1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công ty cổ phần và vai trò của công ty cổ phần đối với sự phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay

16 247 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 153 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUXuất phát từ thực tế khách quan và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, việc hình thành các công ty cổ phần và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã trở thành một nhu cầu tất

Trang 1

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI KHOA TIẾNG ANH THƯƠNG MẠI

TIỂU LUẬN CÔNG TY CỔ PHẦN

VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện:

Giáo viên hướng dẫn: Th.S Lê Tuấn Anh

Hà Nội, 2011

Trang 2

MỤC LỤC

I Lý luận chung về công ty cổ phần 3

I.1 Công ty cổ phần là gì? 3

I.2 Điều kiện để hình thành một công ty cổ phần 3

I.2.1 Tồn tại sở hữu khác nhau về vốn 3

I.2.2 Những người có vốn muốn tham gia đầu tư để kinh doanh thu lợi

I.2.3 Lợi nhuận thu được phải có đủ sức hấp dẫn người có vốn tham

I.2.4 Phải có sự nhất trí thành lập công ty 4

I.3 Cơ cấu và tổ chức hoạt động của công ty cổ phần. 4

I.3.2 Cơ cấu và tổ chức hoạt động của công ty cổ phần 5

I.4 Các loại công ty cổ phần ở Việt Nam 7

I.4.1 Công ty cổ phần quốc doanh. 7

I.4.2 Công ty cổ phần liên doanh với nước ngoài 7

I.4.3 Công ty cổ phần có toàn bộ vốn nước ngoài. 8

II Vai trò của công ty cổ phần đối với sự phát triển kinh tế ở nước

II.1 Vai trò của công ty cổ phần đối với nền kinh tế quốc dân 8

II.2 Vai trò của công ty cổ phần đối với sự phát triển kinh tế ở nước

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Xuất phát từ thực tế khách quan và đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, việc hình thành các công ty cổ phần và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã trở thành một nhu cầu tất yếu trong việc phát triển nền kinh tế Tại các quốc gia tư bản chủ nghĩa khác trên thế giới, công ty cổ phần đã trở thành một hình thức kinh doanh quen thuộc từ lâu Nhưng ở Việt Nam, công ty cổ phần vẫn là một khái niệm mới Mặc dù mới xuất hiện nhưng công ty cổ phần

đã chiếm một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế với ưu thế nổi trội trong việc huy động nguồn vốn, phát triển khả năng doanh nghiệp và hạn chế rủi ro kinh doanh Bên cạnh đó, công ty cổ phần còn góp phần hình thành một thị trường mới – thị trường chứng khoán Sự xuất hiện của thị trường chứng khoán đã góp phần đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế nhờ đặc điểm huy động nguồn vốn lớn trong thời gian ngắn và là một giải pháp hiệu quả giúp Nhà nước điều tiết thị trường thông qua việc sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào nền kinh tế

Với vai trò và tầm quan trọng của công ty cổ phần ở nước ta hiện nay,

em đã chọn đề tài: “Công ty cổ phần và vai trò của công ty cổ phần đối với

sự phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận.

Để thực hiện được đề tài này, em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn của thầy Lê Tuấn Anh

Trang 4

CÔNG TY CỔ PHẦN

VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

-*** -I Lý luận chung về công ty cổ phần

I.1 Công ty cổ phần là gì?

Công ty cổ phần là một loại hình xí nghiệp lớn mà vốn của nó được hình thành từ sự đóng góp của nhiều người thông qua việc phát hành cổ phiếu

I.2 Điều kiện để hình thành một công ty cổ phần

Muốn hình thành công ty cổ phần phải có một số điều kiện nhất định, trong đó, những điều kiện sau là thiết yếu:

I.2.1 Tồn tại sở hữu khác nhau về vốn

Công ty cổ phần là công ty có nhiều người đứng sở hữu (từ ba người trở lên) Nếu công ty chỉ thuộc một chủ sở hữu thì dù chủ sở hữu là một cá nhân hay một tổ chức thì đó không phải là công ty cổ phần mà thuộc một loại hình công ty khác, có thể là công ty tư nhân, công tư Trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc Công ty liên doanh (nếu chủ sở hữu là Nhà nước)

I.2.2 Những người có vốn muốn tham gia đầu tư để kinh doanh thu lợi nhuận.

Đây là hình thức đầu tư mạo hiểm nhất so với các hình thức đầu tư khác như mua công trái, trái phiếu, gửi ngân hàng,… Trong kinh doanh có khả năng bị phá sản nhưng bù lại lại là hình thức đầu tư có hứa hẹn nhất và không bị làm phát với món tiền lớn

Trang 5

I.2.3 Lợi nhuận thu được phải có đủ sức hấp dẫn người có vốn tham gia kinh doanh.

Nếu lợi nhuận trong kinh doanh mang lại lớn hơn lợi tức ngân hàng, hoặc lợi tức do đầu tư vào các lĩnh vực khác, và lớn hơn đủ mức cần thiết thì người có vốn mới sẵn sàng góp vốn vào công ty cổ phần để tham gia kinh doanh

I.2.4 Phải có sự nhất trí thành lập công ty

Những người có vốn muốn tham gia kinh doanh phải thỏa thuận được với nhau để cùng góp vốn và đứng ra thành lập công ty cổ phần trên

cơ sở những quy định của pháp luật Nếu không thỏa thuận được, công ty

cổ phần sẽ không được thành lập

I.3 Cơ cấu và tổ chức hoạt động của công ty cổ phần.

I.3.1 Một số khái niệm

Cổ phần là lượng vốn được chia thành nhiều phần bằng nhau của

công ty cổ phần

Cổ phiếu là một thứ chứng khoán có giá do công ty cổ phần phát

hành ghi nhận quyền sở hữu cổ phần của người mua cổ phiếu (cổ đông),

đồng thời còn đảm bảo cho cổ đông có quyền được lĩnh một phần thu nhập

của công ty (cổ tức) căn cứ vào giá trị cổ phần và tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Giá trị của mỗi cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu Cổ phiếu được mua, bán trên thị trường chứng khoán theo thị giá cổ phiếu Thị

giá cổ phiếu được xác định tương đương với một số tiền mà nếu đem gửi vào ngân hàng thì căn cứ theo tỷ suất lợi tức tiền gửi hiện hành cũng sẽ đem lại một khoản lợi tức tương đương với mức cổ tức

Một công ty chỉ được phéo phát hành một số lượng cổ phiếu nhất định Cổ phiếu thưởng và cổ phiếu ưu đãi do công ty phát hành hình thành nên vốn cổ phần của công ty Cổ phiếu chứng minh tư cách thành viên của

Trang 6

những người góp vốn vào công ty cổ phần Những thành viên này được gọi

là cổ đông Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu Quyền và trách nhiệm, lợi ích của mỗi cổ đông phụ thuộc vào số lượng cổ phiếu của

họ trong công ty Cổ đông nắm được số lượng cổ phiếu khống chế thì có thể nắm được quyền chi phối mọi hoạt động của công ty Theo điều 51 và

53 của Luật Doanh nghiệp Việt Nam thì:

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác trừ cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi Trong ba năm đầu từ khi thành lập công ty, cổ đông sáng lập thì chỉ được chuyển nhượng cổ phần nếu được sự đồng ý của Đại hội đồng cổ đông

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa

- Cổ đông có hai loại là cổ đông ưu đãi và cổ đông phổ thông Cổ đông phổ thông có các quyền cơ bản như: tham dự và biểu quyết tất cả các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông (mỗi

cổ phần có một phiếu biểu quyết), được nhân cổ tức với mức theo quy định của Đại hội đồng cổ đông Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc tỷ lêk khác nhỏ hơn theo quy định của điều lệ công ty có quyền để cử người vào Hội đồng Quản trị và Ban kiểm soát, yêu cầu triệu tập họp Đại hội cổ đông

I.3.2 Cơ cấu và tổ chức hoạt động của công ty cổ phần

Do đặc điểm nhiều chủ sở hữu, các cổ đông không thể trực tiếp thực hiện vai trò chủ sở hữu của mình mà phải thông qua tổ chức đại diện làm nhiệm vụ quản lí công ty bao gồm: Đại hội cổ đông, Hội đồng Quản trị, Giám đốc Điều hành và Ban Kiểm soát

Trang 7

- Đại hội cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công

ty, là Đại hội của những cổ đông sở hữu cổ phần đối với công ty Đại hội

cổ đông có 3 hình thức là: Đại hội hội đồng cổ đông thành lập, Đại hội

đồng cổ đông bất thường và Đại hội hội đồng cổ đông.

- Hội đồng Quản trị là bộ máy quản lí của công ty cổ phàn bao gồm những thành viên có trình độ chuyên môn và quản lí cao để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao bới Đại hội hội đồng cổ đông Số thành viên của Hội đồng Quản trị do Đại hội cổ đông quyết định và được ghi vào điều lệ của công ty Hội đồng Quản trị có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Hội đồng Quản trị tự bầu Chủ tịch và Chủ tịch có thể kiêm Tổng giám đốc công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác

- Giám đốc Điều hành là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị

về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao Về thực chất, Giám đốc Điều hành là người làm thuê cho Hội đồng Quản trị Giám đốc Điều hành không làm việc theo nhiệm kì mà làm theo thời hạn kí kết trên hợp đồng với Chủ tịch Hội đồng Quản trị

- Ban Kiếm soát có vai trò giám sát các hoạt động của công

ty Số lượng ủy viên kiểm soát được quy định theo quy định trong điều

lệ của công ty Những người này không phải là thành viên của Hội đồng Quản trị và Giám đốc

Trong công ty cổ phần, quan hệ phân phối và phân chia lợi nhuận được thực hiện theo nguyên tắc vốn góp của các công ty cổ đông và phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty Lợi nhuận của công ty sau khi dùng cho

Trang 8

các khoản chung cần thiết, phần còn lại được chia đều cho các cổ đông tỷ

lệ với phần góp vốn của họ và gọi là cổ tức

I.4 Các loại công ty cổ phần ở Việt Nam

I.4.1 Công ty cổ phần quốc doanh.

Đây là một giải pháp để khắc phục khuyết tật của hình thức sở hữu Nhà nước và tiếp tục đổi mới cơ chế quản lí trong khu vực quốc doanh Công ty cổ phần quốc doanh gồm nhiều chủ sở hữu: Nhà nước, những người lao động trực tiếp trong công ty cổ phần, các cá nhân và các tổ chức khác Một đặc điểm quan trọng là Nhà nước nắm giữ cổ phần khống chế để chi phối các hoạt động của các công ty cổ phần, do đó được gọi là các công

ty cổ phần quốc doanh Người thay mặt Nhà nước với tư cách là một cổ đông trong Hội đồng Quản trị có vai trò, quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng hơn so với vai trò chủ sở hữu gắn với bộ máy Nhà nước và viên chức Nhà nước Ngoài ra do cũng là công ty cổ phần nên nó có đầy đủ các vai trò, đặc điểm của công ty cổ phần

I.4.2 Công ty cổ phần liên doanh với nước ngoài

Công ty cổ phần liên doanh là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ đầu tư của nước ngoài Do đó, với một nền kinh tế đang phát triển như

ở nước ta hiện nay, sự ra đời của công ty cổ phần liên doanh với nước ngoài là đặc biệt quan trọng Điểm khác cơ bản của loại hình công ty cổ phần này so với các công ty cổ phần quốc doanh là sự tham gia của các cá nhân, tổ chức nước ngoài vào mọi bộ phận công ty Mặc dù vậy, do nước ta định hướng phát triển một nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước nên trong các công ty cổ phần, loại này về cơ bản vẫn là Nhà nước nắm cố phiếu khống chế

Trang 9

I.4.3 Công ty cổ phần có toàn bộ vốn nước ngoài.

Công ty cổ phần có 100% vốn nước ngoài là các công ty cổ phần do các cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài lập nên ở Việt Nam Đó cũng có thể

là một công ty cổ phần liên doanh với nước ngoài và sau một thời gian làm

ăn tại Việt Nam, các cá nhân hoặc tổ chức kinh tế nước ngoài dần dần nắm được toàn bộ số cố phiếu của công ty

Ta cũng cần phân biệt được công ty cổ phần với công ty hợp doanh

và công ty trách nhiệm hữu hạn – hai loại công ty đang tồn tại khá phổ biến

ở Việt Nam Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa chúng là công ty hợp doanh

và công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên không được phát hành cổ phiếu và trái phiếu trong quá trình kinh doanh Trong trường hợp thiếu vốn, công ty chỉ có thể huy động các cổ đông góp thêm mà thôi Việc đóng góp này do Đại hội cổ đông quyết định

II Vai trò của công ty cổ phần đối với sự phát triển kinh tế ở

nước ta hiện nay.

II.1 Vai trò của công ty cổ phần đối với nền kinh tế quốc dân

Với những đặc điểm rất riêng của mình, công ty cổ phần có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân,

cụ thể là:

- Công ty cổ phần có khả năng tập trung vốn nhanh chóng với quy mô lớn để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh khổng lồ

mà không nhà tư bản riêng biệt nào có thể tự mình làm được Các Mác

đã đánh giá vai trò này của công ty cổ phần: “Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích lũy làm cho một nhà tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn

Trang 10

không có đường sắt Ngược lại, qua công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được việc đó chỉ trong nháy mắt”

- Công ty cổ phần góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn bởi:

+ Do hình thức tự cấp phát tài chính bằng huy động vốn, công ty

cổ phần đã đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp, nâng cao sự quan tâm đến sử dụng hiệu quả nguồn vốn Mặt khác, do sức ép của cổ đông do việc đòi hỏi chia lãi cổ phần và muốn duy trì giá cổ phiếu cao trên thị trường chứng khoán khiến doanh nghiệp phải phấn đấu nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn

+ Do lợi nhuận của các công ty cổ phần là khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau thúc đẩy nên tiền vốn nhàn rỗi từ nhiều kênh khác nhau trong xã hội có thể được đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực có năng suất lao động và tỷ suất lợi nhuận cao làm cho vốn được phân bố

và sử dụng có hiệu quả trong nền kinh tế

- Công ty cố phần tạo ra một cơ chế phân bố rủi ro đặc thì đã hạn chế được những tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng Chế độ đã tự hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại của rủi ro thua lỗ Vốn tự có của công ty huy động thông qua việc phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông, do đó rủi ro được san sẻ Nhờ vậy, nếu công ty cổ phần phá sản, hậu quả về mặt kinh tế xã hội được hạn chế ở mức thấp nhất Cách thức huy động vốn của công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu ở các công ty ở nhiều ngành khác nhau, do

đó có thể giảm bớt được tổn thất khi công ty bị phá sản so với việc đầu

tư vào một công ty Cơ chế phân bố rủi ro này đã tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và có xu hướng ổn định hơn

Trang 11

- Việc phát hành chứng khoán của công ty cổ phần cùng với việc chuyển nhượng mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời của thị trường chứng khoán – trái tim của thị trường vốn Ý nghĩa căn bản của thị trường chứng khoán là ở chỗ, đó là nơi các nhà kinh doanh có thể tìm được nguồn tài trợ cho hoạt động đầu

tư sản xuất kinh doanh, là nơi khai thác các nguồn tiết kiệm của những người tích lũy đến các nhà đầu tư, là cơ chế phân bố các nguồn vốn đầu

tư phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường, và còn là cơ sở quan trọng để Nhà nước qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu lựa chọn

- Công ty cổ phần đảm bảo sự tham gia của đông đảo công chúng, lại có cơ cấu tổ chức quản lí chặt chẽ, phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh nên đã tạo điều kiện cho người lao động tham gia quản lý công ty một cách thực sự, sử dụng được những giám đốc tài năng, đảm bảo được quyền lợi, lợi ích và trách nhiệm của chủ sở hữu, đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội, giúp mọi người được làm việc ở vị trí thích hợp để có thể phát huy hết tài năng sáng tạo vốn có của mình

- Công ty cổ phần là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ sự tham gia đầu tư của nước ngoài Với một nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế đang phát triển thì việc thu hút được nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lí thông qua liên doanh liên kết với nước ngoài là vô cùng cần thiết để phát triển kinh tế trong nước

Đó chính là những đặc điểm nổi trội khiến cho công ty cổ phần có một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

Trang 12

II.2 Vai trò của công ty cổ phần đối với sự phát triển kinh tế ở nước ta.

Công ty cổ phần ra đời và phát triển khá sớm ở các nước tư bản chủ nghĩa Ở nước ta, công ty cổ phần xuất hiện muộn hơn nhiều Chỉ từ sau Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI, với việc thực hiện chủ trương đổi mới quản lí kinh tế của Đảng và Nhà nước là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, ở nước ta mới xuất hiện một số công ty cổ phần với quy mô nhỏ và trình độ thấp trong giai đoạn sơ khai Từ đó đến nay, công ty cổ phần phát triển tương đối mạnh mẽ và đã khẳng định được vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế Việt Nam

Ở Việt Nam, điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế là cần huy động được nguồn vốn lớn Huy động vốn trong nhân dân vừa là giải phảp cấp bách, vừa là giải pháp cơ bản trong chiến lược tạo vốn cho từng doanh nghiệp hiện nay Điều này chỉ thực hiện được thông qua công ty cổ phần bởi so với công ty cổ phần thì hai hình thức huy động vốn chủ yếu ở nước ta hiện nay là hệ thống quỹ tiết kiệm và tín phiếu kho bạc còn nhiều nhược điểm (cả với người gửi và người cho vay) Thứ nhất, huy động vốn qua hệ thống tiết kiệm, tín dụng thì chi phí

và lãi suất cao gây khó khăn cho người sử dụng vốn vì phải thông qua nhiều khâu chi phí nghiệp vụ và lợi tức tăng lên Huy động vốn thông qua công ty cổ phần giảm được chi phí không cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng vốn cũng như bảo vệ quyền lợi người có vốn Thứ hai, gửi tiền vào quỹ tiết kiệm hoặc mua tín phiếu tuy có lãi suất ổn định, hạn chế phần nào rủi ro nhưng người có vốn hoàn toàn mất khả năng chi phối việc sử dụng vốn, không được hưởng những may mắn của việc sử dụng đồng vốn đó Khi mua cổ phiếu, tuy phải chịu sự rủi ro ở mức độ nhất định

Ngày đăng: 08/11/2018, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w