Điển hình có thể kể đến vụ sập cầu Cần Thơ ngày 26/9/2007 khiến hơn 50 người chết, hơn 100 người khác bị thương; Sập nhịp cầu tuyến cao tốc TPHCM - Trung Lương ngày 10/03/2009 khiến 2 cô
Trang 11
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
PHẦN A TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 1
1.2 Đánh giá thành quả nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án 3
2 Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận của đề tài 5
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 5
2.2 Lý thuyết nghiên cứu 6
2.3 Các giả thuyết nghiên cứu 6
2.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu 7
PHẦN B 8
NỘI DUNG LUẬN ÁN 8
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA 8
1.1 Các học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 8
1.1.1 Học thuyết về sự cẩu thả (negligence) 9
1.1.2 Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability) 10
1.1.3 Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability) 11
1.1.4 Sự kết hợp giữa học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt 12
1.1.5 Học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trong pháp luật dân sự Việt Nam 13
1.2 Khái niệm, đặc điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác 16
1.2.1 Khái niệm “nhà cửa, công trình xây dựng khác” 16
1.2.2 Đặc điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác 25
1.3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 28
1.4 Bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 34
Trang 22
1.5 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây
dựng khác gây ra 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA 45
2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 45
2.1.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác 46
2.1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới của người thi công với chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác 58
2.2 Xác định thiệt hại 63
2.2.1 Xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 63
2.2.2 Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm 67
2.2.3 Xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 72
2.3 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 75
2.3.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác 75
2.3.2 Trách nhiệm bồi thường liên đới bồi thường thiệt hại của người thi công 85
2.4 Chủ thể được bồi thường thiệt hại 88
2.4.1 Chủ thể được bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 89
2.4.2 Chủ thể được bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm 90
2.4.3 Chủ thể được bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 92
2.5 Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 94
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 99
CHƯƠNG 3 : THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA 100
3.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 100
3.1.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 100
3.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về xác định thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 103
Trang 33
3.1.3 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về xác định chủ thể chịu trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 114
3.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 125
3.2.1 Kiến nghị bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nói chung 125
3.2.2 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 126
3.2.3 Kiến nghị xây dựng Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán TANDTC 132
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 142
KẾT LUẬN CHUNG 143
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 144
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 144
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 145
PHỤ LỤC 1 159
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 159
PHỤ LỤC 2 187
MỘT SỐ QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA 187
PHỤ LỤC 3 227
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 227
Trang 44
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 24 tháng 5 năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết Trung ương số 48 - NQ/TW Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Nghị quyết đưa ra là
“Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế” Thực hiện Nghị quyết số 48 -
NQ/TW của Bộ Chính trị, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật dân sự nói chung, pháp luật về TNBTTH ngoài hợp đồng nói riêng, trong đó
có TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, đang là một nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện
Trong những năm qua, dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hàng loạt các công trình đã được xây dựng để giải quyết nhu cầu về chỗ ở, học tập, vui chơi giải trí… cho người dân Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng trong khi những yếu
tố về chất lượng không được bảo đảm là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng các vụ tai nạn do nhà cửa, các công trình xây dựng khác gây ra không ngừng gia tăng, gây thiệt hại lớn về người và tài sản
Nếu như trong những năm trước đây, các vụ tai nạn xảy ra với số lượng ít thì trong những năm gần đây, số lượng các vụ tai nạn với mật độ dày đặc hơn Các vụ tai nạn xảy ra không chỉ do sự tác động của các công trình dân dụng, mà nguy hiểm hơn, còn do sự tác động của các công trình công nghiệp và công trình giao thông, gây ra những thiệt hại to lớn về người và tài sản Điển hình có thể kể đến vụ sập cầu Cần Thơ ngày 26/9/2007 khiến hơn 50 người chết, hơn 100 người khác bị thương; Sập nhịp cầu tuyến cao tốc TPHCM - Trung Lương ngày 10/03/2009 khiến 2 công nhân bị thương nặng; Sập một phần công trình cao ốc văn phòng và thương mại CR4-1 (Quận 7, TP.HCM) ngày 30/12/2008 khiến 2 người chết và hơn 10 người bị thương; Sập lan can của trường tiểu học Văn Môn (Bắc Ninh) sáng 12/12/ 2017 khiến 13 em học sinh bị thương…
Thiệt hại gây ra không chỉ bởi những công trình đã được hoàn thiện (xây dựng từ lâu,
đã xuống cấp) mà còn đối với cả những công trình đang trong giai đoạn thi công (VD: sập nhà thờ đang thi công ở Thái Nguyên ngày 17/1/2013, khiến 3 người chết, 40 người bị thương…); cá biệt có những công trình vừa được cắt băng khánh thành xong đã sập (VD: công viên Hoàng Quốc Việt (Bắc Ninh) cắt băng khánh thành sáng 28/5/2005 thì buổi chiều một bờ kè dài hơn 40m đã bị sập…)
Số lượng các vụ tai nạn không ngừng gia tăng nhưng điều đáng lo ngại hơn cả là nhận thức về trách nhiệm của các bên trong việc giải quyết hậu quả Trong rất nhiều vụ tai nạn, khi thiệt hại xảy ra, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường lại có thái độ thờ ơ, thậm chí chối bỏ trách nhiệm của mình Điển hình như trong vụ sập cổng trường Trường Tiểu học Tam Quan 1, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 12/10/2017 khiến một học sinh lớp 1 bị gãy xương quai xanh Mặc dù học sinh bị thương trong trường, thương tích là do cánh cổng trường đổ sập gây ra nhưng nhà trường hoàn toàn không có động thái thăm hỏi động viên
Trang 5Điều này càng thể hiện rõ qua việc nghiên cứu một số bản án, quyết định của Toà án giải quyết TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, trong nhiều trường hợp, có những vụ việc có tính chất tương tự như nhau nhưng ở những Toà án khác nhau lại giải quyết khác nhau, thậm chí cùng một Toà án nhưng trong các giai đoạn khác nhau lại đưa ra cách giải quyết khác nhau về cùng một vụ việc Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài nội dung của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra mà chưa đi nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện các quy định của pháp luật liên quan đến trách nhiệm này Khi nghiên cứu về trách nhiệm này các tác giả cũng còn nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng gây thiệt hại; đặc điểm của trách nhiệm; chủ thể chịu trách nhiệm … Các công trình nghiên cứu cũng chưa đưa ra được các học thuyết xác định trách nhiệm
Thực trạng đó đặt ra nhu cầu cần nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện để hoàn thiện TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Xuất phát từ những lý do trên, NCS chọn đề
tài“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” làm đề tài luận án tiến sĩ luật học của
mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài: Xem Phần A luận án và Phụ lục 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trên cơ sở đó, luận án đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Trang 66
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, phân tích các học thuyết xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây
ra; xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác; làm rõ bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, xây dựng khái niệm và chỉ ra được những đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Thứ hai, phân tích, đánh giá nhằm tìm ra điểm hợp lý và điểm chưa hợp lý trong quy định pháp luật dân sự hiện hành về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trên các phương diện cơ bản như: các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, xác định thiệt hại được bồi thường, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường; chủ thể được bồi thường, các trường hợp không chịu TNBTTH Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước trên thế giới, luận án sẽ so sánh, đối chiếu với các quy định pháp luật của Việt Nam, nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm này
Thứ ba, Phân tích những điểm tích cực, hạn chế khi áp dụng các quy định pháp luật vào
giải quyết các vụ việc về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trên thực tế
Thứ tư, Đề xuất kiến nghị cụ thể để hoàn thiện các quy định pháp luật về TNBTTH do
nhà cửa, CTXD khác gây ra
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luâ ̣n liên quan đến TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, bao gồ m: khái niệm, đặc điểm nhà cửa, CTXD khác; khái niệm, đặc điểm, bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; các học thuyết xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra…
- Luận án nghiên cứu các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Việt Nam hiện hành về TNBTTH
do nhà cửa, CTXD khác gây ra
- Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về
TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; phân tích thực trạng quy định của BLDS 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan (Luật Nhà ở, Luật Xây dựng ) về trách nhiệm này Cùng với việc nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định, luận án cũng tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trên cơ sở đó, luận
án đưa ra những ý kiến đánh giá và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm này
- Về mặt thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác
gây ra trong quy định pháp luật dân sự hiện hành Do đó, trọng tâm của luận án là phân tích các quy định trong BLDS 2015 về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Để làm rõ
Trang 77
những điểm mới của BLDS 2015, luận án có phân tích các quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong BLDS 2005 và 1995 nhằm so sánh, đối chiếu làm nổi bật những điểm mới của BLDS 2015 Bên cạnh đó, do BLDS 2015 mới có hiệu lực từ 01/01/2017 nên các số liệu về thực tiễn áp dụng pháp luật còn hạn chế; hơn nữa, một số quy định trong BLDS 2015 là sự kế thừa các quy định trong BLDS 2005, vì vậy, khi phân tích thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, luận án
có sử dụng một số bản án, quyết định trong giai đoạn BLDS 2005 có hiệu lực
- Về mặt không gian: Nhiệm vụ của luận án nghiên cứu các quy định pháp luật hiện
hành của Việt Nam về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, do đó, trọng tâm của luận
án là phân tích các quy định pháp luật Việt Nam, các bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền trên lãnh thổ Việt Nam về trách nhiệm này Tuy nhiên, để luận giải sự tương đồng, khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, luận án có nghiên cứu các quy định pháp luật, các quyết định, bản án về TNBTTH
do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm làm nổi bật thực trạng pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về trách nhiệm này
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: việc nghiên cứu luận án sẽ dưa trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin Đây được coi là kim chỉ nam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của tác giả trong quá trình thực hiện luận án Phương pháp này được NCS sử dụng để nghiên cứu các vấn đề lý luận trong luận án
* Phương pháp nghiên cứu cụ thể: trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, trong quá trình nghiên cứu luận án, NCS sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích và bình luận: để làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật hiện hành về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra;
- Phương pháp tổng hợp: để khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, trên cơ sở đó, luận án đưa ra những kiến nghị phù hợp;
- Phương pháp so sánh: để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
- Phương pháp lịch sử: để nghiên cứu một cách xuyên suốt, liên tục quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra qua từng giai đoạn li ̣ch sử Áp du ̣ng phương pháp này giúp cho luâ ̣n án đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật có tính kế thừa các quy định pháp luật hiện hành và bổ sung các quy định mới phù hợp với xu thế phát triển, vận động của nền kinh tế
- Phương pháp hê ̣ thống hoá: để trình bày các vấn đề, các nô ̣i dung theo mô ̣t trình tự,
một bố cu ̣c hợp lý, chă ̣t chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nô ̣i du ̣ng để
đa ̣t được mu ̣c đích, yêu cầu đã được xác đi ̣nh cho luâ ̣n án
Trang 88
- Phương pháp phân tích tình huống: để phân tích các tình huống, bản án trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra nhằm làm sáng
tỏ thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm này
6 Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài
Kết quả nghiên cứu đề tài Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” mang lại
những điểm mới sau:
Thứ nhất, luận án đã xác định và phân tích được các học thuyết xác định TNBTTH
do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Thứ hai, luận án phân tích bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Thứ ba, luận án đã xây dựng khái niệm nhà cửa, CTXD khác; khái niệm TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Thứ tư, luận án đã phân tích các đặc điểm và các điều kiện phát sinh TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Thứ năm, luận án đã tổng hợp, phân tích quy định pháp luật dân sự mà nền tảng là Bộ
luật dân sự hiện hành vể TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra để làm rõ thực trạng pháp luật về trách nhiệm này Từ đó, luận án đánh giá những kết quả đạt được, những han chế đối với quy định pháp luật hiện hành và bước đầu đặt ra vấn đề yêu cầu hoàn thiện pháp luật
Thứ sáu, luận án đã phân tích các quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây
ra trong pháp luật một số nước trong khu vực và trên thế giới; trên cơ sở đó, so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trong khu vực và trên thế giới về trách nhiệm này
Thứ bảy, thông qua phân tích các bản án có hiệu lực trong giải quyết tranh chấp về
TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, luận án đã làm sáng tỏ những tranh chấp điển hình; từ đó luận án đã đánh giá những kết quả đạt được cũng như các hạn chế trong việc áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp về trách nhiệm này
Thứ tám, luận án đã đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TNBTTH do nhà cửa,
CTXD khác gây ra nói riêng, TNBTTH do tài sản gây ra nói chung
7 Kết cấu của luận án
Ngoài Danh mục từ viết tắt, Mục lục, Lời mở đầu, Phần A về Tổng quan tình hình nghiên cứ u và cơ sở lý thuyết của đề tài, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các Phụ lục, Phần B Nội dung luận án chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây
dựng khác gây ra
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Trang 91
PHẦN A TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
Trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học ở những mức độ khác nghiên cứu về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Nội dung chi tiết của từng công trình được trình bày tại Phụ lục 1 Một cách khái quát có thể chia các công trình khoa học liên quan đến đề tài thành hai loại: công trình khoa học trong nước và công
trình khoa học nước ngoài
1.1.1 Một số công trình khoa học trong nước
1.1.1.1 Luận án, luận văn
- Luận án tiến sỹ của tác giả Phạm Kim Anh (2007), Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội
- Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Văn Hợi (2017), TNBTTH do tài sản gây
ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Giang Văn Thịnh (2013), TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội
Trang 102
- Bài viết của tác giả Phạm Kim Anh (2009), “Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (số 6)
- Bài viết của tác giả Ðỗ Văn Ðại và Lê Hà Huy Phát (2012) ,“BTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (số 05)
- Bài viết của tác giả Vũ Thị Hồng Yến (2012),“Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 11)
- Bài viết của tác giả Bùi Thị Thanh Hằng- Đỗ Giang Nam (2013), “Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do tác động của tài sản gây ra dưới góc nhìn so sánh”,
Tạp chí Luật học, số 03 năm 2013
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Minh Phượng (2013),“Bàn về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra theo Ðiều 627 BLDS 2005”, Tạp chí Toà án nhân dân, số
15, tháng 8/2013
- Bài viết của GS.TS Michael Jaensch (2012), “Luâ ̣t bồi thường thiê ̣t hại ngoài
hơ ̣p đồng của Đức so sánh với quan điểm bồi thường thiê ̣t hại ngoài hợp đồng của Pháp”, tài liệu Hội thảo quốc tế “Ngày pháp luật”, Hà Nội
- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Hợi (2015), “Điều kiện phát sinh TNBTTH
do tài sản gây ra trong Bộ luật dân sự”, Tạp chí Luật học, số 12
1.1.1.4 Sách chuyên khảo
- Sách của tác giả Nguyễn Mạnh Bách (1998), Nghĩa vụ dân sự trong Luật dân
sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Sách của tập thể tác giả Tiến sỹ Trần Thị Huệ, Tiến sỹ Vũ Thị Hải Yến, Thạc
sỹ Vũ Thị Hồng Yến (2008), TNBTTH ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến thực tiễn, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội
- Sách chuyên khảo của Tiến sỹ Phùng Trung Tập (2009), BTTH ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, Nxb Hà Nội, Hà Nội
- Sách chuyên khảo của Tiến sỹ Đỗ Văn Đại (2010), Luật BTTH ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb Đại học Quốc gia
- Sách chuyên khảo “TNBTTH do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”, TS Trần Thị Huệ (chủ biên), (2013), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội
Trang 113
1.1.2 Một số công trình khoa học nuớc ngoài
- Bài viết “Liability for Harm Caused by Things” của tác giả Franz Werro, (2010), (Nguồn: https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1639357);
- Luận văn “La responsabilité civile délictuelle du fait des immeubles” của tác
giả Olivia Depetris
(Nguồn:http://magat.francois.free.fr/La%20responsabilit%E9%20civile%20d%E9lictuelle%20du%20fait%20des%20immeubles.html)
- Cuốn sách “The Law of Torts”, của tác giả John G Fleming (1987), 7th
Edition, Nxb The Law Book Company limited, Australia
- Cuốn sách “Essential Cases on Damage” của các tác giả Benedict
Winiger , Helmut Koziol , Bernhard A Koch , Reinhard Zimmermann (2012), Nxb Walter de Gruyter
- Cuốn sách “European Tort Law” của tác giả Cees van Dam (2013), 2th
edition, Nxb OUP Oxford
- Cuốn sách “Non-contractual Liability Arising Out of Damage Caused to Another: (PEL Liab Dam.)” của tác giả Christian von Bar (2009), Nxb Sellier
Eropean law publishers
- Cuốn sách “Concise Chinese Tort Laws” của tác giả Xiang Li, Jigang Jin
Những vấn đề đã giải quyết: mặc dù còn nhiều quan điểm trái chiều song các
công trình nói trên đã bước đầu đưa ra được một số nội dung liên quan đến: khái niệm, đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác; khái niệm, đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; chỉ ra được bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây
ra Dựa trên nền tảng lý luận khác nhau, các công trình đưa ra quan điểm khác nhau về điều kiện làm phát sinh trách nhiệm; chủ thể chịu TNBTTH Các công trình cũng đã
Trang 124
nêu được một số vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, trên cơ sở đó đã đề xuất được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Những nội dung chưa giải quyết: mặc dù đã giải quyết được một số nội dung
liên quan đến TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, tuy nhiên, các công trình nói trên vẫn chưa giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:
- Các công trình trên chưa chỉ ra được học thuyết xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra;
- Một số công trình khoa học xây dựng được khái niệm về “nhà cửa” và
“CTXD khác” song khái niệm này chưa thực sự đầy đủ và toàn diện
- Mặc dù đã chỉ ra được một số đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác song các công trình nói trên vẫn chưa làm nổi bật được một số đặc trưng của loại tài sản này để giúp phân biệt TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra với TNBTTH do những vật
bị ném hoặc rơi khỏi toà nhà gây ra hoặc TNBTTH do những tài sản được dùng để ở khác gây ra (VD: công ten nơ)
- Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một dạng của TNBTTH do tài sản gây ra song vẫn chưa phân tích điều này
- Một số công trình nghiên cứu chỉ ra một vài đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa,
CTXD khác gây ra song vẫn chưa chỉ ra được đặc điểm cơ bản của trách nhiệm này
- Một số công trình đã nêu được điều kiện làm phát sinh TNBTTH do nhà cửa,
CTXD khác gây ra nhưng chưa phân tích thấu đáo những điều kiện này; riêng đối với yếu tố lỗi, hầu hết các công trình mới khẳng định mà chưa có luận giải về lý do tại sao lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
- Hầu hết các công trình hiện nay chủ yếu phân tích thực trạng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra theo quy định tại Điều 627 BLDS 2005 mà không phải là Điều 605 BLDS 2015 Một số công trình mặc dù đã phân tích theo BLDS 2015 nhưng chưa có sự phân tích đối chiếu giữa BLDS 2015 với BLDS 1995
và 2005 để tìm ra những điểm mới, những ưu điểm và hạn chế của BLDS 2015 cũng như chưa có so sánh đối chiếu với pháp luật dân sự của một số quốc gia trong khu vực
Trang 135
và trên thế giới để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia khác về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
- Các công trình nói trên ở những mức độ khác nhau đã nêu thực tiễn áp dụng
pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, tuy nhiên, vẫn chưa thực sự đầy đủ và có hệ thống trên mọi phương diện
- Trong các công trình nghiên cứu kể trên, ở những mức độ khác nhau, các tác
giả cũng đã đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, những kiến nghị này đa số mới chỉ tập trung vào một vài nội dung của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra mà chưa có kiến nghị toàn diện
Từ những nội dung trên có thể khẳng định, việc NCS lựa chọn đề tài ““Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến
sỹ là không trùng lắp với những công trình đã được công bố trước đó
2 Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận của đề tài
2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích được đặt ra trong mục 3.1 của Lời nói đầu luận án, NCS đặt ra các câu hỏi làm nền tảng, định hướng cho quá trình nghiên cứu của mình Các nhóm câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
(i) Nhóm câu hỏi thứ nhất: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra được xây
dựng dựa trên những học thuyết nào? nhà cửa, CTXD khác là gì? Nhà cửa, CTXD khác có những đặc điểm nào? TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là gì? Các đặc điểm đặc trưng của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra? Bản chất của TNBTTH
do nhà cửa, CTXD khác gây ra là trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại hay
do hành vi gây thiệt hại?
(ii) Nhóm câu hỏi thứ ba: Thực trạng quy định pháp luật điều chỉnh TNBTTH do
nhà cửa, CTXD khác gây ra bao gồm các quy định nào? Ưu điểm và những hạn chế của các quy định này? Các quy định này có điểm gì tương đồng và khác biệt so với các quy định trong pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới?
(iv) Nhóm câu hỏi thứ ba: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về TNBTTH
do nhà cửa, CTXD khác gây ra có những điểm tích cực và bộc lộ các hạn chế nào? Các
Trang 146
hạn chế trong quy định pháp luật có cần thiết phải sửa đổi, bổ sung không và sửa đổi,
bổ sung trên cơ sở nào?
2.2 Lý thuyết nghiên cứu
Lý thuyết về TNBTTH: Các lý thuyết về sự ra đời, bản chất của trách nhiệm, các
điều kiện làm phát sinh TNBTTH, cơ sở để buộc chủ thể phải chịu TNBTTH, thiệt hại được bồi thường, chủ thể được bồi thường và các trường hợp không phải chịu TNBTTH
2.3 Các giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, các lý thuyết nghiên cứu mà tác giả đề ra, tác giả đặt ra các giả thuyết nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu dự định đạt được trong luận án:
(i) Giả thuyết nghiên cứu thứ nhất: nhà cửa, CTXD khác xét về bản chất đều là
“công trình xây dựng” là sản phẩm do con người tạo ra sản gắn liền với đất
Kết quả dự định đạt được trong luận án là phân tích có hệ thống khái niệm, đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác, trên cơ sở đó phân biệt giữa thiệt hại do nhà cửa, CTXD khác gây ra với những thiệt hại do những vật bị ném hoặc rơi ra khỏi toà nhà gây ra hoặc với thiệt hại do những tài sản dùng để ở khác gây ra như công ten nơ để xác định rõ ranh giới của TNBTTH
(ii) Giả thuyết nghiên cứu thứ hai: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là
một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại Do vậy, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại nhưng đồng thời cũng có những đặc điểm riêng biệt, đặc trưng
Kết quả dự định đạt được trong luận án là tìm ra bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, phân tích các đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra một cách có hệ thống
(iii) Giả thiết nghiên cứu thứ ba: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là
loại trách nhiệm được quy định phổ biến trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, các quốc gia khác nhau lại có những quy định khác nhau về trách nhiệm này Vậy pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các quốc gia trong khu vực và trên thế giới dựa vào học thuyết nào để quy định về trách nhiệm này
Trang 157
Kết quả dự định đạt được trong luận án là tổng hợp, phân tích các học thuyết mà pháp luật các quốc gia dựa vào đó để xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; chỉ ra học thuyết mà pháp luật Việt Nam sử dụng để xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trên cơ sở đó, luận án phân tích thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm này, chỉ ra những điểm tích cực hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành cũng như những điểm tương đồng khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia trong khu vực và trên thế giới
(iv) Giả thiết nghiên cứu thứ tư: Quá trình áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH
do nhà cửa, CTXD khác gây ra vào trong thực tiễn sẽ bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế Do
đó, pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra cần được làm sáng tỏ các điểm bất cập, hạn chế, trên cơ sở đó có giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Kết quả dự định đạt được trong luận án là nêu rõ các điểm bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Luận án cũng đưa ra lý do và cơ sở để hoàn thiện các quy định pháp luật này Đồng thời, luận
án phải đưa ra các kiến nghị cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
2.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu luận án nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành luật dân sự tập trung vào TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Do đó, khi tiếp cận và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cũng như thực trạng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, NCS cần phải tiếp cận theo hướng:
Thứ nhất, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một dạng của TNBTTH
ngoài hợp đồng mà cụ thể là TNBTTH do tài sản gây ra, do đó nó sẽ mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm này cũng như có những đặc điểm riêng do đối tượng (nhà cửa, CTXD khác) gây thiệt hại chi phối
Thứ hai, quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra vừa chịu sự điều
chỉnh của BLDS đồng thời cũng chịu sự điều chỉnh của các văn bản luật chuyên ngành khác như Luật Xây dựng, Luật Nhà ở…Do đó, việc nghiên cứu TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra vừa phải dựa trên các quy định gốc trong BLDS vừa phải chú ý đến các đặc điểm riêng (về đối tượng gây thiệt hại, chủ thể chịu TNBTTH) được quy định trong pháp luật chuyên ngành
Trang 168
PHẦN B NỘI DUNG LUẬN ÁN CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA
1.1 Các học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một loại trách nhiệm có lịch sử lâu đời Trong bộ luật Hammurabi – bộ luật thành văn cổ xưa nhất của nhân loại – đã có
quy định về trách nhiệm đối với người thợ xây khi “xây không đảm bảo, nhà đổ, chủ nhà chết thì người thợ xây bị giết” (Điều 38) hoặc "Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà chết thì con của người thợ xây cũng phải chết theo" (Điều 39) Mặc dù, xét về bản
chất thì đây là trách nhiệm hình sự, song quy định này cũng cho chúng ta thấy sự quan tâm của con người từ thời xa xưa đối với thiệt hại gây ra bởi sự sụp đổ của nhà cửa, CTXD khác
Trong Luật La mã cổ đại, các học giả La Mã cũng đề cập đến TNBTTH do nhà
cửa, CTXD khác gây ra thông qua việc quy định về tố quyền cautio damni infecti (tố
quyền để bảo vệ sự thiệt hại viễn ảnh)[69, tr.tr.469] Theo đó, trong trường hợp một tòa nhà có nguy cơ bị sụp đổ, tạo ra một mối đe dọa cho những người láng giềng thì những người này có quyền yêu cầu các Pháp quan buộc chủ sở hữu của tòa nhà phải nộp một số tài sản bảo đảm với mục đích nếu thiệt hại thực sự xảy ra thì người bị thiệt
hại sẽ luôn được bồi thường Cùng với tố quyền cautio damni infecti Luật La Mã cũng
quy định trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây ra bởi các vật bị ném ra hoặc
rơi ra khỏi khỏi tòa nhà (actio effusis et dejectis)
Kế thừa quy định trong Luật La Mã cổ đại, ngày nay, pháp luật dân sự của rất nhiều các quốc gia trên thế giới đều có quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Tuy nhiên, qua nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới NCS nhận thấy, các quốc gia khác nhau lại dựa trên những học thuyết khác nhau để xây dựng quy định về trách nhiệm này Về cơ bản, pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong pháp luật của các quốc gia hiện nay được xây dựng dựa trên ba học thuyết: Học thuyết về sự cẩu thả (negligence); Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability) và Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict
Trang 179
liability) Cá biệt, có một vài quốc gia kết hợp cả hai học thuyết (học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt và học thuyết về lỗi do suy đoán) khi xây dựng quy định về trách
nhiệm này (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan ) Cụ thể:
1.1.1 Học thuyết về sự cẩu thả (negligence)
Học thuyết này được áp dụng tại Anh - Mỹ (các nước theo truyền thống pháp luật án lệ - Common Law) và một số nước Bắc Âu (Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển ) Các quốc gia nói trên không coi TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một loại TNBTTH do tài sản gây ra mà coi đây là TNBTTH do hành vi của con người gây ra Do vậy, trách nhiệm này được xây dựng dựa trên yếu tố lỗi, là lỗi do cẩu thả
“Sự cẩu thả” là việc bỏ qua, không thực hiện các tiêu chuẩn chăm sóc hợp lý
mà một người bình thường (“a reasonably prudent person”) sẽ thực hiện trong những tình huống tương tự nhằm tránh cho những người mà mình có nghĩa vụ pháp lý phải quan tâm (legal duty of care) bị thiệt hại [113,tr.1133] Theo học thuyết này, TNBTTH
sẽ phát sinh khi thoả mãn 4 điều kiện: (1) Có nghĩa vụ phải quan tâm đến người bị thiệt hại (“common duty of care”) của người chiếm hữu (“occupier”) nhà cửa, CTXD khác; (2) Có sự vi phạm nghĩa vụ đó của người chiếm hữu nhà cửa, CTXD; (3) Có thiệt hại; (4) Có mối quan hệ nhân quả giữa sự vi phạm nghĩa vụ với thiệt hại [123, tr.66, 67]
Để yêu cầu BTTH theo học thuyết này thì điều quan trọng đầu tiên là bên bị thiệt hại phải chứng minh được người chiếm hữu (“ocupiers”) nhà cửa, CTXD khác có một nghĩa vụ theo quy định của pháp luật là phải quan tâm bảo đảm sự an toàn về tính mạng, tài sản, sức khoẻ cho mình Tuy nhiên, mức độ “quan tâm” (care) của CSH, người chiếm hữu nhà cửa, CTXD khác đối với người bị thiệt hại lại phụ thuộc vào “địa
vị pháp lý” của người bị thiệt hại là “khách mời hợp pháp” (“Lawful visitors”) hay“khách không mời”(Non lawful visitors) [117, tr.671] Nếu người bị thiệt hại là
“khách mời hợp pháp” thì mức độ quan tâm, đảm bảo an toàn của CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải cao hơn so với nếu người bị thiệt hại là “khách không mời” Điều quan trọng tiếp theo là người bị thiệt hại phải chứng minh được là CSH, người chiếm hữu nhà cửa, CTXD khác đã vi phạm nghĩa vụ quan tâm đó và chính sự vi phạm này đã làm phát sinh thiệt hại (giữa sự vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với nhau)
Trang 1810
1.1.2 Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability)
Học thuyết này được áp dụng tại một số quốc gia như: Đức (Điều 836 - 838) Hungary (Điều 5:650), Ba Lan (Điều 434)… Theo học thuyết này, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra sẽ được thiết lập khi thoả mãn các điều kiện: (1) Người bị
thiệt hại chứng minh được 3 yếu tố: có thiệt hại, có sự tự thân tác động của nhà cửa,
CTXD khác và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác (thiệt hại là hậu quả của sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác); (2) CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý nhà cửa, CTXD
khác không thể chứng minh được là mình không có lỗi trong việc để nhà cửa, CTXD khác tự gây thiệt hại Khi đó, Toà án suy đoán rằng: CSH hoặc người chiếm hữu, người được giao quản lý nhà cửa, CTXD khác đã có lỗi và buộc những người này phải
chịu TNBTTH [132, tr.30]
Theo học thuyết này, lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm
nhưng lại là căn cứ để loại trừ TNBTTH cho CSH hoặc người chiếm hữu, người được giao quản lý nhà cửa, CTXD khác Chỉ cần CSH hoặc người chiếm hữu, người được
giao quản lý nhà cửa, CTXD khác chứng minh được là mình không có lỗi thì họ sẽ
không phải chịu TNBTTH
Xét về bản chất, trách nhiệm về lỗi suy đoán vẫn là trách nhiệm pháp lý dựa
trên yếu tố lỗi - tuy nhiên, lỗi ở đây là lỗi do suy đoán CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác bị suy đoán là có lỗi Để bác bỏ suy đoán đó, đồng thời cũng là để loại trừ trách nhiệm cho mình thì CSH, người chiếm
hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải chứng minh được
điều ngược lại - là mình không có lỗi - mình đã thực hiện đầy đủ các biện pháp cần
thiết để ngăn ngừa thiệt hại nhưng cuối cùng thiệt hại vẫn xảy ra
Ưu điểm lớn nhất của trách nhiệm về lỗi suy đoán so với trách nhiệm dựa trên
yếu tố lỗi truyền thống đó là, trong trách nhiệm này, gánh nặng về nghĩa vụ chứng minh lỗi đã được chuyển từ nguyên đơn sang bị đơn Trách nhiệm pháp lý được xây
dựng trên học thuyết về lỗi suy đoán đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bị thiệt hại trong việc kiện đòi quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, điều này không
có nghĩa là học thuyết này đã áp đặt một trách nhiệm pháp lý “bất công” lên CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác Bởi lẽ, theo học thuyết này, bị đơn vẫn còn một cơ hội để “giải thoát” trách nhiệm cho mình - bằng
việc đưa ra những bằng chứng chứng minh mình đã thực hiện đầy đủ các biện pháp
Trang 1911
cần thiết để ngăn ngừa thiệt hại nhưng cuối cùng thiệt hại vẫn xảy ra (không có lỗi)
Chỉ khi nào những chủ thể này không thể đưa ra các bằng chứng chứng minh mình
không có lỗi thì khi đó họ mới bị Toà án suy đoán là có lỗi và bị buộc phải chịu trách
nhiệm Với tư cách là CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác thì những chủ thể này thường là những người có kiến thức, có sự am hiểu nhất định về nhà cửa, CTXD khác thuộc quyền sở hữu, chiểm hữu, quản lý của mình; do đó, họ cũng sẽ có những điểm thuận lợi nhất định khi đưa ra những bằng chứng chứng minh mình đã thực hiện đầy đủ những biện pháp phòng ngừa, chăm sóc cần thiết nhưng nhà cửa, CTXD khác vẫn gây thiệt hại
Tóm lại, so với trách nhiệm pháp lý dựa trên yếu tố lỗi truyền thống thì trách nhiệm dựa trên lỗi suy đoán đảm bảo sự công bằng cho cả hai bên (CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác và bên bị thiệt hại) trong việc đưa ra những bằng chứng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
1.1.3 Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability)
Học thuyết này được áp dụng tại một số quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, Quebec ( Canada)… Theo học thuyết này, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra sẽ phát sinh khi người bị thiệt hại chứng minh được 3 yếu tố: (1) có thiệt hại; (2) có sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác; (3) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với sự
tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác (thiệt hại là hậu quả của sự sụp đổ của nhà cửa,
CTXD khác) Nguyên đơn không cần chứng minh yếu tố lỗi của CSH, người chiếm hữu,
người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây bị đơn trong việc để nhà cửa,
CTXD khác sụp đổ, gây thiệt hại; ngược lại, bị đơn cũng không thể được miễn trách nhiệm chỉ vì chứng minh được rằng mình không có lỗi [128]
Tương tự học thuyết về lỗi do suy đoán, trong học thuyết về trách nhiệm
nghiêm ngặt, lỗi cũng không phải là điều kiện làm phát sinh TNBTTH Tuy nhiên, nếu trong trách nhiệm về lỗi do suy đoán, bị đơn sẽ được loại trừ trách nhiệm nếu chứng minh được là mình không có lỗi (“không vi phạm các quy định liên quan đến xây dựng
và bảo trì và cũng ko có hành vi sai trái trong quá trình thi công và bảo dưỡng để phòng ngừa thiệt hại”[11, Điều 6:560], “đã tuân thủ sự cẩn trọng cần thiết nhăm mục đích phòng tránh nguy cơ”[9, Điều 836].) thì trong trách nhiệm nghiêm ngặt, kể cả bị đơn chứng minh được mình không có lỗi thì bị đơn vẫn phải chịu TNBTTH; trừ khi bị
đơn chứng minh được thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất khả kháng, hoàn toàn do lỗi
Trang 20trên học thuyết về sự cẩu thả, BLDS Đức dựa hoàn toàn trên học thuyết về lỗi do suy đoán, BLDS Pháp dựa hoàn toàn trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt) thì một
số quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc…) lại rất sáng tạo khi kết hợp cả hai học thuyết (học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt) để xây dựng quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Cụ thể: BLDS Nhật Bản, Hàn Quốc, Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan đều có chung quy định: trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại do khuyết tật trong xây dựng
hoặc thiếu bảo dưỡng thì người chiếm hữu nhà cửa, công trình xây dựng chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại; người chiếm hữu sẽ được loại trừ trách nhiệm nếu chứng
minh được là mình không có lỗi (học thuyết về lỗi do suy đoán), “đã thể hiện sự quan
tâm đúng mức nhằm ngăn chặn việc xảy ra thiệt hại” (Điều 717 BLDS Nhật Bản); “đã thực hiện đầy đủ các biện pháp để ngăn chặn thiệt hại xảy ra” (Điều 758 BLDS Hàn Quốc); “đã có sự chăm nom thích đáng để ngăn ngừa xẩy ra tổn thất” (Điều 434
BLDS và Thương mại Thái Lan); trong trường hợp này, khi người chiếm hữu đã loại
trừ được trách nhiệm cho mình bằng việc chứng minh minh không có lỗi thì CSH sẽ
chịu trách nhiệm bồi thường; CSH phải chịu TNBTTH ngay cả khi chứng minh được
là mình không có lỗi (học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt)
Việc kết hợp cả hai học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt khi xây dựng quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đối với chủ thể chịu TNBTTH, việc kết hợp hai học thuyết đã tạo ra một nguyên tắc rất minh bạch trong việc xác định thứ tự cũng như căn cứ buộc các chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường, đặc biệt trong trường hợp tại thời điểm gây thiệt hại, nhà cửa, CTXD khác vừa có CSH vừa có người chiếm hữu, người được giao quản lý,
sử dụng Theo sự kết hợp này, khi thiệt hại xảy ra, người đầu tiên phải chịu trách nhiệm là người đang trực tiếp chiếm hữu nhà cửa, CTXD khác; họ phải chịu
Trang 2113
TNBTTH do bị suy đoán là có lỗi trong việc quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác
Vì lỗi là do suy đoán nên nếu họ chứng minh được là mình không có lỗi thì họ sẽ được
loại trừ trách nhiệm Trong trường hợp đó, TNBTTH sẽ chuyển sang CSH nhà cửa, CTXD khác CSH phải chịu trách nhiệm ngay cả khi chứng minh được là mình không
có lỗi CSH chỉ được loại trừ trách nhiệm nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra là do
sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người thứ ba
Đối với chủ thể được bồi thường, việc kết hợp cả hai học thuyết cũng tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho những chủ thể này bởi cả hai học thuyết đều không buộc
những chủ thể này phải chứng minh lỗi của CSH hay của người được giao quản lý, sử
dụng nhà cửa, CTXD khác Việc kết hợp linh hoạt hai học thuyết trên là một kinh nghiệm quý báu mà pháp luật dân sự Việt Nam nên học hỏi khi xây dựng quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra nói riêng, TNBTTH do tài sản gây ra nói chung (phương hướng cụ thể NCS sẽ đề cập tại mục 3.2 của Chương 3)
1.1.5 Học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trong pháp luật dân sự Việt Nam
Nghiên cứu các học thuyết xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, đối chiếu với pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ, có thể thấy, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong pháp luật dân sự Việt Nam trong những thời kỳ khác nhau được xây dựng trên những học thuyết khác nhau
Trong thời kỳ Pháp thuộc, chịu ảnh hưởng của BLDS Pháp, Bộ Dân luật Bắc
Kỳ, Bộ dân luật Trung Kỳ và Bộ luật Nam Kỳ giản yếu đều có quy định chung về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Cụ thể: Điều 716 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và
Điều 767 Bộ dân luật Trung Kỳ quy định: “Người chủ nhà mà nhà đổ nát làm thiệt hại
cho người ta vì không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn phải chịu trách nhiệm về
sự tổn hại đó” Bộ luật Nam Kỳ giản yếu (chương thứ chín) quy định “Chủ một tòa kiến trúc phải bị trách nhậm vì sự sụp đổ của nó khi nào sự sụp đổ ấy xảy ra bởi sự
không coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng” Theo các quy định trên, để
được bồi thường, người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh, thiệt hại xảy ra là do nhà hoặc
toà kiến trúc bị sụp đổ/ đổ nát; Sự sụp đổ/ đổ nát này là do “không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn” hoặc do “không coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng” mà không cần chứng minh lỗi của “Người chủ nhà” hoặc “Chủ một tòa kiến
trúc” Nói cách khác, dù có lỗi hay không có lỗi thì “Chủ nhà” “chủ toà kiến trúc” vẫn
phải BTTH Có thể thấy, quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong các
Trang 2214
bộ luật trên được xây dựng dựa trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt, không coi lỗi
là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm
Trong BLDS 1995 và BLDS 2005, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
dường như lại được xây dựng dựa trên học thuyết về lỗi khi Điều 631 BLDS 1995 và Điều
627 BLDS 2005 quy định: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng
nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công
trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”
Việc sử dụng từ “nếu để” trong quy định trên dẫn đến cách hiểu: thiệt hại xảy
ra trong trường hợp này là do CSH, người được CSH giao quản lý, sử dụng nhà cửa,
CTXD khác mặc dù đã biết nhà cửa, CTXD khác có khả năng bị “sụp đổ, hư hỏng, sụt lở” gây ra thiệt hại nhưng vẫn không có hành động ngăn chặn mà lại để mặc cho thiệt
hại xảy ra Nói cách khác, thiệt hại xảy ra trong trường hợp này là do hành vi trái pháp
luật, có lỗi của CSH, người được CSH giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác
Thêm vào đó, 609 Điều BLDS 1995, khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 cũng quy định căn
cứ phát sinh TNBTTH là:“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý …gây thiệt hại… thì
phải bồi thường” Kết hợp những quy định này cho phép khẳng định: theo quy định tại BLDS 1995 và 2005, lỗi là một trong các điều kiện làm phát sinh TNBTTH do nhà
cửa, CTXD khác gây ra Việc coi “lỗi” là một trong các điều kiện làm phát sinh TNBTTH trong trường hợp này cho thấy sự mâu thuẫn giữa tên gọi và nội dung điều luật: Tên điều luật là “TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra” trong khi đó nội
dung lại quy định TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của CSH, người được
CSH giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác trong việc “để nhà cửa, công trình
xây dựng khác bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại” Đây cũng là một điểm hạn chế
của BLDS 1995 và 2005 khi quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Khắc phục những điểm hạn chế trên, BLDS 2015 đoạn 1 Điều 605 BLDS 2015
quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác”
Việc sửa cụm từ “để nhà cửa, CTXD…… gây thiệt hại” (trong BLDS 1995 và 2005) thành “do nhà cửa, CTXD… gây thiệt hại” giúp thống nhất cách hiểu: trong mọi trường hợp chỉ cần thiệt hại là “do nhà cửa, CTXD khác gây ra” thì TNBTTH sẽ
Trang 2315
phát sinh, bất kể CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa,
CTXD có lỗi hay không có lỗi Nói cách khác, lỗi không phải là điều kiện làm phát
sinh TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trách nhiệm này phát sinh khi thoả mãn ba điều kiện: có thiệt hại; có có sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác; có mối quan hệ nhân quả giữa sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác với thiệt hại Điều này đồng nghĩa, CSH, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác
phải BTTH ngay cả khi chứng minh được mình không có lỗi Họ chỉ được loại trừ
TNBTTH trong hai trường hợp: thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại (khoản 2 Điều 584) Có thể thấy, Đoạn 1 Điều 605
đã dựa trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt khi quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Tuy nhiên, sang đoạn 2 Điều 605 BLDS 2015 lại quy định:
“Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”
Với quy định này, “lỗi” lại trở thành một điều kiện làm phát sinh TNBTTH
của người thi công “Người thi công” phải liên đới chịu TNBTTH nếu “có lỗi trong việc để nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại” Như vậy, quy định về TNBTTH của
người thi công đã dựa trên học thuyết về lỗi chứ không phải học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, việc quy định TNBTTH của người thi công là việc làm cần thiết, nhằm nâng cao trách nhiệm của người thi công Tuy nhiên, việc BLDS 2015 quy định TNBTTH của người thi công trong cùng Điều 605 về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra đã khiến Điều 605 gặp phải hai sự mâu
thuẫn: (1) Mâu thuẫn giữa tên gọi và nội dung điều luật (tên gọi là “TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra” nhưng nội dung lại điều chỉnh TNBTTH do lỗi của người thi công gây ra); (2) Mâu thuẫn trong chính nội dung của điều luật khi đoạn 1 thì quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra còn đoạn 2 lại quy định về TNBTTH do hành vi trái pháp luật có lỗi (của người thi công) gây ra Đây cũng là
một điểm hạn chế của Điều 605 BLDS 2015 Đáng lẽ, BLDS 2015 nên tách TNBTTH của người thi công thành một điều luật riêng để đảm bảo sự minh bạch và thống nhất giữa các quy định
Tóm lại, mặc dù tên điều luật là “BTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra” nhưng nội dung Điều 605 BLDS 2015 quy định về hai loại trách nhiệm: TNBTTH do nhà
Trang 2416
cửa, CTXD khác gây ra (đoạn 1) và TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công gây ra (đoạn 2) Theo đó, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra được xây dựng trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt; còn TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công gây ra được xây dựng dựa trên học thuyết về lỗi Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt cũng chính là học thuyết mà BLDS 2015
đã dựa vào để xây dựng quy định về TNBTTH do tài sản gây ra nói chung tại khoản 2 Điều 584 Chính vì vậy, trong phạm vi luận án này, NCS sẽ dựa vào học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt khi đi phân tích các nội dung cơ bản của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
1.2 Khái niệm, đặc điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác
1.2.1 Khái niệm “nhà cửa, công trình xây dựng khác”
“Nhà cửa, CTXD khác” là khái niệm được sử dụng phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên, với tư cách là đối tượng của TNBTTH thì khái niệm này mới chính thức được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật trong những năm gần
đây Trước năm 1945, trong cả hai bộ cổ luật là Bộ Quốc triều Hình luật (Bộ luật
Hồng Đức – thời Lê) và bộ Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long – thời Nguyễn) đều không sử dụng khái niệm “nhà cửa, CTXD khác” Điều 685 Bộ luật Hồng Đức chỉ quy
định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do “việc xây dựng” gây ra (“Khi có việc xây dựng hoặc phá huỷ gì mà phòng bị không cẩn thận để đến nỗi xảy ra chết người thì bị
xử biếm một tư và chịu tiền mai táng 5 quan, còn thợ thuyền, chủ ty thì hình quan sẽ xem xét lỗi vì ai xảy ra mà định tội.”)
Tương tự, trong thời kỳ Pháp thuộc, Bộ dân luật Bắc kỳ, Bộ Dân luật Trung kỳ
và Bộ luật Nam kỳ giản yếu cũng không sử dụng khái niệm “nhà cửa, CTXD khác”
mà sử dụng khái niệm “nhà” và “toà kiến trúc” Điều 716 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Điều
767 Bộ dân luật Trung Kỳ quy định: “Người chủ nhà mà nhà đổ nát làm thiệt hại cho
người ta vì không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn phải chịu trách nhiệm về sự
tổn hại đó” Bộ luật Nam Kỳ giản yếu (chương thứ chín) quy định “Chủ một tòa kiến trúc phải bị trách nhậm vì sự sụp dổ của nó khi nào sự sụp đổ ấy xảy ra bởi sự không
coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng”
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khái niệm “nhà cửa” và “CTXD” chính thức được sử dụng trong một số văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, hai khái niệm này được sử dụng như hai khái niệm độc lập (“nhà cửa” và “CTXD”) chứ không phải
được sử dụng như một khái niệm chung là “nhà cửa, CTXD khác”
Trang 2517
Khái niệm “nhà cửa” được sử dụng trong các văn bản như: Nghị định NV/NĐ ngày 18/7/1946 về trưng thu, trưng dụng nhà cửa để dùng vào việc công ích; Sắc lệnh 85/SL ngày 29/2/1952 Về việc ban hành thể lệ trước bạ về các việc mua bán, cho và đổi nhà cửa, ruộng đất; Nghị định 19/CP ngày 29/6/1960 Về chính sách đối với cho thuê nhà cửa tư nhân ở các thành phố và thị xã; Thông tư 09-NV ngày 3/5/1965
261-Về việc việc quản lý nhà cửa ở các thành phố, thị xã trong khi sơ tán phòng không; Thông tư 20-NV ngày 18/10/1965 Về việc quản lý nhà cửa trong sơ tán phòng không
ở thành phố, thị xã; Nghị định 25-CP ngày 7/3/1967 Về việc ban hành chế độ sử dụng nhà cửa trong tình hình sơ tán phòng không; Thông tư 26-NV ngày 27/10/1967 về việc giải quyết một số vấn đề cụ thể về nhà cửa ở các thành phố, thị xã sau khi địch oanh tạc; Nghị định 02-CP ngày 4/1/1979 Ban hành điều lệ thống nhất quản lý nhà cửa ở các thành phố, thị xã, thị trấn; Chỉ thị số 15/CT ngày 23/1/1989 Giải quyết việc cư trú
và nhà cửa của người Hoa ở các tỉnh biên giới phía Bắc…
Khái niệm “CTXD” (không phải “CTXD khác”) được sử dụng trong các văn bản như: Thông tư liên tịch 01/TTLT năm 1964 của Bộ Công An- Uỷ ban kiến thiết cơ bản Nhà nước về Chế độ tạm thời thoả thuận thiết kế và thiết bị phòng cháy và chữa cháy của các CTXD ; Nghị định 242-CP năm 1971 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ lập, thẩm tra, xét duyệt thiết kế các CTXD; Quyết định 170-TTg năm 1974 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ và danh mục chỉ tiêu báo cáo thống nhất thống
kê kế toán định kỳ chính thức của các xí nghiệp xây lắp nhận thầu và các ban kiến thiết CTXD cơ bản; Thông tư liên bộ 2615-TT/LB năm 1977 của Bộ xây dựng - Bộ Tài chính quy định tạm thời định mức chi phí khảo sát và thiết kế các CTXD cơ bản; Quyết định 02-CT năm 1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành về chế độ quản lý các CTXD cơ bản trọng điểm của Nhà nước; Nghị định 237-HĐBT năm 1985 của Hội Đồng Bộ Trưởng về Điều lệ lập, thẩm tra, xét duyệt thiết kế CTXD…
Mặc dù được đề cập đến rất nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật, song tất cả các văn bản trên đều không đưa ra định nghĩa cho hai khái niệm này Sau khi BLDS 1995 được ban hành, lần đầu tiên khái niệm chung “nhà cửa, CTXD khác” được chính thức được sử dụng tại Điều 631, sau đó là Điều 627 BLDS 2005 và Điều
605 BLDS 2015 Từ khi ra đời cho đến nay đã hơn 20 năm song trong BLDS và các văn bản pháp luật có liên quan vẫn chưa có định nghĩa cho khái niệm chung về “nhà cửa, CTXD khác”
Trang 2618
Về khái niệm “nhà cửa”: chỉ duy nhất trong Luật Nhà ở năm 2005 và 2014 có
đưa ra định nghĩa, song đó là định nghĩa về “nhà ở” (không phải “nhà cửa”) Theo đó,
“nhà ở” là“CTXD với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”[21, điều 1], [22, Khoản 1, Điều 3].
Vậy khái niệm “nhà cửa” và “nhà ở” có phải hai khái niệm đồng nhất hay không? Theo Từ điển Tiếng Việt thì “nhà cửa” chính là “nhà ở (nói khái quát)” [105, tr.700] Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ, thì “nhà cửa” cũng chính là “nhà ở”; còn dưới góc độ pháp luật xây dựng thì “nhà ở” là một loại “CTXD” với “mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình và cá nhân” [22, Khoản 1, Điều 3]
Về khái niệm “CTXD khác”: Luật Xây dựng năm 2003 (và hiện nay là Luật Xây dựng năm 2014) chỉ đưa ra định nghĩa về “CTXD” Theo đó, “CTXD là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế” [21, Khoản 2, Điều 3]; [22, Khoản 10 Điều 3]
Vậy, “CTXD” có phải là “CTXD khác” không? Về vấn đề này hiện nay còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau
Theo nghĩa rộng: nếu tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ thì “khác” được hiểu là
“không phải là cái đã biết, đã nói đến, tuy là cùng loại” [105, tr.489] Đặt trong ngữ cảnh này, “nhà cửa” là “cái đã biết, đã nói đến” là “cùng loại” CTXD, do vậy,
“CTXD khác” phải được hiểu là tất cả những “CTXD” còn lại, ngoài “nhà cửa” Nếu lấy “nhà cửa” làm trung tâm thì tất cả các CTXD còn lại (mà không phải là “nhà cửa”) đều sẽ được coi là “CTXD khác”
Theo cách hiểu này, “CTXD khác” bao gồm: công trình dân dụng (trừ nhà cửa), công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình quốc phòng an ninh [22, Khoản 2 Điều 5]
Theo nghĩa hẹp, Luật Xây dựng 2014 quy định: “CTXD” được chia thành: công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông
thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác (Khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng 2014) Nếu theo cách hiểu này, “công trình (xây dựng) khác” là khái niệm vô cùng hẹp
dùng để chỉ những CTXD còn lại, ngoài “công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật” Kết hợp với khoản 2 Điều 5 Luật Xây dựng 2014 (“Loại công trình được xác định
Trang 2719
theo công năng sử dụng gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình quốc phòng, an ninh”) có thể suy ra “CTXD khác” chính là “công trình quốc phòng an ninh” - “là công trình được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước do Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An quản lý, phục vụ quốc phòng, an ninh” (Phụ lục
I: Phân loại CTXD (Ban hành kèm theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP Ngày 12 tháng
05 năm 2015 của Chính phủ)
Theo quan điểm của NCS, khái niệm “CTXD khác” phải được hiểu theo cách hiểu thứ nhất, cụ thể là: ngoài “nhà cửa”, tất cả các công trình còn lại bao gồm: công trình dân dụng (trừ nhà cửa), công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình quốc phòng, an ninh, đều phải được coi là “CTXD khác” Sở dĩ NCS theo quan điểm này
là do:
(1) Như đã phân tích, dưới góc độ ngôn ngữ thì “khác” được hiểu là “không phải là cái đã biết, đã nói đến, tuy là cùng loại”[105, tr.489] Đặt trong ngữ cảnh Điều 605 BLDS
2015 thì ngoài “nhà cửa” là loại công trình “đã biết”, đã nói đến” thì tất cả những công
trình còn lại đều phải được coi là “CTXD khác”; Việc đặt khái niệm “nhà cửa” lên trước khái niệm “CTXD khác” có lẽ các nhà làm luật muốn nhấn mạnh, trách nhiệm BTTH trước hết áp dụng với “nhà cửa”; ngoài ra cũng áp dụng với các “CTXD khác” Tất cả những CTXD còn lại, mà không phải “nhà cửa” đều được coi là “CTXD khác”
(2) Nếu coi “CTXD khác” chỉ là “công trình quốc phòng, an ninh” theo cách hiểu thứ hai, điều này đồng nghĩa với việc nếu các công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật gây thiệt hại thì người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường do BLDS chỉ quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do “nhà cửa, CTXD khác” gây ra, mà theo cách hiểu này thì “công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật” không phải là “nhà cửa” hay “CTXD khác” Điều này rõ ràng là không phù hợp cả về
lý luận và thực tiễn
Chính vì những lý do nói trên, “CTXD khác” phải được hiểu theo nghĩa rộng như
đã phân tích Từ những nội dung đã nêu có thể thấy, việc BLDS (1995, 2005 và 2015)
sử dụng khái niệm “nhà cửa, CTXD khác” để chỉ đối tượng của TNBTTH là chưa thực
sự khoa học và chính xác Vì:
Trang 2820
Thứ nhất, xét về bản chất “nhà cửa” chính là “nhà ở”, là một loại “CTXD” [105,
tr.700] Tuy nhiên, cách gọi “nhà cửa” là cách gọi theo ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, không phải ngôn ngữ dùng trong văn bản pháp lý Trên thực tế hiện nay chúng ta chỉ
có Luật Nhà ở (chứ không phải Luật Nhà cửa)
Thứ hai, như đã phân tích, việc sử dụng khái niệm “công trình xây dựng khác”
đang tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau trên thực tế
Trong khi đó, bản thân “nhà cửa” hay “CTXD khác” đều là “CTXD”, là một loại
bất động sản do con người tạo ra; việc xây dựng, khai thác, bảo quản, sử dụng “nhà cửa” hay “CTXD khác” cũng đều tiềm ẩn những rủi ro như nhau, phương thức gây thiệt hại, điều kiện làm phát sinh TNBTTH, chủ thể chịu TNBTTH của hai loại tài sản này là như nhau Do đó, việc BLDS phải sử dụng hai khái niệm để chỉ chung một đối tượng như hiện nay là không cần thiết, thiếu khoa học Trong trường hợp này, đáng lẽ BLDS chỉ cần dùng khải niệm “CTXD” là đủ
Nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới như Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Nhật Bản… cho thấy: cũng giống như Việt Nam, pháp luật các quốc gia nói trên mặc dù có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, CTXD khác gây ra song đều không đưa ra định nghĩa cho khái niệm “nhà cửa, CTXD khác” Nội hàm của khái niệm này chủ yếu được làm rõ thông qua khái niệm về “bất động sản” hoặc được giải thích trong công trình nghiên cứu của các học giả hoặc bằng bản án, quyết định của Toà án trong quá trình xét xử Ở những
quốc gia khác nhau đối tượng này được gọi bằng những khái niệm khác nhau
Tại Pháp, BLDS sử dụng khái niệm “công trình xây dựng” (bâtiment) (Điều
1386 BLDS Pháp)[178] Do không được định nghĩa trong BLDS nên khái niệm này chủ yếu được giải thích bởi Toà án Pháp trong các bản án, quyết định và thông qua quy định trong BLDS về bất động sản do mục đích sử dụng Trong những giai đoạn khác nhau, do nhiều nguyên nhân mà nội hàm của khái niệm này được Toà án giải thích khác nhau
Trong thời kỳ đầu, khi BLDS Pháp mới được ban hành, khoản 1 Điều 1384 chỉ
được coi như một điều khoản chuyển tiếp từ các quy định về TNBTTH do lỗi (Điều
1382, 1383) sang các quy định về TNBTTH không cần chứng minh yếu tố lỗi (Điều
1385, Điều 1386) mà chưa được thừa nhận như một điều khoản độc lập như hiện nay Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại, tạo điều kiện để người bị thiệt hại được bồi thường mà không cần phải chứng minh yếu tố lỗi, Toà án Pháp đã giải
Trang 2921
thích khái niệm “CTXD” theo nghĩa rất rộng, thậm chí còn bị đánh giá là “quá mức lỏng lẻo”[125], hầu như mọi loại tài sản đều được Toà án quy thành “CTXD” để buộc CSH phải chịu trách nhiệm bồi thường Trong bản án ngày 20/8/1877, Tòa án đã ra phán quyết coi thiệt hại do một cái cây bị đổ gây ra cũng là thiệt hại do một “CTXD” gây ra và buộc CSH có trách nhiệm bồi thường [125] Trong một bản án khác ngày 01/3/1904, Toà án đã coi thiệt hại do một chiếc tủ gương bị đổ khiến người làm công
bị thương cũng là thiệt hại do “CTXD” gây ra [125]
Chỉ sau phán quyết về vụ Teffaine (năm 1896) - vụ vợ của người tử nạn trong một vụ nổ nồi hơi của một chiếc tàu kéo mà nạn nhân đang làm việc trên đó khởi kiện CSH yêu cầu bồi thường - thì Toà Phá án Pháp mới chính thức vận dụng Khoản 1 Điều 1384 để buộc CSH tàu kéo phải chịu trách nhiệm bồi thường [118] Bằng phán quyết này, Toà Phá án đã công nhận giá trị độc lập cho khoản 1 Điều 1384 Khoản 1 Điều 1384 đã chính thức trở thành một nguyên tắc cơ bản cho TNBTTH do tác động của “vật” gây ra - một loại TNBTTH do tài sản gây ra, không cần chứng minh yếu tố lỗi Việc giải thích khái niệm “CTXD” theo hướng rộng rãi như trước không còn cần thiết Khái niệm “CTXD” dần được Toà án giải thích theo nghĩa chặt chẽ hơn Trong
bản án ngày 26/11/1946, Tòa phúc thẩm Paris đã giải thích “CTXD” là “cấu trúc hình thành từ việc lắp ráp các vật liệu bởi bàn tay con người, được gắn vào trong đất hoặc các bất động sản do tính chất”[125]
Với định nghĩa này, “CTXD” được hiểu: (i) là sản phẩm do con người làm ra; (ii) được tạo thành bởi sự liên kết của những vật liệu xây dựng; (iii) có một phần gắn vào trong đất hoặc các bất động sản do tính chất khác Theo định nghĩa này thì một cái cây
sẽ không được coi là “CTXD” nữa vì cái cây không được tạo thành bởi những vật liệu xây dựng; tương tự, thiệt hại do vụ sạt lở đất hay hầm mỏ cũng không được coi là thiệt hại do “CTXD” gây ra bởi hầm mỏ hay đất không phải do con người làm ra, những đồ nội thất gia đình không được “gắn vĩnh viễn” vào toà nhà (bàn, ghế, giường, tủ ) hoặc những cấu trúc mang tính tạm thời không được cố định trên mặt đất (VD: lều, trại dựng tạm để ở trong các công trường xây dựng) [125] cũng không được coi là
“CTXD” bởi nó không có sự liên kết chặt chẽ với mặt đất…
Tại Tây Ban Nha: BLDS Tây Ban Nha sử dụng khái niệm “tòa nhà” (edificio)
(Điều 1907 BLDS Tây Ban Nha) [175] Theo Roca i Trias trong cuốn Derecho de daños (3rd, Valencia, 2000), thì “toà nhà” được hiểu là “bất kỳ CTXD nào do con người làm ra” (“A “building” within the meaning of CC art 1907 is any kind of man-
Trang 3022
made ‘construction’)[117, tr 664] Với ý nghĩa này, khái niệm “tòa nhà” đã bao trùm
mọi loại “CTXD”
Tại Đức: BLDS Đức dành tới 3 điều luật (Điều 836, 837, 838) để quy định về
trách nhiệm đối với những thiệt hại phát sinh do sự sụp đổ của một “toà nhà hoặc CTXD khác gắn liền với đất”(Gebäudes oder eines anderen mit einem Grundstück verbundenen Werkes)[167] Tương tự như BLDS Việt Nam, BLDS Đức sử dụng khái
niệm “CTXD khác” Tuy nhiên, cũng giống như các BLDS đã nghiên cứu, BLDS Đức
cũng không đưa ra định nghĩa cho khái niệm này Theo Wagner trong Münchener Kommentarzum BGB (4 Auflage 2004) thì “nhà” (Gebäude) là “một cấu trúc cố định
và khép kín được gắn chặt với đất, là nơi mà con người có thể ở trong đó”[117, tr.667] Còn theo Hartwig Sprau trong Palandt Bürgerliches Gesetzbuch: BGB ( 66 Auflage - 2007) thì “CTXD khác gắn liền với đất”( Werkes) bao gồm, ví dụ, hàng rào, giàn giáo, tượng đài và bia mộ”[117, tr.667] Như vậy, khác với Pháp, tại Đức - theo
quan điểm của các học giả trong các công trình nghiên cứu cũng như của Toà án trong
quá trình xét xử - thì “CTXD khác” có thể “không cần phải kết nối vĩnh viễn, chặt chẽ
với mặt đất”[115, tr.465] Một tấm ván rơi ra từ giàn giáo hoặc một vòi hoa sen bị rơi xuống từ chỗ được gắn cố định trên tường cũng có thể được coi như sự “sụp đổ” hoặc
sự “vỡ ra” của toà nhà hoặc công trình khác gắn liền với mảnh đất [115, tr.465]
Có thể nhận xét, so với Pháp, quan niệm về “toà nhà” và “CTXD khác” trong pháp luật dân sự Đức rộng rãi hơn Nó không chỉ bao gồm những cấu trúc gắn liền với
đất mà còn bao gồm cả những cấu trúc “không cần phải kết nối vĩnh viễn, chặt chẽ với
mặt đất” [115, tr.465]
Tại Italia: Tương tự BLDS Đức và Việt Nam, Điều 2053 BLDS Italia cũng quy
định trách nhiệm của CSH đối với những thiệt hại xảy ra do sự sụp đổ của “tòa nhà”
(“edificio”) hoặc “CTXD khác” (“altra costruzione”)[174] Do BLDS không đưa ra
định nghĩa chính thức cho khái niệm “toà nhà” và “CTXD khác” nên khái niệm này chỉ được làm rõ trong các công trình nghiên cứu và trong các phán quyết của Toà án
Tác giả Pier Giuseppe Monateri trong cuốn Manuale dellaresponsabilità civile định nghĩa: “Toà nhà hoặc CTXD khác là những cấu trúc do con người làm ra, gắn liền với đất, dù chỉ là tạm thời”[117, tr.665] Đặc biệt, tác giả Mario Pogliani trong cuốn Responsabilità erisarcimento cho rằng: CTXD phải là những cấu trúc “vượt lên trên
mặt đất” (tức là không bao gồm công trình ngầm và đường) bởi vì nếu không “vượt lên trên mặt đất” thì nó “không thể bị sụp đổ” [127] Về phía Toà án, qua quá trình xét
Trang 3123
xử, bằng những phán quyết của mình, Toà án cũng góp phần làm sáng tỏ hơn khái niệm “CTXD” Theo đó, “CTXD” bao gồm: đập chắn trên sông, cầu cho người đi bộ, tấm biển quảng cáo được gắn vào ban công, cửa sổ… [117, tr.665]
Tại Nhật Bản: BLDS của Nhật Bản sử dụng khái niệm “cấu trúc trên đất”
(structure on land)[182] khi quy định trách nhiệm của người chiếm hữu đối với thiệt
hại xảy ra cho người khác “vì nguyên nhân sai sót trong xây dựng hoăc bảo quản cấu trúc trên đất” [13, Điều 717] Cũng giống như BLDS của một số nước khác, BLDS
Nhật Bản không có định nghĩa cho khái niệm “cấu trúc trên đất” Điều 86 BLDS Nhật Bản chỉ khẳng định “cấu trúc trên đất” là một loại bất động sản Năm 2004, Nhật Bản ban hành Luật Đăng ký bất động sản Điều 2 Luật Đăng ký bất động sản khẳng định:
“Bất động sản bao gồm: đất đai và CTXD” [192] Đặc biệt, án lệ cũng thừa nhận
“công trình kiến trúc” được coi là “công trình” khi đã kết thúc việc xây tường và lợp mái (bản án của Toà án tối cao ngày 14-4-1921)[100, tr.53]
Tại Hàn Quốc: Tương tự BLDS Nhật Bản, BLDS Hàn Quốc cũng không đưa ra
định nghĩa cho khái niệm “cấu trúc trên đất” Tuy nhiên, khoản 1 Điều 2 Luật Nhà ở
2009 (Housing Act 2009) Hàn Quốc có định nghĩa về “nhà ở” Nhà ở "có nghĩa là toàn bộ hoặc một phần của một tòa nhà và diện tích đất gắn liền được xây dựng để cung cấp chỗ ở cho các thành viên của hộ gia đình, những người có thể sống độc lập trong một thời gian dài Nó có thể được phân loại là nhà ở riêng lẻ hoặc nhà chung cư”[180]
Tại Thái Lan: Điều 434 BLDS và Thương mại Thái Lan có quy định về TNBTTH
do một “tòa nhà” hoặc “CTXD khác” gây ra BLDS và Thương mại Thái Lan cũng không đưa ra định nghĩa về “tòa nhà” hay “CTXD khác” Thậm chí, khi quy định về bất động sản, BLDS và Thương mại Thái Lan còn không trực tiếp liệt kê nhà cửa, CTXD là một loại bất
động sản BLDS và Thương mại Thái Lan chỉ quy định:“Bất động sản là đất đai và những vật gắn liền với đất đai hoặc hợp thành một thể thống nhất với đất đai Nó bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai” (Điều 100) và “Những vật tạm thời gắn với đất đai hoặc gắn với một CTXD thì không trở thành những bộ phận cấu thành Quy định này cũng áp dụng đối với một CTXD hoặc kiến trúc khác, mà để thực thi quyền đối với mảnh đất của một người khác, đã được người có quyền đó gắn với mảnh đất đó”(Điều 109) Năm
1979, Thái Lan ban hành Luật Kiểm soát xây dựng (Building control act) Điều 4 Luật
Kiểm soát xây dựng đã đưa ra định nghĩa về “tòa nhà” (Building) theo hướng liệt kê Theo
đó, “tòa nhà” (Building) bao gồm: tòa nhà, nhà ở, nhà kho, nhà tạm, khu văn phòng và
Trang 3224
những tổ hợp công trình khác; khán đài; đập, cầu, đường hầm, cống hoặc bến tàu, cầu tàu, dầm tường, bến du thuyền; điểm đỗ xe, hoặc những thứ được xây dựng cho mục đích đó hoặc những biển báo hiệu “Tòa nhà” có thể dùng để ở hoặc những mục đích khác [182]
Có thể thấy, khái niệm “toà nhà” theo Luật này đã bao trùm lên mọi loại “CTXD”
Tại Quebec (Canada): không sử dụng khái niệm “nhà cửa, CTXD” Điều 1467
BLDS Quebec (Canada) quy định một loại trách nhiệm rất rộng: TNBTTH do bất động
sản gây ra [176] Tuy nhiên, theo Điều 900 BLDS Quebec thì “bất động sản” bao
gồm:“Đâ ́t đai, CTXD, những công trình có tính kiên cố gắn liền với đất và tất cả những vật tạo thành phần một phần không thể thiếu của công trình đó là bất động sản Cây trồng và khoáng sản, trong trường hợp chưa bị tách rời hoặc bị tách khỏi đất cũng được coi là bất động sản” Với định nghĩa trên thì phạm vi những tài sản được coi là “bất
động sản” rất rộng nhưng đối chiếu với Điều 1467 thì chỉ những “bất động sản” nào bị
“sụp đổ” do “thiếu sửa chữa hoặc từ một khiếm khuyết của việc xây dựng” mới là đối
tượng của trách nhiệm bồi thường Do đó, những bất động sản như đất đai, cây cối hay khoáng sản không thể là đối tượng được áp dụng Điều 1467 vì chúng không phải là sản phẩm của việc “xây dựng” Vì vậy, mặc dù sử dụng khái niệm rất rộng là “bất động sản” nhưng cuối cùng, đối tượng đề cập đến trong Điều 1467 chỉ thu hẹp lại trong phạm
vi “CTXD” bao gồm cả những công trình đã hoàn thành và những công trình tuy chưa hoàn thành nhưng có tính kiên cố gắn liền với đất và tất cả những vật tạo thành phần một phần không thể thiếu của công trình Theo các nhà bình luận BLDS Quebec thì
“CTXD” bao gồm “mọi cấu trúc được tạo thành bởi bất cứ vật liệu gì, do con người làm ra, gắn liền với đất hoặc với một bất động sản do bản chất”[131, tr.28] Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Pháp như đã phân tích ở trên
Bộ tham khảo chung về BTTH ngoài hợp đồng (DCFR)
Bộ tham khảo chung về BTTH ngoài hợp đồng (DCFR) không quy định về
TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, mà quy định “Trách nhiệm đối với thiệt hại
do tình trạng không an toàn của bất động sản gây ra” (Accountability for damage caused by the unsafe state of an immovable) (Điều VI-3:02) Khái niệm “bất động sản”
không được định nghĩa tại Điều này mà được quy định riêng tại phần Phụ lục, theo đó,
“bất động sản” là “đất đai và bất cứ cái gì gắn liền với đất mà không thể thay đổi vị trí bằng hành động bình thường của con người”[192] Với định nghĩa này, “bất động sản”
được hiểu là “những tòa nhà, cây cầu bền vững và cấu trúc tương tự” [117, tr.660] Như vậy, khái niệm “bất động sản” lại đã bị thu hẹp về “toà nhà” và “CTXD khác”
Trang 3325
Từ những nội dung đã nêu trên có thể cho thấy:
(1) Mặc dù BLDS của các quốc gia khác nhau sử dụng khái niệm khác nhau: toà
nhà, CTXD, cấu trúc khác trên đất (“edificio”,“bâtiment” or building or other structure attached to the land…) nhưng nội hàm của những khái niệm này đều hướng
tới đối tượng giống quy định trong BLDS Việt Nam là “nhà cửa, CTXD khác”
(2) “Nhà cửa” “CTXD khác” theo quan điểm của các quốc gia được hiểu: (i) là một loại bất động sản; (ii) là sản phẩm do con người tạo ra; (iii) được tạo thành bởi sự liên kết của những vật liệu xây dựng
(3) Đa số các quốc gia chỉ sử dụng thống nhất một khái niệm VD: “CTXD” như
BLDS Pháp (Điều 1386), BLDS Bỉ (Điều 1386), “cấu trúc” (structure ) như BLDS Ba
Lan (Điều 434); BLDS Áo (1319); BLDS Hàn Quốc (758); hoặc rộng hơn nữa là “bất động sản” như BLDS Quebec - Canada (Điều 1467); Bộ tham khảo chung về BTTH ngoài hợp đồng (DCFR) (Điều VI - 302); chỉ một số các quốc gia, tương đồng với Việt
Nam, sử dụng đồng thời hai khái niệm “toà nhà hoặc CTXD khác” như: Đức (Điều
836, 837, 838 BLDS Đức); Italia (Điều 2053 BLDS Italia)… Trong trường hợp này, qua nghiên cứu cho thấy, trong các bản án cũng như trong các công trình nghiên cứu, Toà án và các học giả không hề có phân biệt giữa “nhà cửa” và “CTXD khác” Hậu quả pháp lý cho thiệt hại do “nhà cửa” hay do “CTXD khác” gây ra là như nhau, áp dụng điều luật giống nhau để giải quyết Nói cách khác, “nhà cửa, CTXD khác”, trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn xét xử, đang được sử dụng như một khái niệm chung thống nhất để chỉ một đối tượng là “CTXD”
Vì những lý do nêu trên, trong phạm vi luận án này, khái niệm “nhà cửa, CTXD khác” sẽ được NCS khái quát chung trong một định nghĩa, như một khái niệm thống
nhất không phân chia Theo đó “nhà cửa, CTXD khác” được hiểu là “sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được gắn liền với đất”
1.2.2 Đặc điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác
Với tư cách là đối tượng của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra,
“nhà cửa, CTXD khác” có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, nhà cửa, CTXD khác là sản phẩm do con người tạo ra
Trên thực tiễn, đây là loại hình sản phẩm được kết tinh bởi sức lao động (cả lao động chân tay và lao động trí óc) của con người Đặc điểm nhận diện này nhằm loại trừ những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba do những vật không được tạo thành từ sức
Trang 3426
lao động của con người như: thiệt hại do sự sụp đổ của hang động tự nhiên, do sạt lở đất, đá, do gẫy đổ của cây cối…Đặc điểm này cũng cho thấy sự khác biệt giữa nhà cửa, CTXD khác với các tài sản khác như cây cối, súc vật Súc vật, cây cối là sản phẩm của tự nhiên Việc sinh trưởng và phát triển của loại tài sản này tuân theo những quy luật của tự nhiên và trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, con người hoàn toàn không thể hiểu và kiểm soát hết được Do đó, trong nhiều trường hợp, mặc dù con người đã thực hiện mọi biện pháp cần thiết để kiểm soát, ngăn chặn, nhưng cây cối, súc vật vẫn có thể tự gây thiệt hại (trâu bò đến mùa động dục bất chợt lồng lên tấn công con người; cây cối mặc dù được cắt tỉa cẩn thận nhưng phần rễ cây vẫn có thể đâm sang nhà hàng xóm gây thiệt hại ) Còn đối với nhà cửa, CTXD khác, là sản phẩm do con người tạo ra, nên ngay từ khâu khảo sát, thiết kế, thi công, bảo trì, bảo dưỡng, sử dụng…con người có thể dự liệu và phải dự liệu được những giải pháp để đảm bảo sự an toàn cho người khác trong quá trình xây dựng, khai thác, sử dụng… Nếu mỗi người, ở mỗi giai đoạn đều thực hiện tốt trách nhiệm của mình thì nhà cửa, CTXD khác khó có thể gây thiệt hại Do đó, khi nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại, TNBTTH thuộc chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác vì họ là người chịu trách nhiệm chính về quản lý, thực hiện việc bảo trì, bảo dưỡng công trình
Thứ hai, nhà cửa, CTXD khác là sự liên kết giữa các vật liệu xây dựng và các thiết bị lắp đặt vào công trình
Vật liệu xây dựng là sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, vô cơ, kim loại được sử
dụng để tạo nên CTXD [28, Khoản 1 Điều 3] Để tạo thành CTXD đòi hỏi giữa các vật liệu xây dựng phải có sự liên kết với nhau Sự liên kết này thông thường được tạo thành bởi những chất kết dính (vữa, xi măng, thạch cao, thuỷ tinh lỏng ) hoặc bằng kỹ thuật xây dựng đặc biệt VD: thành nhà Hồ (Thanh Hóa), pháo Đài Sacsayhuamán (Cuzco Peru) - được xây dựng bằng những phiến đá ghép lại với nhau hoàn toàn không cần dùng chất kết dính như vôi vữa
Tương tự như vậy, thiết bị lắp đặt vào công trình cũng phải có sự liên kết với
công trình Thiết bị lắp đặt vào công trình gồm thiết bị công trình và thiết bị công
nghệ Thiết bị công trình là thiết bị được lắp đặt vào CTXD theo thiết kế xây dựng VD: hệ thống điện chiếu sáng, thiết bị làm lạnh, làm nóng, điều hòa, thông gió… Thiết bị công nghệ là thiết bị nằm trong dây chuyền công nghệ được lắp đặt vào CTXD theo thiết kế công nghệ [22, Khoản 39 Điều 3] Những thiết bị này phải được
Trang 3527
gắn vào nhà cửa, CTXD khác bằng những cách thức nhất định Nếu thiếu sự gắn kết này, thiệt hại do những thiết bị lắp đặt bị rơi ra cũng không thể coi là thiệt hại do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Đặc điểm này giúp phân định giữa “TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra”
và “TNBTTH do những vật bị ném hoặc rơi ra khỏi toà nhà gây ra”
Về bản chất, nếu đứng độc lập thì vật liệu xây dựng hay những thiết bị lắp đặt
vào công trình không được coi là “nhà cửa, CTXD” nhưng khi có sự liên kết với nhau
thì những vật liệu, thiết bị này tạo thành nhà cửa, CTXD khác Khi những vật này bị
rơi xuống hoặc vỡ ra [9, Điều 836] , gây thiệt hại cho những người xung quanh sẽ tạo
thành TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra
Còn đối với những vật liệu, thiết bị hoặc những vật khác không được gắn cố
định vào nhà cửa, CTXD (không được gắn vào tường, trần nhà ), nếu vì một lý do
nào đó mà rơi hoặc bị ném khỏi toà nhà, gây thiệt hại thì đây không được coi là
TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Đây được coi TNBTTH do những vật bị ném hoặc rơi ra khỏi toà nhà gây ra
Mặc dù BLDS Việt Nam không có quy định riêng về loại trách nhiệm này, song đây là loại trách nhiệm đã có từ rất lâu đời Ngay từ thời cổ đại, Luật La mã đã quy định trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây ra bởi các vật bị ném ra hoặc rơi
ra khỏi khỏi tòa nhà (actio effusis et dejectis) Ngày nay, BLDS của nhiều quốc gia
(Điều 1910 BLDS Tây Ban Nha, Điều 85 Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi năm
2009 của Trung Quốc ) cũng đều có quy định riêng về trách nhiệm này
Ý nghĩa của việc phân định giữa hai loại trách nhiệm này nằm ở việc xác định
ai là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường, đặc biệt trong trường hợp CSH không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng căn nhà mà giao cho chủ thể khác VD: trong trường hợp CSH cho người khác thuê nhà, nếu căn nhà tự sập đổ gây thiệt hại thì CSH - mặc dù không sống trong nhà tại thời điểm đó - vẫn phải chịu TNBTTH chứ không phải người thuê nhà (trừ trường hợp người thuê nhà có lỗi hoặc có thoả thuận khác); nhưng nếu thiệt hại xảy ra là do một vật bị ném hoặc rơi ra khỏi toà nhà thì người thuê nhà phải chịu trách nhiệm bồi thường chứ không phải CSH Căn cứ pháp lý áp dụng giải quyết BTTH trong hai trường hợp này là khác nhau VD: tại Pháp, TNBTTH do nhà cửa CTXD khác gây ra được giải quyết theo Điều 1386 nhưng trách nhiệm do một vật bị ném hoặc rơi ra khỏi toà nhà gây ra lại được giải quyết theo Điều 1384 [131, tr.33], hoặc tại Tây Ban Nha, TNBTTH do nhà cửa CTXD khác gây ra được giải quyết theo
Trang 3628
Điều 1907 còn trách nhiệm do một vật bị ném hoặc rơi ra khỏi toà nhà gây ra lại được giải quyết theo Điều 1910; tương tự tại Trung Quốc là Điều 86 và 87 Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của Trung Quốc năm 2009
Thứ ba, nhà cửa, CTXD khác phải được gắn liền với đất
Xét về bản chất, nhà cửa, CTXD khác là bất động sản, do đó, đương nhiên nhà cửa, CTXD phải có một phần được “kết nối bền vững vào lòng đất” Đây là yếu tố quan trọng để phân biệt nhà cửa, CTXD với những công trình khác không gắn với đất như nhà nổi, tàu thuyền và các tài sản khác có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác Ngày nay, xu hướng sử dụng container để cải tạo thành nhà ở, văn phòng giao dịch, nhà kho… ngày càng phổ biến tại Việt Nam cũng như trên thế giới Thực tế này đã dẫn đến những vấn đề pháp lý cần được giải quyết, đó là có thể coi nhà ở, nhà kho, văn phòng làm bằng container là “CTXD” được hay không? Về vấn đề này, hiện nay trong thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng, container làm văn phòng hoặc nhà ở là CTXD, do vậy container đặt tại địa điểm nào thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng, quy hoạch Cụ thể là: nơi đặt container phải là đất xây dựng, phải có giấy phép xây dựng của UBND quận/huyện ở địa phương đó cấp [185] Nhưng cũng có quan điểm cho rằng, container đặt trên nền đất thì không phải là CTXD [184], do nó không có phần “liên kết định vị với đất” Để giải quyết thấu đáo vấn đề này, theo quan điểm của NCS, phải chia làm hai trường hợp: nếu container vẫn còn bánh xe, có thể di chuyển được hoặc nếu container chỉ đơn giản là được đặt trên nền đất, không có nền móng hoặc không có sự liên kết với những CTXD khác đang tồn tại trên đất thì container sẽ không được coi là CTXD Bởi trong trường hợp này, container vẫn là động sản chứ chưa trở thành bất động sản Nếu container được đặt trên một nền móng vững chắc, có sự liên kết định vị với đất, không thể di dời được, thì lúc này container đã trở thành bất động sản, do đó,
nó phải được coi là CTXD
1.3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Con người sinh ra ai cũng có “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Pháp luật ra đời để bảo vệ quyền đó của con người Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Tuy nhiên, “Quyền công
Trang 3729
dân không tách rời nghĩa vụ công dân” [1, Khoản 1 Điều 15] và một trong những nghĩa vụ mà công dân cần tuân thủ là phải: “tôn trọng quyền của người khác”; “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” [1, Khoản 2, 4, Điều 15] Trong trường hợp, một chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ nói trên, xâm phạm đến “quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác” thì chủ thể đó sẽ phải gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi Hậu quả đó là việc chủ thể sẽ phải chịu trách nhiệm BTTH
Thông thường “trách nhiệm” được hiểu là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” [105, tr.1020] hoặc là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”[105, tr.1020] Về
pháp lý, trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa tích cực, “trách nhiệm” là nghĩa vụ mà pháp luật yêu cầu phải thực hiện trong hiện tại và tương lai) Theo nghĩa tiêu cực, “trách nhiệm” là sự gánh chịu những hậu quả bất lợi do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy dủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Đó là sự phản ứng, lên án của nhà nước và xã hội đối với những chủ thể vi phạm pháp luật gây
hậu quả xấu cho xã hội [95, tr.504] “Trách nhiệm” trong “TNBTTH” được hiểu theo nghĩa thứ hai - là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp luật quy định một chủ thể phải gánh
chịu khi có đủ căn cứ làm phát sinh trách nhiệm
Tương tự, thì “bồi thường” là “đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình phải chịu trách nhiệm”[105, tr.82], còn “thiệt hại” là “bị mất mát
về người, của cải vật chất hoặc tinh thần” [105, tr.943] hoặc cụ thể hơn, “thiệt hại”
là “những tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ” [102, tr.713] Về pháp lý thì “BTTH” là
“"hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất tinh thần cho bên bị thiệt hại" [102, tr.84]
Vì vậy, có thể hiểu: TNBTTH là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý, gây thiệt hại cho người khác phải bù đắp những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà mình đã gây ra
Xét về bản chất, TNBTTH là một loại trách nhiệm dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Trách nhiệm này phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết quả của
Trang 3830
hành vi vi phạm nghĩa vụ (có thể là nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng) Khi phát sinh, TNBTTH luôn mang đến cho người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại một hậu quả bất lợi về tài sản Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh,
TNBTTH được phân thành TNBTTH theo hợp đồng và TNBTTH ngoài hợp đồng Bàn về
cơ sở của TNBTTH ngoài hợp đồng, hiện nay trong khoa học pháp lý còn tồn tại nhiều
lý thuyết khác nhau
Lý thuyết trách nhiệm chủ quan: Theo lý thuyết này,“nền tảng lý thuyết của
trách nhiệm dân sự là quá thất (lỗi)” [69, tr.489] “Lỗi” là cơ sở của TNBTTH, “cần phải có một sự quá thất (có lỗi) mới có trách nhiệm dân sự” [69; tr.481] Do đó, khi
thiệt hại xảy ra, để được bồi thường, người bị thiệt hại phải chứng minh được lỗi của người gây thiệt hại Nếu không thể chứng minh được lỗi của người gây thiệt hại thì
người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường Lý thuyết này được áp dụng phổ biến trong pháp luật dân sự của các quốc gia, kể cả những quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ cũng như quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa Điều 604
BLDS 2005 cũng theo quan điểm này khi quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi
vô ý … mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”
Chịu ảnh hưởng bởi quan điểm này, khi bàn về TNBTTH ngoài hợp đồng, hầu
hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: TNBTTH ngoài hợp đồng phát sinh do có hành
vi trái pháp luật, có lỗi của con người Điển hình có thể kể đến một số khái niệm:
“Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân …” [73, tr.8]; hay
“TNBTTH ngoài hợp đồng là quy định của luật dân sự nhằm buộc người có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, … của các chủ thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại mà mình gây ra” [39, tr.389]
Lý thuyết trách nhiệm khách quan
Bước sang thế kỷ XIX, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp
đã kéo theo các vụ tai nạn do máy móc, do phương tiện giao thông cơ giới tăng cao…Thiệt hại xảy ra trong trường hợp này là do sự tự thân tác động của tài sản chứ không phải do hành vi trái pháp luật, có lỗi của con người; trong một số trường hợp, ngay cả khi có lỗi thì người bị thiệt hại do những hạn chế trong hiểu biết về kỹ thuật, công nghệ, cấu tạo máy móc cũng không thể chứng minh được lỗi đó Trong trường hợp đó, nếu theo quan điểm truyền thống, buộc người bị thiệt hại phải chứng minh
Trang 39tài sản gây ra Lý thuyết trách nhiệm khách quan đã ra đời
Theo lý thuyết này, TNBTTH phát sinh không dựa trên yếu tố chủ quan là lỗi của người gây thiệt hại mà dựa trên yếu tố khách quan là thiệt hại thực tế đã xảy ra mà
nạn nhân đang phải gánh chịu và cần được bồi thường Do đó, người bị thiệt hại chỉ
cần chứng minh thiệt hại xảy ra là do sự tự thân tác động của tài sản mà không cần chứng minh lỗi của người chịu TNBTTH
Lý giải cho việc tại sao một chủ thể không có hành vi trái pháp luật, không có lỗi vẫn phải chịu TNBTTH, các học giả đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm
cho rằng sở dĩ chủ thể phải chịu TNBTTH là vì họ là người được hưởng lợi từ những hoạt động rủi ro gây thiệt hại cho người khác (Lý thuyết rủi ro - lợi ích - Théorie du risque- profit) [167]; có quan điểm cho rằng sở dĩ chủ thể phải chịu TNBTTH là vì nạn nhân “có các quyền được bảo đảm” (Lý thuyết bảo đảm (Théorie de la garantie); đó là các quyền
được bảo đảm sự toàn vẹn về thân thể, tài sản, danh dự Khi các quyền này bị xâm phạm thì người bị thiệt hại đương nhiên sẽ được bồi thường mà không phụ thuộc vào trạng thái tâm lý hay tinh thần của người gây thiệt hại [169]
Từ những phân tích trên, có thể thấy lý thuyết trách nhiệm chủ quan và lý thuyết trách nhiệm khách quan đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng Nếu áp dụng tuyệt đối một lý thuyết vào xác định TNBTTH thì sẽ không giải quyết được trọn vẹn, thấu đáo mọi trường hợp BTTH trên thực tế Chính vì vậy, ngày nay pháp luật dân sự của đa số các quốc gia đều có xu hướng áp dụng song song hai lý thuyết này khi xây dựng các quy định về TNBTTH Cụ thể, đối với TNBTTH do hành vi của con người gây ra thì lỗi vẫn là một trong các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm; còn đối với TNBTTH do tài sản gây ra thì lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm
Điều 584 BLDS 2015 đã đi theo hướng này khi tách TNBTTH do tài sản gây ra thành một khoản độc lập (khoản 3) với TNBTTH do hành vi gây ra (khoản 1, 2)
Từ những phân tích trên, có thể hiểu TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại
trách nhiệm dân sự theo đó một chủ thể phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho chủ thể khác trong trường hợp hành vi trái pháp luật của mình, của
Trang 40ra TNBTTH do tài sản gây ra được hiểu là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng theo
đó CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng tài sản phải bù đắp những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần cho chủ thể khác trong trường hợp tự thân tài sản gây thiệt hại
Xét về bản chất, TNBTTH do tài sản gây ra là một dạng của TNBTTH ngoài hợp đồng, là hậu quả pháp lý bất lợi mà CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử
dụng tài sản phải gánh chịu khi tài sản gây thiệt hại Trong TNBTTH do tài sản gây ra,
sự tự thân tác động của tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại, do đó, để được bồi thường, người bị thiệt hại chỉ phải chứng minh ba điều kiện: (1) có thiệt hại; (2) có sự
tự thân tác động của tài sản; (3) có mối quan hệ nhân quả giữa sự tự thân tác động của
tài sản và thiệt hại - mà không cần chứng minh lỗi của CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng tài sản Mặc dù, thiệt hại do sự tự thân tác động của tài sản
gây ra nhưng CSH, người chiếm hữu tài sản vẫn phải chịu TNBTTH xuất phát từ
nguyên tắc “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” [1, khoản 1 Điều 15] Trong quá trình thực hiện quyền sở hữu, CSH có quyền “được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình”, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền “được thực hiện mọi hành vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này (BLDS), luật khác có liên quan” đồng thời cũng có nghĩa vụ bảo đảm việc thực hiện quyền sở hữu của mình không được “gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” [6, khoản 2,3 Điều 160] Nếu trong quá trình
thực hiện quyền của mình, CSH, người chiếm hữu tài sản vi phạm nghĩa vụ bảo đảm an toàn nói trên, để tài sản gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác thì
họ phải chịu TNBTTH, ngay cả khi họ không có lỗi, bởi lẽ họ là người được hưởng lợi ích từ việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, do đó, khi tài sản gây thiệt hại thì họ phải gánh chịu rủi ro
Là một dạng của TNBTTH do tài sản gây ra, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác
gây ra phát sinh khi tự thân nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại Khi định nghĩa về trách nhiệm này, có tác giả cho rằng: “TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là loại TNBTTH do tài sản gây ra, phát sinh khi nhà cửa, CTXD khác là nguyên nhân gây ra