1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vực ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu nhằm phục vụ công tác quản lý về bảo tồn đa dạng sinh học, nghiên cứu điển hình tại khu vực cửa ba lạt, nam định

94 117 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, tôi xin chânthành cô thực hiện đề tài “Lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vựcven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu nhằm phục vụ công tác quản lý về bảo tồn đa

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN TẠI

VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

PHẠM QUỲNH ANH

HÀ NỘI, NĂM 2018

Trang 2

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

LƯỢNG GIÁ GIÁ TRỊ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN TẠI

VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong khoa Môi Trường Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình dạy bảo, truyền đạtcho tôi kiến thức nền tảng trong suốt thời gian học tập và tạo mọi điều kiện thuậnlợi cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

-Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Viết Thành - người trực tiếp hướngdẫn khoa học đã đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quátrình nghiên cứu khoa học, thực hiện và hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi xin chânthành cô thực hiện đề tài “Lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vựcven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu nhằm phục vụ công tác quản lý về bảo tồn

đa dạng sinh học, nghiên cứu điển hình tại khu vực cửa Ba Lạt, Nam Định” đã tạođiều kiện cho phép tôi được sử dụng số liệu thu thập được trong đề tài để hoànthành luận văn của mình

Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học và thực hiện thành công luận văn này

Luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhậnđược những ý kiến đóng góp quý báu từ phía Hội đồng chấm luận văn và các thầy

cô trong khoa để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2018

Học viên

Phạm Quỳnh Anh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là côngsức của cá nhân tôi, hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Quỳnh Anh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4

1.1 Giới thiệu về đất ngập nước và rừng ngập mặn 4

1.2 Tổng quan nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới và Việt Nam 7

1.2.1 Các nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới 7

1.2.2 Các nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Việt Nam 11

1.3 Hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam

13 1.4 Rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy 14

1.5 Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn 18

1.7 Địa điểm nghiên cứu 26

1.7.1 Điều kiện tự nhiên 26

1.7.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 30

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

33 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 34

2.2.2 Phương pháp giá thị trường 35

2.2.3 Phương pháp chi phí thay thế 35

Trang 6

2.2.4 Phương pháp chuyển giao lợi ích 35

2.2.5 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) 36

2.2.6 Phương pháp chi phí du lịch (Travel cost method - TCM) 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

3.1 Hiện trạng khai thác, sử dụng rừng ngập mặn và công tác quản lý rừng ngập mặn tại huyện Giao Thủy 42

3.1.1 Hiện trạng khai thác, sử dụng rừng ngập mặn tại huyện Giao Thủy 42

3.1.2 Công tác quản lý rừng ngập mặn tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy 44

3.2 Phân tích các giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 46

3.3 Lượng giá một số giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy 47

3.3.1 Giá trị sử dụng 47

3.3.2 Giá trị phi sử dụng 61

3.4 Tổng hợp một số giá trị kinh tế RNM tại VQG Xuân Thủy 67

3.5 Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn 68

3.5.1 Áp dụng cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường để bảo tồn rừng ngập mặn 68

3.5.2 Lồng ghép thông tin về giá trị kinh tế của rừng ngập mặn trong các chương trình giáo dục truyền thông 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Tổng giá trị kinh tế của HST RNM 18

Hình 1.2: Quy trình đánh giá giá trị kinh tế của rừng ngập mặn 23

Hình 1.3 Bản đồ phân khu chức năng VQG Xuân Thủy 26

Hình 1.4 Bản đồ thổ nhưỡng VQG Xuân Thủy 27

Hình 1.5 Phân bố đất đai tại vùng đệm 28

Hình 3.1 Một số hệ sinh thái huyện Giao Thủy

42 Hình 3.2: Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước về RNM 44

Hình 3.3: Bản đồ phân vùng sinh kế VQG Xuân Thủy 47

Hình 3.4:Biến động các kiểu hệ sinh thái đất ngập nước tại Vườn quốc gia Xuân Thủy theo các thời kì: năm 1986, 1995 và 2013 54

Hình 3.5.Bản đồ biến động đường bờ khu vực VQG Xuân Thủy1989 -2003- 2007 55

Hình 3.6: Đường cầu chi phí sử dụng đến tham quan VQG Xuân Thủy 60

Hình 3.7: Biểu đồ thể hiện lý do đưa ra quyết định sẵn lòng trả 62

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng giá trị kinh tế của RNM 19

Bảng 1.2: Lựa chọn phương pháp đánh giá giá trị kinh tế của rừng ngập mặn 21

Bảng 1.3 Thống kê diện tích các loại đất đai ở vùng lõi VQG 29

Bảng 1.4 Mật độ dân số của 05 xã vùng đệm [37] 31

Bảng 2.1: Các giá trị kinh tế và dự kiến các phương pháp lượng giá giá trị kinh tế rừng ngập mặn tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy 33

Bảng 3.1: Các giá trị kinh tế quan trọng của rừng ngập mặn huyện Giao Thủy 46

Bảng 3.2: Tích trữ cacbon trong cây của đước, trang, bần, sú 51

Bảng 3.3: Khối lượng cacbon hấp thụ bởi rừng ngập mặn 52

Bảng 3.4: Chia vùng khoảng cách của khách du lịch tới VQG Xuân Thủy 57

Bảng 3.5: Số khách tham quan VQG Xuân Thủy theo từng vùng 58

Bảng 3.6: Chi phí trung bình khoảng cách và chi phí thời gian trung bình của du khách của 03 vùng 58

Bảng 3.7: Tổng chi phí du khách sử dụng để tham quan VQG Xuân Thủy 59

Bảng 3.8: Tỷ lệ khách tham quan tính theo số dân của từng vùng 59

Bảng 3.9: Biến động giá vé và lượt khách tương ứng 60

Bảng 3.10: Các mức Bid sử dụng trong nghiên cứu (đơn vị: đồng) 62

Bảng 3.11: Tỷ lệ phần trăm câu trả lời cho các mức Bid (Đơn vị: %) 63

Bảng 3.12: Kết quả ước lượng Turnbull 64

Bảng 3.13: Kết quả hồi quy mô hình logistic 65

Bảng 3.14:Lượng giá giá trị kinh tế của rừng ngập mặn trong 1 năm (đơn vị: triệu đồng) 68

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái giàu tính đa dạng sinh học cả vềthực vật, động vật và vi sinh vật (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2001; Kathiresan &Qasim, 2005; Levinton & Levinton, 1995) Hệ sinh thái rừng ngập mặn không chỉcung cấp nguồn lợi tài nguyên có giá trị như gỗ, củi, thủy hải sản… mà còn có ý nghĩa

to lớn đối với môi trường sống và cuộc sống của người dân ven biển Hệ sinh thái rừngngập mặn ven biển giúp chống xâm thực bởi sóng, gió Ngoài ra những khu rừng nàycòn là lá chắn rất tốt trong những lúc bão lớn, sóng dữ Việt Nam có đường bờ biển dàihơn 3260 km tính trên phần lãnh thổ đất liền và có diện tích rừng ngập mặn lớn thứ 2thế giới (sau rừng ngập mặn ở cửa sông Amazon - Nam Mỹ) (Cục Bảo vệ Môi trườngViệt Nam, 2005; Giri et al., 2011) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang là thách thứcchung của loài người thì hệ sinh thái rừng ngập mặn có vai trò vô cùng quan trọng.Rừng ngập mặn mang lại các giá trị và dịch vụ to lớn cho đời sống, là vườn ươm pháttriển của thủy hải sản, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất, … Ngoàinhững giá trị về kinh tế và đa dạng sinh học thì rừng ngập mặn còn giữ vai trò đặc biệttrong việc ứng phó với biến đổi khí hậu

Tuy nhiên, dưới sức ép của việc phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa như

vũ bão thì hơn 50% diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam mất đi vì con người gây ra.Rừng ngập mặn đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang nhiều dạng sử dụng đấtkhác nhau, trong đó có công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và trồng rừng trên cạn Rừngngập mặn ở Việt Nam nói chung và rừng ngập mặn thuộc Vườn Quốc Gia Xuân Thủy,huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định nói riêng hiện đang đứng trước nguy cơ bị khai thác

và sử dụng không hợp lý, để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội dẫn tới bị suy thoáinặng nề Trong bối cảnh có xu hướng rõ rệt về biến đổi khí hậu, dẫn đến sự gia tăngbão, thiên tai,…thì việc bảo vệ, quản lý tốt rừng ngập mặn ngày càng trở thành vấn đề

Trang 11

cấp thiết Tuy nhiên, bài toán mâu thuẫn giữa lợi ích của việc bảo tồn và phát triển kinh

tế, sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng, còn gặpnhiều khó khăn Để có thể bảo vệ rừng ngập mặn một cách bền vững thì những giảipháp đưa ra phải xuất phát từ thực tế địa phương, điều kiện sống của người dân cũngnhư vai trò của những bên liên quan đến rừng ngập mặn

Vì vậy, đề tài được lựa chọn là: “Lượng giá giá trị sinh thái rừng ngặp mặn tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy, Nam Định” Trong nghiên cứu này, vai trò và giá trị của

hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng như hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên rừngngập mặn tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy sẽ được phân tích, lượng hóa nhằm cung cấpthông tin cho việc xây dựng khuyến nghị cho các hoạt động phát triển sinh kế bềnvững, thích ứng với biến đổi khí hậu và thúc đẩy quản lý tài nguyên thiên nhiên trongkhu vực

3 Mục tiêu nghiên cứu:

- Lượng giá được một số giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn QuốcGia Xuân Thủy, Nam Định

- Đề xuất được một số giải pháp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy, Nam Định

4 Nội dung nghiên cứu:

Để thực hiện các mục tiêu trên luận văn thực hiện các nội dung sau:

- Phân tích hiện trạng khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy, Nam Định;

- Nhận diện các giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn Quốc GiaXuân Thủy;

- Lượng giá một số giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn Quốc GiaXuân Thủy;

Trang 12

- Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn tạiVườn Quốc Gia Xuân Thủy, Nam Định

Khung logic nội dung nghiên cứu của luận văn

Xác định giá trị sinh tháiRNM tại Vườn Quốc gia

Xuân Thủy

Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng

Trang 13

Giá trị sử dụng

trực tiếp Giá trị sử dụnggián tiếp

Nhóm phương pháp 1 Nhóm phương pháp 1 Nhóm phương pháp 3

Kết quả lượng giá 1 Kết quả lượng giá 2 Kết quả lượng giá 3

Tổng một số giátrị kinh tế RNM

Đề xuất giải pháp phát triển bềnvững hệ sinh thái RNM

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Giới thiệu về đất ngập nước và rừng ngập mặn

 Đất ngập nước

Trên thế giới, có khá nhiều định nghĩa khác nhau về đất ngập nước Tuy nhiên,hầu hết các định nghĩa đều đề cập đến các yếu tố địa mạo, thủy văn, đất, thực vật vàcoi đất ngập nước là hệ sinh thái, trong đó các yếu tố này có mối quan hệ tác độnglẫn nhau, tạo ra các đặc trưng riêng biệt của mỗi vùng Đất ngập nước là một vùngđất bị bão hòa, có độ ẩm theo mùa hoặc vĩnh viễn Đất ngập nước được bao phủbằng một lớp nước tương đối nông Đầm lầy nước ngọt và nước mặn là những ví dụcủa các vùng đất ngập nước 1 Theo Công ước Ramsar (1971), đất ngập nước đượcđịnh nghĩa là: “Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên haynhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước

lợ hay nước mặn, kể cả các vùng biển với độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp”.Đất ngập nước được chia thành các hệ chính bao gồm: biển, cửa sông, ven hồ,đầm lầy Ngoài ra còn có các vùng đất ngập nước nhân tạo như các ao nuôi tôm cá,đất trồng nông nghiệp được tưới, các ô ruộng muối, các hồ chứa, kênh nước thải.Năm 1994, theo phụ lục 2B của Công ước Ramsar, đất ngập nước được phân chialàm ba loại Loại 1 (biển/ven bờ) có 11 kiểu, loại 2 (các thủy vực nội địa) gồm 20kiểu, loại 3 (các vùng đất ngập nước nhân tạo) bao gồm 10 kiểu Tuy nhiên, các tácgiả và các quốc gia sử dụng các cách phân loại khác nhau phù hợp với thực tế địaphương từng nơi Ví dụ, hệ thống đất ngập nước ở Australia chia thành ba vùng địalý: đất ngập nước ven biển với 5 kiểu, đất ngập nước vùng bình nguyên với 2 kiểu vàđất ngập nước nội địa với 7 kiểu (Hoàng Văn Thắng, 2006) Trong khi ở Canada, đấtngập nước lại được chia theo 2 tiêu chí rộng là đất ngập nước trên đất hữu cơ và đấtngập nước trên nền đất vô cơ với các thứ bậc gồm Lớp, Dạng và Kiểu (Hoàng VănThắng, 2006) Còn Hoa Kì lại tiến hành phân chia theo hệ thống thứ bậc giống nhau

Trang 15

về mặt phân loại học sử dụng để nhận dạng các loại động vật, thực vật (Hoàng VănThắng, 2006) Ủy ban sông Mê Kông (MRC) phân loại hệ thống đất ngập nước dựavào hệ thống do Dugan xây dựng năm 1990 Đặc điểm của hệ thống này là phân biệtcác loại hình đất ngập nước ngọt thuộc đồng bằng ngập lũ (floodplain) và đất ngậpnước thuộc đầm (palustrine) dựa vào việc phân biệt thảm thực vật (các quần xã thựcvật) hoặc việc sử dụng đất khác nhau (Hoàng Văn Thắng và cộng sự, 2006).

Hệ thống đất ngập nước có thể được xem là có độ đa dạng sinh học cao nhấttrong tất cả các hệ sinh thái (Washington, 2001) Đất ngập nước không chỉ hỗ trợ sựsống hiệu quả, tạo độ đa dạng sinh học mà còn mang đến những giá trị kinh tế - xãhội rất lớn cho con người Chúng giúp làm giàu cho các vùng ven biển, mang lạinhững giá trị thương mại về sản phẩm rừng, bảo vệ đường bờ biến và tạo điều kiệnthuận lợi cho thủy hải sản phát triển ven bờ (Washington, 2001) Bên cạnh các thànhphần thủy sinh, đất ngập nước còn hỗ trợ sự sinh sống của nhiều quần thể như chimnước, động vật có vú, bò sát,

Tuy nhiên, ngày nay, diện tích đất ngập nước đang ngày càng bị suy giảm dobiến đổi khí hậu và hoạt động của con người Việc mất đất ngập nước đã khiến một

số loài động vật, thực vật đi đến bờ vực của sự tuyệt chủng Và việc không hiểu biếtđầy đủ về vai trò và lợi ích của đất ngập nước là vấn đề đáng lo ngại (Ramsar, 2013)

 Rừng ngập mặn

Theo tiêu chí của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc(FAO,1998) thì một quần hợp thực vật gọi là rừng khi có tối thiểu 10% cây cối chephủ không phải là cây trồng nông nghiệp, đảm bảo cho sự tồn tại của các loài động,thực vật và duy trì điều kiện đất đai phù hợp Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định

và phân chia các loại rừng còn tùy thuộc vào các tiêu chí kích cỡ cây, tầng tán, cácyếu tố địa lý sinh vật…

Trang 16

Như vậy, rừng ngập mặn được hình thành bởi các cây ngập mặn nếu diện tíchche phủ đạt trên 10% Loại rừng này bao gồm các cây ngập mặn chính thống, đó lànhững loài cây chỉ có ở rừng ngập mặn và các loài cây gia nhập rừng ngập mặn,những loài cây có thể gặp ở cả trong rừng ngập mặn và những vùng khác nữa.

Hệ sinh thái rừng ngập mặn bao gồm tất cả các thành phần hữu sinh (cây ngậpmặn, nấm, tảo, vi sinh vật trên cây, dưới nước, trong đất rừng ngập mặn và kể cảtrong không khí) và các thành phần vô sinh (không khí, đất và nước) Hai thành phầnnày luôn tác động qua lại quy định lẫn nhau, vận động trong không gian và thời gian.Trong đó:

- Thành phần vô sinh trong hệ sinh thái rừng ngập mặn ngoài ánh sáng mặt trờicòn bao gồm không khí mang đặc trưng của khí hậu vùng ven biển, đất phù sa, bãibồi ngập theo nước triều lên xuống trong ngày (nhật triều hoặc bán nhật triều), nướcmặn từ biển vào, nước ngọt từ trong sông ra và nước lợ (hòa lẫn giữa nước ngọt vànước mặn) Các yếu tố về độ mặn, pH và các thành phần lý hóa của nước luôn thayđổi theo không gian và thời gian

- Thành phần hữu sinh trong hệ sinh thái rừng ngập mặn là các sinh vật biển,sinh vật nội địa và sinh vật đặc trưng trong vùng rừng ngập mặn, đặc biệt là các sinhvật di cư (chim di cư, rùa biển, bò biển…) Ngoài ra còn có các vi sinh vật, nấm, phù

du thực vật…

Hệ sinh thái rừng ngập mặn được đánh giá là một trong các hệ sinh thái có năngsuất sinh học cao nhất trong các hệ sinh thái Các lá cây ngập mặn rụng xuống chiếm50% - 70% năng suất sơ cấp dòng chảy Đây là nguồn chất hữu cơ phân hủy và hòatan trong chuỗi, lưới thức ăn và xuất khẩu theo dòng nước tạo nguồn dinh dưỡng chocác loài động vật, thủy, hải sản của cả một vùng ven biển rộng lớn Hệ thống rễ câyngập mặn có khả năng lọc và hấp thụ một số chất ô nhiễm độc hại trong đất và nước.Bùn trầm tích rừng ngập mặn là nơi tích tụ các chất hữu cơ phân hủy tạo điều kiện

Trang 17

cho các loài sinh vật hoạt động với năng suất 0,2 – 10g C/m3/ngày Rừng ngập mặn

là nơi che chở nuôi dưỡng con non các loài thủy, hải sản là vườn ươm cho sự sốngcủa biển (Nguyễn Hoàng Trí, 2006)

Hệ sinh thái rừng ngập mặn bao gồm những cây thân gỗ mọc tại nơi giao giữađất liền và biển, ở vĩ độ nhiệt đới và cận nhiệt đới với điều kiện độ mặn cao, thủytriều lớn, gió mạnh, nhiệt độ cao và bùn, đất yếm khí Rừng ngập mặn tạo nên môitrường sinh thái độc đáo, tập trung phong phú các loài, làm trù phú các vùng venbiển, tăng giá trị thương mại từ lâm sản, bảo vệ đường bờ biển và hỗ trợ sự phát triểncủa thủy sản ven bờ (Washington, 2001) Lượng đất phù sa mà rừng ngập mặn giữlại là nơi sinh sống của những động vật không xương sống Hệ sinh thái này cũngcung cấp sự sống cho cộng đồng những động, thực vật phù du và cá (Washington,2001) Do vậy, rừng ngập mặn còn là khu vực để bảo tồn và gia tăng tính đa dạngsinh học của vùng Theo thống kê của ISME (Mạng lưới quốc tế về hệ thống rừngngập mặn) và ITTO (Tổ chức rừng nhiệt đới quốc tế) thông qua việc sử dụng ảnh vệtinh để đánh giá diện tích rừng ngập mặn trên thế giới, năm 2007, diện tích này là18.107.700 ha Mặc dù mang lại những giá trị kinh tế và phi kinh tế to lớn cho conngười, nhưng hiện tích rừng ngập mặn vẫn đang từng ngày bị suy giảm Ước tính cókhoảng 35% rừng ngập mặn trên thế giới bị mất do các hoạt động của con ngườigiữa năm 1980 và 2000 (Valiela et al 2001) và khoảng 64% rừng ngập mặn trongbán kính 25 km xung quanh các trung tâm đô thị lớn trên thế giới đang bị đe dọa bởi

sự phát triển đô thị (MEA 2005)

1.2 Tổng quan nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Các nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới.

Trang 18

Có nhiều các nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá giá trị kinh tế của cácdịch vụ HST RNM trên thế giới Một số các nghiên cứu để quản lý nắm bắt được tổnggiá trị kinh tế (bao gồm giá trị trực tiếp và gián tiếp), trong khi hầu hết các nghiên cứutập trung vào các khía cạnh quan trọng nhất là lượng giá các dịch vụ có giá thị trường

và có sẵn dữ liệu hoặc cần thiết cho việc ra quyết định Không có phương pháp lượnggiá cụ thể có thể được coi là thích hợp cho toàn bộ các dịch vụ HST, tuy nhiên, có rấtnhiều phương pháp đã được sử dụng tùy theo loại hình dịch vụ, dữ liệu sẵn có và thờigian nghiên cứu Tuy vậy, có một vài phương pháp được sử dụng thường xuyên, ví dụnhư các phương pháp tiếp cận dựa vào hàm sản xuất Trong một số trường hợp, do hạnchế về thời gian cũng như là chi phí, phương pháp chuyển giao lợi ích sẽ được áp dụng.Ronnback (1999) đã tính toán giá trị kinh tế theo giá trị thị trường của việc khaithác thủy sản cho các khu vực trên thế giới từ lợi ích của dịch vụ rừng ngập mặn là từ

850 đến 16.750 đô la Mỹ mỗi ha, mỗi năm, con số đó cho thấy các giá trị rừng ngậpmặn có khả năng trong việc hỗ trợ ngành thủy sản Ông cũng ước tính giá trị thị trườngcho động vật giáp xác (tôm he, tôm và cua trong rừng ngập mặn), cá và động vật thânmềm sống ở rừng ngập mặn nơi cư trú từ 750 đến 11.280 đô la Mỹ mỗi ha / năm.Nghiên cứu này đã tập trung vào sản xuất thủy sản từ các hệ sinh thái RNM

Christie & Rayment (2012) đã ước tính giá trị kinh tế của RNM ở các vị trí có sựquan tâm đặc biệt về mặt khoa học (SSSI) ở Anh và xứ Wale Họ cũng đã điều tranhững lợi ích của RNM trong mối quan hệ với các chính sách bảo tồn Họ đã sử dụngthử nghiệm lựa chọn để đo lường giá trị của các dịch vụ HST RNM tại các vị tríSSSI Sự sẵn lòng chi trả của người dân là 956 bảng Anh mỗi năm để duy trì dịch vụcung cấp bởi các hoạt động bảo tồn SSSI ở mức hiện tại và họ có thể trả thêm 769 triệubảng Anh để duy trì lợi ích sẽ nhận được nếu SSSI đang trong tình trạng tốt

Lal (1990) đã ước tính giá trị kinh tế của dịch vụ HST RNM ở Fiji Ông đã ướctính lợi ích ròng của các khu vực RNM chuyển đổi Nghiên cứu đã ước tính lợi ích bị

Trang 19

mất đi của các sản phẩm liên quan tới RNM trong trường hợp chuyển đổi Ông đã sửdụng giá thị trường, giá mờ, giá thay thế cho lượng giá Nghiên cứu ước tính các giá trịkinh tế đối với nghề cá vào khoảng từ 60 – 240 đô la Mỹ, lâm nghiệp vào khoảng 6 đô

la Mỹ/ha/năm, nông nghiệp và thủy sản vào khoảng 52 đô la Mỹ/ha/Năm và dịch vụlọc chất thải vào khoảng 5,820 đô la Mỹ/ha/năm

Cabrera và cộng sự (1998) đã đánh giá giá trị kinh tế cho khu vực đầm phá cửasông quan trọng Đầm phá Terminos, Mexico Đầm phá này có diện tích 2.500 km2,diện tích rừng ngập mặn là 127.000 ha Nghiên cứu đã ước tính lợi ích kinh tế cho một

số giá trị sử dụng trực tiếp và các dịch vụ sinh thái trong khu vực thông quan việc sửdụng nhóm các kỹ thuật lượng giá

Baig và Iftikhar (2005) đã tính toán các giá trị trực tiếp cho HST RNM ở làngMiani Hor, Pakistan Họ ước tính các dịch vụ HST ở đây đóng góp lợi ích là 5.781.316USD đối với kinh tế quốc gia và 889.433 USD đối với nền kinh tế quốc

tế

Barbier (2000) đã sử dụng tiếp cận hàm sản xuất để ước tính các dịch vụ sinh thái

mà RNM cung cấp, chẳng hạn như môi trường sống, nơi đẻ trứng cho nhiều loài cá đáy

và động vật có vỏ, chủ yếu là cua và tôm cho Vịnh Thái Lan, miền Nam Thái Lan.Việc sử dụng không bền vững các khu rừng ngập mặn để xuất khẩu dăm gỗ đang

đe dọa hơn 300.000 ha rừng ngập mặn tại khu vực Vịnh Bintuni Irian Jaya, Indonesia.Ruitenbeek (1994) đánh giá những lợi ích của các dịch vụ hệ sinh thái cung cấp chocộng đồng địa phương tại vịnh Bintuni nơi vịnh cung cấp các hỗ trợ cần thiết chodoanh nghiệp xuất khẩu tôm, nơi có khoảng 3.000 hộ gia đình phụ thuộc vào rừngngập mặn ở vùng ven biển Tổng giá trị kinh tế cho rừng ngập mặn ước tính khoảng113.500.000 triệu bảng Anh / năm (tương đương với 37.833 đô la Mỹ/hộ gia đình /năm) Việc sử dụng truyền thống có giá trị của USD l0 triệu đô la Mỹ/ năm; thủy sảnthương mại 83,5 triệu đô la Mỹ/năm

Trang 20

Uddin và cộng sự (2013) đã ước tính giá trị kinh tế các dịch vụ HST RNM choRNM Sundarbans Reserve, Bangladesh Trong số 10.000 km2 rừng nằm ở Bangladesh

và Ấn Độ, phần Sundarbans của Ân Độ là vào khoảng 6.000 km2 Họ đã tiến hànhlượng giá các dịch vụ văn hóa mà có giá thị trường bằng cách sử dụng các phươngpháp lượng giá thị trường trực tiếp cho khoảng thời gian từ năm 2001-2010 Doanh thuhàng năm đối với các dịch vụ trích lập dự phòng dịch vụ HST ước tính khoảng744.000 USD cho gỗ, cá, vật liệu xây dựng, củi, cua, mật ong và sáp ong, trong khi cácdịch vụ văn hóa (chỉ xét đến du lịch) ước khoảng 42.000 USD mỗi năm

Spurgeon (2002) lượng giá các lợi ích kinh tế và kinh tế - xã hội liên quan tớiRNM ở Egypt thông qua đánh giá nhanh các khía cạnh kinh tế - xã hội chính và các giátrị kinh tế RNM hỗ trợ các hộ gia đình đặc biệt ở Bedoin, bằng cách cung cấp thunhập, việc làm và hỗ trợ cung cấp thực phẩm

Một số nghiên cứu đã áp dụng phương pháp chi phí trong việc lượng giá RNM

Ví dụ như lượng giá kinh tế của một số dịch vụ HST RNM bằng cách sử dụng phươngpháp chi phí thay thế

Không có quá nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp chuyển giao lợi ích Mộttrong những ví dụ cho việc sử dụng phương pháp này là trường hợp gần đây của khuvực Đông Nam Á Brander và cộng sự (2012) đã tiến hành một phân tích gộp các giátrị kinh tế cho 130 nghiên cứu về dịch vụ HST RNM Hầu hết các nghiên cứu đượckhảo sát là ở Đông Nam Á Nghiên cứu sử dụng phương pháp truyền tải giá trị với mộthàm giá trị meta-phân tích dữ liệu không gian và những thay đổi về diện tích rừngngập mặn để tính toán giá trị rừng ngập mặn ở khu vực Đông Nam Á Phương phápnày được sử dụng để xác định giá trị lợi ích bị mất của HST do sự thay đổi trong diệntích của RNM trong khu vực Đông Nam Á (2000-2050) Giá trị kinh tế được ước tínhcho mỗi ha mỗi năm theo giá năm 2007 Giá trị bình quân của rừng nhập mặn là 4185

và 239 USD/ ha / năm [1]

Trang 21

1.2.2 Các nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Việt Nam.

Tại Việt Nam những nghiên cứu về HST RNM tương đối nhiều nhưng nhữngnghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế của HST RNM mới được tiến hành và còn hạnchế Những nghiên cứu điển hình là nghiên cứu lượng giá giá kinh tế một số vùng ĐNNven biển quan trọng ở Việt Nam do Trường Đại học quốc gia Hà Nội thực hiện Nhiềuvùng ĐNN ven biển đã được lượng giá như vùng cửa sông Bạch Đằng, cửa sông Văn

Úc, cửa sông Bà Lạt, vùng đất ngập triều Kim Sơn hay vùng đầm phá Tam Giang – CầuHai, v.v… Tác giả Mai Trọng Nhuận và các cộng sự đã sử dụng phương pháp giá trị thịtrường đánh giá giá trị kinh tế của một số điểm trình diễn ĐNN tại Việt Nam năm 2000,trong đó ước tính sơ bộ giá trị sử dụng trực tiếp của một số vùng ĐNN tiêu biểu tại ViệtNam Năm 2005, tác giả Đỗ Nam Thắng cũng sử dụng phương pháp giá trị thị trườngtính toán giá trị sử dụng trực tiếp tài nguyên ĐNN vùng Đồng bằng sông Cửu Long.Tác giả Lê Thu Hoa và các cộng sự năm 2006 cũng sử dụng kỹ thuật giá trị thị trường

để tính toán giá trị nuôi tôm tại khu ĐNN Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định [2]Nguyễn Hoàng Trí & Nguyễn Hữu Ninh, 1998 thực hiện đề tài: Economicevaluation studies of Mangrove conservation and Rehabilitation in Nam Ha Province;Lượng giá kinh tế của HST RNM Việt Nam (UNEP, 2005-2010); Nguyễn Hoàng Trí(2006) đã phân tích một số nghiên cứu điển hình về lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừngngập mặn trên thế giới và Việt Nam tại Hội thảo “Tăng cường phối hợp quản lý tổnghợp vùng bờ, Hải phòng – tháng 11/2006”; Trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiêncứu, Nguyễn Hoàng Trí (2006) cũng đã xuất bản cuốn sách “Lượng giá kinh tế hệ sinhthái rừng ngập mặn, Nguyên lý và ứng dụng” Công trình nghiên cứu “Khôi phục vàphát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ” đã đoạt Giải thưởng Hồ ChíMinh về khoa học & Công nghệ năm 2005 Theo kết quả lượng giá kinh tế của các tácgiả, tổng giá trị kinh tế của HST RNM khu vực Cần Giờ (bao gồm giá trị sử dụng trựctiếp và giá trị sử dụng gián tiếp) được tính ra bằng tiền là 7.863,4 tỷ đồng (khoảng 558triệu USD) [1]

Trang 22

Phân tích kinh tế RNM Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh do Tô Thị Thúy Hằng

và Nguyễn Thị Ngọc An thực hiện năm 1999 Nghiên cứu đã làm rõ giá trị của RNM

và tầm quan trọng của RNM đối với người dân địa phương; phân tích chi phí lợi íchcủa từng hình thức quản lý và áp dụng mô hình cho các vùng khác [3]

Đề tài “Nghiên cứu áp dụng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên một số hệsinh thái tiêu biểu ven biển Hải Phòng và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững” củaThS Nguyễn Thị Minh Huyền cùng cộng sự tại Viện Tài nguyên và môi trường biển(Viện KH&CN Việt Nam) năm 2008 Nghiên cứu này đã đánh giá về hiện trạng hệsinh thái rừng ngập mặn Phù Long thuộc huyện Cát Hải - Hải Phòng, làm cơ sở khoahọc cho việc xác định và định lượng hoá các giá trị sinh thái được cung cấp để quy đổithành tiền tệ

Năm 2012, Tác giả Trần Thị Thúy Hằng và Nguyễn Đức Thành bộ môn Quản lýmôi trường và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản, trường Đại học Nông Lâm Huế đã thực hiện

đề tài: “Xác định giá trị kinh tế của RNM Rú Chá xã Hương Phong, huyện Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên Huế” Tổng giá trị kinh tế RNM Rú Chá là sấp sỉ 1,25 tỷ đồng/1 năm.Phạm Khánh Nam, Trần Võ Hồng Sơn (2001), Khoa kinh tế Phát triển củaTrường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh nghiên cứu khám phá ra giá trị dulịch giải trí của các đảo san hô xung quanh đảo Hòn Mun Trong nghiên cứu này cáctác giả đã áp dụng phuơng pháp du lịch phí để xác định giá trị du lịch giải trí của cácđảo Cụ thể là kết quả của sử dụng mô hình du lịch phí theo vùng để ước tính giá trị dulịch giải trí hàng năm xấp xỉ 17,9 triệu USD, trong khi đó kết quả từ việc sử dụng môhình du lịch phí cá nhân (ITCM) là vào khoảng 8,7 triệu USD

Trần Thị Thu Hà và Vũ Tấn Phương, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam(2005) đã áp dụng TCM để ước tính giá trị du lịch giải trí tại Vườn quốc gia Ba Bể và

Hồ Thác Bà Kết quả của nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tổng giá trị du lịch giải trí củavườn quốc gia Ba Bể là 1552 triệu đồng/năm và của Hồ Thác Bà là 529 triệuđồng/năm

Trang 23

Nguyễn Đức Cường (2005) đã sử dụng phương pháp du lịch phí cá nhân để xácđịnh giá trị du lịch giải trí cho khu bảo tồn thiên nhiên Yên Tử - Uông Bí- Quảng Ninh.Nghiên cứu này đã xây dựng được mô hình du lịch phí theo nhu cầu cá nhân cho khubảo tồn thiên nhiên Yên Tử là: V =5,099507- 0,20789P (trong đó: Pi : chi phí đến thămđiểm giải trí từ vùng i và Vi: Số lần viếng thăm) và tổng lợi ích về mặt du lịch giải trítính cho toàn bộ khu bảo tồn Yên Tử là khoảng 1380 triệu đồng.

Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác, tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tậptrung vào lượng giá giá trị kinh tế do một HST tại vùng ĐNN đó mang lại, ví dụ nhưlượng giá giá trị của HST cỏ biển, HST san hô…

1.3 Hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam

Theo một báo cáo mới đây của Liên Hiệp Quốc trong 3 thập kỷ qua, có đến 1/5rừng ngập mặn của thế giới đã biến mất, diện tích rừng ngập mặn trên thế giới hiện cònkhoảng 150.000 km2, bằng 1/2 diện tích của Philippines Hơn 1 trong số 6 loài thực vậtRNM trên thế giới đang trong nguy cơ tuyệt chủng, 11 trong tổng số 70 loài thực vậtRNM (chiếm khoảng 16%) đã được khảo sát đánh giá, sẽ được thay thế trong danhsách đỏ của IUCN [4]

Những năm qua, rừng ngập mặn ven biển bị tác động làm suy giảm mạnh mẽ,những tác động tiềm ẩn vẫn đang tiếp tục đe dọa hệ sinh thái rừng ngập mặn Rừngngập mặn có độ che phủ cao giờ trở nên trơ trọi, thay bằng các đầm tôm, kênh mươngđào đắp; môi trường đất bị ô nhiễm do quá trình phèn hóa gia tăng ở quy mô lớn; giatăng quá trình rửa trôi đất, giảm đi quá trình bồi tụ phù sa Đa dạng sinh học bị suygiảm nhanh do không còn điều kiện thích hợp để các loài sinh vật sinh sống; sự biếnđổi môi trường vì khí hậu, sụp lở bờ biển, cửa sông gia tăng làm mất cân bằng sinhthái [4] [5] [6]

Nguyên nhân của suy giảm hệ sinh thái rừng ngập mặn là do: dân số gia tăng, nhucầu của con người ngày càng tăng cao; khai thác tài nguyên rừng quá mức; ý thức của

Trang 24

người dân chưa đúng: luôn quan niệm “rừng vàng biển bạc”, “tài nguyên là bất tận”;quản lí của nhà nước chưa chặt chẽ, triển khai chậm, hiệu quả không cao, đội ngũ bảo

vệ rừng còn mỏng; chuyển đổi mục đích sử dụng đất; các lợi ích kinh tế mà các hộ dântham gia bảo vệ và nhận khoán quá thấp; do chiến tranh làm mất đi khoảng 2 triệu ha;phá rừng do tập quán du canh du cư; xây dựng các công trình; do nước thải sinh hoạt,công nghiệp và phát triển ngành dịch vụ Nói tóm lại hầu hết các nguyên nhân gây suythoái Hệ sinh thái rừng ngập mặn đều là bắt nguồn từ các lợi ích kinh tế

Sự suy thoái hệ sinh thái rừng ngập mặn sẽ dẫn đến những hậu quả: Mất nơisống, nơi sinh sản, vườn ươm của nhiều loài động vật dưới nước và trên cạn; Ô nhiễmđất, nước, không khí do sự xâm mặn; Tăng khí hiệu ứng nhà kính gây biến đổi khí hậu

Hệ sinh thái bị suy giảm nghiêm trọng, đa dạng sinh học giảm: một số loài có nguy cơtuyệt chủng; Con người chịu ảnh hưởng của thiên tai do bị mất rừng Nhiều người dânkhông có công ăn việc làm, hiệu quả kinh tế nông nghiệp giảm Gây bệnh tật chongười dân do nguồn nước bị ô nhiễm Xã hội thay đổi cơ cấu nghề nghiệp Giảm côngbằng xã hội gây mất lòng tin của người dân với Nhà nước dẫn đến nhiều vấn đề cầngiải quyết Phân chia giàu nghèo ảnh hưởng tới chủ trương xóa đói giảm nghèo củaNhà nước Như vậy nếu không có những giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển hệ sinhthái rừng ngập mặn thì những hậu quả mà sự suy thoái hệ sinh thái rừng ngập mặn sẽ

là vô cùng nghiêm trọng không chủ với con người mà đối với toàn bộ các loài sinh vật

1.4 Rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy

Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy là khu rừng ngập mặn đầu tiên của Việt Namtham gia công ước quốc tế Ramsar, với diện tích rừng ngập mặn là 1661 ha.[22] Khuvực VQG Xuân Thủy có hệ sinh thái độc đáo, là điểm dừng chân của nhiều loàichim biển, trong đó thường xuyên xuất hiện 9 loài có tên trong sách đỏ quốc tế như:

rẽ mỏ thìa, cò thìa, choắt mỏ thìa, mòng biển mỏ ngắn, bồ nông, choắt chân mànglớn, cò lạo Ấn Độ, choắt mỏ vàng, cò trắng Trung Quốc Theo thống kê của các nhà

Trang 25

khoa học, ở khu vực VQG Xuân Thủy có 219 loài chim thuộc 41 họ 13 bộ Hàngnăm vào tháng 11-12, đàn chim từ phương Bắc di cư xuống phía Nam tránh rét đãchọn Xuân Thủy làm điểm dừng chân, nghỉ ngơi, kiếm ăn để tiếp tục tích lũy nănglượng cho hành trình dài hàng ngàn cây số của mình Vào lúc cao điểm, VQG XuânThủy được ví như một “ga” chim quốc tế với gần 40 ngàn loài3 Đến năm 2009,VQG có 120 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có gần 20 loài thích nghi vớiđiều kiện sống ngập nước Rừng ngập mặn ở đây đã góp phần cố định phù sa để tạonên các cồn bãi mới, làm vườn ươm cho các loài động thực vật thủy sinh và đóng vaitrò cân bằng sinh thái trong khu vực Nguyên nhân này đã giúp cho khu vực củaVQG có một hệ động thực vật thủy sinh hết sức phong phú với khoảng 111 loài thựcvật và 500 loài động vật nổi, động vật vật đáy như: tôm, cua, cá, ngao đã tạo ranguồn thức ăn dồi dào cho các loài chim biển di cư [22]

Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, do vậy, rừng ngập mặn của hệthống VQG Xuân Thủy phát triển khá thuận lợi và phong phú Các nghiên cứu chothấy, hệ thống rễ dày đặc của các loài cây rừng ngập mặn có tác dụng rất lớn trongviệc bảo vệ đất ven biển và vùng cửa sông, điều đó đặc biệt có ý nghĩa khi Việt Namnằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm phải hứng chịu từ 5-8 cơn bão và ápthấp nhiệt đới kèm theo mưa lớn Hệ thống rừng ngập mặn có thể ngăn chặn hiệuquả sự công phá bờ biển của sóng, đặc biệt khi có bão, hoặc sóng thần (Ban quản lýVQG Xuân Thủy, Nam Định, 2014) Tới nay, chưa có nghiên cứu cụ thể về vai tròcủa rừng ngập mặn trong việc bảo vệ vùng bãi bồi của VQG Xuân Thủy nói riêng,tuyến đê Ngự Hàn của huyện Giao Thủy nói chung Tuy vậy, các thống kê khoa họccho thấy, những dải rừng ngập mặn ven biển Việt Nam góp phần giảm ít nhất 20-50% thiệt hại do bão, nước biển dâng và sóng thần gây ra Đặc biệt, hệ thống rừngngập mặn trồng ven đê còn đóng vai trò là tấm lá chắn xanh, giảm 20- 70% nănglượng của sóng biển, đảm bảo an toàn cho các con đê biển, giúp tiết kiệm hàng nghìn

tỷ đồng cho việc duy tu, sửa chữa đê biển (Phan Nguyên Hồng, 2008)

Trang 26

Bên cạnh giá trị bảo vệ đường bờ, rừng ngập mặn còn làm vật cản cho trầm tíchlắng đọng như giữ hoa lá, cành rụng trên mặt bùn và phân hủy tại chỗ nên bảo vệđược đất Một số loài cây tiên phong như mắm biển, mắm trắng, bần trắng sinhtrưởng trên đất bồi non có khả năng giữ đất phù sa, mở rộng đất liền ra phía biển như

ở các bãi bồi ở cửa sông Hồng Một số đảo nhỏ ven bờ cũng được nâng cao nhanhnhờ thảm thực vật ngập mặn như Cồn Ngạn, Cồn Lu ở Giao Thủy, tỉnh Nam Định.Tuy nhiên, hiện nay, rừng ngập mặn Xuân Thủy đang có nguy cơ giảm mạnh vềdiện tích và số loài do những hoạt động của con người và từ tác động của hiện tượngbiến đổi khí hậu Sự thay đổi một cách nhanh chóng các yếu tố môi trường ở vùngcửa sông, ven biển do hoạt động của thủy triều và lưu lượng sông cũng khiến cho đấtbồi nhanh, hoặc bị xói lở đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố của các loài lậpquần và có sự thay thế loài này bằng loài khác

Ngoài ra, việc dân số các xã vùng đệm tăng nhanh, mức độ tiêu dùng thực phẩmtăng cùng với việc quản lý chưa hiệu quả gây áp lực gia tăng khai thác tài nguyênsinh vật, làm suy giảm kích thước quần thể sinh vật tự nhiên, đặc biệt các loài có giátrị kinh tế Theo số liệu từ các xã và Ban quản lý VQG cung cấp, kết hợp với khảosát thực tế cho thấy, ước tính sơ bộ số người khai thác nguồn lợi thuỷ sản tự do ởvùng bãi bồi Cồn Ngạn – Cồn Lu vào ngày cao điểm (thời kỳ bắt cua giống, ngaogiống) khoảng 3.000 người Theo kết quả phỏng vấn người dân địa phương thườngxuyên khai thác, năm 2014, so với 5 năm trước đó, sản lượng thuỷ sản khai thác tựnhiên đã giảm đi từ 50% đến 70% do khai thác quá mức Kích thước cá thể của cácđối tượng thuỷ sản có giá trị kinh tế như cá vược, cá tráp, cá thủ vàng, tôm he, cũnggiảm so với trước đây [22]

Việc thay đổi phương thức sử dụng bãi triều cũng đã làm cho các hệ sinh tháirừng ngập mặn và nơi cư trú của loài bị chia cắt và suy thoái Tại khu vực VQGXuân Thuỷ, các hệ sinh thái có nhiều biến động do các hoạt động của con người là:

Trang 27

bãi triều có rừng ngập mặn và bãi triều không có rừng ngập mặn Việc chuyển đổi đấtrừng ngập mặn thành đầm nuôi tôm (quảng canh4, quảng canh cải tiến) ở vùng lõiVQG Xuân Thủy đã làm phân mảnh hệ sinh thái rừng ngập mặn, đồng thời giảm diệntích loại rừng này Theo dẫn liệu của Phan Nguyên Hồng và cộng sự (2007), ảnh vệtinh ở khu vực VQG Xuân Thuỷ năm 1986 và tháng 8/1998 (Trung tâm nghiên cứutài nguyên và môi trường, 2002) chỉ rằng diện tích rừng ngập mặn trưởng thànhtrong hơn 12 năm đã giảm từ 1.412,91 ha xuống còn 402,95 ha (giảm 71,4%) Trongkhi đó diện tích đầm nuôi tôm lại tăng vọt từ 415,27 ha lên 2743,6 ha (tăng660,9%) năm

1998 Hoạt động quan trắc cũng cho thấy, trong mấy năm trở lại đây, do môi trường

ô nhiễm, năng suất nuôi tôm theo hình thức quảng canh giảm nên nhiều chủ đầm đã

tự động chặt phá cây rừng ngập mặn, đưa phương tiện cơ giới, máy móc vào đểchuyển đổi sang mô hình nuôi ngao giống và tôm công nghiệp đã khiến cho đa dạngsinh học bị ảnh hưởng, số lượng cá thể loài giảm, cảnh quan môi trường bị phá vỡ vàbãi kiếm ăn của các loài chim nước di trú quý hiếm bị mất Đặc biệt, việc phát triển

mô hình nuôi tôm công nghiệp cùng với việc đưa loài tôm thẻ chăn trắng vào nuôi

mà không có một nghiên cứu, kiểm nghiệm, đánh giá cụ thể cũng là một nguy cơtiềm ẩn mang tính rủi ro cao đối với đa dạng sinh học trong khu vực

Ngoài ra cần xem xét đến yếu tố biến đổi khí hậu cũng là nguyên nhân quantrọng Quảng canh (extensive culture) là phương thức sản xuất trong nông nghiệpnhằm tăng sản lượng nông sản thông qua việc mở rộng quy mô sản xuất, diện tíchđất đai sản xuất với hạ tầng kỹ thuật thấp kém, trình độ canh tác lạc hậu, chủ yếu dựavào ưu đãi của tự nhiên gây ảnh hưởng đến sự suy giảm của rừng ngập mặn tại VQGXuân Thủy Hiện tượng gia tăng của thời tiết cực đoan như cơn bão tháng 10 năm

2012 đã làm thay đổi đáng kể vị trí, địa hình của Cồn Xanh và Cồn Mờ, làm thay đổi

độ sâu lạch giữa bờ ngoài Cồn Lu và Cồn Xanh, Cồn Mờ Theo Báo cáo hiện trạng

đa dạng sinh học VQG Xuân Thủy (2014), năm 2013, rừng ngập mặn vẫn duy trì,tuy nhiên diện tích có giảm đi so với năm 2007 (chỉ còn 1661 ha) do bị cơn bão số

10 năm 2012 tàn phá, làm chết khoảng 170 ha rừng ngập mặn

Trang 28

1.5 Tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái rừng ngập mặn

Hình 1.2 minh họa cụ thể các thành phần của tổng giá trị kinh tế của một hệ sinhthái RNM Cho đến nay, có rất nhiều các quan điểm về các nhóm giá trị khác nhautrong tổng giá trị kinh tế của RNM Tuy nhiên, điểm chung giữa các quan điểm này làviệc chia tổng giá trị kinh tế thành hai nhóm chính là các giá trị sử dụng và các giá trịphi sử dụng

Hình 1.1: Tổng giá trị kinh tế của HST RNM

Nguồn: Barbier (1994)

Theo Turner (2003), giá trị sử dụng là những hàng hóa và dịch vụ sinh thái màRNM cung cấp cho con người và các hệ thống kinh tế và được chia thành 3 nhóm làgiá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị lựa chọn

- Giá trị sử dụng trực tiếp: bao gồm những hàng hoá dịch vụ do môi trường RNMcung cấp và có thể tiêu dùng trực tiếp như gỗ, củi, thủy sản, mật ong hay giá trị du lịch,giải trí

- Giá trị sử dụng gián tiếp: là những giá trị, lợi ích từ những dịch vụ do hệ sinhthái RNM cung cấp và các chức năng sinh thái như tuần hoàn dinh dưỡng, hấp thụ

CO2, điều hoà khí hậu, phòng chống bão lũ

Trang 29

- Giá trị lựa chọn về bản chất là những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc giá trị sửdụng gián tiếp của RNM mặc dù có thể sử dụng ở hiện tại nhưng chưa được sử dụng vìmột lý do nào đó mà để lại để sử dụng ở tương lai Ví dụ giá trị du lịch, cảnh quan,dược phẩm.

Giá trị phi sử dụng là những giá trị bản chất, nội tại của RNM và được chia thànhgiá trị tồn tại và giá trị lưu truyền

- Giá trị tồn tại của RNM là giá trị nằm trong nhận thức, cảm nhận và sự thỏamãn của một cá nhân khi biết được các thuộc tính của RNM đang tồn tại ở một trạngthái nào đó và thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để có được trạngthái đó

- Giá trị lưu truyền là sự thỏa mãn nằm trong cảm nhận của cá nhân khi biết rằngtài nguyên được lưu truyền và hưởng thụ bởi các thế hệ tương lai Giá trị này cũngthường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để bảo tồn tài nguyên cho các thế

Trang 30

1.6 Cơ sở lý luận khoa học các phương pháp lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn.

1.6.1 Các cách tiếp cận lượng giá hệ sinh thái rừng ngập mặn

Nhìn chung trên thế giới hiện nay, xu hướng chung là có ba cách tiếp cận đánhgiá giá trị kinh tế của RNM:

- Đánh giá phân tích tác động: được sử dụng để đánh giá thiệt hại của RNM khi

có chịu các tác động hay sốc bên ngoài như sự cố tràn dầu, ô nhiễm công nghiệp, thiêntai

- Đánh giá từng phần: được sử dụng để đánh giá giá trị kinh tế của hai hay nhiềuphương án sử dụng khác nhau (ví dụ: nuôi tôm, phát triển du lịch hoặc bảo tồn)

- Đánh giá tổng thể: được sử dụng để đánh giá phần đóng góp tổng thể của tài nguyên RNM cho hệ thống phúc lợi xã hội

Trang 31

1.6.2 Lựa chọn các phương pháp để đánh giá giá trị kinh tế của rừng ngập

Đánh giá giá trị kinh tế của rừng ngập mặn là một quá trình khoa học, trong đónhà nghiên cứu phải lựa chọn và sử dụng kết hợp một hệ thống các phương pháp khácnhau để đánh giá, trong đó mỗi phương pháp thích hợp với việc đánh giá từng loại giátrị kinh tế cụ thể của rừng ngập mặn Dựa trên việc tổng hợp các công trình nghiên cứu

lý luận và thực nghiệm, đồ án đã tóm lược và đề xuất các phương pháp để đánh giá cácnhóm giá trị cụ thể của rừng ngập mặn xã cũng như điều kiện để áp dụng nhữngphương pháp này

Trang 32

Bảng 1.2: Lựa chọn phương pháp đánh giá giá trị kinh tế của rừng ngập mặn

Trang 33

 Quy trình lượng giá hệ sinh thái rừng ngập mặn

Đánh giá giá trị kinh tế của HST RNM về bản chất là một quá trình nghiên cứukhoa học mang tính liên ngành gồm có nhiều bước, mỗi bước đều có những đặc trưngriêng và đòi hỏi sự tham gia của những đối tượng khác nhau Dựa trên các tài liệu vàkinh nghiệm về đánh giá giá trị kinh tế các hệ sinh thái của Barbier (1997) và EEPSEA(1998), nghiên cứu khái quát qui trình đánh giá giá trị của RNM gồm 6 bước sau:

Trang 34

1 Lựa chọn cách đánh giá phù hợp với nghiên cứu

2 Xác định vùng rừng ngập mặn cần đánh giá giá trị

3 Nhận diện các giá trị kinh tế quan trọng ưu tiên đánh giá

4 Thu thập dữ liệu để đánh giá

5 Lượng giá thành tiền các giá trị rừng ngập mặn

6 Liên hệ kết quả với các biện pháp quản lý rừng ngập mặn

Hình 1.2: Quy trình đánh giá giá trị kinh tế của rừng ngập mặn

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trang 35

Bước 1: Lựa chọn cách tiếp cận đánh giá phù hợp với mục đích nghiên cứu

Bước đầu tiên trong quá trình đánh giá là lựa chọn cách tiếp cận đánh giá phùhợp với mục tiêu và vấn đề phân tích Hiện có ba cách tiếp cận trong đánh giá giá trịkinh tế của RNM gồm:

- Đánh giá phân tích tác động (Impact Analysis Valuation): được sử dụng đểđánh giá thiệt hại của rừng ngập mặn khi có một tác động hay sốc (shock) của môitrường bên ngoài

- Đánh giá từng phần (Partial Valuation): được sử dụng để đánh giá giá trịkinh tế của hai hay nhiều phương án sử dụng tài nguyên rừng ngập mặn khác nhau

- Đánh giá tổng thể (Total Economic Valuation): được sử dụng để đánh giáphần đóng góp tổng thể của tài nguyên rừng ngập mặn cho hệ thống phúc lợi xã hội

Bước 2: Xác định vùng đất ngập nước cần đánh giá giá trị

Bước thứ hai trong quá trình đánh giá là xác định rõ ràng phạm vi, ranh giới

và loại hình của khu rừng ngập mặn cần xác định giá trị Các ranh giới nghiên cứunày phải được chỉ rõ trên bản đồ Cũng trong bước này, nhóm nghiên cứu cũng phảithu thập thông tin tổng quan về điều kiện tự nhiên, sinh thái và điều kiện kinh tế xãhội tại địa điểm đánh giá

Bước 3: Nhận diện các giá trị cốt lõi ưu tiên đánh giá

Trong bước này, cần phải sử dụng tổng hợp các nguồn dữ liệu, thông tin baogồm các nghiên cứu khoa học, báo cáo hiện trường, báo cáo tư vấn, báo cáo kiểm

kê, để nhận diện toàn bộ các chức năng, giá trị được hệ sinh thái rừng ngập mặncung cấp tại khu vực nghiên cứu Danh mục các giá trị được nhận diện phải đượcsắp xếp theo thứ tự ưu tiên về tầm quan trọng

Bước 4: Thu thập số liệu đánh giá

Sau khi nhận diện các giá trị ưu tiên đánh giá, nhà nghiên cứu phải phân loạicác giá trị đã xác định thành các nhóm là giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng

Trang 36

gián tiếp và giá trị phi sử dụng Đồng thời, xác định nhu cầu về các dữ liệu vật lý,hóa học, sinh học, môi trường, xã hội cần thiết để ước lượng từng loại giá trị cũngnhư phương pháp thu thập và xử lý thông tin tương ứng

Nhìn chung, thông tin thu thập từ phỏng vấn cộng đồng địa phương, các nhàquản lý, báo cáo định kỳ, báo cáo tư vấn là những nguồn dữ liệu quan trọng để đánhgiá giá trị sử dụng trực tiếp Ví dụ, thông tin về nuôi trồng thủy sản có thể thu thập

từ nông dân, báo cáo thủy sản hàng năm hoặc từ thị trường địa phương

Các giá trị sử dụng gián tiếp thường đòi hỏi thông tin nghiên cứu hiện trường

cụ thể, các báo cáo khoa học hoặc chuỗi dữ liệu thứ cấp được lưu trữ tại địaphương Ví dụ thông tin về chi phí của các nhà máy xử lý nước thải tại địa phươngđược sử dụng để ước lượng giá trị xử lý nước ô nhiễm của rừng ngập mặn, thông tin

về thiệt hại tài sản sau bão được dùng để tính giá trị phòng chống bão lụt

Các giá trị phi sử dụng thường khó tính toán hơn, đồng thời đòi hỏi sự kết hợpthực hiện giữa các chuyên gia đa ngành Thông tin về nhóm giá trị này thường đượcxác định qua điều tra nhóm xã hội tại hiện trường, đồng thời phải sử dụng bổ sungcác dữ liệu thứ cấp khác

Bước 5 : Lượng hóa thành tiền các giá trị kinh tế

Trong bước này, các phương pháp đánh giá sẽ được sử dụng để lượng hóa giátrị kinh tế của rừng ngập mặn dựa trên những thông tin đã thu thập được Như trên

đã trình bày, các phương pháp được chia thành ba nhóm là dựa vào thị trường thực,dựa vào thị trường thay thế và dựa vào thị trường giả định Về thực nghiệm, bướcnày gồm rất nhiều các công đoạn như thảo luận nhóm, thảo luận chuyên gia để xácđịnh thông tin cần thu thập, thiết kế bảng hỏi và điều tra thử nghiệm, điều chỉnhbảng hỏi và xây dựng kế hoạch thu thập thông tin chi tiết, tiến hành thu thập thôngtin tại hiện trường, làm sạch số liệu và xử lý số liệu với các mô hình thống kê vàkinh tế lượng Việc lựa chọn các phương pháp để lượng hóa các nhóm giá trị phảitùy thuộc vào bản chất của từng loại giá trị, khả năng đáp ứng về nguồn dữ liệucũng như điều kiện thời gian và kinh phí

Trang 37

Bước 6 : Liên kết kết quả đánh giá với các biện pháp quản lý

Các kết quả, số liệu tính toán về giá trị kinh tế sẽ không có ý nghĩa nếu không liên kết được chúng với những ứng dụng quản lý Trong bước này, nhà nghiên cứu phảithảo luận được bối cảnh quản lý và chỉ ra được địa chỉ và những ứng dụng của kết quả tính toán cho công tác quản lý rừng ngập mặn, nói cụ thể hơn kết quả tính toán

có thể được sử dụng để làm gì

1.7 Địa điểm nghiên cứu

1.7.1 Điều kiện tự nhiên

 Vị trí địa lý

Hình 1.3 Bản đồ phân khu chức năng VQG Xuân Thủy

Nguồn: Ban quản lý VQG Xuân Thủy

VQG Xuân thủy nằm ở phía Đông Nam huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, tại cửa Ba Lạt của sông Hồng, tọa độ từ 20o10’ đến 20o15’ vĩ độ Bắc và từ 106o20’

Trang 38

đến 106o32’ kinh độ Đông VQG Xuân Thủy được chia ra 02 vùng: vùng đệm vàvùng lõi

Vùng bãi bồi huyện Giao Thủy có độ cao trung bình từ 0,5 – 0,9m Đặc biệt ở Cồn

Lu có nơi cao tới 1,2 – 1,5m Nhìn chung vùng bãi triều của huyện Giao Thủy thấpdần từ Bắc xướng Nam và từ Đông sang Tây

 Đất đai

VQG Xuân Thủy chủ yếu là đất mặn (đất mặn nhiều do nước mặn tràn, đấtmặn trung bình và ít, glây, đất mặn sù vẹt và glây nông) phân bố ở vùng lõi Ở 05

xã vùng đệm chủ yếu là đất phù sa lây trung tính ít chua

Hình 1.4 Bản đồ thổ nhưỡng VQG Xuân Thủy

Nguồn: Ban quản lý VQG Xuân Thủy

Vùng đệm của VQG Xuân Thủy có tổng diện tích là 7233,6 ha, bao gồm 960

ha của Cồn Ngạn, 2107 ha của Bãi Trong cùng với phần tự nhiên rộng 4276,0 hacủa 5 xã Giao Thiện, Giao Lạc, Giao An, Giao Xuân, Giao Hải

Trang 39

10.2

Trang 40

64.5

23.8 1.5

ĐNN thường xuyên RNM Bãi triều Đất nổi

Đơn vị: %

Hình 1.5 Phân bố đất đai tại vùng đệm

Nguồn: BQL Vườn Quốc gia Xuân Thủy (2012)

Đất đai ở vùng điệm chia thành các dạng chính là ĐNN thường xuyên, RNM,bãi triều và đất nổi Theo hình 1.6, sự phân bố đất đai tại vùng đệm của VQG XuânThủy không đồng đều Chủ yếu là đất nổi chiếm 64,5%, thấp nhất là bãi triều 1.5%.Diện tích đất nổi lớn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, người dânđang áp dụng theo mô hình VAC nhưng hiệu quả canh tác chưa cao, còn khá manhmún Đất canh tác nông nghiệp chủ yếu trồng 02 vụ lúa nước có năng suất khá caonhưng do bình quân diện tích quá thấp nên thu nhập từ nông nghiệp không đủ đáp ứngnhu cầu của người dân RNM có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm hệ sinh tháivùng nhưng người dân đang dần dần chuyển đổi từ RNM sang nuôi trồng thủy sản

Vùng lõi của của VQG Xuân Thủy bao gồm: Cồn Ngạn, Cồn Lu và Cồn Xanh.Diện tích của vùng lõi được thể hiện chi tiết qua bảng sau:

Ngày đăng: 08/11/2018, 20:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Mạnh Hùng, Đàm Đức Tiến, Cao Văn Lương (2015). Nghiên cứu khả năng hấp thụ cacbon của rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 15, Số 4; 2015: 347-354 DOI: 10.15625/1859-3097/15/4/7379 http://w w w.vjs.ac . vn/i n dex.php/jmst Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả nănghấp thụ cacbon của rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng
Tác giả: Vũ Mạnh Hùng, Đàm Đức Tiến, Cao Văn Lương
Năm: 2015
2. Nguyễn Thế Chinh và Đinh Đức Trường (2007), Nhìn nhận kinh tế đối với môi trường và sinh thái, Tạp chí Kinh tế môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận kinh tế đối với môitrường và sinh thái
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh và Đinh Đức Trường
Năm: 2007
3. Trần Nghi, Mai Thanh Tân, Doãn Đình Lâm, Mai Xuân Thanh, Hoàng Văn Thức (2000). Tiến hóa trầm tích và cổ địa lý Pliocen-Đệ tứ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam. Tạp chí Địa chất, Loạt A, Phụ trương HN: 19-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến hóa trầm tích và cổ địa lý Pliocen-Đệ tứ lãnh thổ và lãnh hải ViệtNam. Tạp chí Địa chất, Loạt A, Phụ trương HN
Tác giả: Trần Nghi, Mai Thanh Tân, Doãn Đình Lâm, Mai Xuân Thanh, Hoàng Văn Thức
Năm: 2000
6. Nguyễn Viết Cách (2001), Quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học ở khu bảo tồn rừng ngập mặn Xuân Thủy, Hội thảo khoa học Quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên môi trường cửa sông ven biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học ở khu bảo tồnrừng ngập mặn Xuân Thủy
Tác giả: Nguyễn Viết Cách
Năm: 2001
7. Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2015). Nghiên cứu định lượng cacbon trong rừng ngập mặn trồng hỗn giao hai loài tại khu vực xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tạp chí sinh học 2015, 37(1): 39-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu định lượng cacbon trong rừng ngậpmặn trồng hỗn giao hai loài tại khu vực xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, tỉnh TháiBình
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Năm: 2015
10. Phan Nguyên Hồng, Lê Xuân Tuấn, Phan Thị Anh Đào (2007). Đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Xuân Thủy. MERC-MCD, Hà Nội, Việt Nam, 42 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinhhọc ở Vườn quốc gia Xuân Thủy
Tác giả: Phan Nguyên Hồng, Lê Xuân Tuấn, Phan Thị Anh Đào
Năm: 2007
11. Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Thị Kim Cúc và Vũ Thục Hiền (2008), Phục hồi rừng ngập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu hướng tới phát triển bền vững, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồirừng ngập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu hướng tới phát triển bền vững
Tác giả: Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Thị Kim Cúc và Vũ Thục Hiền
Nhà XB: Nhàxuất bản nông nghiệp
Năm: 2008
23. Ban quản lý Vườn Quốc Gia Xuân Thủy (2014) Báo cáo tổng kết hoạt động Vườn Quốc gia Xuân Thủy.B. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban quản lý Vườn Quốc Gia Xuân Thủy (2014) "Báo cáo tổng kết hoạt độngVườn Quốc gia Xuân Thủy
20. Aksornkoae, S. (1987). Traditional uses of the mangrove in Thailand. In Mangrove Ecosystems of Asia and the Pacific: Status, Exploitation and Management. Proceedings of the Research for Development Seminar, Australian Institute of Marine Science, Townsville, Australia. pp. 104–113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Traditional uses of the mangrove in Thailand. InMangrove Ecosystems of Asia and the Pacific: Status, Exploitation andManagement. Proceedings of the Research for Development Seminar, AustralianInstitute of Marine Science, Townsville, Australia
Tác giả: Aksornkoae, S
Năm: 1987
21. Alongi, D.M. (2012). Carbon sequestration in mangrove forests. Carbon Management, 3(3), pp.313–322 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carbon sequestration in mangrove forests. CarbonManagement
Tác giả: Alongi, D.M
Năm: 2012
22. Alongi, D.M. et al. (2016). Indonesia’s blue carbon: a globally significant and vulnerable sink for seagrass and mangrove carbon. Wetlands ecology and management, 24(1), pp.3–13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indonesia’s blue carbon: a globally significant andvulnerable sink for seagrass and mangrove carbon. Wetlands ecology andmanagement
Tác giả: Alongi, D.M. et al
Năm: 2016
23. Alongi, D.M. (2015). The Impact of Climate Change on Mangrove Forests., pp.30– 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of Climate Change on Mangrove Forests
Tác giả: Alongi, D.M
Năm: 2015
25. Barbier, E.B. (2016). The protective service of mangrove ecosystems : A review of valuation methods Marine Pollution Bulletin special issue : “ Turning the tide on mangrove loss .” MPB, pp.1–6. Available at:http://dx. d oi.org/ 1 0.1 0 16/j.marpolbul.2016.01.033 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The protective service of mangrove ecosystems : A review of valuation methods Marine Pollution Bulletin special issue : “ Turning the tide onmangrove loss .”
Tác giả: Barbier, E.B
Năm: 2016
26. Barbier, E.B. & Lee, K.D. (2013). Economics of the Marine Seascape. , pp.35–65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economics of the Marine Seascape
Tác giả: Barbier, E.B. & Lee, K.D
Năm: 2013
28. Bouillon, S. et al. (2008). Mangrove production and carbon sinks : A revision of global budget estimates. , 22, pp.1–12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mangrove production and carbon sinks : A revision ofglobal budget estimates
Tác giả: Bouillon, S. et al
Năm: 2008
30. Ca, M., National, M. & Nhuan, M.T. (2014). Carbon storage of a tropical mangrove forest in. Catena, 121(October). Available at:http://dx. d oi.org/ 1 0.1 0 16/j.catena.2014.05.008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Carbon storage of a tropicalmangrove forest in. Catena, 121(October)
Tác giả: Ca, M., National, M. & Nhuan, M.T
Năm: 2014
8. Trần Như Hối (2002). Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ phục vụ xây dựng hệ thống đê biển, đê ngăn mặn của sông Nam Bộ Khác
9. Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Hoàng Trí, Đỗ Văn Nhượng, Nguyễn Thế Chinh (2000), Định giá kinh tế rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, Dự án Hướng tới Chương trình bảo tồn và quản lý ở Việt Nam Khác
12. Hồ Việt Hùng (2017). Vai trò của rừng ngập mặn trong việc bảo vệ đê biển và các vùng ven biển Việt Nam Khác
13. Phạm Văn Ngọt (2012). Vai trò của rừng ngập mặn ven biển Việt Nam. Tạp chí khoa học ĐHSP TP HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w