“Khủng hoảng Tài chính tiền tệ Chính là sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường Tài chính tiện tệ kéo theo sự vỡ nợ vủa hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính do sự sụt giảm nha
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là cuộc khủng lớn nhất trên thế
giới kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất lịch sử của thế giới trong những năm 30 của thế kỷ XX, nó đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế nước Mỹ và lan rộng ra toàn cầu làm ảnh hưởng xấu đến toàn
bộ hệ thống tài chính và sự tăng trưởng kinh tế thế giới Kể từ khi cơn lốc của cuộc khủng hoảng đi qua cuốn theo rất nhiều quốc gia vào vòng xoáy của nó, đến bây giờ cuộc khủng hoảng đã tạm qua đi, tình trạng thị trường đã trở nên
ổn định hơn, quá trình khôi phục diễn ra mạnh mẽ
Hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc nghiên cứu khủng hoảng, triển vọng và tác động của nó trong bối cảnh đất nước đang tham gia ngày càng sâu rộng hơn và liên kết khu vực, hội nhập với
quốc tế Đề tài đã đặt vấn đề nghiên cứu cuộc khủng hoảng và chiều hướng
diễn biến của nó, em nghiên cứu đề tài tập trung vào phân tích những tác động của cuộc khủng hoảng đến nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng, đề từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Em rất mong nhận được những đóng góp của các thầy cô để bài tiểu luận của em được hoàn chỉnh.Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2A KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
1 “Khủng hoảng Tài chính tiền tệ
Chính là sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường Tài chính tiện
tệ kéo theo sự vỡ nợ vủa hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính do sự sụt giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả là sự đông cứng và bất lực n cảu thị trường tài chính sự sụt giảm nghiêm trọng các hoạt động kinh tế”
Khủng hoảng Tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ,bổn phận tài chính của mình Khủng hoảng Tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với nguồn
cung Nhu cầu tiền mặt của người dân hay của nhà dầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán sụp đổ
2 Một số dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế tài chính:
Tùy theo mức độ vi phạm, khủng hoảng tài chính thể hiện qua các điểm sau đây:
Tỷ giá hối đoái tăng đột biến và dây chuyền
Lãi suất tín dụng gia tăng: Lãi suất tăng kéo theo cầu tiền tệ,cầu tín dụng giảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị suy giảm
Hệ thống ngân hàng bị tê liệt
Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng
Các hoạt động kinh tế bị suy giảm
B CUỘC KHỦNG HOẢNG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH MỸ
1.Những mốc sự kiện chính
Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ tình trạng bong bóng của thị trường nhà đất ở Mỹ (tình trạng này diễn ra khoảng năm 2005 - 2006) với những khoản vay dưới chuẩn có nguy cơ rủi ro cao và các khoản thế chấp có lãi suất điều chỉnh Từ vài năm trước đó, giá nhà tăng cao cùng với việc được phép vay với
Trang 3điều kiện rất đơn giản, nhiều khách hàng đã tranh thủ tiền của các ngân hàng đầu tư để đầu cơ vào bất động sản với hi vọng kiếm được nhiều tiền từ các khoản mua bán chênh lệch
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểu hiện rõ nét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó Điểm lại những mốc sự kiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào
Năm 2007:
Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn ước tính cao nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chức cho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở
bi tịch thu để thế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006
Ngày 05/02 Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong
số các nhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô la thời điểm quý 3 năm 2006, tuyên bố phá sản
Ngày 02/04 New Century Financial, nhà cho vay dưới chuẩn lớn nhất
Mỹ, tuyên bố phá sản
Tháng 6: Hai quỹ phòng hộ (hedge fund - một loại quỹ có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặt) của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ - quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ
Ngày 19/07: Chỉ số Dow Jones đóng cửa với mức 14.000 điểm, lần đầu tiên trong lịch sử
-Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng khoán dựa trên các khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh mục vốn đầu tư và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân hàng Trung Quốc Nhiều nhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà Cục
dữ trữ liên bang đã cho các ngân hàng vay 100 tỷ đô la với lãi suất thấp
Trang 4-Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhất nước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la
từ một nhóm các ngân hàng khác
-Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50 điểm cơ bản từ mức 6.25% xuống 5.75%
-Ngày 15/10: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công
bố lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11
-Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông báo lập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm
do khủg hoảng vay dưới chuẩn Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Ben Bernake
và Bộ trưởng Bộ tài chính Mỹ đều đưa ra những cảnh báo về mối nguy hiểm của việc vỡ bong bóng bất động sản
-Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4,5%
-Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay với lãi suất thấp Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể
từ 19 tháng 9 năm 2001 (50.35 tỷ đô la)
Năm 2008:
-Ngày 11/01: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi
và vốn hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn
-Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu để tránh phá sản Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la
để trợ giúp các khoản lỗ của Bear Stearn
Trang 5-Ngày 11/07: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac Bancorp Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày
-Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáo thua lỗ lên đến 435 tỷ đôla
-Ngày 07/09: Cục Dự trữ Liên bang (Fed) và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ
-Ngày 11/09: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chính mình Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%
-Ngày 14/09: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers
-Ngày 15/09: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào tháng 9/2001 Ngân hàng Lehman Brothers tuyên bố phá sản Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở
Mỹ bao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất
kể từ sau sự kiện 11/9/2001 Cũng trong ngày đó, Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American International Group - tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố
-Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công ty này tránh phá sản
-Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của Bộ trưởng tài chính
Paulson trị giá 700 tỷ đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tín dụng Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này
Trang 6- Ngày 26/09: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhẩt Mỹ được chính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase& Co với giá 1.9 tỷ đôla
-Ngày 29/09: QH Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ
do bộ Tài chính Mỹ đề xuất
-Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng cho vay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán
lẻ cho đối thủ Citigroup
-Ngày 23/11 trong một động thái chưa từng có, cả 3 cơ quan quản lý tài chính quan trọng nhất của Mỹ đồng thuận đưa ra gói giải pháp trị giá 20 tỷ USD và bảo lãnh toàn bộ nợ của Citigroup, nhằm kéo tập đoàn có ảnh hưởng toàn cầu này khỏi nguy cơ sụp đổ
-Ngày 25/11: Fed tuyên bố sẽ mua lại những khoảng cầm cố chứng khoán trị giá khoảng 500 tỷ USD của Fannie Mae, Fredddie Mac và cả
Ginnie Mae Thêm vào đó, khoảng 100 tỷ USD đã được bỏ ra để mua lại các khoảng nợ của Fannie, Fredddie và Federal Home Loan Banks
2.Nguyên nhân cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng lần này không phải là quá bất ngờ với giới tài chính Mỹ nói riêng và thế giới nói chung Nó là kết quả của một chuỗi những rủi ro liên tiếp mà chính các tổ chức tài chính, ngân hàng ở Mỹ tạo
ra cho chính mình
a Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này là sự suy sụp của thị trường bất động sản.
Hầu hết người dân Mỹ khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàg và trả lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài (20-30 năm) sau đó, với lãi suất thả nổi (điều chỉnh tăng theo thời gian) Do đó, có một sự liên hệ chặt chẽ giữa lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi lãi suất cao
Trang 7thì người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp Có 3 yếu tố chính tạo bong bóng thị trường bất động sản
Thứ nhất, từ đầu năm 2001, đặc biệt là sau cuộc khủng bố 11 tháng 9,
khi mà sau vụ khủng bố giá các cổ phiếu mỹ sụt giảm ,để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%
Hai là, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo có
nhà ở của Chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn được thực hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp, rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch
Ba là kế ước nhận nợ của người mua nhà trở thành một loại chứng
khoán (chứng khoán phái sinh), được ngân hàng thông qua người môi giới đưa vào giao dịch mua bán lại trên thị trường (thị trường thứ cấp) Trên thị trường mua đi bán lại, nhiều người đầu tư cá nhân thông qua người môi giới
đã bỏ tiền ra mua loại chứng khoán này mà họ không hiểu được nó là cái gì, chỉ biết hàng năm được tiền lãi
b Cho vay dưới chuẩn - nguyên nhân của sụp đổ thị trường bất động sản và cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.
Từ nhiều năm qua, các ngân hàng đầu tư Mỹ đã nới lỏng tối đa chính sách tín dụng cho các công ty và cá nhân mua bất động sản trả chậm Làm nảy sinh những dòng vốn vay giá rẻ và gia tăng một lượng lớn người đi vay
Trang 8tiền Trên thực tế, vốn vay rẻ sẽ làm mất đi ý thức phòng ngừa rủi ro của người đi vay Bên cạnh đó, việc cung cấp tín dụng dễ dàng như: không cần tài sản thế chấp, tỷ lệ trả trước rất thấp, chỉ cần có mã số thuế Hoạt động cho vay này thật sự không đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng nhưng vẫn được vay đã làm gia tăng rủi ro cho các ngân hàng, và bất động sản tăng giá họ sẽ được hưởng lợi Mặt khác các công ty tài chính cũng thực hiện hình thức cho vay này một cách rộng rãi và chuyển rủi ro qua ngân hàng
và nhà đầu tư thông qua một sản phẩm tài chính gọi là “mua lại các khoản nợ hay khoản phải thu”
Một lượng vốn đầu tư khổng lồ trên thế giới đã đổ vào thị trường bất động sản Mỹ và khi thị trường đóng băng vào giữa năm 2007, các vụ đổ vỡ dây chuyền đã xảy ra Các nhà đầu tư bất động sản vay tiền không đủ khả năng trả lãi vay, bất động sản không bán được, chứng khoán phát hành trên các khoản phải thu này sụt giá thê thảm, các ngân hàng không đủ khả năng trả các khoản nợ lâm vào tình trạng phá sản
Sản phẩm tài chính hiện đại nhưng nhiều rủi ro này chính là nguyên nhân cho cuộc khủng hoảng tài chính cho vay dưới chuẩn
c Một số nguyên nhân khác:
i. Mua bán khống
Khi giới đầu cơ đoán chắc rằng cổ phiếu của những tập đoàn dính líu đến cho vay dưới chuẩn sẽ sụt giảm, họ ồ ạt vay những cổ phiếu này rồi ồ ạt bán ra, tạo nên một áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãn nổi Sau khi giá giảm đến một mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm một ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn.Thậm chí, họ còn áp dụng cách thức mua bán khống đến hai lần (naked short sale), tức là không thèm vay chứng khoán nữa mà cứ ra lệnh bán theo kiểu “đánh xuống” vì lợi dụng khe hở, mua bán ba ngày sau mới giao cổ phiếu
ii Thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ
Trang 9Có tiền, các công ty cứ thoải mái cho người vay bằng tiền của các ngân hàng đầu tư cung cấp thông qua mua lại danh mục cho vay của các công
ty này Các ngân hàng này trên cơ sở danh mục cho vay vừa mua lại sẽ phát hành CK để vay tiền Danh mục cho vay được chia ra, ít rủi ro, rủi ro cao, tùy định mức tín nhiệm, nhà đầu tư tha hồ lựa chọn theo sự mạo hiểm của mình
Có loại CK không cần định mức tín nhiệm, có thể thu lãi cao nhưng rủi ro cũng lớn
Như vậy, rủi ro trong cho vay đã được chuyển từ bên cho vay là công
ty tài chính sang NH đầu tư Nhà đầu tư trên thế giới đã đổ tiền mua CK này, nhờ vậy đã cung cấp một lượng vốn khổng lồ cho thị trường bất động sản ở
Mỹ tăng nóng
iii Khủng khoảng niềm tin
Thị trường tài chính dựa trêm nguyên tắc độ tin cậy, và độ tin cậy đó đã
bị xói mòn, xuống cấp Sự sụp đổ của Lehman Brothers là biểu tượng đánh dấu mức độ tin cậy đã xuống một mức thấp mới và dư âm của nó sẽ còn tiếp tục Một ngân hàng tồn tại hơn 158 đã cùng người Mỹ trải qua rất nhiều khó khăn, trải qua các cuộc suy thoái cùng nước Mỹ lại sụp đổ Quả thật là một cú sốc lớn đối với toàn bộ người dân Mỹ
iv Sự lầm tưởng sức mạnh của nước Mỹ
Đã từ lâu từ sau chiến tranh thế giới thứ II người dân vẫn nghĩ họ là một quốc gia hùng mạnh với kinh tế “khỏe mạnh” Họ vẫn nghĩ mình là nước giàu
có hơn bất kỳ quốc gia nào Cùng với những hình thức thanh toán mới người tiêu dùng nhiều hơn trong khi bản thân họ không thể sản xuất đáp ứng được nhu cầu đó Hàng năm người dân Mỹ tiêu thụ một lượng hàng hóa mà họ không có khử năng chi trả khoảng 80 tỷ USD
Người dân MỸ không có xu thế tiết kiệm trước khi khủng hoảng diễn ra
Ví dụ là các công ty ôtô Mỹ khi các loại ôtô cùng loại của Nhật(Toyota, Honda…) và Châu Âu tốn ít xăng hơn thì những chiếc ôtô Ford, GM thường
Trang 103 Biện pháp khắc phục khủng hoảng.
- Quốc hữu hóa toàn bộ hoặc một phần ngân hàng và quỹ tư nhân
- Kiểm soát các quỹ đầu tư
- Mua cổ phần hoặc tài sản từ các tổ chức tài chính
- Bãi bỏ thuế đối với các khoản đầu tư nước ngoài
- Hạ lãi suất cơ bản
- Vay tiền từ tổ chức tài chính quốc tế
- Bảo lãnh tất cả các khoản tiền gửi, trái phiếu và nợ của một số ngân hàng lớn trong 02 năm
- Khuyến khích sáp nhập ngân hàng yếu kém
- Cho phép một số ngân hàng tuyên bố phá sản
- Mua lại các khoản nợ của các ngân hàng đang có vấn đề hoặc bị phá sản
- Cấp tiền cho ngân hàng để trả các khoản nợ nước ngoài
- Huy động tiền từ các nhà đầu tư toàn cầu để chống đỡ cơn khủng hoảng
- Nới lỏng quy định cho phép các công ty mua cổ phiếu của chính họ
tuy nhiên không phải biện pháp nào cũng áp dụng cho việt nam vì còn tùy thuộc vào sức mạnh của nên kt và từng thời ký nhất định
C ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
I Tác động tới nền kinh tế Việt Nam
1) tác động ngắn hạn :
+ Lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế đang tăng Nó có thể ảnh hưởng tới nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp
+ Khủng hoảng tài chính của Mỹ có thể làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giảm mạnh vì hai lý do (1) Là hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng thô, trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ, và (2)