Định nghĩa về Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: - Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment - FDI xảy ra khi một
Trang 1
II ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI – XU HƯỚNG QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN:
1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
1.1 Định nghĩa về Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI:
- Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư
từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công
cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý
ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
1.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) 11 tháng năm 2012:
Theo Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì tính đến ngày 20 tháng 11 năm
2012 cả nước có 980 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 7,25
tỷ USD, bằng 60,4% so với cùng kỳ năm 2011, cụ thể như sau:
* Tình hình hoạt động:
- Vốn thực hiện: Trong 11 tháng đầu năm 2012, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 10 tỷ USD, bằng 99,5 % so với cùng kỳ năm 2011
- Tình hình xuất, nhập khẩu: So với cùng kỳ năm 2011 thì xuất khẩu của khu vực ĐTNN
(kể cả dầu khí) đạt 65,61 tỷ USD, tăng 31,8% và chiếm 63,09% tổng kim ngạch xuất khẩu Nhập khẩu đạt 54,96 tỷ USD, tăng 24,3% và chiếm 52,85% tổng kim ngạch nhập khẩu Tính chung trong 11 tháng năm 2012, khu vực ĐTNN xuất siêu 10,65 tỷ USD
Trang 2* Tình hình cấp Giấy chứng nhận đầu tư:
- Đến 20/11/2012 cả nước có 980 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư.
- Có 406 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,92 tỷ USD, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm 2011
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong 11 tháng đầu năm 2012, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 12,18 tỷ USD, bằng 78,6% so với cùng kỳ 2011
- Theo lĩnh vực đầu tư: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được
nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với 431 dự án đầu tư đăng ký mới, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 8,5 tỷ USD, chiếm 69,8% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 11 tháng Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ 2, đứng thứ 3 là lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa và tiếp theo là lĩnh vực thông tin và truyền thông
- Theo đối tác đầu tư: Tính từ đầu năm 2012 đến nay, đã có 56 quốc gia và vùng lãnh thổ
có dự án đầu tư tại Việt Nam Đứng đầu là Nhật Bản, tiếp theo là Singapore, Hàn Quốc
- Theo địa bàn đầu tư: Tính đến thời điểm hiện tại, Bình Dương là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với 2,28 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm chiếm 18,8% tổng vốn đầu tư Tiếp theo là TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nội
2 Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài:
- Hoạt động FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà còn có cả công nghệ,
kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, năng lực Marketing, trình độ quản lý Hình thức đầu tư này mang tính hoàn chỉnh bởi khi vốn đưa vào đầu tư thì hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành và sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường nước chủ nhà hoặc xuất khẩu Do vậy, đầu tư kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nhân tố làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Đây là đặc điểm để phân biệt với các hình thức đầu tư khác, đặc biệt là với hình thức ODA (hình thức này chỉ cung cấp vốn đầu tư cho nước sở tại mà không kèm theo kỹ thuật và công nghệ)
Trang 3- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một lượng vốn tối thiểu vào vốn pháp định tuỳ theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài ở từng nước, để họ có quyền trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư
- Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài phụ thuộc vào vốn góp Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài càng cao thì quyền quản lý, ra quyết định càng lớn Đặc điểm này giúp ta phân định được các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Nếu nhà đầu tư nước ngoài góp 100% vốn thì doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành
- Quyền lợi của các nhà ĐTNN gắn chặt với dự án đầu tư: Kết quả hoạt động sản xuất kinh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu tư Sau khi trừ đi thuế lợi tức
và các khoản đóng góp cho nước chủ nhà, nhà ĐTNN nhận được phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định
- Chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thường là các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia (chiếm 90% nguồn vốn FDI đang vận động trên thế giới) Thông thường các chủ đầu tư này trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp (vì họ có mức vốn góp cao) và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ
- Nguồn vốn FDI được sử dụng theo mục đích của chủ thể ĐTNN trong khuôn khổ luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại Nước tiếp nhận đầu tư chỉ có thể định hướng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào những mục đích mong muốn thông qua các công cụ như: thuế, giá thuê đất, các quy định để khuyến khích hay hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một lĩnh vực, một ngành nào đó
- Mặc dự FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính Phủ song có phần ít lệ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các bên tham gia hơn so với ODA
- Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nước ngoài cho nước chủ nhà, bởi nhà ĐTNN chịu trách nhiệm trực tiếp trước hoạt động sản xuất kinh doanh của họ Trong khi đó,
Trang 4hoạt động ODA và ODF (Official Development Foreign) thường dẫn đến tình trạng nợ nước ngoài do hiệu quả sử dụng vốn thấp
Trang 53 Lợi ích của thu hút FDI:
- Bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân
tố vốn luôn được đề cập Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều
vốn hơn nữa Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI
- Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng
trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng"
Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó Thu
hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra
cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước
- Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia,
không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác
trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.
- Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI
là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Không chỉ có lao động thông thường,
mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp
vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần
trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh hàng năm
III TẬP ĐOÀN WALMART LẬP KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM:
Trang 61 Tổng quan về Walmart:
1.1 Sản phẩm ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh:
- WalMart - tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới của Mỹ, được thành lập năm 1962 tại Rogers, Bang Arkansas của Mỹ;
- Trụ sở chính: Bentonville, Arkansas, Mỹ; người sáng lập là Sam Walton (1918 – 1992);
- Lãnh đạo chủ chốt: H.Lee Scott, tổng giám đốc điều hành; S.Robson Walton, chủ tịch hội đồng quản trị; Tom Schowe, giám đốc tài chính Trụ sở chính của Wal-mart tại Bentonville, Arkansas, US
- Ngành: kinh doanh bán lẻ;
- Sản phẩm: Chuỗi cửa hàng giảm giá, đại siêu thị và các thị trường lân cận;
- Thị trường của Wal-mart: Mỹ, Mêxicô, Anh, Nhật, Argentia, Braxin, Canađa, Trung Quốc, Puerto Rico,…Wal-Mart hoạt động với hơn 3.800 cơ sở ở nước Mỹ và hơn 2.600 ở nước ngoài Trung bình cứ một siêu của Wal-mart mở ra, giá cả hàng hoá của các siêu thị khác sẽ phải giảm 10-15% Khoảng 30% loại mùng mền, giấy toitlet, xà phòng, kem đánh răng, 20% thức cho các loại vật nuôi và 15-20% đĩa CD, đầu máy Video và đĩa DVD khác Việc Wal-Mart giảm giá thực phẩm đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Mỹ tối thiểu
50 tỉ USD/năm Song, điều này không có nghĩa Wal-Mart chịu thiệt hòi Doanh số và lợi nhuận trước thuế của người khổng lồ này vẫn bỏ xa các đối thủ “lực lưỡng” khác Với hơn 176 triệu lượt khách hàng mỗi tuần viến thăm cửa hàng Wal-Mart trên toàn thế giới, trong đó ở Mỹ là 127 triệu lượt mỗi tuần
1.2 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản:
- Theo số liệu của tờ báo Business Insider của Mỹ, trong năm tài chính 2012, Walmart đạt doanh thu 444 tỷ USD, cao hơn 20 tỷ USD so với GDP của Áo Nếu Walmart là một quốc gia, đây sẽ là nền kinh tế lớn thứ 26 trên thế giới
Trang 7- Walmart hiện có 2,2 triệu nhân viên trên toàn thế giới, đông hơn dân số thành phố Houston Riêng tại Mỹ, hãng này có 1,4 triệu nhân viên Nếu Walmart là một lực lượng quân
sự, đây sẽ là đội quân lớn thứ hai thế giới, sau Trung Quốc
- Walmart lớn hơn cả các hãng bán lẻ khác, bao gồm Home Depot, Kroger, Target, Sears, Costco và K-Mart cộng lại
- Trung bình, mỗi gia đình 4 người tiêu dùng 4.000 USD cho Walmart trong một năm Mỗi tuần, Walmart phục vụ hơn 200 triệu khách hàng tại 10.400 cửa hàng ở 27 quốc gia
- Cứ mỗi 4 USD người Mỹ chi tiêu cho thực phẩm, thì có 1 USD được sử dụng để mua hàng ở Walmart
Vào năm 2000, CEO Michael Duke của Walmart đã hưởng mức lương 35 triệu USD Một giờ đồng hồ làm việc của Micheal nhận khoản tiền còn lớn hơn cả lương mà một nhân viên làm việc toàn thời gian tại Walmart nhận được trong cả năm
1.3 Kế hoạch kinh doanh vào Việt Nam:
- Thị trường dự định: Việt Nam
- Lý do ban đầu chọn thị trường:
+ Việt Nam là một thị trường bán lẻ đầy tiềm năng Thể hiện qua việc Việt Nam ngày càng trở thành một địa điểm kinh doanh hấp dẫn tại Châu Á với tốc độ tăng trưởng bền vững
và nhu cầu tiêu dùng khá ổn định trong một thời gian dài, và quan trọng nhất là Chính Phủ luôn có các chính sách khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài kịp thời Thị trường bán lẻ Việt Nam tuy quy mô còn nhỏ song vẫn rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài do áp lực cạnh tranh chưa lớn, trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục cao, chính trị ổn định Bên cạnh đó, người tiêu dùng Việt Nam thuộc hàng trẻ nhất Châu Á và có mức chi tiêu ngày càng tăng, tăng 75% từ năm 2007 – 2012
Trang 8+ Việt Nam liên tục được xếp hạng cao về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ GRDI Theo A.T.Kearney (Hãng tư vấn Mỹ), năm 2007, Việt Nam có thị trường bán lẻ hấp dẫn thứ
4 thế giới (chỉ sau Ấn Độ, Nga và Trung Quốc) Năm 2008, Việt Nam đã vươn lên đứng đầu + Sự bình ổn: chính trị ổn định Việt Nam được xem là quốc gia có thể chế ổn định ít gây
ra các xung đột chính trị hoạt động ngoại giao phát triển mạnh, theo xu hướng tích cực
- Các đạo luật liên quan: Từ 1/7/2006, Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụng chung có cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài) đã có hiệu lực, đã mang lại sự lớn mạnh cho các doanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu
- Theo Báo cáo của Bộ Công Thương, Việt Nam thị trường bán lẻ không chỉ là sân chơi chung cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, mà còn trở thành một thị trường hấp dẫn cho các tập đoàn đa quốc gia
- Chính sách của Nhà nước: Chính phủ đang đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi như giảm được 2 ngày trong quá trình hoạt động xuất nhập khẩu, cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 28% xuống còn 25%, áp dụng một loạt thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng mới, các thủ tục hải quan mới
- Các yếu tố kinh tế: Việt Nam đã tạo ra được một môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động chính sách khuyến khích đầu tư hấp dẫn
- Tình trạng nền kinh tế: Trong 9 tháng đầu năm 2012, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ước tính tăng 4.73% so với cùng kỳ năm trước (năm 2011 là 5.77%) Với mức tăng GDP của riêng quý III đạt 5.35% tăng trưởng 3 tháng này đã có “nhỉnh” hơn tốc đọ tăng GDP Quý I
và Quý II (Quý I tăng 4% Còn quý II tăng 4.66%)
2 Tổng quan về thị trường Việt Nam:
2.1 Phân tích chỉ số tài chính, kinh tế của Việt Nam:
- Tổng sản lượng quốc gia (GDP):
Trang 9+ Chỉ số này đo lường giá trị thị trường của hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trên một quốc gia, không xét đến yếu tố quốc tịch của các công ty sở hữu các nguồn lực
+ Số liệu của Tổng cục Thống kê (GSO) công bố ngày 27/9/2012 cho thấy tăng trưởng Việt Nam trong 9 tháng năm nay ở mức 4,73%, đồng thời cảnh báo nguy cơ tái lạm phát.
+ Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp hơn mức 5,77% trong năm 2011 và nền kinh tế hiện tại đang đối mặt với "những khó khăn và thử thách" cần phải vượt qua, bản báo cáo của GSO cho biết
- Chỉ số quản lý mua hàng (PMI): Sản lượng sản xuất tiếp tục giảm trong tháng 8/2012
nhưng với tốc độ thấp nhất trong bốn tháng Trong những phản hồi có suy giảm sản lượng tại nhà máy, các công ty thường nêu nguyên nhân là do số lượng các đơn đặt hàng mới thấp Tương tự với khuynh hướng hoạt động sản xuất, khối lượng công việc mới cũng đã giảm chậm lại kể từ tháng trước Đây là lần giảm thứ tư trong vòng bốn tháng với mức độ giảm nhẹ
- Chỉ số giá sản xuất (PPI): Chỉ số PMI Việt Nam còn 49,5 điểm so với mức 50 điểm
vào tháng 3 Đây là dấu hiệu cho thấy điều kiện kinh doanh tổng thể của ngành sản xuất trong tháng đã xấu đi Nguyên nhân được cho là do sản lượng sản xuất yếu kém đã triệt tiêu
sự gia tăng của lượng đơn đặt hàng mới
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Tổng cục Thống kê vừa công bố, chỉ số giá tiêu dùng
(CPI) tháng 9/2012 đã tăng vọt 2,2% so với tháng trước và tăng 5,13% so với tháng 12 năm trước Như vậy, CPI đã tăng 6,48% so với tháng cùng kỳ năm 2011 và bình quân 9 tháng năm 2012 tăng 9,96%
- Chỉ số niềm tin người tiêu dùng (CCI): Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam
đã tăng từ 85 điểm (trong tháng 4) lên 109 điểm (tháng 10), trong khi trung bình toàn thế giới chỉ tăng 9 điểm, đạt mức 86 điểm thì Việt Nam đã tăng đến 24 điểm
2.2 Cán cân thương mại và những ảnh hưởng tài chính toàn cầu:
Trang 10- Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và các nền kinh tế chủ chốt, đặc biệt là của khu vực
EU đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng thu hẹp đáng kể, thì nhu cầu nhập khẩu các yếu tố đầu vào sản xuất của các Doanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu
sẽ bị giảm
- Theo nhóm nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt cho biết cán cân thương mại hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2012 của nước ta đã đạt mức thâm hụt thấp kỷ lục khoảng 0,685 tỷ USD và bằng 1,3% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa so với mức nhập siêu cùng kỳ 6,7 tỷ USD trong năm 2011 bằng 15,7% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
Do đó, khi ngoại cầu của thị trường thế giới và các nền kinh tế chủ chốt, đặc biệt là của khu vực đồng Euro đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam đang có xu hướng thu hẹp đáng kể thì nhu cầu nhập khẩu các yếu tố đầu vào sản xuất của các doanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu sẽ bị giảm Ngoài ra, còn có một nguyên nhân nữa là do sức mua thị trường nội địa cũng đang suy giảm và tâm lý tiết kiệm chi tiêu của dân chúng ngày càng gia tăng nên cầu về tiêu thụ các hàng hóa ngoại nhập cao cấp cũng có xu hướng giảm, qua đó góp phần hạn chế bớt kim ngạch nhập khẩu
2.3 Tại sao chiến lược đầu tư vào Việt Nam là đúng đắn/ không đúng đắn?
Trong những năm trở lại đây, đầu tư nước ngoài từ một số nước vào Việt Nam có xu hướng gia tăng Cụ thể Nhật Bản là quốc gia có nhiều doanh nghiệp thành viên của JCCI đã lên gần 1,3 triệu hội viên, trong đó có tới 99,7% là đơn vị nhỏ và vừa Đồng thời, Nhật cũng
là nước đầu tiên trong nhóm G7, công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường Năm 2011, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt 21,2 tỷ USD, trong đó, việc xuất - nhập tương đương cả hai nước Tính đến hết tháng 8/2012, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật vào Việt Nam đạt 4,3 tỷ USD, đứng đầu trong số 39 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào nước ta, tính cả vốn cấp mới và tăng thêm
Lý do có sự tăng trưởng này: “bắt nguồn từ thảm họa động đất sóng thần năm ngoái, một loạt các nhà máy trong nước bị thiệt hại, sản xuất không đáp ứng nhu cầu Vì thế, để duy trì chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp Nhật phải tìm kiếm, xây dựng các nhà máy ở các quốc gia