Công cuộc Đổi Mới toàn diện bao gồm những cải cách kinh tế quan trọng được khởi xướng vào năm 1986 đã giúp Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trườ
Trang 1PHÂN TÍCH NGUỒN VỐN FDI VÀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
TẠI VIỆT NAM
Việt Nam được xem như một cơ hội thị trường to lớn khi quốc gia có sự chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế và phát triển Công cuộc Đổi Mới toàn diện bao gồm những cải cách kinh tế quan trọng được khởi xướng vào năm 1986 đã giúp Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó sử dụng cả chỉ thị và kế hoạch hóa chỉ dẫn Là một trong mười quốc gia hàng đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong chương trình Khảo sát Triển vọng Đầu Tư Quốc tế mới nhất của Liên Hiệp Quốc Sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào đầu năm 2007 đã mở đường cho sự tự do hóa thị trường lớn hơn và làm dấy lên làn sóng đầu tư nước ngoài Trong những năm gần đây, nhất là khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu ảnh hưởng đến hầu hết các nền kinh tế , chính Phủ Việt nam đã có nhiều biện pháp , chính sách nhằm khắc phục những thiệt hại do khủng hoảng gây ra để ổn định kinh tế xã hội
Theo đánh giá của Tổ chức Minh Bạch Quốc tế thì Việt Nam được xếp hạng là nước có tình hình tham nhũng trần trọng , Năm 2011 Việt Nam có những cải tổ nhất định nhưng vẫn là nước có chỉ số thấp và xếp ở cuối bảng xếp hạng Năm 2012 một số tập đoàn kinh tế nhà nước lâm vào tình trạng thua lỗ, thất thoát nhiều nghìn tỷ đồng đã trở thành gánh nặng cho nền kinh tế vốn đã nghèo thêm khó khan hơn Tình hình bất động sản đóng băng kéo theo các món nợ xấu của các tổ chức tín dụng làm cho nền kinh tế càng them kiệt quệ
Trong năm 2012, lạm phát và mất cân đối thương mại giảm làm giảm áp lực lên tiền đồng Tuy nhiên, các nhà kinh tế cũng cho rằng việc tăng giá một số mặt hàng, dịch vụ
cơ bản lại ảnh hưởng đến lạm phát Bên cạnh đó, so với các nước trong khu vực, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng so với GDP ở mức cao trong những năm trước đang để lại nhiều
Trang 2hệ lụy cho kinh tế Hồi tháng 9, báo chí trong nước dẫn nguồn bản tin nghiên cứu thị trường của ngân hàng BIDV cho biết, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã đạt mốc 22-23 tỷ USD, tương ứng khoảng 11,5 tuần nhập khẩu - cao hơn cả con số cập nhật của ADB công bố
Bước sang năm 2013, tăng trưởng của Việt Nam được ANZ dự báo ở mức cao hơn (5,6%) nhưng lạm phát dự kiến ở mức 9,3%, cao hơn khá nhiều so với mục tiêu 8% mà Chính phủ đề ra
Về dự trữ ngoại tệ : Con số 2,4 tháng nhập khẩu đã tăng so với số liệu mà ADB cung cấp hồi tháng 4/2012 Tại thời điểm này, ADB cho biết, quý I/2012, dự trữ ngoại hối của Việt Nam là 17 tỷ USD tương đương 2 tháng nhập khẩu, tăng khoảng 3,5 tỷ USD
so với con số được Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) công bố vào giữa năm 2011 còn theo báo cáo của Chính phủ cũng vào thời điểm cuối tháng 4, dự trữ ngoại tệ quốc gia đã đủ thanh toán cho 9 tuần nhập khẩu
Việt Nam đã bình ổn được tình hình kinh tế vĩ mô, song hoạt động sản xuất kinh doanh còn yếu, tăng trưởng tín dụng chậm gây trở ngại lớn cho tăng trưởng Chuyên gia của ngân hàng cũng đánh giá cao hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với những chuyển biến gần đây về mặt cơ cấu Theo đó, vốn FDI đang được hướng nhiều vào các ngành công nghệ cao
Trong bối cảnh dòng vốn FDI vào Việt Nam đang sụt giảm Báo cáo của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư cho thấy, 5 tháng đầu năm 2012, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam, bao gồm cả đăng ký mới (4,12 tỷ USD) và tăng thêm (1,2 tỷ USD), là 5,32 tỷ USD, giảm 31,8% so với cùng kỳ năm trước Nên nhớ, cùng kỳ năm ngoái, vốn FDI vào Việt Nam cũng đã giảm 49% so với năm 2010
Như vậy, đã 3 năm liên tiếp, vốn FDI vào Việt Nam sụt giảm Tuy nhiên, trao đổi với Báo Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định, sự giảm sút vốn FDI vào Việt Nam chỉ thuộc về vốn đăng ký, còn vốn giải ngân vẫn duy trì khoảng 11 tỷ USD/năm Cuối năm nay là thời điểm đánh dấu 25 năm ban hành Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam Theo số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, bắt đầu từ năm 2009, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chỉ còn 23 tỷ USD,
Trang 3bằng khoảng 30% so với năm trước Các năm tiếp theo liên tục có xu hướng giảm 10 tháng đầu năm nay, mới chỉ có gần 10,5 tỷ USD vốn FDI vào Việt Nam, bao gồm cả vốn cấp mới và tăng thêm, giảm gần 25% so với cùng kỳ năm 2011
Không cải thiện môi trường đầu tư thì không thể thu hút được dòng vốn FDI Một trong những nguyên tắc cơ bản về đầu tư, là ở đâu có lợi nhuận thì các doanh nghiệp sẽ đến
đó Chất lượng tăng trưởng và niềm tin thị trường của nền kinh tế Việt Nam là những vấn đề rất lớn Nền kinh tế Việt Nam đang gánh chịu những hệ quả xấu bị dồn lại từ nhiều năm trước và cần sớm nghiên cứu và đưa ra các biện pháp phù hợp
II Phân tích các chỉ tiêu tài chính của nền kinh tế
1 Lạm phát
Trong những năm qua, độ sâu tài chính của Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ Tỉ lệ cung tiền/GDP và tỉ lệ tiền gửi/GDP đều tăng mạnh trong những năm trở lại đây Trong khi đó, tỉ lệ tiền trong lưu thông trên tổng lượng tiền gửi giảm từ mức 28% năm 2006 xuống xấp xỉ 17,5% năm 2010 Điều này cho thấy tác động của yếu tố tiền tệ lên sản xuất đã lớn hơn và do vậy những điều hành chính sách của NHNN sẽ
Trang 4“nhạy” hơn.
Cung tiền và tín dụng cho khu vực tư nhân so với GDP của Việt Nam cũng ở vị trí tương đối cao so với các nước trong khu vực Tỉ lệ tín dụng từ hệ thống ngân hàng trên GDP của nền kinh tế cũng tăng mạnh và đạt mức 123,01%, chỉ xếp sau Hồng Kông (167%) và Trung Quốc (145%) vào năm 2009 Tuy nhiên, vốn của nền kinh tế chủ yếu vẫn phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng Điều này thể hiện ở sự chênh lệch lớn giữa tỉ lệ tín dụng từ ngân hàng/GDP hơn 123% trong khi tỉ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán/GDP năm 2010 chỉ xấp xỉ 35% Như vậy, có thể thấy hệ thống ngân hàng đóng vai trò đặc biệt quan trọng ở Việt Nam so với các nền kinh tế khác trong khu vực
Chính sách tiền tệ mở rộng cùng tăng trưởng tín dụng trong thời gian dài nhưng đầu
tư lại kém hiệu quả cùng với dòng tín dụng chảy vào các thị trường tài sản đã khiến lạm phát gia tăng nhanh chóng trở lại, đặc biệt là cuối năm 2010, và tăng tốc rất mạnh vào những tháng đầu năm 2011 Tốc độ tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn này có thể được coi là một chỉ số dẫn báo lạm phát của nền kinh tế Bên cạnh đó, ở cùng thời điểm, động thái điều chỉnh giá một số mặt hàng và điều chỉnh mạnh tỉ giá cũng được song song thực hiện Giá điện, nước tiếp tục được điều chỉnh tăng trong khi giá xăng dầu cũng có những thay đổi linh hoạt hơn theo chiều biến động của giá thế giới, đi kèm với tỉ giá tăng khiến giá nhập khẩu các yếu tố đầu vào gia tăng, tạo sức
ép chi phí đẩy đến lạm phát trong những tháng đầu năm 2011 Đặc biệt tháng 4/2011, CPI đã tăng 3,5% so với tháng trước và là mức lạm phát cao nhất trong cùng kì kể từ năm 1995
Lạm phát theo tháng 2009-2012
Trang 5Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Trước bối cảnh lạm phát tăng cao, chính sách tiền tệ đã được kiên định theo Nghị quyết 11 như đã đề cập với mục tiêu thắt chặt thể hiện ở việc hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng ở mức dưới 12% và tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán dưới 16% Các mức lãi suất chính sách cũng đều được điều chỉnh tăng tương ứng, lãi suất cơ bản được điều chỉnh lên 9% kể từ tháng 11/2010, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm được điều chỉnh lên 11% vào tháng 2/2011, 12% vào tháng 3, 13% vào tháng 4, và 14% vào tháng 5, trong khi
đó lãi suất tái chiết khấu cũng được điều chỉnh từ mức 7% lên 12% vào tháng 3 và 13% vào tháng 5 Đồng thời, tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ cũng tăng 1% vào tháng 6/2011 Bên cạnh đó, để đảm bảo lãi suất phù hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh, NHNN cũng đặt ra mức lãi suất trần huy động tiền gửi trong nền kinh tế là 14% Tuy vậy, khi nhìn vào tác động tới các ngân hàng thương mại, có thể thấy thực chất trần lãi suất huy động đã khiến lãi suất thực trong năm qua ở mức thấp, thậm chí âm Điều này làm giảm động cơ gửi tiền của người dân vào hệ thống ngân hàng, giảm lượng tiền gửi, hay nói cách khác tạo thành một kênh nữa thắt chặt tiền tệ bên cạnh các động thái thắt chặt tiền tệ khác
Kể từ tháng 9/2011, các biện pháp thắt chặt tiền tệ đã phát huy tác dụng, tín dụng cả năm tăng trưởng ở mức thấp đột ngột so với những năm trước, chỉ đạt khoảng 11-13%, thấp hơn so với mức hạn chế ở 15%, và chỉ số giá tiêu dùng (theo tháng) đã giảm
Trang 6sau nhiều tháng tăng nhanh liên tiếp Tuy nhiên, lạm phát cả năm 2011 vẫn đứng ở mức cao là 18,13%, trong khi lạm phát các nước khác trong khu vực đều ở mức một con số, cho thấy, mặc dù lạm phát trong năm qua do nhiều nguyên nhân khách quan
mà nhiều quốc gia cùng gặp phải như giá cả hàng hóa tăng trên thị trường thế giới song nguyên nhân chủ quan vẫn là từ chính sách trong nước, đặc biệt là chính sách tiền tệ nới lỏng mạnh trong những năm trước đây
2 Lãi suất – ngân hàng
- Tỉ lệ cho vay/huy động (LDR) ở mức cao Theo số liệu của IMF, tỉ lệ LDR của
Việt Nam đã giảm từ mức 117% vào tháng 1/2011 xuống 109% vào tháng 10/2011 Tuy vậy, mức này vẫn tương đương các mức của năm 2009 và 2010 Nếu tính cả lượng tín dụng mà các tổ chức tín dụng (TCTD) tìm cách lách trần tín dụng (20%) và trần tỉ lệ tín dụng phi sản xuất (16%) thông qua các hình thức khác như đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác đầu tư và các khoản phải thu khác thì tỉ lệ này có thể còn cao hơn nhiều Hơn nữa, sự mất cân đối giữa tín dụng và huy động chủ yếu xảy ra ở một số NHTM cổ phần yếu kém Đây là nguyên nhân chính khiến các ngân hàng thuộc nhóm này phải cạnh tranh lãi suất huy động bằng mọi giá
- Dòng tiền ra - vào các TCTD bị biến động mạnh Do mất cân đối cho vay/huy động
khiến một số TCTD trong nhóm yếu kém buộc phải đưa ra các biện pháp cạnh tranh thu hút vốn quyết liệt bằng lãi suất để hút tiền gửi Đây là nguyên nhân chính khiến cho tiền gửi rút trước kỳ hạn toàn ngành tăng mạnh, đặc biệt vào nửa cuối năm 2011 Tính đến 31/12/2011, doanh số này tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2010
Biến động doanh số tiền gửi rút trước kỳ hạn (tỉ đồng)
Trang 7Nguồn: Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia.
Các tổ chức tín dụng chủ yếu tập trung cho vay ngắn hạn thay vì dài hạn Doanh số cho vay tăng gấp hơn hai lần nhưng dư nợ bình quân chỉ tăng 13% Việc thu hẹp kỳ hạn cho vay giúp TCTD linh hoạt hơn trong việc kiểm soát hạn mức tăng trưởng tín dụng tại thời điểm cuối năm không vượt quá 20% Doanh số tiền gửi rút trước hạn trong kỳ liên tục tăng mạnh cùng với kỳ hạn tiền ngắn khiến các TCTD luôn ở trong tình trạng căng thẳng thanh khoản do phải liên tục cân đối kỳ hạn giữa cho vay và huy động
Nhiều TCTD phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng (TT2) khiến lãi suất trên thị trường này tăng mạnh ở nhiều thời điểm Theo số liệu của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tỉ lệ huy động TT2/Tổng tài sản tăng từ 16% năm 2010 lên 21,3% năm 2011
Có một vài TCTD tỉ lệ này chiếm tới 50% tổng tài sản, huy động TT2 tăng tới 56%
so với cùng kỳ 2010 Tỉ lệ huy động TT2/Tổng tài sản tăng mạnh ở nhóm NHTM cổ phần và nhóm ngân hàng liên doanh (NHLD), và ngân hàng nước ngoài (NHNNg) Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tập trung vào các kỳ hạn ngắn, đặc biệt là giao dịch qua đêm và một tuần, chiếm tới 80% tổng giá trị giao dịch Một hiện tượng đáng lưu ý trên thị trường 2 là từ tháng 9 đến cuối năm 2011, thanh khoản của thị trường này đã bị ngưng trệ Các giao dịch trên thị trường phát sinh chủ yếu giữa các ngân hàng có thanh khoản đảm bảo Những NHTM yếu kém hầu như không thể vay tiếp được tiền từ các ngân hàng thanh khoản tốt vì đã không thể trả
Trang 8được các khoản vay cũ Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tại thời điểm 31/12/2011 nợ quá hạn trên thị trường 2 đã tăng 94,2% tỉ so với năm 2010 Để vay được tiền trên thị trường liên ngân hàng, các TCTD buộc phải có tài sản thế chấp Đây
là lần đầu tiên trong lịch sử hệ thống tín dụng Việt Nam, các NHTM yêu cầu các NHTM khác phải có thế chấp mới được vay trên thị trường liên ngân hàng Lý do chủ yếu của hiện tượng này là vì các NHTM yếu kém đã không thể huy động được vốn trên thị trường 1 khi NHNN phạt nặng các hành vi vượt trần huy động lãi suất Một nguyên nhân quan trọng không kém là nợ xấu vào giai đoạn cuối năm tăng cao, khiến cho các ngân hàng này không thể thu được tiền về để cải thiện thanh khoản
Lãi suất VND liên ngân hàng năm 2011
Nguồn: Phòng phát triển, Ngân hàng Quân đội.
3 Tỷ giá hối đoái
Nhìn chung, điều hành tỉ giá của Việt Nam thời gian qua có thể tóm tắt như sau: phá giá mạnh khi nền kinh tế gặp phải khủng hoảng, áp lực từ thị trường lớn và mức tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do sai biệt quá nhiều; và neo chặt tỷ giá mỗi khi kinh tế đi vào ổn định, khi mức tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do gần sát Trong suốt giai đoạn từ 2001-2008, chính sách tỷ giá của Việt Nam khá cứng
Trang 9nhắc, và cho đến khi khủng hoảng tài chính xảy ra, chính sách tỷ giá mới có những điều chỉnh đánh dấu cho sự bắt đầu một giai đoạn điều chỉnh tỷ giá thường xuyên hơn Việc tỉ giá liên ngân hàng thực tế cuối năm 2011 chỉ tăng nhẹ so với cuối năm 2010 được xem là một thành công trong chính sách tiền tệ năm vừa qua của Chính phủ Nguyên nhân chính khiến cho tỉ giá bình ổn là do mức chênh lệch rất lớn giữa lãi suất huy động VND và USD Với mức lãi suất huy động VND thực tế khoảng 16-19% trong hầu hết cả năm trong khi lãi suất USD chỉ ở mức 2-3% thì rõ ràng tính hấp dẫn của việc giữ ngoại tệ đã bị giảm đáng kể
Tỷ giá USD/VND, 2005-2011 (theo tháng)
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Để thấy được những biến động của tỉ giá trong năm vừa qua, cần thiết phải xét đến nguyên nhân của bất ổn tỉ giá trong một số năm gần đây Tỉ giá hối đoái của Việt Nam đã trở nên biến động mạnh kể từ năm 2007, khi dòng vốn quốc tế đổ vào tăng lên đột ngột gây áp lực tăng giá đồng Việt Nam Tuy nhiên, giai đoạn tăng giá này của Việt Nam khá ngắn Lạm phát ở Việt Nam tăng cao trong những tháng đầu năm
2008 cùng bất ổn vĩ mô và khủng hoảng kinh tế thế giới kể từ giữa năm đã khiến
Trang 10dòng vốn gián tiếp vào Việt Nam đảo chiều Trong khi đó, thâm hụt thương mại tăng mạnh liên tục và kéo dài (trừ ba tháng đầu năm 2009), nhu cầu nắm giữ vàng và ngoại tệ như những khoản dự trữ cũng tăng mạnh khi nền kinh tế nhiều bất ổn, do vậy nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu vàng và hàng hóa đều tăng mạnh Những yếu
tố này cùng một lúc tác động khiến cho đồng Việt Nam chịu áp lực giảm giá khá lớn Do đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã phải nới rộng biên độ tỷ giá liên tục từ mức 0,75% vào năm 2007 lên mức 5% vào tháng 3/2009 sau bốn lần điều chỉnh Sau đó phải tiếp tục phá giá 5,4% vào tháng 11/2009 và thu hẹp biên độ xuống 3% Mặc dù vậy, áp lực phá giá tiền đồng sau đó vẫn mạnh, mà một phần nguyên nhân bên cạnh các yếu tố trên còn do áp lực tâm lý lo ngại tiền đồng mất giá nên găm giữ tài sản là vàng và ngoại tệ Điều này thể hiện ở quy mô của mục Lỗi và Sai sót trong cán cân thanh toán năm 2009 tăng đột biến lên tới hơn 9 tỷ USD so với mức hơn 1 tỷ USD của năm 2008 Đến tháng 2/2010, NHNN lại tiếp tục phá giá tiền đồng, tỷ giá lần này lên mức 18.544 VND/USD Đi kèm với phá giá tiền đồng là các biện pháp quản lý hành chính như đóng cửa sàn vàng, chấm dứt giao dịch vàng trên các tài khoản nước ngoài của các tổ chức tín dụng cũng như những điều chỉnh lãi suất trong bối cảnh lạm phát có dấu hiệu tăng cao Sau những chính sách này, thị trường ngoại hối tạm thời ổn định cho đến giữa năm 2010 với những dấu hiệu tích cực của đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và kiều hối Trong điều kiện thuận lợi đó, NHNN đã
có sự điều chỉnh chủ động khi tỷ giá vẫn tương đối ổn định vào tháng 8/2010
Tuy vậy, áp lực tỷ giá lại quay trở lại khi lạm phát, áp lực trả nợ ngoại tệ của doanh nghiệp, hoạt động đầu cơ tỷ giá của người dân, và thâm hụt thương mại lại gia tăng vào cuối năm 2010 Với mức ngoại tệ mỏng, đến tháng 2/2011, một lần nữa NHNN phải thực hiện phá giá mạnh tới 9,3%, đẩy mức tỷ giá lên 20.693 VND/USD và cam kết mức tỷ giá cho đến cuối năm sẽ không tăng thêm quá 1% Đi kèm với đợt phá giá này, trong năm 2011, chính sách lãi suất duy trì mức chênh lệch lãi suất ngoại tệ
và lãi suất nội tệ cũng như việc quản lý ngoại hối được thực hiện chặt chẽ hơn đã huy động được một lượng lớn ngoại tệ trong dân cư vào hệ thống ngân hàng, và giảm áp lực đáng kể đến thị trường ngoại hối Bên cạnh đó, chính sách tài khóa và tiền tệ thận trọng nhằm mục tiêu giảm tổng cầu cũng khiến nhập siêu giảm cũng khiến tỉ giá dần