1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải thích nguyên nhân biến động giá USD trong thời gian qua trên thế giới và tại việt nam dự báo về tỷ giá hối đoái với USD trên thế giới và ở việt

26 194 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 369,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ biểu trên cho thấy, từ giữa năm 2008 cho đến tháng 4 năm 2012, đồng tiền EURliên tục biến động lên xuống nhưng xu thế chung là tiền EUR mất giá so với đồngUSDVậy các nguyên nhân khiến

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Chính sách tỷ giá luôn được coi là một trong những chính sách vĩ mô rấtquan trọng nhưng tác động khó lường trước và thường phải đánh đổi giữa nhiềumục tiêu vĩ mô khác nhau Trên thực tế, có nhiều mục tiêu được đặt ra cho chínhsách tỷ giá, trong khi các công cụ thực thi chính sách và dư địa thực hiện chínhsách lại khá hạn hẹp Việc giảm giá đồng nội tệ có thể thúc đẩy xuất khẩu và cảithiện cán cân thanh toán, nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra trong những điều kiệnnhất định và tác động đối với từng hàng hóa khác nhau là khác nhau

Điều đó cho thấy việc đánh giá tác động của điều chỉnh tỷ giá đến nền kinh

tế là không hề đơn giản vì trong một nền kinh tế mở, tỷ giá thực ảnh hưởng đếngiá cả tương đối giữa các hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu

Tỷ giá cũng có thể tác động trực tiếp đến lạm phát do việc thay đổi giá cả tínhbằng đồng nội tệ của hàng hóa nhập khẩu và qua đó ảnh hưởng đến chỉ số giá.Việc đánh giá diễn biến nguyên nhân và dự báo biến động tỷ giá, đồng thờiphân tích tác động của biến động tỷ giá đến các doanh nghiệp tham gia hoạt độngthương mại quốc tế là một chủ để rất quan tâm

Trong giới hạn thời gian và kiến thức, bài tiểu luận với đề tài “Giải thích nguyên nhân biến động giá USD trong thời gian qua trên thế giới và tại Việt Nam? dự báo về tỷ giá hối đoái với USD trên thế giới và ở Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn? Ảnh hưởng của biến động tỷ giá ngoại tệ đến các doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam” chắc chắn còn

nhiều hạn chế, nhóm rất mong nhận được đóng góp từ cô giáo

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

Chương I: Giải thích nguyên nhân biến động giá USD trong thời gian qua trên thế giới và tại Việt Nam

1 Biến động USD trong thời gian qua trên thế giới

1.1 Thực trạng về USD hiện nay

Sau chiến tranh thế giới thứ hai và những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế Hoa

Kỳ là sự thèm muốn của nhiều quốc gia trên thế giới USD Mỹ là đồng tiền chungdùng trong thanh toán quốc tế của hầu hết các quốc gia và bên cạnh vàng nó trở thànhđồng tiền dự trữ chính của nhiều nước Nhưng sau khi tòa tháp đôi sụp đổ, cuộc chiếntranh Irac và Afganitant kéo dài, Cuối năm 2007, nước Mỹ có gần một triệu ngườimất việc Chính phủ liên bang mỗi năm phải vay mượn thêm 500 tỷ đô-la để tài trợcho cuộc chiến chống khủng bố cũng như hàng loạt các chương trình xã hội khác Lãisuất ngắn hạn một lần nữa lại tụt giảm và mặc dù nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởngnhưng tỷ lệ vay mượn ở mọi cấp độ xã hội thậm chí còn tăng nhanh hơn Cuộc khủnghoảng tài chính 2008 cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã cung cấp các khoản vay trịgiá 9.000 tỷ USD và 05/12/2010 chủ tịch FED tuyên bố sẽ bơm thêm hơn 600 tỷUSD để phục hồi nền kinh tế Mỹ Do đó, đồng đô-la trở thành đồng tiền gây khókhăn cho cả thế giới, giá trị của nó giảm khi so sánh với các đồng tiền mạnh khác vàtụt dốc không phanh nếu đem so với vàng

Từ năm 2008 cho đến nay, nền kinh tế lớn nhất toàn cầu không ngừng tung ra các góicứu trợ hàng trăm tỷ Đô la bơm vào nền kinh tế tuy nhiên hiệu quả là không cao,lượng người thất nghiệp vẫn làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách của quốc gianày Thêm vào đó, 3 chỉ số trên thị trường chứng khoán Mỹ là DowJones, Nasdaq vàS&P lần lượt tụt dốc một cách thảm hại Các chuyên gia kinh tế nhận định nền kinh

tế Mỹ vẫn chưa thế thoát khỏi cơn bão khủng hoàng trong năm 2012 cho dù đã cónhiều điểm sang từ cuối năm 2011 Chính những bất ổn của nền kinh tế Mỹ đã làm

Trang 3

cho đồng USD nhìn chung là giảm giá so với các đồng tiền chủ chốt trên thế giới vàgiảm giá so với các đồng tiền ở khu vực Dưới đây sẽ là những so sánh đồng USDvới một số ngoại tệ mạnh trên thế giới: EUR, JPY, GBP.

1.2 Tỷ giá EUR/USD

Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu khiến đồng Euro mất giá liên tục so với đồngtiền USD vốn cũng đã mất giá so với các loại tiền tệ khác

(Nguồn: http://www.xe.com/currencycharts/)

Trang 4

Từ biểu trên cho thấy, từ giữa năm 2008 cho đến tháng 4 năm 2012, đồng tiền EURliên tục biến động lên xuống nhưng xu thế chung là tiền EUR mất giá so với đồngUSD

Vậy các nguyên nhân khiến đồng EUR giảm giá mạnh trên thị trường quốc tế là gì?Thứ nhất, cuộc khủng hoảng nợ công bắt đầu từ Hy lạp với khoản nợ lên đến 300 tỷeuro, chiếm 120% GDP của nước này, còn thâm hụt ngân sách thì lên tới 14% Đây

là những con số quá cao so với mức EU có thể chấp nhận được (60% đối với nợ và3% đối với thâm hụt ngân sách) Nguyên nhân dẫn tới tình trạng vô cùng khó khăncủa Hy Lạp là do ngay từ khi bắt đầu khủng hoảng kinh tế thế giới (2008), hai ngànhkinh tế trụ cột của nước này là du lịch và vận tải hàng hải đã bị sụp đổ Bên cạnh đó,

nợ nước ngoài cao lại vốn là một đặc trưng của Hy Lạp lâu nay (trong 10 năm naychưa khi nào nợ dưới 100% GDP)

Khủng hoảng nợ công tại một số nước thuộc khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone)

là hệ quả tất yếu của việc vay nợ chống suy thoái và cứu các ngành sản xuất khỏi bịsuy sụp Mức độ trầm trọng của khủng hoảng nợ công ngày càng lớn và có dấu hiệulây lan, hậu quả của nó vượt xa mọi dự đoán trước đây của các nhà kinh tế và kéotheo tác động tiêu cực tới ổn định chính trị - xã hội tại các nước khu vực Eurozone.Hiện tượng "Hy Lạp hóa" đang lây lan sang các nước châu Âu khác Ít nhất có vàinước đang đứng bên bờ vực vỡ nợ như Hy Lạp Khủng hoảng nợ công đang chựcbùng nổ ở Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cùng một số nước Đông Âu như Hungari

và Bungari

Thứ hai, trước những bất ổn của khu vực đồng tiền chung Châu Âu, ECB ngày21/01/2011 quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản xuống 2%, và không lâu sau mức cắtgiảm lãi suất này, 8/12 ECB lại tiếp tục quyết định cắt xuống mức thấp kỷ lục 1,0%,bên cạnh đó cung cấp các khoản vay thời hạn dài 3 năm, đồng thời nới lỏng các quy

Trang 5

định về tài sản thế chấp, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng trong việc huyđộng vốn Tuy nhiên việc làm này lại càng làm cho đồng tiền chung EUR rớt giámạnh so với đồng USD.

Thứ ba, nền kinh tế Mỹ phục hồi khả quan hơn khu vực eurozone Nhiều chuyên gia

dự báo, kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng từ 2,3% - 3% trong năm 2012 so với mức dự kiến2% năm 2011 Các chỉ số việc làm và chế xuất ở Mỹ cho thấy tăng trưởng quý4/2011 sẽ trên 3%, mức tăng mạnh nhất trong vòng 18 tháng Thị trường lao động đã

có dấu hiệu ổn định với tỉ lệ thất nghiệp 8,6% trong tháng 11/2011 Chính điều nàylàm các nhà đầu tư tin tưởng hơn vào thị trường Mỹ cũng như đồng tiền USD Trongkhi đó, các chuyên gia kinh tế cho rằng những khó khăn của Italy và Tây Ban Nha cóthể còn nhiều thêm nếu khủng hoảng nợ công đẩy toàn bộ Eurozone vào một cuộcsuy thoái Các nhà kinh tế của Ernst & Young dự đoán khu vực này sẽ rơi vào suythoái nhẹ trong nửa đầu năm tới và tăng trưởng chỉ 0,1% cả năm, với tỷ lệ thất nghiệp

ở mức 10% trong vài năm

1.3 Tỷ giá JPY/USD

Không nằm trong khu vực Châu Âu, nhưng cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầucũng đã khiến cho đất nước mặt trời mọc điên đảo, đặc biệt, thiên tai ập đến lại giángthem một đòn nặng vào nền kinh tế Nhật Bản vốn đã trải qua 2 thập niên suy giảmnày

Thách thức "kép" đã đặt ra cho đất nước Nhật Bản mục tiêu vừa phải thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế vừa phải đảm bảo sự lành mạnh của nền tài chính công trong lúc tỷ lệ

nợ công hiện ở mức cao nhất trong số các nền kinh tế phát triển, giữa lúc đồng yênkhông ngừng tăng giá

Theo đồ thị dưới đây thì đồng JPY tăng giá tương đối so với đồng USD qua các giaiđoạn

Trang 6

((Nguồn: http://www.xe.com/currencycharts/)

Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn luôn được biết đến như một đất nước thần kì Mặc dù phảiđối mặt với thảm hoạ động đất sóng thần, cuộc khủng hoảng hạt nhân tại nhà máyđiện nguyên tử Fukushima, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nợ công tăng mạnh

do vay mượn để khắc phục hậu quả thiên tai Tuy vậy, các hãng xe hơi trong nướcphục hồi nhanh hơn dự kiến, tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật đã giảm,cùng với đó, các nhàđầu tư cũng đón nhận một tin tức lạc quan khi vào tháng 11 năm ngoái, lần đầu tiênxuất khẩu của Nhật Bản đi lên với tốc độ 9,1% sau 9 tháng giảm liên tiếp

1.4 Tỷ giá GBP/USD

Trang 7

Nhìn chung thì so với trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra, đồng BảngAnh đã sụt giá nghiêm trọng so với đồng USD Đây là hậu quả trực tiếp từ những bất

ổn trong chính trị nước Anh do những vụ đánh bom khủng bố diễn ra trong thời gianvừa rồi cũng như nước Anh không nằm ngoài vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tàichính vừa qua.Theo thông báo của cơ quan Thống kê Quốc gia, tổng sản phẩm quốcnội của Anh đã giảm 0,2% từ quý IV năm ngoái, khi GDP thụt lùi 0,3% Đây là kếtquả rất đáng thất vọng, Ngân hàng Trung ương Anh đang trong tháng cuối cùng củachương trình kích thích kinh tế và sự suy giảm trong sản lượng kinh tế đang diễn ravới triển vọng u ám tại khu vực châu Âu – thị trường xuất khẩu lớn nhất của Anh Sovới cùng kỳ năm trước, tăng trưởng kinh tế quý I là không đổi Mức giảm GDP theoquý xuất phát từ sự thụt lùi 3% trong hoạt động xây dựng, mức giảm lớn nhất kể từquý I/2009 và sự suy giảm 0,4% trong sản lượng công nghiệp Hoạt động sản xuấtcũng đi xuống 0,1% và ngành dịch vụ, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế, chỉtăng trưởng nhẹ 0,1% trong quý I năm 2012, được thúc đẩy bởi hoạt động vận tải,viễn thông và kho bãi

Trang 8

(Nguồn: http://www.xe.com/currencycharts/)

2 Biến động giá USD tại Việt Nam trong thời gian gần đây

Tại Việt Nam, tỷ giá chính thức USD/VND có xu hướng đi theo một chu kỳ rõ rệt gồm hai giai đoạn:

• Trong giai đoạn suy thoái kinh tế hoặc khủng hoảng, VND mất giá khá mạnh so với USD (1997-2000, 2008-nay)

• Khi giai đoạn suy thoái kết thúc, nền kinh tế đi vào ổn định thì tỷ giá lại được neo giữ tương đối cứng nhắc theo đồng USD (2000-2007)

Sau đây là biến động của tỷ giá USD/VND trong thời gian gần đây, từ năm 2007 đếnnay

2 1 Giai đoạn 2007-2009

Trang 9

Giai đoạn 2007-2009 tỷ giá USD/VND có khá nhiều biến động Từ năm 2007, dòng tiền đầu tư gián tiếp ồ ạt chảy vào Việt Nam, sự gia tăng này đã góp phần làm nguồncung USD ở Việt Nam tăng mạnh Trên thực tế vào nửa đầu năm 2007 và từ tháng

10 năm 2007 đến tháng 3 năm 2008, trên thị trường ngoại hối Việt Nam đã có dư cung về USD khiến cho tỷ giá ở các ngân hàng thương mại giảm xuống mức

sàn biên độ Đồng Việt Nam đã lên giá trong giai đoạn này Sau đó, tỷ giá đã có những biến động mạnh trong năm 2008 do tình hình lạm phát tăng cao trong những tháng đầu năm và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã bắt đầu tác động tới nền kinh

tế Việt Nam vào nửa cuối năm 2008 Từ giữa năm 2008, cùng với sự suy thoái kinh

tế, luồng tiền đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đã bắt đầu đảo chiều

Xu hướng chung của tỷ giá USD/VND năm 2009 là sự mất giá danh nghĩa của VND

so với USD Cho đến cuối năm 2009, tỷ giá chính thức USD/VND đã tăng 5,6% so

Trang 10

với tỷ giá này cuối năm 2008 Trong khi trong năm 2008, tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại biến động liên tục, các tháng đầu năm còn có giai đoạn thấp hơn tỷ giá chính thức, thì năm 2009 lại là một năm mà tỷ giá ngân hàng thương mại giao dịch luôn ở mức trần của biên độ giao động mà ngân hàng nhà nước công bố Trong cả năm 2009, áp lực về cung cầu USD trên thị trường ngoại hối cùng với áp lực tâm lý đã khiến tỷ giá trên thị trường tự do ngày càng rời xa tỷ giá chính thức Mặc dù ngân hàng ngân hàng nhà nước đã buộc phải mở rộng biên độ giao động của

tỷ giá chính thức trong tháng 3 từ +/-3% lên +/-5% – biên độ lớn nhất trong vòng 10 năm kể từ năm 1998, nhưng các ngân hàng thương mại vẫn giao dịch ở mức tỷ giá trần Tình trạng nhập siêu kéo dài và ngày càng tăng từ tháng 3 đến cuối năm,

cả năm 2009 nhập siêu đã vượt 12 tỷ USD

Thêm vào đó, trong giai đoạn này có sự chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế đã khiến cho nhu cầu về USD càng tăng để phục vụ việc nhập khẩuvàng Giá vàng và giá đô đều đã tăng mạnh Người dân đẩy mạnh mua ngoại tệ trên thị trường tự do, giá USD trên thị trường chợ đen tăng mạnh Do khan hiếm nguồn cung USD, các doanh nghiệp cũng phải nhờ đến thị trường chợ đen hoặc phải cộng thêm phụ phí khi mua ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại Tâm lý hoang

mang mất lòng tin vào VND làm tăng cầu và giảm cung về USD đã đẩy tỷ giá thị trường tự do tăng lên hàng ngày Người dân lo ngại thực sự về khả năng phá giá tiền VND, sau khi một số báo cáo của các định chế tài chính được công bố

Đến 26/11/2009, NHNN đã buộc phải chính thức phá giá VND 5,4%, tỷ lệ phá giá cao nhất trong một ngày kể từ năm 1998 để chống đầu cơ tiền tệ và giảm áp lực thị trường, đồng thời thu hẹp biên độ giao động xuống còn +/-3% Cùng với chính sách

tỷ giá, vào thời điểm này NHNN đã nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%/năm Các chính sách này được cho là hợp lý nhưng khá muộn màng Đồng Việt Nam tiếp tục mất giá trên thị trường tự do thể hiện qua việc tỷ giá trên thị trường tự do vào thời điểm cuối năm 2009 vẫn đứng vững ở mức cao khoảng 19.400 VND cho 1 USD

Trang 11

và các NHTM tiếp tục giao dịch ở mức trần Vào cuối năm 2009, kỳ vọng mất giá của đồng tiền Việt Nam hiện vẫn còn khá lớn.

2.2 Giai đoạn từ 2010 đến nay

Năm 2010 tiếp tục chứng kiến các xu hướng tương tự trên thị trường ngoại hối như trong năm 2009 Cụ thể là các NTTM vẫn tiếp tục đặt tỷ giá tại trần biên độ của tỷ giá chính thức trong hầu hết các tháng trong năm và khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do có lúc đã tăng lên những mức cao chưa từng có vào cuối năm 2010

Do các áp lực vẫn tiếp tục tăng cao dù NHNN đã có nhiều nỗ lực vào cuối năm

2009, đến ngày 11/02/2010, NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17.941

VND/USD lên 18.544 VND/USD, tương đương với việc phá giá 3,3% Cùng với việc nâng tỷ giá này, NHNN đã thực hiện hàng loạt các biện pháp hành chính nhằm giảm áp lực lên thị trường ngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng cho vay ngoại tệ, chấm dứt việc giao dịch vàng trên các tài khoản ở nước ngoài của các NHTM và các tổ chức tín dụng, đóng cửa các sàn vàng, và tăng lãi suất cơ bản lên 8%/năm Kết quả là, trong sáu tháng đầu năm 2010 tín dụng ngoại tệ đã tăng 27% trong khi tín dụng VND chỉ tăng 4.6% Đồng thời, kiều hối và các khoản giải ngân FDI, ODA và FII (đầu tư gián tiếp nước ngoài) đều tăng lên trong hai quý đầu của năm 2010 so với cùng kỳ năm 2009 khi còn khủng hoảng Tất cả các yếu tố trên đã góp phần tăng cung và giảm cầu ngoại tệ nhờ

đó giảm khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá chính thức trong quý II vànửa đầu quý III năm 2010

Tuy nhiên, các NHTM tiếp tục đặt giá ở mức trần hoặc gần với trần biên độ của tỷ giá chính thức Và từ đầu tháng 7 năm 2010, tỷ giá thị trường tự do lại bắt đầu tăng lên dù lúc đầu chỉ tăng chậm Những xu hướng này phản ánh kỳ vọng của thị trường ngoại hối về sự phá giá của VND Nguyên nhân của kỳ vọng này là: (1) cung ngoại

tệ tăng là chủ yếu do các doanh nghiệp tận dụng chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi

Trang 12

ngoại tệ và tiền gửi VND; (2) nhiều biện pháp hành chính của NHNN chỉ mang tính tạm thời và có thể sẽ bị đảo ngược; (3) lo lắng về việc cầu ngoại tệ sẽ tăng cao khi nhiều khoản vay ngoại tệ của các doanh nghiệp nhằm tận dụng chênh lệch lãi suất sẽđến hạn; và (4) hành vi đầu cơ củangười dân do giảm sút niềm tin vào tiền đồng.

Có lẽ do nhận thức được những mối đe dọa này, vào ngày 17/08/2010, NHNN đã đột ngột tăng tỷ giá thêm 2,1% lên 18.932 VND/USD mặc dù lúc đó áp lực thị trường vẫn chưa rõ ràng và khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá chính thức vẫn đang ở mức thấp khoảng 500 VND/USD Ngay lập tức, các NHTM tăng tỷ giá của họ lên kịch trần Động thái của NHNN có thể đã giúp giảm áp lực và ổn định

tỷ giá nếu không có nhiều những yếu tố bất lợi diễn ra trong những tháng cuối của năm2010 Yếu tố đầu tiên và có lẽ là yếu tố quan trọng nhất là việc giá vàng quốc tế tăng cao kỷ lục dẫn đến giá vàng trong nước còn tăng cao hơn do đầu cơ Đồng thời, sau một vài tháng tăng với tốc độ chậm, lạm phát lại bắt đầu tăng nhanh từ tháng 9 năm 2010 khiến cho CPI của năm 2010 tăng lên 11,75% so với 7% năm 2009

Trong những tháng cuối năm 2010, thị trường ngoại hối chứng kiến sự tăng lên nhanh chóng của cầu về ngoại tệ do: (1) nhu cầu mua ngoại tệ để trả các khoản vay đáo hạn của các doanh nghiệp tận dụng chênh lệch lãi suất trong hai quý đầu năm

2010, (2) nhu cầu nhập khẩu thường tăng cao vào cuối năm cộng thêm nhu cầu nhập khẩu vàng nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế, (3) NHNN thắt chặt tín dụng ngoại tệ; (4) lãi suất tiền gửi ngoại tệ tăng cao, lên trên 5%/năm; và (5) hoạt động đầu cơ gia tăng Thêm vào đó, cung ngoại tệ giảmsút do các doanh nghiệp không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng khi họ lo lắng về khả năng NHNN sẽ tiếp tục phải phá giá VND

Kết quả của sự dư cầu ngoại tệ là tỷ giá thị trường tự do bắt đầu tăng từ tháng 9 năm

2010 lên 20.500 VND/USD vào giữa tháng 10 và lên đến mức kỷ lục là trên

21.500 VND/USD vào cuối tháng 11 Đối mặt với tình trạng này, NHNN đã phải thực hiện một loạt các biện pháp hành chính như tuyên bố tăng cung ngoại tệ cho

Trang 13

việc nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất, thắt chặt việc trao đổi cũng như nhận gửi và cho vay bằng vàng, và tăng hạn ngạch nhập khẩu vàng để làm dịu tình hình căng thẳng trên thị trường vàng Đồng thời, lãi suất cơ bản cũng được tăng lên 9%/năm vào tháng 11.

Tuy nhiên, tỷ giá thị trường tự do chỉ giảm nhẹ đôi chút và vào cuối năm 2010 và đầu năm 2011 vẫn đứng ở mức cao Nguyên nhân thứ nhất cho tình trạng này là do hầu hết các biện pháp của NHNN, nhất là đối với thị trường vàng chỉ mang tính tạm thời Thứ hai, dự trữ ngoại hối đã liên tục giảm sút từ năm 2009 và do đó tuyên bố của NHNN về việc cung ngoại tệ ra thị trường không được hoàn toàn đảm bảo Thứ

ba, lạm phát tăng cao và vẫn tiếp tục đà tăng Thứ tư, thâm hụt thương mại năm

2010 vẫn cao ở mức 12,4 tỷ đô la (đã loại trừ 2,8 tỷ nhập khẩu ròng vàng) Tình trạng này còn trầm trọng hơn do các hoạt động đầu cơ

Không thể tiếp tục duy trì tỷ giá, NHNN đã tuyên bố mức phá giá cao nhất trong lịch

sự (9,3%) vào đầu tháng 2 năm 2011, nâng tỷ giá chính thức lên 20.693 VND/USD

và giảm biên độ xuống còn +/-1% Nỗ lực này đã không có kết quả ngay lập tức Tỷ giá thị trường tự do vọt lên trên 22.100 VND/USD trong vòng vài ngày kể từ sau lầnphá giá này Vào tháng 3 năm 2011, NHNN đã siết chặt các hoạt động trên thị

trường tự do, áp đặt trần lãi suất thấp cho tiền gửi bằng ngoại tệ và do đó mở rộng chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi ngoại tệ và lãi suất VND lúc đó đã lên kịch trần 14% Do vậy, cung ngoại tệ đã tăng lên khi các doanh nghiệp và cá nhân chuyển đổi tiền gửi bằng ngoại tệ sang tiền gửi bằng VND để tận dụng chênh lệch lãi suất cao Đồng thời, NHNN cũng tuyên bố là đã mua thêm được 3 tỷ cho dự trữ ngoại hối Nhờ đó, cả tỷ giá thị trường tự do và tỷ giá NHTM đều giảm xuống từ tháng 4 năm

2011, và có lúc còn thấp hơn tỷ giá chính thức Những tháng cuối năm 2011 đến 3 tháng đầu năm 2012, tỷ giá USD/VND tương đối ổn định, không có biến động mạnh Đây là kết quả tích cực của việc phá giá trong tháng 2/2010 và các biện pháp kiểm soát thị trường tự do của ngân hàng nhà nước Thêm vào đó nhập siêu 3 tháng

Ngày đăng: 08/11/2018, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w