NUÔI TÔM TRONG RUỘNG LÚA Nuôi tôm trong ruộng lúa là hình thức canh tác kết hợp giữa Trồng Trọt và Thủy sản. Phương thức nuôi này không những làm giảm việc tranh diện tích sản xuất mà còn góp phần tăng thu nhập trên một mảnh đất, nuôi tôm trong ruộng lúa chẳng những không giảm năng suất lúa mà còn có sản phẩm tôm. a. Công trình Ruộng nuôi cần có bờ chắc chắn giữ được nước, ngăn chặn sự xâm nhập của địch hại, mặt ruộng thấp dể dàng cấp và tiêu nước. Thời gian ngập nước trên ruộng (10- 30 cm) càng dài càng tốt để tôm có thời gian lên ruộng sinh trưởng nhưng cũng tùy theo giai đoạn phát triển của cây lúa mà mức nước giữ sẽ khác nhau. Ruộng nuôi tốt nhất là hình chữ nhật diện tích từ 0.1- 1 ha, thông thường 0.2-0.5 ha Mỗi ruộng có ít nhất là một cống sao cho thay được càng nhiều nước vào lúc nước rong thì càng tốt. Bên cạnh đó có thể dùng cống để thu thêm tôm giống từ bên ngoài vào. Hệ thống mương bao rất quan trọng đây sẽ là nơi trú của tôm lúc nhiệt độ cao hay phun thuốc trừ sâu, mương bao có kích thước cỡ 2- 3 m (sâu 1-2 m) dốc về phía cống, ngoài ra cũng nên đào thêm các mương phụ theo dạng bàn cờ rộng 1-1.5 m (sâu 0.8- 1 m) tổng diện tích mương so với diện tích ruộng nên từ 15- 25 % là phù hợp.
Trang 1Thông tin kĩ thuật dành cho người nuôi
tôm càng xanh
Trang 2Phần 2B: Các mô hình nuôi tôm: nuôi tôm trong ruộng lúa
(Tài liệu đào tạo từ xa - Viện Thuỷ sản - Đại học Cần Thơ)
NUÔI TÔM TRONG RUỘNG LÚA
Nuôi tôm trong ruộng lúa là hình thức canh tác kết hợp giữa Trồng Trọt và Thủy sản Phương thức nuôi này không những làm giảm việc tranh diện tích sản xuất mà còn góp phần tăng thu nhập trên một mảnh đất, nuôi tôm trong ruộng lúa chẳng những không giảm năng suất lúa mà còn có sản phẩm tôm
a Công trình
Ruộng nuôi cần có bờ chắc chắn giữ được nước, ngăn chặn sự xâm nhập của địch hại, mặt ruộng thấp dể dàng cấp và tiêu nước Thời gian ngập nước trên ruộng(10- 30 cm) càng dài càng tốt để tôm có thời gian lên ruộng sinh trưởng nhưng cũng tùy theo giai đoạn phát triển của cây lúa mà mức nước giữ sẽ khác nhau Ruộng nuôi tốt nhất là hình chữ nhật diện tích từ 0.1- 1 ha, thông thường 0.2-0.5 ha Mỗi ruộng có ít nhất là một cống sao cho thay được càng nhiều nước vào lúc nước rong thì càng tốt Bên cạnh đó có thể dùng cống để thu thêm tôm giống từ bên ngoài vào
Hệ thống mương bao rất quan trọng đây sẽ là nơi trú của tôm lúc nhiệt độ cao hay phun thuốc trừ sâu, mương bao có kích thước cỡ 2- 3 m (sâu 1-2 m) dốc về phía cống, ngoài ra cũng nên đào thêm các mương phụ theo dạng bàn cờ rộng 1-1.5 m (sâu 0.8- 1 m) tổng diện tích mương so với diện tích ruộng nên từ 15- 25 %
là phù hợp
b Kỹ thuật nuôi
Cải tạo ruộng nuôi: việc chuẩn bị ruộng để cấy vẫn tiến hành bình thường nhưngmương cần phải sên vét sau 2-3 vụ nuôi Tiến hành tát cạn ao/mương, bón vôi, phơi đáy ao/mương như chuẩn bị cho ao nuôi Đối với lúa có thể sạ hay cấy nhưng cấy thì tốt hơn vì tôm có thể di chuyển dễ dàng
Mùa vụ: trong năm có 2 vụ lúa chính là Đông- Xuân (tháng 11- 12 đến tháng 2- 3dl) và Hè- Thu (tháng 4-5 đến tháng 7-8 dl) tùy vùng mà tôm nuôi có thể ghép với các vụ lúa khác nhau
Vụ Hè - Thu do có thời gian ngập ruộng dài nên tôm nuôi có thể tận dụng thời gian ngập ruộng sau khi thu hoạch lúa Vụ này kéo dài từ tháng 4- 5 dl đến tháng 10- 11 dl (7 tháng )
Vụ Đông -Xuân do có thời gian khô đồng nên nuôi ghép tôm có khó khăn hơn vì thời gian nuôi ngắn, tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm Tuy vậy một số vùng có cao trình mặt bằng thấp, chủ động được nước thì có thể nuôi ghép được nhưng thời gian nuôi thường giáp năm (11 tháng) đến vụ Đông -Xuân tiếp theo mới thu hoạch toàn bộ Tôm giống thả trong mương bao để ương và chuẩn bị cấy lúa, khi cấy xong dâng mực nước lên cho tôm lên ruộng
Mật độ thả: ở ruộng nuôi do diện tích mương giới hạn nên mật độ thả thấp 3-4 con/ m2 (tôm giống 3-5 g/con) hay 0.5- 2 con/ m2 tùy theo kh năng bổ sung giống
và thức ăn Hiện nay, việc th tôm trong ruộng cùng với cá khá phổ biến, thường mật độ thấp từ 1- 2 tôm /m2
Thức ăn, phương pháp cho ăn: kiểm tra tôm sử dụng thức ăn và trọng lượng tôm hàng tháng để điều chỉnh khẩu phần ăn, tiến hành như nuôi tôm trong ao
Trang 3Khẩu phần cho ăn chỉ cần 3% trọng lượng cơ thể sau một tháng đối với tôm giống
tự nhiên và sau 4 tháng đối với tôm bột vì trong ruộng có nhiều thức ăn tự nhiên, mật độ thả thấp Thức ăn nên rãi nhiều điểm xung quanh mương hay trong sàng ănđặt trong ao
Chăm sóc quản lý: nuôi tôm trong ruộng lúa cần phải chăm sóc, quản lý thật chặt chẽ vì nó liên quan đến việc canh tác lúa
Trao đổi nước thường xuyên, càng nhiều càng tốt nhưng cũng chú ý việc kích thích tôm lột xác như nuôi trong ao Vào ban đêm do các loại thực vật và rể lúa sử dụng oxy nên rất dể xảy ra tình trạng thiếu oxy vào buổi sáng, nếu có hiện tượng tôm nổi đầu vào buổi sáng thì cần tiến hành trao đổi nước ngay
Phòng chống và theo dõi thường xuyên địch hại của tôm vì nuôi tôm trong ruộnglúa địch hại có thể ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ sống và năng suất của tôm
Việc phun thuốc trừ sâu cho lúa phải cẩn thận, thông thường rút hết nước trên ruộng lúa cho tôm xuống mương và tiến hành phun thuốc nhằm tránh thuốc rơi xuống mương, sau 2-3 ngày dâng nước lên để tôm trở lại ruộng ăn bình thường Mặt khác, cũng cần chú ý sử dụng các loại thuốc ít độc đối với tôm như DDVP, Basa, Azorin, Monitor và chọn các giống lúa kháng sâu rầy để hạn chế việc phun thuốc
Thu hoạch: mặc dù thức ăn tự nhiên trong ruộng phong phú nhưng mật độ nuôi thấp nên tôm tăng trưởng nhanh ngược lại địch hại nhiều nên năng suất thường thấp 100- 300 kg/ ha/vụ đối với vụ Hè - Thu và riêng đối với vụ Đông - Xuân thì thu tỉa thả bù
THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM SOÁT THỨC ĂN
Thức ăn cho tôm bảo đảm đủ dinh dưỡng và khoáng để tôm phát triển tốt, lột xác dể dàng Có thể dùng thức ăn viên, cá vụn, con ruốc hay tép v.v
Thức ăn phải bảo đảm các thành phần dinh dưỡng như sau:
Trong ruộng lúa chỉ cần cho ăn bằng 1/2 lượng thức ăn trong ao, vì tôm có thể ăn thức
ăn tự nhiên trong ruộng lúa Có thể dựa vào bảng 4 để tính vào lượng thức ăn hàng ngày Nếu dùng thức ăn tươi sống tăng lên 4-5 lần
Cho ăn ngày 2 lần vào 6h và 18h Thức ăn được rải đều khắp ao để tôm dễ bắt mồi Trong các ao để các sàng chứa thức ăn, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu, nếu thiếu phải bổ sung thêm, nếu thừa thì giảm xuống.
Thời gian Trọng Tỷ lệ Thức ăn % trọng
Trang 4nuôi (ngày) thể trung lượng cá
bình (g)
sống (%)
Kỹ thuật nuôi tôm càng xanh trên ruộng
1 Các hình thức nuôi tôm càng xanh trên ruộng lúa ở Việt Nam
- Mô hình 2 vụ lúa xen canh 1 vụ tôm: Ruộng được trồng 2 vụ lúa Hè-Thu vàĐông-Xuân Tôm được nuôi kết hợp với lúa Hè-Thu và thu hoạch trước khi bắt đầu
vụ Đông Xuân Mô hình này thích hợp cho vùng lũ thấp, vẫn giữ sản xuất lúa
và phải thả tôm giống có kích cỡ lớn
Trang 52 Kỹ thuật nuôi
Chọn lựa địa điểm
Có nhiều yếu tố quan trọng cần phải xem xét khi chọn lựa địa điểm nuôi tôm trênruộng Tốt nhất chọn nơi có mùa ngập lũ, điều kiện đất đai không nhiễm phèn, có
hệ thống kênh-sông để cấp thoát nước tốt vào đầu vụ nuôi, có khả năng thu muathức ăn, nhất là thức ăn tươi sống và rẻ (cua, ốc cá tạp), hay có nguồn tôm giống
dễ dàng Tốt nhất vị trí nuôi nên có diện lưới quốc gia
Thiết kế ruộng nuôi Ruộng nuôi tôm có diện tích từ 0,5-2 ha Tùy mô hình mà có thể thiết kế ruộngnuôi khác nhau Đối với mô hình 2 lúa kết hợp 1 tôm thì nhất thiết ruộng phải cómương bao xung quanh, chiếm từ 20-25 % tổng diện tích ruộng Mương rộng từ 2-
3 m và sâu 0,8-1,0 m so với mặt ruộng Đối với các mô hình còn lại thì ruộngkhông nhất thiết phải có mương bao mà dùng máy ủi đất mặt ruộng để đắp bờ
ruộng cao và chắc chắn, và ruộng trở thành một ao nổi
Bờ bao ruộng không nhất thiết là phải cao hơn đỉnh lũ, nhưng tốt nhất cao từ 1-1,2
m và chân bờ rộng từ 3-4 m Vào mùa lũ, nên dùng lưới mịn chắn trên mặt bờ baocao hơn mức nước khoảng 30-40 cm để ngăn không cho tôm thất thoát Trong ruộng nên có khu ương tôm có diện tích khoảng 10% diện tích ruộng nuôi.Khu ương có thể là một ao nhỏ hay được bao ví bằng lưới Ao ương rất quan trọng
vì có thể ương dưỡng và quản lý tôm tốt trong 1 tháng đầu trước khi thả ra nuôi đạitrà Đặc biệt, ao ương rất cần thiết đối với mô hình “2 vụ lúa xen canh 1 vụ tôm”nhằm tận dụng thời để gian ương tôm khi đang xạ lúa Ao cũng cần thiết cho môhình “2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm” vì phải ương tôm lớn trong thời gian trồng lúa
vụ đầu, để có tôm lớn thả ra sau khi thu hoạch lúa
Chuẩn bị ruộng nuôi Đối với mô hình 2 lúa xen canh 1 tôm, ngoài công tác chuẩn bị ruộng như cày xới
để trồng lúa Hè-Thu như bình thường, cần phải chuẩn bị sên vét mương bao, gia cố
bờ bao và ao ương, bón vôi cho mương và ao ương tôm giống (15-20 kg/100m2).Khi tiến hành sạ lúa Hè-Thu trên ruộng thì cũng bắt đầu ương tôm giống trong aoương Khi tôm ương được 1 tháng thì cho lên ruộng lúa có mức nước thích hợp với
lúa
Đối với các mô hình luân canh khác, sau khi sau khi thu hoạch lúa, cần chuẩn bịruộng nuôi tôm như cắt dọn sạch gốc rạ, sên vét mương bao, bừa trục mặt ruộng,sửa lại bờ bao, lắp các lỗ mọi, hang hốc Mương bao cần được bón vôi với lượngkhoảng 15-20 kg/100m2 Trước khi thả giống lên ruộng vài ngày, cho nước vàongập mặt ruộng 0,6-0,8 m Nước cấp vào phải được lọc qua túi lưới lọc mịn, dài đểngăn chặn định hại Riêng mô hình 2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm thì phải ương tôm1-1,5 tháng trước khi thu hoạch lúa Hè-Thu để có tôm giống lớn khi thả nuôi thịt
Mật độ và thả giống:
Đối với mô hình 2 vụ lúa xen canh 1 vụ tôm, hoặc 1 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm, do
có thời gian nuôi dài, nên có thể thả tôm giống là Postlarvae 15 (trung bình 1,5cm) Riêng mô hình 2 vụ lúa luân canh 1 vụ tôm, do thời gian nuôi thịt ngắn, nên cần ương tôm Postlarvae trước đó 1-1,5 tháng, hoặc mua giống lớn 4-6 cm để
Trang 61,2-thả nuôi thịt Tuỳ theo mô hình nuôi, kích cỡ tôm giống và thời gian nuôi thịt vàkhả năng chăm sóc mà có thể thả với mật độ 3-8 con/m2 ruộng Mô hình nuôi tômxen canh với lúa (Hè-Thu) nên nuôi với mật độ thấp vì mức nước ruộng thấp hơn và
khả chăm sóc tôm cũng hạn chế hơn
Cho ăn và chăm sóc
Có nhiều loại thức ăn có thể sử dụng cho tôm như thức ăn viên công nghiệp, thức
ăn viên tự chế và thức ăn tươi sống Thức ăn viên công nghiệp cho tôm càng xanh
có chất dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng và tiện sử dụng Người nuôi cũng tận dụngcác nguyên liệu địa phương để sản xuất thức ăn viên cho tôm để giảm chi phí
Thức ăn công nghiệp và thức ăn tự viên tự chế thường được sử dụng chủ yếu trong2-3 tháng đầu nuôi tôm Tuy nhiên, trong thời gian lũ, nguồn thức ăn tươi sống như
cá tạp, cua, ốc rất phong phú với giá rẻ nên được sử dụng chủ yếu trong giai đoạnnuôi tôm lớn nhằm giúp tôm lớn nhanh và giảm chi phí thức ăn Trong thời giannày, cá tạp cũng nhiều hơn, vì thế, việc cho tôm ăn bằng ốc, cua cũng giảm chi phí
do cá tạp tranh mồi nếu cho ăn bằng thức ăn viên
Tùy giai đoạn tôm nuôi, lượng thức ăn viên cho tôm ăn hằng ngày được tính theokhối lượng đàn tôm như Bảng 2 Đơn giản, có thể cho tôm ăn ở tháng tuổi thứ 1, 2,
3, 4 và 5 trở lên lần lượt là 8, 6, 4, 3, và 2% trọng lượng đàn tôm nuôi Đối vớithức ăn tươi sống có thể dùng lượng gấp 2-3 lần so với lượng thức ăn chế biến Chotôm ăn bằng cách kết hợp rãi thức ăn khắp ao và sàng ăn Số lần cho ăn có thể từ2-4 lần/ngày Cần theo dõi khả năng bắt mồi của tôm trên sàng ăn và độ no trên
dạ dày của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn thích hợp
Bảng 2 Tính lượng thức ăn cho tôm
Khối lượng tôm
(g/con)
Lượng thức ăn(% khối lượng đàn tôm)2,5-3
4-5
6,55,5
Trang 7ruộng vào mùa lũ có thể lên đến 1-1.5m hay có thể sâu hơn.
Có thể thu tỉa thu tỉa tôm cái và tôm to có càng xanh sau 4-5 tháng nuôi kể từ khithả giống hay thu toàn bộ vào cuối vụ nuôi (tháng 11) trước khi gieo sạ hay cấy vụlúa Đông-Xuân Khi thu hoạch cuối vụ, có thể dùng lưới kéo để thu dần tôm trong1-2 tuần Năng suất nuôi đạt trung bình khoảng 350-800 kg/ha/vụ hay đôi khi đạttrên 1 tấn/ha/vụ tùy mô hình Thông thường, nuôi tôm luân canh, có điều kiệnchăm sóc tôm tốt hơn, mức nước sâu hơn nên tôm lớn và tôm cái chậm mang trứng
hơn so và năng suất tôm cao hơn với nuôi xen canh với lúa
Trang 8
Mô hình và các hoạt động nuôi tôm trên ruộng – (1) Mô hình tôm xen canh lúa, (2)
Mô hình tôm luân canh với lúa vào mùa lũ cho thấy đang cho tôm ăn bằng ốc cua,(3) Thức ăn tự chế, (4) Thu hoạch tôm trong ruộng luân canh (Nguồn: Phương và
Hải)
PGs.Ts Nguyễn Thanh Phương và Ts Trần Ngọc Hải
Khoa Thủy Sản – Đại học Cần Thơ
Thông tin kĩ thuật dành cho người nuôi thuỷ sản
Sản xuất giống và nuôi cá chép chọn giống V1
• CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHÉP V1
• Cho cá chép đẻ tự nhiên trong ao
• Ương cá chép lai ba máu
Sản xuất giống và nuôi cá chép chọn giống V1
Cá chép chọn giống V1 (cá chép lai 3 máu) là kết quả lai ghép 3 dòng (cá chép trắng
VN, cá chép vẩy Hungari với cá chép vàng Indonesia), vừa được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Bộ Thủy sản) chọn tạo thành công Cá chép giống V1 nuôi mau lớn, cho năng suất cao, thịt thơm ngon, bán được giá trên thị trường
Ao nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ
Ao nuôi cá cái có diện tích 500 - 2.000m2, mức nước sâu 1,2 - 1,5m, đáy có lớp bùn dày 0,15 - 0,2m, bờ cao, không bị rò rỉ, độ pH từ 6,5 - 8 Ao nuôi cá đực chỉ cần rộng
Trang 9400 - 1.000m2 và cũng có những điều kiện như trên, phải tẩy vôi cho ao với lượng 7- 10kg vôi/100m2 Tuổi cá bố mẹ thích hợp là 2 - 6 tuổi; cỡ nhỏ nhất cá cái: 1kg/con, cá đực: 0,7kg/con Mật độ nuôi cá cái 10kg/100m2, cá đực 15kg/100m2 Hàng tuần bón 30
- 40kg phân lợn và 30 - 40kg phân xanh/100m2 ao Từ tháng 10 - 12 dùng thức ăn hỗn hợp có lượng đạm trên 25% (gồm cám gạo, bột ngô, đỗ tương, bột cá) cho ăn hàng ngày Lượng thức ăn bằng 3 - 5% khối lượng cá có trong ao Từ tháng 1 - 2 mỗi ngày cho cá ăn thêm 50 gam thóc mầm
Cho cá chép đẻ tự nhiên
Chuyển cá bố mẹ vào ao nước sạch Làm các khung thả bèo lục bình, rong hoặc các loại sợi khác để làm giá thể cho trứng bám sau khi cá đẻ Vớt các giá thể có trứng bám chuyển sang bể ấp hoặc xếp vào sàn ấp, thường xuyên tưới nước giữ ẩm
Cho cá đẻ theo phương pháp nhân tạo
Tiêm kích dục tố cho cá cái 2 lần (1 lần vào lúc 5 - 6 giờ chiều, cứ 1 - 2kg cá tiêm 1 não chép; lần 2 vào lúc 1 - 2 giờ sáng, 1kg cá tiêm 3 não chép) Ở nhiệt độ nước 20 - 250C,
từ 6 - 8 giờ sau khi tiêm lần 2 trứng sẽ rụng Khi đó phải bắt cá nhẹ nhàng, tay bịt lỗ sinhdục, bọc cá trong vải mềm, dùng vải màn thấm khô bụng cá, vuốt nhẹ theo lườn bụng
cá xuôi từ phía đầu xuống đuôi Trứng được hứng vào các bát men lớn hoặc chậu nhựa, bắt ít nhất 2 - 3 con cá đực vuốt nhẹ vào bát hoặc chậu trứng Dùng lông cánh gàkhuấy trộn đều trứng, sau đó đổ nước ngập trứng và tiếp tục khuấy đều trong 5 - 10 phút để trứng thụ tinh Dùng giá thể để cho trứng bám và đưa vào bể hay sàn ấp Cá bột sẽ nở hết sau 3 - 5 ngày ở nhiệt độ 24 - 28oC
Tẩy dọn kỹ ao ương cá bột và bón phân chuồng, phân xanh Mật độ ương trung bình
100 con/m2 Trong 3 tuần ương, mỗi tuần bón 10 - 15kg phân chuồng, 10- 15kg phân xanh/100m2 ao; dùng phân đạm và lân để bón điều chỉnh màu nước Cho cá ăn bột cám gạo, bột đậu tương, bột cá nhạt trộn lẫn, sao cho đạt lượng đạm 25 - 30% Trong
10 ngày đầu, thức ăn phải nấu chín thành cháo, pha vào nước rồi rải đều quanh ao Những ngày sau, cho cá ăn thức ăn dạng bột, mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng sớm và chiều mát: cứ 1 vạn cá trong tuần thứ nhất cho ăn 0,2 - 0,4 kg thức ăn tinh; tuần 2 từ 0,4
- 0,5kg; tuần thứ 3 từ 0,5 - 1kg; sau 21 - 25 ngày ương tỉ lệ sống của cá đạt 40 - 70%,
cỡ cá 0,6 - 1g/con
Bón phân và cho cá ăn khi ương cá bột thành cá hương
Điều khác là mật độ ương thưa hơn (10 - 15 con/m2) và phải cho cá ăn nhiều hơn Cứ 1vạn cá trong tuần 1 - 2 cho ăn 1 - 4kg; tuần 3 - 4: 4 - 6kg, tuần 5 - 6: 6-8,5kg, tuần 7: 8,5
- 10kg Cứ 100m2 ao mỗi tuần bón 25 - 30kg phân chuồng, 20 - 25kg phân xanh Sau
45 - 50 ngày ương, tỉ lệ cá sống bình quân đạt 50 - 70%, cỡ 15 - 20g/con
Khi nuôi ghép nhiều loài cá trong ao cá thịt chỉ nên thả cá chép với tỉ lệ 5 - 10%, 1 con
cá chép cần từ 10 - 20m2 đáy ao Khi nuôi cá chép ở ruộng trũng có thể tăng tỉ lệ thả cáchép tới 60% Khi nuôi đơn cá chép muốn có cá thịt cỡ 0,3 - 0,4 kg/con sau 6 - 8 tháng nuôi thì cần thả giống với mật độ 1 con/1,5 - 2 m2; cỡ 0,7 - 0,8 kg/con thả mật độ 1 con/4 - 5m2 Để tạo ra sự phát triển động vật đáy làm thức ăn cho cá cần bón thêm phân chuồng và phân xanh mỗi loại 4 - 6 tấn/ha ao Dùng cám gạo, bột đậu tương, khô dầu, bột cá nhạt trộn đều với nước rồi nắm lại thành từng nắm nhỏ để cho cá ăn Theo
Trang 10cách nuôi này, cá chép đạt tỉ lệ sống 80 - 90%; sau 8 tháng nuôi cỡ cá trung bình đạt 0,5 - 0,7 kg/con, năng suất bình quân đạt 2 tấn/ha
NTNN, 12/8/2003
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHÉP V1
Cá chép V1 là kết quả của chương trình chọn giống cá chép và lưu giữ nguồn gen thuỷsản, do Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Mai Thiên nguyên Viện trưởng chủ trì và tập thể cán
bộ công chức Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I thực hiện
Cá chép V1 đã tập hợp được những đặc điểm di truyền quý : Chất lượng thịt thơmngon, khả năng chống chịu bệnh tốt của cá chép Việt Nam Thân ngắn và cao cùng tốc
độ tăng trọng nhanh của cá chép Hungary, đẻ sớm và trứng ít dính của cá chépInđônêxia
Nuôi vỗ cá bố mẹ
Cá đưa vào nuôi vỗ có ngoại hình đẹp, khoẻ mạnh không có biểu hiện mắc bệnh Cáđực từ 0,8 kg/cá thể trở lên, cá cái từ 1,0 kg/cá thể trở lên Cá đực và cá cái được nuôiriêng ở các ao khác nhau với mật độ 1 kg/4 - 5m2
Thời gian nuôi vỗ: Cá được nuôi vỗ từ cuối tháng 9 năm trước, đến tháng 2 năm sau
cá có thể bắt đầu sinh sản
Chăm sóc: Liều lượng thức ăn chiếm 3 - 5% trọng lượng quần đàn Nuôi vỗ tích cực
hàm lượng thức ăn được giảm dần từ 5 - 3% tuỳ thuộc vào thể trạng cá qua kiểm trađịnh kỳ (1 tháng một lần) Nuôi vỗ thành thục thường trước khi cho cá đẻ từ 30 - 45ngày đối với chính vụ và 10 - 15 ngày với cá đẻ tái phát Trong thời gian nuôi vỗ thànhthục cần cho cá ăn thêm mầm thóc
Chọn cá cho đẻ
Chọn cá cái có bụng mềm, phần phụ sinh dục màu hồng Hạt trứng rời nhau, căng đều,màu sáng trắng Cá đực được chọn là những cá thể khi vuốt nhẹ bụng gần phần phụsinh dục thấy có sẹ màu trắng sữa
Kích dục tố
Kích dục tố thường dùng là LRH-A kết hợp với DOM Cá cái được tiêm kích dục tố 2lần Lần 1 tiêm 1/4 - 1/5 lượng thuốc cần tiêm, sau khoảng 6 đến 8 giờ tiêm hết số thuốccòn lại Cá đực chỉ tiêm 1 lần, trước khi tiêm lần 2 cho cá cái khoảng 2 giờ
Thu trứng và sẹ
Trứng cá được vuốt vào bát men hoặc nhựa có đường kính khoảng 18 - 22 cm, lòng bátphải trơn bóng Sau khi đã thu được trứng cần nhanh chóng vuốt sẹ vào bát trứng để
Trang 11thụ tinh cho trứng Trứng của mỗi cá cái cần được thụ tinh tối thiểu bởi tinh của 3 cáđực.
Thụ tinh cho trứng
Sử dụng lông vũ khô của gia cầm khuấy nhẹ nhàng, đảo đều trứng với sẹ trước khi cho
5 - 10 ml nước sạch vào bát trứng Sau khi cho nước sạch vào tiếp tục khuấy thêm 1 - 3phút
Khử dính cho trứng
Trứng được khử dính bằng dung dịch nước dứa (DDKD) Lượng DDKD thường gấp 5
-7 lần khối lượng trứng cần được khử dính
Ðổ khoảng 1/3 - 1/4 lượng DDKD vào bát trứng đã được thụ tinh khuấy đều cho trứngtách rời nhau Sau đó bổ sung số lượng DDKD còn lại, nhẹ nhàng khuấy đều từ 20 - 25phút tuỳ thuộc vào nhiệt độ không khí tại thời điểm khuấy trứng Sau 20 - 25 phút kiểmtra độ dính của trứng, nếu trứng không dính lại với nhau là được
Ương nuôi cá bột lên cá hương
Cá bột được ương nuôi trong ao với mật độ 100 - 150 cá thể/m2 Dùng bột đậu tươngnghiền mịn trong 7 ngày đầu, 7 ngày tiếp theo sử dụng thức ăn dạng bột mịn
Ðịa chỉ liên hệ : Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I, Ðình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh
Cho cá chép đẻ tự nhiên trong ao
1 Mùa vụ cho đẻ: Mùa đẻ chính là mùa xuân và mùa thu
2 Cho cá đẻ tự nhiên
a.Chọn thời tiết thích hợp: Nhiệt độ thích hợp nhất từ 18-250C Trời lạnh dưới 180C cáchép không đẻ Tốt nhất là những ngày đầu xuân, hôm nào trời ấm áp, đêm nằm chỉđắp chăn đơn, bên ngoài nghe tiếng ếch nhái kêu inh ỏi là hôm ấy chép đẻ tốt
b.Tuyển chọn cá cho đẻ: Trước khi cho đẻ phải kiểm tra cá bố mẹ Nếu thấy cá có hiệntượng nhô vây, hở đuôi hay lượn sát ven bờ là trứng, sẹ của cá đã già, cá đã muốn đẻ.Bắt vài con lên kiểm tra cho chính xác Cách kiểm tra như sau:
Trang 12Cá cái: Khi sắp đẻ, bụng to kềnh, lật ngửa lên thấy giữa bụng có một ngấn hằn lõm vàokéo dài từ vây ngực đến tận hậu môn Sờ vào bụng thấy mềm nhũn, da bụng mỏng,nhất là phía cuối Lỗ sinh dục đỏ thẫm và hơi lồi Nếu vuốt nhẹ vào thành bụng, trứng sẽchảy ra, màu vàng sẫm, trong suốt và rời thành từng cái là trứng đã già, những cá này
có thể đẻ ngay đợt đầu
Cá đực: Lúc sắp phóng tinh trùng, nếu vuốt nhẹ hoặc cầm mạnh cá, tinh dịch cũng chảy
ra có màu trắng như nước vo gạo và đặc sền sệt như sữa hộp Trường hợp tinh dịchcòn loãng, tuy vẫn có màu trắng nhưng không đặc quánh là sẽ còn non
3.Chọn nơi cá đẻ
Chọn ao: diện tích rộng hay hẹp tùy thuộc theo số lượng cho cá đẻ nhiều hay ít Chọn
ao có đáy trơ, tốt nhất là cát pha sét Nguồn nước đưa vào ao phải sạch, không chuamặn, không ô nhiễm Ao được tẩy dọn kỹ, có mức nước sâu khoảng 1m
Chọn ruộng: Ruộng thường có diện tích 150-200m2, đáy đất pha cát, có thể lấy nướcvào dễ dàng và luôn giữ được nước Ruộng phải được cày bừa san phẳng và phơi mấyngày cho se cứng đáy ( không được nứt nẻ)
Bờ ruộng cao hơn mức nước, cao nhất khoảng 50-60cm, có máng dẫn nước và cốngtiêu nước thuận tiện Cửa cống dẫn nước phải chắn phên để ngăn cá tạp theo vàoruộng Trước khi cho cá đẻ, tháo nước vào ruộng sâu khoảng 40-50cm Nếu ruộng đócòn dùng để ương trứng nên đào sẵn ở góc ruộng một cái hố sâu khoảng 4m2, sâu0,6m và có xẻ mương sâu 0,2m làm đường cho cá đi lại lên xuống kiếm ăn Mặt hố cóche lá cọ hoặc làm giàn trồng mướp, bầu, bí để che nắng cho cá
4 Chuẩn bị ổ đẻ
Chọn các loại xơ mềm có nhiều lông tơ nhỏ để làm ổ cho cá chép đẻ trứng cá dễ bámnhư: Bèo tây, xơ dừa, sợi nilon Phổ biến nhất là dùng bèo tây, nếu dùng bèo phải chọnloại rễ bánh tẻ Bỏ hết rễ bèo thối, rửa sạch đất, cặn bám ở rễ và sát trùng bằng nướcmuối 5% (0,5kg muối ăn pha trong 10 lít nước) hoặc xanhmalachit nồng độ 3mg/lítngâm 15 phút rồi vớt ra thả vào ổ đẻ Dùng cây nứa quây bèo thành khung hình chữnhật để khi cá vật đẻ không làm bèo tản mát
5 Thành lập nhóm cá đẻ
Trước khi cho cá đẻ cần xác định tỷ lệ đực, cái thích hợp để lượng tinh dịch đủ đảm bảocho số trứng đẻ ra được thụ tinh hoàn toàn Cá chép thụ tinh ngoài, tinh dịch của cá đựcphóng vào bị nước pha loãng, nếu ít tinh dịch sẽ không đảm bảo cho tinh trùng gặpđược trứng để thụ tinh Trong điều kiện nuôi vỗ tốt có thể ghép 1 cá cái+ 2cá đực, cũng
có nơi ghép 2 cá cái + 3 cá đực, tỷ lệ trứng thụ tinh vẫn cao
Cho cá đẻ tự nhiên cũng cần lưu ý:
- Kiểm tra ao, ruộng nơi cá đẻ, xem nguồn nước, chất lượng nước và đặc biệt là thờitiết phải ấm áp, đạt 18-250C
Trang 13- Khi thả nên thả cá cái vào buổi sáng, thả cá đực vào buổi chiều cùng ngày Nếu thờitiết thuận lợi, cá có thể đẻ từ 3-4 giờ tới 7-8 giờ sáng
- Nếu 5 giờ sáng chưa thấy cá vật đẻ phải bơm nước vào ao hay ruộng, thời gian bơm
từ 1-2giờ nhằm kích thích cho cá đẻ Cá có thể đẻ 2 đêm liên tục, khi trứng bám vừaphải thì thay ổ mới Nếu để 2 đêm liền cá vẫn không đẻ, phải bắt cá trở lại ao nuôi vỗtiếp, khoảng 20-30 ngày sau lại cho cá đẻ
NNVN, 14/5/2004
Ương cá chép lai ba máu
Cá chép lai ba máu được tạo ra từ các dòng: cá chép vàng trắng của VN, cá chépHungari và cá chép vàng Indonesia Để có cá chép lai giống nuôi thương phẩm, ngay từkhi ương cá bột lên cá hương cần chú ý những biện pháp sau:
Ao nuôi
Chọn ao nuôi ở nơi không bị cớm rợp, dễ quản lý, chăm sóc Diện tích ao 200-2.000m2,sâu từ 0,8-1m, có bờ ao chắc chắn, không rò rỉ nước, mái bờ phía lòng không có hanghốc Đỉnh bờ cao hơn mực nước ít nhất 0,5m
- Đáy ao ít bùn, bằng phẳng và dễ tháo cạn nước Nước cấp cho ao phải sạch, không bị
ô nhiễm Trước khi ương cá, ao phải được cải tạo kỹ: làm cạn nước, bốc vét bùn (mứcbùn không quá 15cm) Dùng vôi để cải tạo ao với lượng từ 8-10kg/100m2 ao, rải vôikhắp đáy ao và tiến hành vào ngày nắng
- Phơi ao từ 1-2 ngày, sau đó dẫn nước ngập đáy ao từ 20-30cm, kiểm tra ao bắt diệt cá
rô, cá quả còn sót; dùng phân chuồng ủ hoai bón cho ao để gây màu nước, tạo thức ănban đầu cho cá với lượng phân từ 20-30kg/100m2, rải đều đáy ao
- Dẫn nước vào ao cho đủ mức quy định và kiểm tra các điều kiện môi trường đạt yêucầu mới thả cá: pH 6,5-8; oxy hoà tan 3mg/lít trở lên; độ trong của nước 20-30cm;không có địch hại của cá trong ao
Cá chép lai trước khi thả vào ao phải được kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn: màusắc, ngoại hình, trạng thái hoạt động
Cách kiểm tra: thả cá bột vào bát nước sạch, nếu cá có màu ghi sẫm, bơi chìm dướinước, thân cá không dị hình là cá tốt
- Trước khi thả cá ra ao đem túi nilon chứa cá bột thả xuống ao ngâm 15-20 phút cho cáquen môi trường nuôi, rồi mở túi cho cá từ từ ra ao, không nên thả cá bột vào ngàynắng gắt hoặc đang mưa rào
Trang 14- Dùng thức ăn tổng hợp gồm: bột cá nhạt 30% + khô đỗ tương 10% + cám gạo 60%cho cá bột ăn trong quá trình ương 10 ngày đầu thức ăn nấu chín thành cháo, phaloãng trong nước té đều ao Ngày cho ăn 2 lần vào sáng sớm và chiều mát với lượng 1vạn cá bột/0,2-0,4kg thức ăn/ngày; từ ngày thứ 11-18 cho ăn từ 0,4-0,5kg/vạn cábột/ngày; từ ngày 19 đến thu hoạch cho ăn 0,5-1kg/vạn cá bột/ngày
- Trong quá trình nuôi cần bổ sung thêm phân chuồng từ 20-30kg/100m2 Tuần bón mộtlần và hoà phân trong nước té đều khắp ao
- Kiểm tra ao thường xuyên để phát hiện rò rỉ nước, địch hại của cá để kịp thời phòngngừa Để bắt cá rô, cá quả có thể dùng lưới hoặc cắm câu, dùng dầu hoả đổ vào khungnổi kéo rê khắp mặt ao Diện tích khung từ 2-4m2, dùng 0,2-0,5 lít dầu hoả đối với ao200m2
- Sau khi ương 25 ngày tiến hành thu hoạch cá Trước khi thu hoạch 4-5 ngày tiến hànhluyện cá (dùng cành rào kéo đục ao, làm vào buổi sáng, mỗi ngày một lần) Sau mỗi lầnluyện cá cho thêm nước vào ao cho đủ quy định Dùng lưới cá hương kéo bắt dần, tháocạn nước ao dùng vợt bắt toàn bộ
NNVN, 13/5/2004
BỘ THUỶ SẢN
- Số: 07/2005/QÐ-BTS
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI ỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -
Hà nội, ngày 22 tháng 2 năm 2005
QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ THỦY SẢNV/v ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh cấm vàhạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản
Danh mục hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản nêu tại Phụ lục 1 và Danh mục hoá chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thuỷ sản nhằm khống chế dư lượng trong sản phẩm thuỷ sản thấp hơn giới hạn tối
đa cho phép nêu tại Phụ lục 2.
Trang 15Điều 2: Không cho phép trộn lẫn quá 02 loại chất kháng sinh trong 01 sản phẩm thuốc, hoá chất; không cho phép trộn lẫn các hoạt chất cùng nhóm Fluoroquinolone với nhau Trong trường hợp một sản phẩm có chứa 02 loại hoạt chất kháng sinh, cơ sở sản xuất phải có đủ bằng chứng khoa học và thực tiễn để đảm bảo trộn lẫn không làm giảm tính năng tác dụng của tứng loại và không phát sinh tác dụng xấu đối với động vật nuôi và môi trường.
Mọi sản phẩm thức ăn, hoá chất tẩy rửa khử trùng, hoá chất tẩy rửa ao đầm nuôi, thuốc thú y, hoá chất bảo quản thủy sản phải ghi nhãn theo Quyết định số 178/1999/QĐ- TTg ngày 308/1999 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 03/2000/TT-BTS ngày 22/9/2000 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản và kèm theo dòng chữ: “Không chứa các chất cấm
sử dụng theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24 tháng 2 năm 2005 của Bộ trưởng
Bộ Thủy sản”.
Điều 3: Quyết định này có hiệu lực thi hành sau mười lăm (15) ngày kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Quyết định số 01/2002/QĐ-BTS ngày 22/1/2002 của Bộ Thủy sản về việc cấm sử dụng một số hoá chất, kháng sinh trong sản xuất, kinh doanh thủy sản và Danh mục thuốc thú y thủy sản hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản ban hành kèm theo Quyết định số 17/2002/QĐ-BTS ngày 24/5/2002 của Bộ Thủy sản Riêng đối với các chất
có số thứ tự từ 12 đến 17 tại Phụ lục 1 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2005
Điều 4: Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng, an toàn vệ sinh và Thú y thủysản chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện Quyết định này.Chánh Văn phòng Bộ; Thủ trưởng các Cục, Vụ, Thanh tra Bộ; Giám đốcTrung tâm Khuyến ngư Quốc gia và Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp trực thuộcBộ; Giám đốc các Sở thủy sản, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn có quản lýNhà nước về thủy sản; và các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu,
sử dụng thức ăn, thuốc thú y, hoá chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật dùngtrong hoạt động thủy sản chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này
của Bộ trưởng Bộ Thủy sản)
TT Tên hoá chất, kháng sinh Đối tượng áp dụng
1 Aristolochia spp và các chế phẩm từ
chúng
Thức ăn, thuốc thú y, hoá chất, chất xử lý môi trường, chất tẩy rửa khử trùng, chất bảo quản, kem bôi da tay trong tất
Trang 16cả các khâu sản xuất giống, nuôi trồng động thực vật dưới nước và lưỡng cư, dịch vụ nghề
cá và bảo quản, chế biến.
DANH MỤC CÁC HOÁ CHẤT, KHÁNG SINH HẠN CHẾ SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT
KINH DOANH THỦY SẢN(Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 24 tháng 2 năm 2005
của Bộ trưởng Bộ Thủy sản)
kháng sinh
Dưlượng tốiđa(ppb)*
Mục đích
sử dụng
Thời gian dừngthuốc trước khithu hoạch làmthực phẩm
Dùng làm nguyên liệu sản xuất thuốc thú y chođông, thực vật thủy sản
và lưỡng cư
Cơ sở SXKD phải có đủ bằng chứng khoa học và thực tiễn về thời gian thải loại dư lượng thuốc trong động, thực vậtdưới nước và lưỡng cư xuống dưới mức giới hạn
Trang 17cho phép cho từng đối tượngnuôi và phải ghi thời gian ngừng sử dụngthuốc trước khithu hoạch trên
www.vietlinh.com.vn - Tel: 095.8808538 - (8) 9230279 - vietlinhpte@hcm.vnn.vn
Sử dụng hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản và các biện pháp thay thế
Các hoá chất dùng trong nuôi trồng thuỷ sản ven biển bao gồm các chất khử trùng, các tác nhân kháng khuẩn, các thuốc trị bệnh khác Các loại vật tư kiến trúc công trình như chất dẻo, các phụ gia, chất màu, chất chống ôxy hoá, chất chống cháy, diệt nấm, tẩy trùng Tuy các chất này có tính hoà tan thấp nhưng chúng đôi khi vẫn gây độc đối với sự sống ở dưới nước;
Các chất xử lý đất và nước như phèn (sunfat kali), EDTA (Axit dinatri ethylendiamintetraacetic), thạch cao, vôi, zeolit Ngoài ra, phải kể đến các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, rong tảo, chất phụ gia thức ăn, thuốc gây tê và các loại hoócmôn
nhôm-Các hoá chất hiện đang được dùng trong nuôi trồng thuỷ sản có thể được chia làm ba loại Loại thứ nhất bao gồm các hoá chất Loại này gồm có
chloramphenicol, thuốc diệt nhuyễn thể organotin, malachit xanh lục và có khả năng là cả một số phốtphát hữu cơ Loại thứ hai gồm có các hoá chất có thể được sử dụng một cách an toàn nếu tuân theo các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn, nhưng lại có nguy cơđối với môi trường và sức khoẻ con người nếu sử dụng