1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả khai thác bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện

91 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 653,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN CHƯƠNG

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Với xu thế hội nhập, nền kinh tế thế giới đang ngày càng phát triển Rấtnhiều các dự án, công trình xây dựng được đầu tư và triển khai ở khắp các quốcgia Vì thế vai trò của bảo hiểm kỹ thuật càng được nâng cao Bảo hiểm kỹ thuật

đã có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh tế xã hội trên toàn thếgiới Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là một loại hình quan trọng của bảo hiểm kỹthuật, nó mang lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp bảo hiểm, cho người được bảohiểm và cho toàn xã hội Mỗi năm, cả nước có thêm hàng ngàn công trình xâydựng mới, dịch vụ bảo hiểm các công trình xây dựng, lắp đặt cũng vì thế mà pháttriển mạnh theo

Thị trường bảo hiểm phát triển, các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng giatăng về số lượng cũng như chất lượng Loại hình bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đãđem lại lợi nhuận khá cao cho các công ty bảo hiểm Vì vậy, hiện nay các công tyđang cạnh tranh quyết liệt để tìm kiếm hợp đồng bảo hiểm xây dựng và lắp đặtcũng như để giữ vững và nâng cao vị thế của mình trên thị trường

Khai thác là khâu đầu tiên của quá trình triển khai một nghiệp vụ bảo hiểm

và đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm Để giữ vững được

vị trí của mình trên thị trường, nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiệnnay mỗi doanh nghiệp cần phải chú trọng đến hoạt động khai thác bảo hiểm Vàcác doanh nghiệp bảo hiểm cần phải làm gì để nâng cao hiệu quả khai thác bảo

hiểm xây dựng lắp đặt trong bối cảnh hiện nay Vì vậy, em đã chọn đề tài : “ Một

số biện pháp nâng cao hiệu quả khai thác bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện ” làm chuyên đề thực tập của mình.

Chuyên đề của em bao gồm ba chương :

Trang 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG

VÀ LẮP ĐẶT

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC NGHIỆP

VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN

CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Th.s Nguyễn Ngọc Hương đã tận tìnhgiúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT

Trang 3

1.1 Giới thiệu chung về bảo hiểm xây dựng và lắp đặt

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là một bộ phận của bảo hiểm kỹ thuật.Sự

ra đời và phát triển của bảo hiểm kỹ thuật luôn gắn liền với sự phát triển của cáchmạng khoa học kỹ thuật So với các loại hình bảo hiểm khác như bảo hiểm hànghải, bảo hiểm hoả hoạn thì bảo hiểm kỹ thuật ra đời muộn hơn rất nhiều Đơn bảohiểm kỹ thuật đầu tiên trên thế giới là đơn bảo hiểm đổ vỡ máy móc, được cấpnăm 1859 Nhu cầu tái thiết nền kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và sựphát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và kỹ thuật đã là động lực thúc đẩylàm cho bảo hiểm kỹ thuật phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết và trở thành mộttrong những loại hình bảo hiểm quan trọng không thể thiếu đối với sự phát triểncủa mỗi nền kinh tế

Bảo hiểm kỹ thuật có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của hoạt động kinh

tế, xã hội trên toàn thế giới Từ việc bảo hiểm cho các máy móc sản xuất, cácthiết bị dụng cụ tinh vi trong y tế, phòng thí nghiệm cho tới việc bảo hiểm chocác công trình xây dựng khổng lồ hay lắp đặt các giàn khoan trên biển, các contàu vũ trụ … Bảo hiểm kỹ thuật đã phát triển rất nhanh và tương đối hoàn chỉnh,bao gồm các loại hình chính sau:

- Bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu

- Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt

- Bảo hiểm đỗ vỡ máy móc

- Bảo hiểm thiết bị điện tử

- Bảo hiểm mất thu nhập do máy móc ngừng hoạt động

- Bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khí…

Trang 4

Các loại hình bảo hiểm trong bảo hiểm kỹ thuật liên quan chặt chẽ vớinhau, trong đó bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là những mắt xích không thể thiếuđược Nó đảm bảo cho khâu xây dựng và lắp đặt của một công trình xây lắp Bảohiểm xây dựng và lắp đặt là những loại hình có sự phát triển mạnh về qui môcũng như chất lượng nghiệp vụ do nhu cầu xây dựng, lắp đặt của các nước trênthế giới ngày càng có xu hướng phát triển ngay cả trong thời kỳ kinh tế khó khăn.

Về mặt kỹ thuật nghiệp vụ, bảo hiểm xây dựng, lắp đặt là những loại hìnhbảo hiểm tương đối phức tạp so với các loại hình bảo hiểm khác, các loại đơn bảohiểm rất đa dạng, như bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, bảo hiểm mọi rủi ro lắpđặt…

1.1.2 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt.

Trong cuộc sống, mọi rủi ro đều có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, bất cứ ởđâu Đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, lắp đặt, khi nền kinh tế xã hội ngày càngphát triển, việc đầu tư xây dựng các công trình ngày càng nhiều hơn, có quy môlớn hơn Các công trình xây dựng lắp đặt này cũng có thể gặp các rủi ro bất kỳlúc nào như bão, lũ lụt, sét… Bất kể do nguyên nhân gì khi rủi ro xảy ra đều cóthể gây ra thiệt hại rất lớn về tài sản, ảnh hưởng đến sức khoẻ và sinh mạng conngười Thực tế đã chứng minh cho ta thấy hậu quả của những rủi ro đối với cáccông trình xây dựng như sập 2 nhịp dẫn cầu Cần Thơ, sập tường tại khu lọc dầuDung Quất… Nhờ có bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đứng ra san sẻ, bù đắp mộtphần tổn thất nên các công trình không bị ngừng lại, đảm bảo kế hoạch sản xuấtkinh doanh, doanh nghiệp lại có thể tiếp tục sản xuất phục vụ nhu cầu của xã hội.Bên cạnh sự đảm bảo về tài chính còn đảm bảo về mặt tinh thần cho NĐBH

Bảo hiểm xây dựng, lắp đặt cũng là một loại hình bảo hiểm giúp các doanhnghiệp bảo hiểm huy động vốn, sau đó đầu tư trở lại nền kinh tế Như vậy bảo

Trang 5

hiểm là trung gian tài chính, góp phần quan trọng không thể thiếu đối với sự pháttriển của mỗi nền kinh tế Bên cạnh đó bảo hiểm xây dựng lắp đặt nói riêng, bảohiểm nói chung đều góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho mỗi quốc gia trên toànthế giới.

1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm xây dựng

1.2.1 Người được bảo hiểm

Mỗi công trình xây dựng là một quy hoạch tổng thể có liên quan rất nhiềukhía cạnh của các vấn đề pháp luật, hợp đồng và kỹ thuật cho nên việc hợp tácchặt chẽ giữa hai bên là không thể thiếu được Chính vì vậy việc xác định rõngười được bảo hiểm trong một công trình xây dựng rất cần thiết Trong bảohiểm xây dựng, các bên có liên quan đến công việc xây dựng và có quyền lợitrong công trình xây dựng, được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảo hiểmđều có thể là người được bảo hiểm:

- Chủ đầu tư hoặc chủ công trình (bên A trong hợp đồng xây dựng)

- Nhà thầu chính (bên B trong hợp đồng xây dựng)

- Các nhà thầu phụ

- Các kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn, cố vấn chuyên môn.Tuy nhiên, hợp đồngbảo hiểm xây dựng không bảo hiểm cho trách nhiệm nghề nghiệp của các kiếntrúc sư, cố vấn chuyên môn, các kỹ sư tư vấn mặc dù họ có liên quan đến côngtrình xây dựng

Do có nhiều bên được bảo hiểm nên sẽ nảy sinh vấn đề đơn bảo hiểm sẽghi tên ai hay ai sẽ là người được ghi tên đầu tiên.Thông thường người đứng ra kíkết hợp đồng bảo hiểm và đóng phí sẽ là người đại diện cho các bên trongHĐBH.Vì vậy trên hợp đồng sẽ ghi tên người đứng ra đại diện kèm theo danhsách những người có quyền lợi liên quan đến công trình

Trang 6

1.2.2 Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng của bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các công trình xây dựngdân dụng, công trình công nghiệp, hay nói cách khác là bao gồm tất cả các côngtrình xây dựng mà kết cấu của nó có sử dụng xi măng và bê tông cốt thép Cụ thể

là các nhóm công trình sau:

- Nhà ở, trường học, trụ sở là việc, bệnh viện, rạp hát, rạp chiếu phim, cáccông trình văn hóa khác…

- Nhà máy, xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất;

- Đường xá (bao gồm cả đường bộ và đường sắt), đường băng sân bay;

- Cầu cống, đê đập, công trình thoát nước, kênh đào, cảng

Mỗi công trình bao gồm nhiều hạng mục riêng biệt được dự tính và thôngqua sơ đồ tổng thể, bản vẽ thiết kế cùng các máy móc trang thiết bị cần thiết phục

vụ cho công tác xây dựng cũng như các công việc có liên quan trong vấn đề xâydựng Để thuận tiện cho việc tính phí bảo hiểm cũng như giải quyết khiếu nạitrong trường hợp tổn thất xảy ra, một công trình xây dựng được chia thành nhiềuhạng mục khác nhau, bao gồm:

- Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng: Chiếm phần lớn giá trị côngtrình Nó bao gồm tất cả các công việc thực hiện bởi chủ thầu chính ( bên B) vàtất cả các nhà thầu phụ của chủ thầu chính theo qui định của hợp đồng xây dựng

ký kết giữa bên A và bên B Từ công tác chuẩn bị, dọn dẹp mặt bằng, xây dựngcác công trình tạm thời phục vụ cho công tác thi công, và cả công việc đóng cọclàm móng, xây dựng cấu trúc chính của công trình

- Trang thiết bị xây dựng: Gồm các thiết bị cố định phục vụ thi công nhưcác công trình phụ trợ (lán trại, trụ sở tạm thời, kho bãi, nhà xưởng), giàn giáo, hệ

Trang 7

thống băng tải, thiết bị cung cấp điện nước, rào chắn …Khi yêu cầu bảo hiểm chocác trang thiết bị này, cần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm

- Máy móc xây dựng: Bao gồm các máy móc có động cơ tự hành hoặckhông tự hành phục vụ công tác thi công ( ví dụ như máy xúc, máy ủi, cần cẩu,

xe chuyên dụng ) thuộc quyền sở hữu của người được bảo hiểm trong thời gian

sử dụng trên khu vực công trường Khi yêu cầu bảo hiểm cho các máy móc nàycần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm

- Các tài sản có sẵn, trên và xung quanh khu vực công trường thuộc quyền

sở hữu, quản lý, trông nom hay coi sóc của người được bảo hiểm: Trường hợpnày thường có ở các công trình mở rộng hoặc cải tạo lại, các tài sản trên có thể bịthiệt hại trong quá trình xây dựng mới Giá trị của tài sản này không nằm tronggiá trị của công trình mới nên chúng thường không thuộc PVBH Nhưng nếuNĐBH có nhu cầu thì có thể xem xét và mở rộng PVBH theo điều khoản bổsung

- Chi phí dọn dẹp hiện trường: Bao gồm các chi phí phát sinh do việc thudọn và di chuyển mảnh vụn, đất đá do các rủi ro được bảo hiểm xảy ra trên phạm

vi công trường

- Trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với bên thứ ba: Baogồm các trách nhiệm pháp lý do thiệt hại về tài sản và /hoặc thương tật thân thểcủa bên thứ ba phát sinh trong quá trình thi công công trình tạo hoặc xung quanhkhu vực công trưòng Tuy nhiên cần lưu ý rằng các tổn thất đối với người làmcông, ngưòi thân hoặc người đại diện của NĐBH không thuộc phạm vu bảo hiểmcủa phần này

1.2.3 Phạm vi bảo hiểm

 Các rủi ro bảo hiểm

Trang 8

Các đơn bảo hiểm xây dựng do công ty bảo hiểm cung cấp thường là đơnbảo hiểm mọi rủi ro nên phạm vi được bảo hiểm thường rất rộng, chỉ trừ các rủi

ro loại trừ được nêu rõ trong đơn (theo thông lệ quốc tế) còn hầu hết các rủi robất ngờ và không lường trước được đều được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm xâydựng Cụ thể trách nhiệm của công ty bảo hiểm đối với NĐBH phát sinh khi tổnthất xảy ra cho các đối tượng được bảo hiểm do các rủi ro chính sau:

- Cháy,sét đánh, nước chữa cháy hay phương tiện chữa cháy

- Lũ lụt, mưa, tuyết rơi, tuyết lở, sóng thần

- Các loại bão

- Động đất, sụt lở đá

- Trộm cắp

- Thiếu kinh nghiêm, hành động ác ý hay lỗi của con người

Ngoài ra còn tuỳ công trình, mỗi đơn cấp còn có các điều khoản bổ sungthêm đối với các rủi ro phị để phù hợp với nội dung công việc

 Các rủi ro loại trừ

Những rủi ro loại trừ chung cho cả phần bảo hiểm vật chất và trách nhiệm:

- Chiến tranh, đình công, nổi loạn, yêu cầu ngừng công việc của bất cứ cơquan có thẩm quyền nào

- Hành động cố ý hay sự cẩu thả cố ý của người được bảo hiểm hoặc đạidiện của họ

- Phản ứng hạt nhân, phóng xạ hay ô nhiễm phóng xạ

Các rủi ro loại trừ áp dụng đối với phần bảo hiểm thiệt hại vật chất baogồm:

- Bất kỳ loại tổn thất nào có tính chất hậu quả

Trang 9

- Hỏng hóc cơ khí/điện hay sự trục trặc của máy móc, trang thiết bị xâydựng.

- Lỗi thiết kế

- Chi phí thay thế, sửa chữa hay khắc phục các khuyết tật của nguyên vậtliệu và/hoặc do tay nghề.( các tổn thất hư hại do hậu quả thì được bảo hiểm)

Các rủi ro loại trừ đối với phần bảo hiểm trách nhiệm:

- Khiếu nại tổn thất liên quan đến tai nạn được bảo hiểm hay có thể đượcbảo hiểm trong phạm vi của phần bảo hiểm vật chất của đơn bảo hiểm xây dựng

- Khiếu nại phát sinh do dịch chuyển, rung động hay suy yếu cột chống

1.2.4 Thời hạn bảo hiểm

Thời hạn bảo hiểm được ghi rõ trong đơn bảo hiểm Thời hạn bảo hiểmthường là thời gian thi công công trình được tính từ khi bắt đầu khởi công côngtrình( sau khi đã bốc dỡ vật tư máy móc xuống công trường) đến khi hoàn thiệnhay chuyển giao hoặc đưa vào hoạt động

Trên thực tế, thời gian thi công không nhất thiết phải trùng với thời hạn ghitrong hợp đồng Nếu công trình hoàn thành trước thời hạn thì hiệu lực của hợpđồng cũng chấm dứt ngay sau khi công trình được bàn giao đưa vào sử dụng.Trong trường hợp thời gian thi công kéo dài vượt quá thời hạn qui định thìNĐBH phải có yêu cầu gia hạn thêm đối với HĐBH và phải thanh toán thêm phíbảo hiểm cho thời gian vượt quá này

Thông thường thời hạn bảo hiểm bao gồm thời gian:

- Lưu kho (vật liệu) trước khi xây dựng ( tối đa là ba tháng)

- Giai đoạn xây dựng

- Kiểm nghiệm, chạy thử (nếu có máy móc)

- Bảo hành

Trang 10

1.2.5 Giá trị bảo hiểm

Việc xác định chính xác giá trị bảo hiểm( GTBH) rất phức tạp Các giá trịphải xác định trong bảo hiểm xây dựng bao gồm:

- GTBH của phần công tác xây dựng: Thường là giá trị ước tính và có thể

là một trong số các giá trị sau

+ Tổng giá trị khôi phục lại các công trình trong trường họp có tổn thấttoàn bộ và phải tiến hành xây dựng lại

+ Giá trị dự toán công trình theo hợp đồng xây dựng

+ Giá trị nhỏ hơn hoặc bằng tổn thất lớn nhất có thể xảy ra

Tuy nhiên, việc xác định giá trị của phần công tác xây dựng theo giá trị dự toáncông trình theo hợp đồng xây dựng là hợp lý nhất Khi công trình hoàn thành, giátrị này được điều chỉnh lại theo giá trị thực tế và phí bảo hiểm cũng được điềuchỉnh lại cho phù hợp

Giá trị dự toán công trình theo hợp đồng xây dựng thường bao gồm chi phílập công trình, giá trị các nguyênm vật liệ do nhà thầu cung cấp, chi phí nhâncông của chủ thầu, những chi phí trả cho khối lượng công việc thầu phụ hay dịch

vụ, chi phí liên quan đến việc sử dụng máy móc thi công xây dựng, nhà xưởngthiết bị và các công trình tạm thời, kỹ thuật và giám sát, chi phí hành chính, lợinhuận

- GTBH của máy móc và trang thiết bị xây dựng: Được xác định theo giátrị thay thế tương đương của máy móc, trang thiết bị đó mua tại thời điểm thicông công trình và có thể gồm cả chi phí vận chuyển, lắp ráp

- GTBH cho phần chi phí dọn dẹp: Thường được ước tính theo % giá trịcủa hợp đồng xây dựng

Trang 11

- GTBH cho các công trình hoặc tài sản có sẵn trong hoặc xung quanh khuvực thi công thuộc quyền sở hữu, trông nom của người được bảo hiểm: Được xácđịnh theo giá trị thực tế của tài sản đó tại thời điểm yêu cầu bảo hiểm.

- Mức trách nhiệm bảo hiểm cho trách nhiệm dân sự của NĐBH đối vớibên thứ ba do việc thi công công trình: Thường được xác định trên cơ sở giá trịtổn thất tối đa có thể Đây là giới hạn thoả thuận tối đa cho mỗi tai nạn nhưngkhông giới hạn trong suốt thời hạn bảo hiểm

Thông thường công ty bảo hiểm thường thuyết phục NĐBH tham gia bảohiểm ngang giá trị Trong trường hợp NĐBH tham gia bảo hiểm dưới GTBH sẽ

áp dụng phương pháp bảo hiểm theo tỉ lệ đối với các thiệt hại xảy ra

1.2.6 Phí bảo hiểm

Phí của một công trình xây dựng bao gồm hai phần chính: Phí bảo hiểmtiêu chuẩn và phụ phí mở rộng

 Phí bảo hiểm tiêu chuẩn

Phí bảo hiểm tiêu chuẩn là phí tính cho các rủi ro tiêu chuẩn (các rủi ro tiêuchuẩn theo đơn bảo hiểm của Munich Re đang được áp dụng tại Việt Nam) baogồm các rủi ro thiên tai, các rủi ro bất ngờ và các rủi ro khác như tay nghề kém.thiếu kinh nghiệm…

Phí bảo hiểm tiêu chuẩn có 3 phần chính sau:

- Phí cơ bản tối thiểu: Là mức phí tối thiểu cho 1 công trình xây dựng, tínhbằng tỷ lệ phần nghìn của số tiền bảo hiểm

- Phụ phí rủi ro động đất: Là mức phụ phí được tính cho từng loại côngtrình, phụ thuộc vào độ nhạy cảm của công trình đối với rủi ro động đất Trong kỹthuật mức độ nhạy cảm của công trình được chia làm năm loại C, D, E, F và

Trang 12

G( công trình loại C là có độ nhạy cảm với rủi ro động đất thấp nhất) Tỷ lệ phíđộng đất được tính bằng phần nghìn/năm.

- Phụ phí rủi ro lũ lụt: Mức phụ phí này được tính cho 1 năm căn cứ vàotính chất của từng loại công trình chịu tác động của rủi ro lũ lụt Tỷ lệ phí xácđịnh bằng phần nghìn trên số tiền bảo hiểm

 Phụ phí mở rộng

Đây là phần phí bảo hiểm xác định cho phần trang thiết bị xây dựng, máymóc xây dựng, tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực công trường, chi phídọn dẹp hiện trường, trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ ba

1.3 Nội dung cơ bản của bảo hiểm lắp đặt

1.3.1 Người được bảo hiểm

Trong bảo hiểm lắp đặt, tất cả các bên liên quan và có quyền lợi trong côngtrình lắp đặt và được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảo hiểm đều có thể

là người được bảo hiểm:

- Chủ đầu tư

- Nhà thầu chính

- Nhà thầu phụ

- Nhà cung cấp (nếu liên quan đến lắp đặt)

- Các kiến trúc sư, thiết kế hoạt động liên quan đến công trường

- Các kỹ sư tư vấn hoạt động liên quan đến công trường

- Ngoài ra, các tổ chức cho vay (ví dụ như các ngân hàng) cũng là nhữngngười được bảo vệ một cách gián tiếp bởi hợp đồng này

1.3.2 Đối tượng bảo hiểm

Trang 13

Đối tượng bảo hiểm lắp đặt được hiểu là các máy móc lắp đặt, trang thiết

bị phục vụ cho công tác lắp đặt và một số công việc, hạng mục liên quan tới côngviệc lắp đặt Đối tượng được bảo hiểm được phân loại như sau:

- Các máy móc, dây chuyền đồng bộ trong 1 xí nghiệp hay trong khi tiếnhành lắp đặt các máy móc,thiết bị đó

- Các máy móc, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho lắp đặt

- Các phần việc xây dựng phục vụ cho công tác lắp đặt

- Trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba

- Chi phí dọn dẹp vệ sinh

1.3.3 Phạm vi bảo hiểm

 Rủi ro được bảo hiểm

Những rủi ro chính được bảo hiểm trong đơn bảo hiểm lắp đặt đượcchia làm 3 loại chính:

- Các rủi ro thiên tai bao gồm động đất, động biển gây ra sóng thần, giómạnh ( do bão, gió xoáy, cuồng phong), mưa lớn, lũ, lụt, đóng băng, sét đánh,cháy do sét đánh núi lửa, đất đá lún, sụt lở

- Các hiểm hoạ tổn thất gây ra bởi hoạt động của con người trên côngtrường như: thiếu kinh nghiệm, lỗi của con người, bất cẩn, trộm cắp, hành động

ác ý, vận chuyển, khuân vác nguyên vật liệu, lỗi thiết kế, cường độ công việc cao

do thời gian xây dựng lắp đặt quá ngắn, phối hợp công việc thiếu hợp lý, bảo vệcông trường không tốt, thiếu biện pháp ngăn ngừa tổn thất, lỗi vận hành, lỗingười vận hành máy

- Các rủi ro kỹ thuật, vận hành bao gồm áp suất ép quá lớn, chân không,nhiệt độ quá lớn, lực li tâm, lỗi nguyên vật liệu, mất kiểm soát phản ứng hoá học,lỗi của hệ thống hay thiết bị điều hành, điều khiển

Trang 14

 Các rủi ro loại trừ

Trong đơn bảo hiểm lắp đặt các rủi ro loại trừ được chia làm 3 loại chính:

- Loại trừ chung: Áp dụng cho cả phần bảo hiểm thiệt hại vật chất và tráchnhiệm Các rủi ro loại trừ ở phần này là:

+ Chiến tranh

+ Những rủi ro hạt nhân

+ Các hành vi vi phạm của người được bảo hiểm

+ Gián đoạn công việc

- Các loại trừ đặc biệt áp dụng cho phần thiệt hại vật chất

+ Các khoản miễn thường

+ Mọi tổn thất hậu quả

+ Lỗi thiết kế, khuyết tật nguyên vật liệu

+ Hao mòn và xé rách

+ Các tổn thất về hồ sơ, bản vẽ, tài liệu

+ Các tổn thất phát hiện vào thời điểm kiểm kê (mất cắp, mất tích)

- Các loại trừ áp dụng đối với phần thiệt hại về trách nhiệm

+ Các khoản miễn thường

+ Những chi tiêu hay chi phí sửa chữa có liên quan đến sửa chữa nhữngthiệt hại được bảo hiểm trong phần bảo hiểm vật chất

+ Trách nhiệm đối với thương tật của con người tham gia vào quá trình thicông công việc

+ Tổn thất và thiệt hại đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hay chăm sóc,quản lý của bất cứ NĐBH nào

+ Tổn thất gây ra bởi xe cơ giới, tàu, máy bay

Trang 15

+ Bất cứ khoản bồi thường nào vượt quá phạm vi bảo vệ qui định tronghợp đồng bảo hiểm.

1.3.4 Thời hạn bảo hiểm

Tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa các bên mà thời hạn bảo hiểm được ghi

rõ trong đơn bảo hiểm và có thể bao gồm một phần hoặc toàn bộ các thời gian:

- Lưu kho trước khi lắp đặt

- Giai đoạn lắp đặt

- Chạy thử ( không tải và có tải)

- Giai đoạn bảo hành

1.3.5 Giá trị bảo hiểm

Trong bảo hiểm lắp đặt, giá trị bảo hiểm được tính cho từng hạng mục bảohiểm:

- GTBH đối với thiết bị được lắp đặt: Được tính bằng giá trị thay thế mớicủa bất kỳ máy móc, thiết bị mới tương đương, gồm giá mua, chi phí kỹ thuật,cước phí vận chuyển, thuế hải quan, chi phí lắp đặt, phí kho bãi

- GTBH đối của các máy móc, trang thiết bị phục vụ cho công tác lắp đặt(tương tự như máy móc, trang thiết bị bảo hiểm xây dựng)

- GTBH đối với chi phí dọn dẹp vệ sinh (tương tự bảo hiểm xây dựng)

- GTBH của các tài sản có sẵn trên và xung quanh công trường lắp đặtthuộc quyền quản lý, sở hữu của người được bảo hiểm ( tương tự như bảo hiểmxây dựng)

- STBH được xác định dựa vào giá trị các hạng mục vừa nêu ở trên và sựthỏa thuận của hai bên Thông thường STBH trong bảo hiểm lắp đặt bằng GTBH Đối với phần bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đốivới người thứ ba thì STBH hoàn toàn dựa vào sự thỏa thuận giữa các bên

Trang 16

Đối với các công trình xây dựng dân dụng và lắp đặt hỗn hợp:

Nếu giá trị lắp đặt lớn hơn 50% tổng sản phẩm bảo hiểm thì công ty bảohiểm cấp đơn bảo hiểm lắp đặt Nếu giá trị xây dựng lớn hơn 50% tổng STBH thìcấp đơn bảo hiểm xây dựng Trên thực tế, tuỳ vào yêu cầu cụ thể sẽ có các sửađổi bổ sung phù hợp cho từng đơn cấp ra

1.4 Hợp đồng bảo hiểm trong bảo hiểm Xây dựng- Lắp đặt

Hợp đồng bảo hiểm Xây dựng- Lắp đặt là sự thỏa thuận giữa nhà bảo hiểm

và NĐBH( thường là các chủ đầu tư và các chủ thầu) về các rủi ro trong Xâydựng- Lắp đặt NĐBH có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm cho nhà bảo hiểm Nhàbảo hiểm có trách nhiệm thanh toán STBH khi có các rủi ro gây tổn thất trongphạm vi bảo hiểm

Đối với với một công trình tùy thuộc vào các đặc điểm cụ thể mà hai bênthỏa thuận ký HĐBH mọi rủi ro xây dựng, hợp đồng mụi rủi ro lắp đặt hoặc hợpđồng mọi rủi ro xây dựng- lắp đặt nhưng nhìn chung kết cấu của các loại hợpđồng trên giống nhau và bao gồm những phần sau:

 Phần mở đầu: Tên, số hiệu hợp đồng, các luật, quyết định, làm căn

cứ lập hợp đồng, cam kết bảo hiểm giữa hai bên

 Các điều khoản:

Trang 17

- Thoả thuận chung

- Điều khoản về điều kiện bảo hiểm

- Thông tin về người được bảo hiểm, người bảo hiểm

- Điều khoản về số tiền bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, mức miễn thường vàphí bảo hiểm

- Quy tắc bảo hiểm và các điều khoản bổ sung

1.5 Tái bảo hiểm trong bảo hiểm Xây dựng- Lắp đặt

1.5.1 Sự cần thiết của tái bảo hiểm trong bảo hiểm Xây dựng- Lắp đặt

1.5.1.1 Đối với công ty nhượng tái bảo hiểm

Do những đặc điểm đặc trưng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm mà táibảo hiểm là một hoạt động tất yếu khách quan luôn gắn liền và đi cùng hoạt độngkinh doanh bảo hiểm nhằm đảm bảo ổn định tài chính cho công ty bảo hiểm gốc.Tái bảo hiểm lại càng cần thiết trong bảo hiểm Xây dựng- Lắp đặt vì:

 Trong bảo hiểm Xây dựng- Lắp đặt, do giá trị bảo hiểm thường rất lớnnên khi xảy ra rủi ro sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới công ty bảo hiểm gốc Vìvậy cần phải thu xếp tái bảo hiểm

 Rủi ro trong bảo hiểm Xây dựng- Lắp đặt thường không đồng nhất,công tác đánh giá, quản lý rủi ro lại không theo sát được

 Do hầu hết các công trình thi công ngoài trời nên chịu ảnh hưởng rấtlớn của yếu tố thời tiết trong khi con người thường không thể kiểm soát được yếu

tố này

1.5.1.2 Đối với công ty nhận tái bảo hiểm.

Đối với công ty nhận tái bảo hiểm đây là cách để tăng doanh thu phí bảohiểm và lợi nhuận cho công ty thông qua phí nhận tái từ các công ty bảo hiểmgốc

Trang 18

1.5.2 Các hình thức tái bảo hiểm

Có 2 hình thức tái bảo hiểm chính là tái bảo hiểm cố định và tái bảo hiểmtạm thời

 Tái bảo hiểm tạm thời: Là hình thức tái bảo hiểm mà công ty nhượng cótoàn quyền lựa chọn rủi ro cần phải đem tái đi và ngược lại, nhà tái bảo hiểm cótoàn quyền chấp nhận hay từ chối những rủi ro đó

 Tái bảo hiểm cố định : Là hình thức tái bảo hiểm mà công ty nhượng vàcác nhà tái bảo hiểm bắt buộc phải thoả thuận với nhau từ trước, sau đó công tynhượng buộc phải tái đi cho các nhà tái bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro trongbảo hiểm gốc( với một hạn mức STBH và STBT nhất định đã được thoả thuậntrước) và ngược lại các nhà tái bảo hiểm cũng bắt buộc phải chấp nhận nhữngđơn vị rủi ro đó

1.5.3 Hoa hồng tái bảo hiểm trong bảo hiểm Xây dựng- Lắp đặt

 Khái niệm: Hoa hồng tái bảo hiểm là một khoản tiền mà nhà tái bảohiểm phải trả cho công ty nhượng Hoa hồng tái bảo hiểm thường được biểu thịbằng một tỷ lệ phần trăm của số phí tái bảo hiểm

 Phân loại hoa hồng tái bảo hiểm : Hiện nay trên thế giới người ta đang

áp dụng các loại hoa hồng tái bảo hiểm như sau:

- Hoa hồng cố định: Là khoản tiền mà nhà tái bảo hiểm phải trả cho công

ty nhượng được tính bằng một tỷ lệ phần trăm cố định so với phí tái bảo hiểm

- Hoa hồng theo thang lũy tiến: Các công ty có thể thỏa thuận với nhauđiểu chỉnh tỷ lệ hoa hồng theo một nấc thang nhất định Việc xây dựng thang lũytiến này lấy hoa hồng cố định là tiêu chuẩn và dựa vào mức tăng giảm của tỷ lệbồi thường trong từng nghiệp vụ

Trang 19

- Hoa hồng theo lãi : Là loại hoa hồng được tính toán phụ thêm hoa hồng

cố định nhằm thu lại một phần lãi cho các công ty nhượng trong điều kiện màmột thời gian dài tỷ lệ bồi thường thấp

Các loại hoa hồng này được áp dụng rất linh hoạt tuỳ thuộc vào từngtrường hợp cụ thể

Theo Thông tư số 98/2004/TT- BTC ngày 19/10/2004 của Bộ Tài Chính, tỷ

lệ tái bảo hiểm bắt buộc đối với bảo hiểm xây dựng lắp đặt được quy định nhưsau:

- Đối với hợp đồng tái bảo hiểm cố định: 26%

- Đối với hợp đồng tái bảo hiểm tạm thời: 90% tỷ lệ hoa hồng tái bảo hiểmcùng loại dịch vụ trên thị trường quốc tế

1.6 Giới thiệu chung về hoạt động khai thác nghiệp vụ bảo hiểm Xây Lắp đặt.

Hoạt động khai thác bảo hiểm được hiểu là hoạt động tuyên truyền, quảng

cáo, vận động mời chào khách hàng tham gia bảo hiểm, bán sản phẩm bảo hiểm,đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp tiếnhành hay thông qua đại lý, cộng tác viên bảo hiểm, tổ chức môi giới bảo hiểm

1.6.1 Vai trò của hoạt động khai thác bảo hiểm xây dựng và lắp đặt.

1.6.1.1 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Hoạt động khai thác là một khâu có vai trò quan trọng trong hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) Dưới đây là một số vai trò củahoạt động khai thác bảo hiểm xây dựng, lắp đặt đối với DNBH:

- Bất kỳ DNBH nào trong dài hạn đều lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạtđộng kinh doanh Hoạt động khai thác bảo hiểm ảnh hưởng tới doanh thu từ đóquyết định lợi nhuận của DNBH

Trang 20

- Giúp doanh nghiệp nắm bắt được tâm lý và nhu cầu của khách hàng từ

đó nâng cao được chất lượng phục vụ khách hàng, tạo uy tín, thương hiệu chodoanh nghiệp và góp phần làm cho doanh nghiệp duy trì, tái tục hợp đồng và khaithác được những hợp đồng mới

- Hoạt động khai thác còn thu thập được số liệu làm tài liệu thống kê choDNBH sử dụng trong quá trình kinh doanh của mình

- Khai thác được những hợp đồng mới hay DNBH đã mở rộng được phạm

vi hoạt động, đa dạng hóa được loại hình khác nhau, tăng thị phần và vị thế củadoanh nghiệp trên thị trường, tác động đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp

- Trong qui trình khai thác, DNBH phải đánh giá rủi ro, xây dựng chươngtrình quản trị rủi ro cho đối tượng bảo hiểm, nhờ vậy có thể hạn chế được nhữngtổn thất rất lớn, DNBH không nhiều gặp nhiều khó khăn trong công tác giámđịnh bồi thường

- Là mắt xích nối DNBH với các ngành xây dựng lắp đặt và một số ngành

có liên quan khác, các doanh nghiệp bảo hiểm khác với nhau, tác động qua lại lẫnnhau

1.6.1.2 Đối với người được bảo hiểm.

Hoạt động khai thác bảo hiểm xây dựng và lắp đặt không chỉ có vai trò đốivới DNBH mà nó còn mang lại lợi ích cho NĐBH

Trước hết hoạt động khai thác BHXDLĐ đáp ứng được nhu cầu của NĐBH màđặc biệt là nhu cầu an toàn đang ngày càng được quan tâm hơn

Khi nhân viên khai thác của 1 doanh nghiệp bảo hiểm tiếp xúc khách hàng,

họ sẽ đưa ra cho khách hàng những rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải Nhưvậy, nhờ có hoạt động khai thác mà người tham gia bảo hiểm có thể nhận biếtđược các rủi ro bất ngờ đó, được công ty bảo hiểm xây dựng chương trình quản

Trang 21

trị rủi ro, giúp cho người được bảo hiểm đề phòng, hạn chế những tổn thất có thểgặp phải Bên cạnh đó khách hàng cảm thấy yên tâm sản xuất kinh doanh, gópphần tăng năng suất và hiệu quả làm việc.

Nhờ có hoạt động khai thác bảo hiểm mà khách hàng có thể tiết kiệm đượcthời gian và tiền của

1.6.2 Một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động khai thác bảo hiểm xây dựng và lắp đặt.

Hoạt động khai thác BHXDLĐ chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố Dướiđây là 1 số yếu tố cơ bản tác động hoạt động khai thác bảo hiểm xây dựng và lắpđặt:

1.6.2.1 Tình hình kinh tế xã hội.

Nếu nền kinh tế của một quốc gia phát triển, chính trị xã hội ổn định sẽthu hút đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, và ngược lại Khi nền kinh tếphát triển, nhiều dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nhiều công trình có giá trị lớnđược xây dựng, hoạt động khai thác BHXDLĐ vì thế cũng dễ dàng hơn

Thực tế đã cho thấy nếu nền kinh tế gặp khó khăn, lạm phát tăng cao thì sẽảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả các dịch vụ tài chính, tín dụng, chứng khoán, bảohiểm Nhiều ngân hàng có thể đồng loạt huỷ giải ngân cho các công trình lớn.Giá cả vật tư , thiết bị tăng cao, lãi suất cho vay tăng khiến nhiều dự án, côngtrình đứng trước nguy cơ đình đốn

Tình hình kinh tế xã hội góp phần quy định tính đa dạng, phức tạp của cácloại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăngnhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội Từ đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạtđộng khai thác BHXDLĐ

1.6.2.2 Sự phát triển của thị trường bảo hiểm.

Trang 22

Thị trường bảo hiểm phát triển, tạo điều kiện cho các DNBH mới ra đờigóp phần tăng cường khai thác các rủi ro mới Bên cạnh đó thị trường bảo hiểmhoàn thiện hơn giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao chất lượng khai thác,phương thức tiếp cận khách hàng có nhiều thay đổi Vì vậy hoạt động khai thácBHXDLĐ cũng chịu sự tác động của thị trường bảo hiểm nói chung Nếu thịtrường bảo hiểm càng phát triển thì chi phí cho hoạt động khai thác sẽ tươngxứng với hiệu quả mà DNBH đạt được trong quá trình triển khai bảo hiểm.

1.6.2.3 Mức độ cạnh tranh.

Khi nền kinh tế phát triển, nhận thức và nhu cầu về bảo hiểm của ngườidân tăng cao Để đáp ứng nhu cầu đó rất nhiều DNBH đã ra đời tác động đến tìnhhình cạnh tranh trên thị trường đặc biệt là trong BHXDLĐ Mức độ cạnh tranhcàng lớn thì vai trò của hoạt động khai thác BHXDLĐ càng quan trọng Để giànhđược thị phần, giữ vững được vị thế các DNBH đã tăng chi phí cũng như hoahồng của hoạt động khai thác Việc tiếp cận khách hàng có được thúc đẩy mạnh

mẽ và nhanh chóng hay không là nhờ áp lực cạnh tranh trên thị trường Do vậytuỳ thuộc chiến lược của doanh nghiệp, vào mức độ cạnh tranh của loại hìnhBHXDLĐ trên thị trường mà doanh nghiệp đưa ra quy trình khai thác hoặc có sựchuyển hướng khai thác phù hợp với tình hình của doanh nghiệp

Trang 23

vụ Vì vậy, nó ảnh hưởng đến việc bố trí nguồn lực khai thác, mở rộng mối quan

hệ theo nhiều đối tượng, thời gian khai thác thường phải kéo dài

- Trình độ của khai thác viên bảo hiểm: Khai thác viên bảo hiểm là ngườitiếp xúc với khách hàng, tìm hiểu khách hàng, tạo ấn tượng,hình ảnh của DNBHcho khách hàng Vì vậy, có khai thác hay duy trì được HĐBH hay không là phụthuộc một phần vào kĩ năng, trình độ của cán bộ khai thác

- Hoạt động nhận tái của các công ty tái trên thị trường: Sự gia tăng nănglực nhận tái bảơ hiểm từ thị trường thế giới và khu vực góp phần giúp các công tybảo hiểm trong nước có thêm sự lựa chọn trong việc thu xếp chương trình tái bảohiểm Nhưng nếu hợp đồng nào có phí quá thấp có thể sẽ không được nhận tái.Điều này tác động đến việc lựa chọn phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, phíbảo hiểm của cán bộ khai thác Và có thể tác động đến việc chuyển hướng khaithác của DNBH

- Nhận thức của chủ thầu, nhà đầu tư: Nếu nhận thức của chủ thầu, nhàđầu tư về tác dụng của bảo hiểm ngày càng được nâng cao thì việc khai thácBHXDLĐ sẽ dễ dàng hơn Và ngược lại nếu nhận thức của các nhà đầu tư, chủthầu chưa cao thì hoạt động khai thác có thể sẽ tốn nhiều chi phí hơn nhưng lạikhông đạt hiệu quả cao

1.6.3 Quy trình hoạt động khai thác bảo hiểm xây dựng và lắp đặt

Đối với quy trình khai thác BHXDLĐ, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm dựavào đặc điểm và điều kiện của mình đưa ra quy trình riêng biệt Từ sự tổng hợpquy trình khai thác của 1 số DNBH, quy trình hoạt động khai thác bảo hiểm xâydựng và lắp đặt được tiến hành 1 cách tổng quát như sau:

 Tiếp thị nhận thông tin từ khách hàng

 Phân tích, đánh giá rủi ro của đối tượng bảo hiểm

Trang 24

 Trình lãnh đạo công ty bảo hiểm,quyết định chấp nhận hay không chấpnhận rủi ro, chấp nhận tới mức nào.

 Xác định điều khoản, điều kiện và phạm vi bảo hiểm

 Tính toán, xác định phí bảo hiểm thích hợp

 Chuẩn bị hợp đồng/đơn bảo hiểm/giấy chứng nhận bảo hiểm

Cán bộ khai thác là nhân viên chính thức của bộ phận khai thác trong công

ty Cán bộ khai thác đi tiếp xúc khách hàng, đàm phán, ký hợp đồng có thể là docông ty sắp xếp, có thể là trực tiếp khai thác từ mối quan hệ quen biết của họ

Trang 25

nghiệp Lúc này ngân hàng có thể có vai trò như đại lý hoặc nhân viên khai thácbảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm đó.

Đối với những trường hợp đơn bảo hiểm có giá trị lớn, công ty môi giới sẽđại diện cho người được bảo hiểm đảm đương nhiệm vụ chuẩn bị hồ sơ cho khaithác viên bảo hiểm

Các DNBH cũng sử dụng các văn phòng đại diện đặt tại các khu vực khácnhau làm kênh khai thác cho doanh nghiệp mình

Trang 26

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG LẮP ĐẶT TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN.

2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện

2.1.1 Sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện

Tầng 8, tòa nhà, Số 4A Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội04.37724466

04.37724460Website: WWW Pti.com.vn – Email: ptioffice@pti.com.vn

2.1.1.1 Quá trình hình thành công ty cố phần bảo hiểm Bưu Điện

Thực hiện chủ trương đa dạng hoá thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngay saukhi Nghị định 100/CP của Chính phủ được ban hành, các công ty bảo hiểm khác(ngoài hệ thống bảo hiểm cũ) đã nhanh chóng được thành lập và đóng góp tíchcực vào việc phá bỏ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm đã tồn tại hàng chục nămtrước đây Một trong số các công ty bảo hiểm mới được thành lập đã chiếm được

vị trí tin cậy trên thị trường bảo hiểm Việt Nam: Công ty Cổ phần Bảo hiểm BưuĐiện (PTI)

Được thành lập ngày 12/08/1998, Công ty Bảo hiểm Bưu điện là tập hợpcủa các doanh nghiệp lớn thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo nên sự đadạng về ngành nghề cũng như vững chắc về tài chính Cổ đông sáng lập và chi

Trang 27

phối là Tổng Công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT), nay là Tập đoànBưu chính Viễn thông Việt Nam và các cổ đông sáng lập khác là Tổng Công ty

Cổ phần Tái Bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE), Tổng Công ty Cổ phầnBảo Minh, Tổng Công ty xây dựng Hà Nội (HACC), Tổng Công ty xuất nhậpkhẩu Xây dựng Việt Nam (Vinaconex), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế(VIB) Công ty Tài chính Bưu điện

Trụ sở chính của PTI tại tầng 8, toà nhà số 4A Láng Hạ, Quận Ba Đình, HàNội Đến thời điểm hiện nay PTI chính thức Hội sở Giao dịch và 21 chi nhánhđặt tại các tỉnh, thành phố và các trung tâm kinh tế trọng điểm cùng với mạnglưới hơn 1.000 đại lý bảo hiểm tại tất cả các tỉnh thành trong cả nước Với hệthống tổ chức mạng lưới phục vụ khách hàng nêu trên, về cơ bản đến nay PTI đãđáp ứng tốt yêu cầu phục vụ khách hàng trên toàn quốc với phương châm giảiquyết nhanh, kịp thời các vụ tổn thất và được khách hàng đánh giá cao

Sự ra đời của Hội Sở Giao Dịch.

Hiện nay, để phù hợp với sự phát triển và phục vụ khách hàng ngày càngtốt hơn, bên cạnh 21 Chi nhánh đã đi vào hoạt động, được phép của Bộ Tài chính(theo thông báo số 4522/TC/BH ngày 18/04/2005 của Bộ Tài chính) PTI đã thànhlập Hội sở giao dịch Hà Nội (PTI Hà Nội) có trụ sở tại số 100 Thái Thịnh, Đống

Đa, Hà Nội Ngày 01 tháng 07 năm 2005, Hội sở Giao dịch đã chính thức đi vàohoạt động Hội sở Giao dịch Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện được thành lậptrên cơ sở kế thừa toàn bộ hoạt động kinh doanh và các phòng kinh doanh bảohiểm của Văn phòng PTI trước đây Như vậy, với sự ra đời của Hội sở giao dịch

Hà Nội, PTI đã hoàn thành việc tách toàn bộ khối trực tiếp khai thác kinh doanhbảo hiểm và khối quản lý vĩ mô, trợ giúp cho các Đơn vị trực thuộc trong kinh

Trang 28

doanh, nhận và nhượng tái bảo hiểm, giải quyết các vụ việc trên phân cấp của cácĐơn vị

2.1.1.2 Quá trình phát triển

Thực tế đã chứng minh, trong 11 năm qua cùng với sự phát triển chung củanền kinh tế Việt Nam, PTI đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trườngbảo hiểm Việt Nam và có uy tín với các nhà tái bảo hiểm thế giới Ngay từ nhữngngày đầu thành lập, PTI đã quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ cóchuyên môn cao và thực tế cho đến nay, Công ty đã xây dựng được một đội ngũCBCNV kinh nghiệm, trình độ chuyên môn hoá sâu trong các lĩnh vực bảo hiểmhiện đang triển khai tại PTI, gồm 540 người làm việc tại Hà Nội, Hội sở Giaodịch và 21 chi nhánh, các văn phòng đại diện trong phạm vi toàn quốc Công ty

đã triển khai rộng rãi hàng chục loại hình bảo hiểm trong các lĩnh vực bảo hiểmthiết bị điện tử/ tài sản, bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm hàng hoá xuấtnhập khẩu, con người, xe cơ giới, trách nhiệm dân sự tới hàng vạn khách hàngtrong cả nước Công ty đã giữ vị trí hàng đầu trong các công ty bảo hiểm về loạihình bảo hiểm thiết bị điện tử/ tài sản, bảo hiểm xây lắp các công trình viễnthông, dân dụng Ngoài những nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống, trong thờigian qua PTI đã triển khai một số nghiệp vụ bảo hiểm mới như: bảo hiểm vệ tinh,bảo hiểm bưu phẩm-bưu kiện khai giá

Nhằm đảm bảo khả năng bồi thường cho khách hàng và năng lực nhận bảohiểm cho các dự án đầu tư lớn, Bảo hiểm Bưu điện đã có quan hệ hợp đồng vớinhiều Công ty bảo hiểm và Tái bảo hiểm có uy tín trên thị trường quốc tế như cácCông ty tái bảo hiểm SwissRe, Công ty tái bảo hiểm MunichRe (Đức), Sumitomo(Nhật), Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt nam Công ty PTI có quan hệ mậtthiết với các Công ty giám định tổn thất chuyên nghiệp như Cunningham

Trang 29

Lindsey, Crawford, McLarens và đã nhận được sự cộng tác hiệu quả của cácCông ty này trong việc đánh giá rủi ro, giám định và giải quyết khiếu nại.

Với những thành tích đã đạt được, công ty đang ngày càng phát triển vớimức tăng trưởng bình quân hàng năm là 30% Năm 2007 công ty đã đạt doanhthu phí bảo hiểm gốc là 305 tỷ đồng Năm 2008 là 478 tỷ đồng Trong kế hoạchkinh doanh 5 năm lần thứ 1, PTI bắt đầu hoạch định một chiến lược kinh doanhphát triển đến năm 2008 là tập trung phục vụ tốt các khách hàng trong cổ đông vàdựa vào đó làm nền tảng vững chắc để phát triển ra thị trường bên ngoài nhằmtích cực hoà nhập và đón nhận cơ hội cũng nhưng chấp nhận thách thức khi ViệtNam chính thức mở cửa hoàn toàn với thị trường bảo hiểm thế giới

Tổng tài sản của PTI cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2008 đạt gần 876 tỷđồng, đứng hàng thứ 5 trên tổng số các công ty Bảo hiểm phi nhân thọ tại ViệtNam

Trang 30

2.1.2 Cơ cấu tổ chức.

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

TỔNG GIÁM ĐỐC PHẠM ANH TUẤN

PHÓ TỔNG GĐ

NGUYỄN BÁ NGỌC

PHÓ TỔNG GĐ NGUYỄN ĐỨC BÌNH TRẦN THỊ MINH PHÓ TỔNG GĐ

HỘI SỞ GIAO DỊCH CÔNG

TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN (PTI HÀ NỘI)

PHÒNG TÀI SẢN KỸ THUẬT

PHÒNG TÁI BẢO HIỂM

PHÒNG BH XE CƠ GIỚI PHÒNG BH HÀNG HẢI PHÒNG BH CON NGƯỜI

PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN

CÁC CHI NHÁNH PTI TẠI CÁC TỈNH PHÍA BẮC

PHÒNG QUẢN LÝ & PHÁT TRIỂN ĐẠI LÝ

PHÒNG HÀNH CHÍNH QUẢN TRỊ

PHÓ TỔNG GĐ NGUYỄN TRƯỜNG GIANG

Trang 31

 Khối Nghiệp vụ

Khối Nghiệp vụ có chức năng Tham mưu và giúp Tổng Giám đốc chỉ đạo:

- Phòng Bảo hiểm Tài Sản Kỹ thuật: Phòng Bảo hiểm Tài sản Kỹ thuật cóchức năng tham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo côngtác chuyên môn nghiệp vụ bảo hiểm Tài sản Kỹ thuật thống nhất toàn Công ty

- Phòng Bảo hiểm Hàng hải: Phòng Bảo hiểm Hàng hải có chức năng thammưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyên mônnghiệp vụ bảo hiểm Hàng hải thống nhất toàn Công ty

- Phòng Bảo hiểm Xe Cơ giới: Phòng Bảo hiểm Xe Cơ giới có chức năngtham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyênmôn nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới thống nhất toàn Công ty

- Phòng Bảo hiểm con người: Phòng Bảo hiểm Con người có chức năngtham mưu cho Ban Tổng Giám đốc trong việc quản lý, chỉ đạo công tác chuyênmôn nghiệp vụ bảo hiểm con người thống nhất toàn Công ty

- Phòng Quản lý Đại lý: Phòng Quản lý Đại lý có chức năng tham mưu choBan Tổng Giám đốc Công ty trong việc ban hành các chính sách nhằm xây dựng,phát triển, quản lý thống nhất và giám sát chặt chẽ hoạt động của hệ thống Đại lýcủa Công ty trên toàn quốc

- Phòng Tái bảo hiểm: Phòng Tái bảo hiểm có chức năng tham mư cho BanTổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tácnhận và nhượng tái bảo hiểm

 Khối Kinh tế

Khối Kinh tế có chức năng kinh doanh, tham mưu và giúp Ban Tổng Giámđốc Công ty quản lý, chỉ đạo các công tác liên quan đến Kế toán Tài chính, Kếhoạch và Đầu tư tài chính theo đúng pháp luật:

Trang 32

- Phòng Tài chính – Kế toán: Phòng Tài chính – Kế toán có chức năng thammưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo, kiểm tra vàgiám sát lĩnh vực Tài chính – Kế toán theo quy định của Nhà nước và Công ty.Thực hiện công tác Tài chính – Kế toán tại Văn phòng Công ty

- Phòng Kế hoạch – Đầu tư: Phòng Kế hoạch Đầu tư có chức năng tham mưucho Ban Tổng Giám đốc trong công tác quản lý, chỉ đạo và kiểm tra các vấn đềliên quan đến công tác kế hoạch, công tác đầu tư tài chính, công tác xây dựng cơbản và công tác quản lý cổ đông

- Phòng Tổ chức Cán bộ: Phòng Tổ chức Cán bộ có chức năng tư vấn, thammưu cho Ban Tổng Giám đốc thống nhất quản lý công tác tổ chức, cán bộ, tuyểndụng, đào tạo, lao động tiền lương và thi đua khen thưởng theo đúng chính sách,chế độ quy định của Nhà nước và Công ty

- Phòng Công nghệ Thông tin: Phòng Công nghệ Thông tin có chức năngtham mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo các lĩnhvực như: Nghiên cứu việc ứng dụng Công nghệ Thông tin vào quản lý và hoạtđộng kinh doanh của Công ty, tổ chức thực hiện công tác thống kế, thu thập, quản

lý và cung cấp thông tin hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh và quản lý của Công ty

Các đơn vị trực thuộc

Trang 33

Công ty có 01 Hội sở và 22 Chi nhánh trên toàn quốc, trải đều từ Bắc, Trung ,Nam

2.1.3 Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh

Hiện nay, Công ty Bảo hiểm Bưu điện đang kinh doanh các nghiệp vụ bảohiểm phi nhân thọ theo sự cho phép của Nhà nước, cụ thể như sau:

Danh mục sản phẩm bảo hiểm PTI đã đăng ký với Bộ tài chính

A Nhóm nghiệp vụ tài sản - kỹ thuật

I Bảo hiểm kỹ thuật

Bảo hiểm mọi rủi ro trong lắp đặt

Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng

Bảo hiểm thiết bị điện tử

Bảo hiểm đổ vỡ máy móc

Bảo hiểm máy móc thiết bị chủ thầu

II Bảo hiểm tài sản

Bảo hiểm mọi rủi ro cho tài sản

Bảo hiểm nhà tư nhân

Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp

Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt

III Bảo hiểm hỗn hợp

Bảo hiểm trộm cắp

Bảo hiểm tiền

Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

Bảo hiểm khác về tài sản

IV Bảo hiểm trách nhiệm

Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba

Trang 34

Bảo hiểm trách nhiệm công cộng

Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm

Bảo hiểm trách nhiệm hỗn hợp

B Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá

Bảo hiểm hàng hoá xuất khẩu

Bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu

Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nội địa

Bảo hiểm bưu phẩm, bưu kiện khai giá

C Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải

I Bảo hiểm con người

Bảo hiểm tai nạn thuyền viên

Bảo hiểm tai nạn học sinh

Bảo hiểm tai nạn cá nhân 24/24

Bảo hiểm bồi thường cho người lao động

Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật

Bảo hiểm toàn diện học sinh

Bảo hiểm khách du lịch

Bảo hiểm sinh mạng con người

Bảo hiểm kết hợp con người

II Bảo hiểm xe cơ giới

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với ngời thứ ba

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hàng hoá vận chuyểntrên xe

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách trên xe

Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Trang 35

Bảo hiểm tai nạn ngời ngồi trên xe

Bảo hiểm tai nạn hành khách

Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Công ty cónhững bước phát triển mạnh mẽ PTI tiếp tục duy trì vị thế trên thị trường bảohiểm Việt Nam và quốc tế, đứng đầu thị trường Việt Nam về sản phẩm bảo hiểmThiết bị điện tử thuộc nhóm bảo hiểm tài sản và thiệt hại.

2.1.4 Những kết quả thu được trong những năm gần đây.

2.1.4.1 Doanh thu phí bảo hiểm gốc

Bảng 2.1: Doanh thu phí bảo hiểm gốc giai đoạn 2004-2008

Trang 36

(Nguồn: Phòng kế toán- PTI)

Nhìn vào bảng và biểu đồ ta thấy, doanh thu phí bảo hiểm gốc của công tynăm sau đều cao hơn năm trước,năm 2005 với mức tăng trưởng cao là 27,43 %.Doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2006 có tăng nhưng không cao, với mức tăngthấp (5,89%) Tổng doanh thu bảo hiểm gốc đã chững lại ở năm 2007, và đếnnăm 2009 đã tăng đạt mức 444,926 tỷ đồng, với mức tăng tương đối là 52,23 %( thực ra trong 444,926 tỷ đã có 110 tỷ doanh thu từ Vinasat 1)

Bảng 2.2: Doanh thu phí bảo hiểm của PTI theo nhóm nghiệp vụ

Trang 37

giai đoạn 2003-2008

(Đơn vị : tỷ đồng )

(Nguồn: Phòng kế toán- PTI)

Biểu đồ 2.2: Doanh thu phí bảo hiểm của PTI theo nhóm nghiệp vụ

giai đoạn 2003- 2008

(Đơn vị: tỷ đồng)

Doanh thu phí bảo hiểm từng nghiệp vụ bảo hiểm tăng nhưng không đềunhau Nghiệp vụ tài sản- kỹ thuật vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, tuy nhiên trong 2năm 2006, 2007 đã giảm đi là do thị trường bảo hiểm trong các năm này cạnh

Trang 38

tranh gay gắt theo hướng giảm phí phi kỹ thuật, đặc biệt đối với sản phẩm bảohiểm thiết bị điện tử vốn là nghiệp vụ bảo hiểm thế mạnh của PTI Bên cạnh đó,bắt đầu từ năm 2006, VNPT đã có quyết định đấu thầu cạnh tranh rộng rãi tất cảcác gói thầu bảo hiểm thiết bị điện tử, điều này khiến cho doanh thu bảo hiểmthiết bị điện tử của PTI giảm mạnh kéo theo sự giảm sút doanh thu nghiệp vụ bảohiểm tài sản kỹ thuật của Công ty Tuy nhiên đây vẫn là nghiệp vụ bảo hiểm hiệuquả với tỷ lệ bồi thường rất thấp, từ năm 2001 đến 2006 tỷ lệ bồi thường trongdoanh thu nghiệp vụ chiếm khoảng 20% doanh thu nghiệp vụ Với lượng kháchhàng lớn, ổn định là các đơn vị thuộc VNPT, sự hỗ trợ rất lớn từ các Công ty táibảo hiểm nước ngoài và chiến lược phát triển tập trung của Ban lãnh đạo Công ty,nghiệp vụ Bảo hiểm Tài sản – Kỹ thuật tiếp tục là một thế mạnh và mang lại hiệuquả cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong tương lai

Tiếp đó là nghiệp vụ phi hàng hải Nghiệp vụ phi hàng hải đã có nhữngbước tiến đáng kể, tăng gần gấp đôi vào năm 2005, sau đó vẫn tăng nhưng vớichiều hướng chậm lại

Về cơ cấu sản phẩm nghiệp vụ, nghiệp vụ hàng hóa của PTI gồm 3 loạihình: bảo hiểm hàng nhập khẩu, bảo hiểm hàng xuất khẩu, bảo hiểm hàng vậnchuyển nội địa trong đó doanh thu tập trung chủ yếu là bảo hiểm hàng nhậpchiếm từ 60-70%

Sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực xuất nhậphàng hóa nói riêng trong những năm qua có tác động tích cực đến sự phát triểnicủa thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu Tuy nhiên, do thói quen nhậpCIF xuất FOB đã tồn tại từ nhiều năm trong các đơn vị xuất nhập khẩu của ViệtNam nên tỉ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu tham gia bảo hiểm trong những nămqua mặc dù có những tiến triển nhưng vẫn còn khiêm tốn (đạt từ 20-25% tổng

Trang 39

kim ngạch nhập khẩu và 4-5% tổng kim ngạch xuất khẩu) Trong tương lai, nếucác doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam mua bảo hiểm hàng hóa trongnước cho 50% số hàng nhập khẩu và 30% số hàng xuất khẩu thì có thể mang lạithêm cho thị trường bảo hiểm hàng hóa tại Việt Nam mỗi năm hơn 20 triệu USD.Như vậy có thể thấy thị trường bảo hiểm hàng hóa vận chuyển tại Việt Nam nóichung và PTI nói riêng còn nhiều tiềm năng để phát triển.

2.1.4.2 Kết quả hoạt động đầu tư.

Để duy trì tính thanh khoản cao và phát triển các dịch vụ bảo hiểm qua hệthống mạng lưới của ngân hàng, hoạt động đầu tư chủ yếu là gửi tiền vào tổ chứctín dụng Trong những năm qua doanh thu từ hoạt động đầu tư của công ty cổphần bảo hiểm bưu điện liên tục tăng, đã góp phần đáng kể vào tổng doanh thucủa toàn doanh nghiệp Lợi nhuận từ hoạt động này luôn chiến tỷ trọng rất caotrong tổng doanh thu, giúp cho doanh nghiệp có thêm phần nguồn thu để trangtrải chi phi, trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên…

Tính đến cuối năm 2007, tổng số tiền công ty sử dụng cho hoạt động đầu

tư khoảng 690 tỷ đồng, thực tế đầu tư 680 tỷ đồng, tăng 107% so với năm 2007.Doanh thu từ hoạt động đầu tư năm 2008 đạt 66,5 tỷ đồng, bằng 147,6 % kếhoạch HĐQT giao; riêng tiền lãi gửi, trái phiếu chính phủ đạt 48,4 tỷ đồng Kêtquả đạt được từ hoạt động đầu tư của PTI trong những năm qua như sau:

Bảng 2.3: Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của PTI

giai đoạn 2003-2008

Trang 40

(Nguồn: Phòng kế toán- PTI)

Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của PTI

giai đoạn 2003-2008

Qua bảng trên ta có thể thấy tốc độ tăng lợi nhuận từ hoạt động đầu tư củaPTI qua các năm là không ổn định Dù vẫn có lãi qua các năm nhưng tốc độ tăngcủa năm 2005 so với 2004 là 23,78%, trong khi đó con số này chỉ là 15,05% và

Ngày đăng: 08/11/2018, 21:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w