải tự hạ mình để
Trang 32thỏa thuận tình hình thực tại, dù điều đó là “hạ thấp nghề cao quý” (diễn cùng bậc với khán giả, không có sân khấu riêng; sau bữa tiệc, màn con hát mới bắt đầu; )
Lê Vân dấn thân vào điện ảnh, điện ảnh cũng đưa Lê Vân lên một tầm cao mới, nhưng trong tự truyện Lê Vân lại không hề coi trọng nền điện ảnh Việt Nam, Tất cả những xung đột vô thức ấy chính là sự mâu thuẫn giữa ý thức và vô thức, khi vô thức chế ngự, con người sẽ có những hành động bản năng, đôi lúc như điên cuồng và dưới ánh sáng của ý thức, họ lại tự vấn bản thân, lại tự khép mình để hòa vào chuẩn mực chung của đời sống xã hội nhưng thực tế lại trong một tầng vô thức khác – vô thức tập thể Cái vô thức bản năng luôn bị kìm hãm bởi hàng rào kiểm duyệt (censure) do ý thức thiết lập, càng bị ức chế lại càng có nhu cầu được thỏa mãn Kết cấu nhân cách 3 tầng này là một khối vận động không ngừng, trong
đó vô thức có sức sống dai dẳng và mãnh liệt nhất Hành vi của con người hình thành từ các mặc cảm gây nên do sự đè nén bản năng và các tiềm thức từ thời thơ
ấu Sáng tạo nghệ thuật chẳng qua là sự thăng hoa của những ẩn ức, người nghệ sĩ càng bị đè nén nhiều lại càng có cơ hội để sáng tác Lê Vân cũng vậy, hành động Yêu và Sống chính là đại diện cho hai mảng vô thức và ý thức trong một con người thống nhất với vô vàn những mâu thuẫn đan xen
2.1 Tình yêu với bản năng vô thức (Yêu)
2.1.1 “Bản năng chết” trong tình yêu của Lê Vân
“Thatanos (bản năng chết) là biểu hiện tiêu cực của libido (xung năng tính dục), phá hủy sự sống như trạng thái phản kháng, tự hủy diệt, các chứng bệnh cuồng
điên, hành xác, ” [4] Cụ thể, ở Lê Vân Yêu và Sống, bản năng chết trong tình yêu
của Lê Vân được bộc lộ rất rõ qua những trạng thái cảm xúc tự hủy diệt, hành xác, khi yêu Đặc biệt, Lê Vân luôn có mặc cảm về cái chết trong tình yêu, coi cái chết như một điều mang đến xúc cảm hạnh phúc, sự nuối tiếc và vẻ đẹp thương cảm
Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy cũng đã lý giải điều này (bản năng chết) khi tiếp cận
thơ của Bà Huyện Thanh Quan “Không chỉ bị cuốn hút bởi sự suy tàn, mà còn thấy
vẻ đẹp của suy tàn Điều “nghịch dị” này thường trực trong thi phẩm của bà đến
mức thành ám ảnh Ám ảnh đó ẩn chứa một xung năng vô thức mạnh mẽ mà phâm
Trang 33tâm học gọi là bản năng chết (thanatos)” [44, tr.136-137] Đối với khái niệm xung năng tính dục (libido), Sigmund Freud phân chia thành hai mặt: một mặt là bản năng sống (libido)và một mặt là bản năng chết (thanatos) Bản năng sống sẽ hướng con người đến những suy nghĩ và hành động tích cực và bản năng chết tạo ra những suy nghĩ và hành động tiêu cực
Cụ thể, ở Lê Vân Yêu và Sống, bản năng chết trong tình yêu của Lê Vân được
bộc lộ rất rõ qua những trạng thái cảm xúc tự hủy diệt, hành xác, muốn chết, hình dung chết khi yêu Đặc biệt, Lê Vân luôn có mặc cảm về cái chết trong tình yêu
và kể cả cái chết của tình yêu “khiếm khuyết”
Ba lần yêu đều là những tình yêu “khiếm khuyết”
Lê Vân được biết đến cũng như theo lời kể trong tự truyện vốn là cô gái Hà Thành ưa nhìn, đậm chất Á Đông và có vẻ đẹp thanh tao, cuốn hút “Ở con người chị có thứ vẻ đẹp vừa sắc sảo, vừa buồn man mác có cái gì đó thẳm sâu mà cũng
có cái gì đó lạnh lùng, phẳng lặng hồ thu Một nét đẹp chất chứa nhiều đa đoan,
nhiều đau khổ nhan sắc điển hình cho những "Đại mỹ nhân" đất Hà Thành xưa!”
[52] Chính bởi vậy, Lê Vân có nhiều người đàn ông theo đuổi, thậm chí họ còn rất
“si tình” Lê Vân cũng đã từng lựa chọn kết hôn với một người đàn ông rất tốt, rất yêu cô và gia đình bề thế để thoát khỏi bóng tối của tình yêu “khiếm khuyết” thứ nhất “Vào đỉnh điểm của sự bế tắc, không một chút ánh sáng nào lóe lên trong mối quan hệ với Người ấy Tôi ngấm ngầm nhắm mắt ký rẹt một cái vào giấy kết hôn với một người đàn ông tôi không hề yêu” [7, tr.203] Vậy nhưng cuộc hôn nhân chóng vánh cũng chỉ diễn ra trong “bốn ngày trên giấy”, để rồi Lê Vân tiếp tục lao đầu vào những cuộc tình “nghiệt ngã”
Người đàn ông đầu tiên là một đạo diễn, đã có gia đình Cuộc tình kéo dài mười năm trong bóng tối, “Người ấy” là người cô yêu như “chết đi sống lại”, có thể hi sinh mọi điều, liều lĩnh làm mọi thứ, tình nguyện hi sinh thân mình, nhưng
đó cũng là người mang đến cho cô nhiều đau đớn “Người ấy” không bỏ vợ, yêu Vân trong bóng tối, chỉ đến khi chị vợ phát hiện ra việc ngoại tình của chồng thì
Trang 34cuộc li hôn chóng vánh mới được đưa ra Trong mười năm ấy, Lê Vân chịu biết bao tủi hờn:
“Em thèm được như vậy, thèm được nói ra miệng với bất cứ ai về chồng
em, thèm những hạnh phúc bình thường bên anh biết bao” [7, tr.173] Lê Vân khao khát mọi điều mà một người phụ nữ bình thường khi yêu muốn có: “Vì quá
mơ ước cuộc sống gia đình với anh, nên tôi đã kiếm tặng anh những đồ vật tượng trưng cho cuộc sống vợ chồng như hai cái bát, một đôi đũa, và tôi còn kiếm cả len về móc một đôi tất trẻ con, xin đâu đó một cái yếm trẻ con bằng ren rất đẹp… để dành tặng anh Tất cả chỉ để biểu lộ niềm khát khao cháy bỏng có một cuộc sống lứa đôi cùng anh” [7, tr 202-203]
Mặc dù đầy khao khát, nhưng Lê Vân chưa bao giờ được hưởng khao khát trọn vẹn ấy bên người đàn ông đầu tiên Khi Lê Vân thèm khát đến cháy lòng, thì Người ấy chưa li dị vợ; khi người ấy bỏ vợ rồi, đám cưới đã lên lịch sẵn, thì Lê Vân lại thay lòng Bản năng yêu của Lê Vân được bộc lộ qua những khao khát, thứ được tạo ra từ xung năng tính dục(libido) Bởi mối tình đầu tiên là mối tình khiếm khuyết
và tội lỗi nên Lê Vân luôn thiếu thốn người mình yêu Chính vì sự thiếu thốn này nên sự khao khát trong tình yêu của Lê Vân càng được bộc lộ mãnh mẽ: “Tôi đánh đổi tất cả cuộc đời thật của mình để có mối tình trong bóng tối với anh, vì tôi cho rằng chỉ có nó mới làm nên ý nghĩa sự tồn tại của đời tôi… Được trò chuyện cùng anh, với tôi, đã trở thành một nhu cầu thiết yếu như muốn sống được thì phải hít thở” [7, tr.167] Vì những bản năng trong cõi vô thức không được giải tỏa nên Lê Vân luôn mang trong mình cảm xúc yêu cuồng nhiệt “Điên rồ đến mức mà người con gái dám hi sinh cuộc sống bình thường để chỉ sống cho tình yêu, một thứ tình yêu chui lủi đầy sợ hãi Tình yêu đó cứ tồn tại song song với cuộc đời” [7, tr 166] Trong những dòng nhật ký Lê Vân viết cho “Người ấy” luôn chất chứa những bản năng này Bản năng tính dục và những cảm xúc dồn nén trong tình yêu khiếm khuyết Dường như Lê Vân tìm thấy được niềm cảm hứng từ sự “thiếu thốn” này
“…Em không biết, nhưng em thiên về sự heo hút hơn…” [7, tr.168]
Trang 35“Những cái buồn ấy luôn trú ngụ trong mọi ngóc ngách con người em để bất cứ lúc nào cũng có thể ùa ra” [7, tr.168]
“Khi anh viết: elca, của anh chứ không là của ai khác Và ctyce, của em chứ không
là của ai khác nữa harn Anh có biết không, em đang mong chờ điều đó, em nhớ lắm, nhớ nhiều lắm” [7, tr.170]
“Em càng khẳng định rằng: Không, em không có lý do gì để ghét bỏ nhà mình”[7, tr 172]
“Em nhớ và thèm được thấy cụ thể mình đang được anh ôm ấp che chở” [7, tr 178] Người đàn ông thứ hai là một chàng lãng tử, chàng cho cô tất cả những điều
mà người đàn ông đầu tiên không thể mang đến được: sự tự do, phóng khoáng, ánh sáng, nhà cửa, danh phận, Anh ta làm tất cả những điều ấy một cách tự giác, chóng vánh mà không cần được yêu cầu Có lẽ chính bởi vậy mà Lê Vân nhanh chóng bị khuất phục trước chàng “Yêu chàng, tôi như người bị sốc ánh sáng, như người đang bị cầm tù nơi bóng tối lưu cữu tù đọng, phải khắc khổ, giữ gìn trong vòng kiểm toả nay được sổ lồng tung cánh bay vào một thế giới tự do công khai Tôi bị choáng ngợp, không giữ gìn gì nữa” [7, tr 229] Tuy nhiên, cũng chẳng lâu sau, Lê Vân nhận ra chàng cũng đã có vợ, và đến với Lê Vân rồi, chàng mới bắt đầu làm thủ tục li hôn Lê Vân vẫn là người thứ ba trong cuộc tình ấy, tưởng rằng mối tình thứ hai là mối tình của niềm hạnh phúc trọn vẹn, nhưng không, mối tình ấy vẫn
là một mối tình khiếm khuyết “Một lần nữa, tôi lại yêu một người đàn ông đã có vợ con gia đình đầm ấm Có điều, vợ con chàng ở mãi một phương trời khác những cảnh tan cửa nát nhà không hiện diện trước mắt tôi” [7, tr 231]
Trong cuộc tình này, sự khiếm khuyết còn mang một chiều kích khác từ góc nhìn của Lê Vân Người tình thứ hai, chàng đúng chất lãng tử, bởi mọi sự đều phó thác cho Lê Vân, trong nhà, Vân trở thành trụ cột, Vân làm chồng Chính sự khiếm khuyết ấy, gây nên sự mỏi mệt tột độ về thể xác và sự tê liệt cao điểm về tinh thần,
Lê Vân bắt đầu không còn xúc cảm khi bên chồng sau mười năm gắn bó
Trang 36“Và một cuộc sống trần trụi lộ ra: Sống với chàng, tất cả mọi việc từ A đến Z,
từ xây sửa cửa nhà, vay mượn tiền nong, đụng độ với thực tế cuộc sống… tôi đều phải dùng đến “cái mặt mình” để giao dịch” [7, tr.239]
“ dù đã có chồng nhưng tôi vẫn phải làm việc, hành xử, lo lắng như một
gã đàn ông! Rõ ràng trong nhà có một người đàn ông nhưng lại quá nhu nhược.” [7, tr.240]
Từ những ám ảnh của quá khứ, Lê Vân luôn có khao khát một cuộc sống hạnh phúc, đủ đầy, được an toàn, được bao bọc Bản năng về sự an toàn ấy, khiến Lê Vân cảm thấy mỏi mệt trước thực tế cuộc sống khi luôn phải gồng gánh một mình, một mình bươn trải Trước thực tế như vậy, Lê Vân như hồi tưởng lại vai trò của chính cha mình “Bố trong mắt tôi – bé gái, tôi – thiếu nữ và bây giờ, tôi – thiếu phụ… vẫn thế, vẫn không một ấn tượng tốt đẹp Cả một đời nghệ sĩ, bố chưa hề mang về cho mẹ tôi được một tháng lương tượng trưng Cứ đến cuối tháng, khi cái nghĩa vụ làm chồng làm cha ấy bị “sao lãng”, mẹ lại bảo khẽ các con: “Nhắc bố đưa tiền ăn cho mẹ” Và những lúc túng quẫn quá, giận dữ bốc lên, mẹ gọi bố là “thằng hèn” Một thằng đàn ông mà không nuôi nổi vợ con thì chỉ là một thằng hèn” [7, tr.52]
Lê Vân “khi tình yêu thui chột, sẽ chỉ thấy toàn những cái chưa được của nhau” [7, tr 241] Lê Vân dứt khoát với người tình thứ hai “Tôi thuyết phục chàng rằng, tình thế của chúng tôi là không thể nào cứu vãn nổi…” [7, tr 243] Khi không còn được an toàn nữa, tất yếu người ta sẽ khát vọng tìm đến bến đỗ khác – nơi có thể để mình được nương náu Bởi vậy, mối tình thứ ba mới xuất hiện
Người đàn ông cuối cùng nhắc đến trong tự truyện là người đàn ông lấp đầy mọi khoảng trống mà hai người đàn ông trước mang đến cho Lê Vân, Lê Vân mong muốn đây là hạnh phúc trọn vẹn của mình Abraham đem đến cho Lê Vân tình yêu,
sự chín chắn và chở che duy chỉ có một điều vẫn không đổi khác tình yêu này vẫn khiếm khuyết – Lê Vân vẫn là cuộc tình tay ba Ngay cả khi đã tạo thành một mái
ấm, thì người đàn ông này vẫn chưa li dị vợ của mình: “Đến bây giờ, cô con gái đã hai mươi rồi, vẫn chưa thấy gì, chỉ nói là “đang”, anh đang làm, đang tiến hành Và
Trang 37tôi tin như vậy Không bao giờ tôi nghĩ anh có điều gì đó không thật lòng với tôi” [7, tr.310] Lê Vân đến với người thứ ba một cách nhanh chóng, bởi Lê Vân bị ám ảnh bởi sự cô đơn, Lê Vân cần người chở che, chăm sóc và yêu thương
“Tôi gấp gáp: Anh hãy quay lại ngay với em, em không thể chịu đựng được nữa Chưa bao giờ em cảm thấy cô đơn như lúc này Bây giờ em vẫn đang nằm bẹp ở khách sạn, chưa ăn gì không có ai đưa em đi ăn Anh hãy tìm mọi cách bay đến đây được không?” [7, tr 261]
“Tám giờ sáng, anh xuất hiện Chúng tôi lao vào nhau, không còn ngượng ngùng dè dặt, không còn giữ gìn ý tứ, và cả không còn khoảng cách nào ngăn cách hai chúng tôi nữa” [7, tr 261]
Trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc, Lê Vân luôn hướng về một điểm đến là hạnh phúc vẹn tròn, nhưng trớ trêu thay, cả ba cuộc tình, Lê Vân đều chọn những người đàn ông “khiếm khuyết” (có thể trước đó Vân biết hoặc không), nhưng hình như chính “bản năng chết” (tìm thấy cái đẹp trong những khiếm khuyết, tội lỗi) đã khiến Lê Vân có cảm tình đặc biệt và lựa chọn những người đàn ông ấy Và có lẽ, không người đàn ông nào có thể mang đến cảm giác an toàn thực sự, thanh thản thực sự cho tâm hồn Vân; bởi cả ba đều “khiếm khuyết” Người đàn bà - Lê Vân – nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm đặc biệt có lẽ luôn muốn cháy hết mình, hi sinh hết mình cho tình yêu, luôn muốn dâng hiến mọi điều, kể cả thể lực lẫn tâm trí, chỉ cần toàn tâm toàn ý, chỉ cần để người mình yêu cảm thấy hạnh phúc Cảm xúc đó chính
là khía cạnh của vô thức từ bản năng chết luôn muốn dốc sức tất cả, đến kiệt cùng
để hi sinh cho tình yêu của chính mình
Tình yêu – mặc cảm tội lỗi và sự “hành xác”
Lê Vân chọn những người đàn ông “khiếm khuyết” nên bởi vậy tâm hồn Lê Vân cũng chưa từng thanh thản, luôn mặc cảm tội lỗi, luôn tự “hành xác” mình theo cách này hoặc cách khác
Trang 38Trong cuộc tình đầu tiên
Với người đàn ông đầu, Lê Vân thể hiện rõ sự tự hành hạ bản thân bằng những mặc cảm trong tâm hồn, luôn tự khiến mình đớn đau, bắt mình phải bận rộn hơn để
có thể quên đi cuộc tình si ngang trái
Đó là nỗi sầu trĩu nặng tâm hồn: “Đã nhiều lần em đạp xe về một mình vừa đi vừa khóc nấc lên như một đứa trẻ Kể cả lúc mình vừa giận nhau hay cả lúc mình
vừa yêu nhau thật nhiều Không ai hiểu được em sống buồn đến thế nào” [7, tr.170]
Đó là mặc cảm tội lỗi giày vò tâm can: “Em buồn… Nhưng không phải là cái buồn nhức nhối quằn quại, mà nó như ở nơi sâu thẳm nào đó thấm dần, thấm dần khiến em không thoát ra được Bởi em biết, một khi em đã để cho "niềm thương cảm lớn" tràn ngập lòng mình, tức là em phải mất anh thôi, phải xa anh thôi, em không có quyền…” [7, tr.172]
Đó là cảm giác tuyệt vọng tột cùng: “Đã có lần vì tuyệt vọng, em nguyền rủa
sự có mặt của em trong cuộc đời này, nay lá thư lại nhắc em đến điều đó: "Bây giờ
và sau này, anh đâu còn được sống cho anh nữa" Giá anh hiểu được em sống ngắc
ngoải khó khăn thế nào, anh sẽ hiểu tại sao em viết: em sẽ cố gắng sống đến ngày anh về” [7, tr.191] Tâm trạng khi xa nhau, Lê Vân tự chất vấn mình, chất vấn người yêu, luôn cố tìm cách lẩn tránh cho tâm hồn, điều này thể hiện trong những
dòng nhật ký Lê Vân tự viết cho mình:
“Mà bây giờ liệu em còn có thể nói được anh là của em không nhỉ? Khi mà anh có thừa yêu thương để gửi về nơi ruột thịt? Em càng thấy, em không phải là người mà anh thương nhất, không phải là ý nghĩa của anh trong cuộc đời khốn khổ này” [7, tr 189]
Những câu hỏi cứ đan xen nhau, mặc cảm, khát vọng, tất cả những cảm xúc hỗn độn, mâu thuẫn đã khiến Lê Vân tự giày vò thân xác mình đến độ căng thẳng, thân hình gầy đét Khi tình yêu của Lê Vân bị vợ của “Người ấy” phát hiện, Lê Vân
đã cảm thấy sợ hãi, dày vò và đau khổ đến tận cùng: “Thế là người vợ của anh đã
Trang 39biết mối quan hệ này Hoảng sợ Tuyệt vọng Không thể tiếp tục được nữa Xã hội lúc đó rất nghiêm khắc, nếu bị lôi ra ánh sáng thì thật khủng khiếp Có lẽ chỉ còn một cách Một cái dây để treo cổ? Một cây cầu bên dưới là dòng nước xanh? Một con tàu có sức nghiến tan thây? Hay những viên thuốc ngủ ru mộng nghìn thu? ” [7, tr.210]
“Có một mái ấm gia đình vừa bị phá vỡ? Có một người vợ vô tội vừa bị ruồng bỏ? Có những đứa con thơ dại sẽ bị tổn thương mãi mãi? Và tôi sẽ có được người đàn ông tôi tôn thờ! Thế là chẳng còn mơ mộng khao khát gì nữa ư?” [7, tr 213]
Kí ức của Lê Vân là hình ảnh bố mẹ thường xuyên xung đột, hình ảnh bố đi ngoại tình còn một mình mẹ vất vả chăm cho các con Những kí ức tuổi thơ ấy đã
ám ảnh vào trong vô thức của Lê Vân, khiến Lê Vân luôn sống trong trạng thái của những âu lo, sợ bị phụ bạc Trong cuộc tình đầu tiên, khi vợ của “Người ấy” phát hiện ra mối tình ngang trái, dường như Lê Vân đang hồi ức lại chính quá khứ của gia đình, nỗi buồn cùng những tiếng cãi vã từ quá khứ vọng về, tình yêu từ đó mang mặc cảm tội lỗi
Đến cuộc tình thứ hai, mọi thứ tưởng chừng bình yên, vì tình yêu này diễn ra hết sức tự do, mặc sức thể hiện; chàng lãng tử cũng li hôn rất nhanh, không đợi Vân yêu cầu Nhưng Lê Vân không thoát khỏi những mặc cảm “tội lỗi” và tiếp tục dày
vò bản thân vì lựa chọn thứ hai của mình Lê Vân dày vò vì đã phản bội “Người ấy” – người tình thứ nhất “Hãy tha lỗi cho em, em không thể quay về với anh được Vì nếu em quay về bây giờ, sau này em cũng lại phản bội anh thôi Mà em không thể
nào lại phản bội anh thêm một lần nữa Anh hãy cứ để cho em đi” [7, tr.215]
Lê Vân ý thức được người tình thứ hai cũng là một người đàn ông đã có gia đình đầm ấm, nhưng Lê Vân vẫn lựa chọn để thỏa mãn những xúc cảm của mình bởi mặc cảm tội lỗi khi phá vỡ hạnh phúc gia đình không hiện ra trực tiếp trước mắt: “Một lần nữa, tôi lại yêu một người đàn ông đã có vợ con gia đình đầm ấm Có điều, vợ con chàng ở mãi một phương trời khác, những cảnh tan cửa nát nhà không hiện diện trước mắt tôi Và khi không nhìn thấy nỗi đau của người ta thì tôi cũng đỡ
Trang 40bị giày vò hơn” [7, tr.231]
Sự giày vò của Lê Vân khi phụ tình người thứ nhất đã dẫn đến việc Lê Vân luôn trong trạng thái hoài nghi của sự so sánh giữa hai mối tình Từ đó khiến Lê Vân sống trong sự giày vò về sự đúng đắn của lựa chọn thứ hai:
“Nếu làm một việc rất xúc phạm là đặt lên đĩa cân để so sánh thì thấy, tôi chẳng có lý do gì để chạy theo người đàn ông thứ hai này Chàng không phải là người có tri thức và tinh tế mà là người sống phóng khoáng, văng mạng” [7, tr.230]
Lê Vân cũng phải sống trong dư luận và mặc cảm xấu hổ:
Thậm chí tôi còn nghe đâu đó rằng: “Lũ con trai chúng mày chết hết cả rồi hay sao mà để con Vân nó đi lấy một cái thằng Việt kiều vô danh tiểu tốt!” Mẹ tôi còn nặng lời hơn: “ Bao nhiêu thằng trí thức, học thức yêu thì lắc đầu nguầy nguậy, đi đâm đầu vào cái thằng bụi đời” [7, tr 230-231] Người tình thứ hai không tạo ra những mặc cảm “tội lỗi” về sự phá vỡ hạnh phúc gia đình như người tình thứ nhất nhưng lại tạo ra những vết rạn nứt về vai trò người phụ nữ trong gia đình, về sự “vất vả”, “hành xác” của người vợ (trong khi đó đáng phải được hưởng sự chở che):
“Xây nhà, tôi không xin nghỉ ngày nào, ban ngày vào đoàn làm việc, chiều về vác xi măng, xếp gạch Trông nom thợ, chỉ huy thợ, một tay tôi làm cả” [7, tr.234]
Một lần nữa kí ức thời thơ ấu lại hiện về trong Lê Vân, hình ảnh người mẹ lam
lũ “bàn tay mẹ thoăn thoát đan áo cơm” tiếp tục ám ảnh Lê Vân, Lê Vân sợ điều đó xảy ra với hoàn cảnh của mình Với phản xạ phòng vệ của mình, Lê Vân lựa chọn kết thúc mối tình thứ hai Lê Vân tiếp tục hành trình tình yêu với mong muốn tìm thấy sự chở che, tìm mảnh ghép lấp đầy khiếm khuyết Ở mối tình thứ ba Lê Vân đã được bù đắp gần như hoàn toàn, được yêu, được chở che, bao bọc: “Anh có thấy không, anh như cây thông khỏe mạnh vững chãi, còn em thì chỉ là cây leo mỏng mảnh kia thôi, phụ nữ cần nơi nương tựa, hiện nay em đang cảm thấy như thế Em chỉ có thể tả như thế, và em thấy con thuyền đời em đã tìm thấy bến, em mong muốn dừng lại ở cuộc sống với anh, thế là mãn nguyện” [7, tr.314]