Cùng với sự đổi mới ấy thì giáo viên THCS trong cả nước nói chung, ở các trường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới phương pháp dạy học do Sở, Phòng giáo dục và đào tạo tổ chức, nội dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới theo quan điểm dạy học tích hợp giáo dục các kĩ năng thực hành cho học sinh.
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TP BUÔN MA THUỘT
TRƯỜNG THCS TRƯNG VƯƠNG
MỤC LỤC - góg -
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3 Đối tượng nghiên cứu
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 2Trang 4Trang 4Trang 4Trang 5
2
PHẦN HAI
II PHẦN NỘI DUNG:
1 Cơ sở lí luận của đề tài.
2 Cơ sở thực tiễn của đề tài.
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
c Điều kiện thực hiện giải pháp
d Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
e Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
5 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị của vấn đề nghiên cứu.
Trang 6Trang 7Trang 9
Trang 10Trang 11Trang 12
Trang 13Trang 14
Trang 22Trang 22Trang 23Trang 24
Trang 2PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TP BUÔN MA THUỘT
TRƯỜNG THCS TRƯNG VƯƠNG góg
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP SOẠN VÀ DẠY TIẾT LUYỆN NÓI
TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN 9.
Để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ này đồng thời thực hiện một trong nhữngphương pháp đổi mới là phương pháp dạy học theo hướng tích hợp rèn luyện các kĩnăng cho học sinh
Cùng với sự đổi mới ấy thì giáo viên THCS trong cả nước nói chung, ở cáctrường trong tỉnh, trong huyện đã được tham dự các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyênmôn nghiệp vụ về đổi mới phương pháp dạy học do Sở, Phòng giáo dục và đào tạo tổchức, nội dung triển khai một số phương pháp, kĩ thuật dạy học mới theo quan điểmdạy học tích hợp giáo dục các kĩ năng thực hành cho học sinh
Theo quan điểm dạy học tích hợp, việc tích hợp dạy kiến thức Ngữ văn với rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là rất quan trọng Nghe và đọc là hoạt động tiếpnhận thông tin còn nói và viết là hai kĩ năng truyền đạt thông tin
Nói thành lời thì dễ nhưng nói thế nào để mang tính thuyết phục đối với ngườinghe thì càng khó hơn vì thế mà việc dạy luyện nói cho học sinh trong nhà trườngxuất phát từ những yêu cầu chung đó Qua kỹ năng nói hình thành năng lực cảm thụ,năng lực bộc lộ, biểu đạt tư tưởng, tình cảm bằng ngôn ngữ nói, từ đó học sinh quantâm hơn đến việc hình thành năng lực nói và năng lực làm văn
Một trong những phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp bản thân tôicảm nhận được qua quá trình giảng dạy và tích lũy kinh nghiệm thì dạy học vănkhông chỉ giúp học sinh cảm thụ văn chương qua cảm xúc, từ cảm xúc ấy viết ra từngtrang giấy mà với mong muốn cao hơn của môi trường giáo dục hiện nay đó là khảnăng cảm nhận và rèn luyện kĩ năng nói
Theo cá nhân tôi dạy học theo quan điểm giao tiếp, rèn kĩ năng nói là một trongnhững tư tưởng quan trọng của chiến lược dạy học các môn ngôn ngữ ở trường phổthông, nội dung của quan điểm này là lấy hoạt động giao tiếp là một trong những căn
Trang 3cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe,nói, đọc, viết cho người học
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp tích cực “Thầy chủ đạo học trò chủ động” đã làm cho giờ học sôi nổi hơn, giáo viên thoải mái hơn so với
trước đây: Thầy đọc, trò chép, trò thụ động tiếp thu kiến thức
Trong thực tế trước kia và cả bây giờ, dù đã đổi mới nhiều nhưng chỉ chủ yếu ởcác phân môn: Văn học và tiếng Việt còn tập làm văn, đặc biệt là các giờ thực hành,luyện nói trong giờ tập làm văn tính chủ động của học sinh vẫn còn ít Đặc biệt hơntrong các tiết luyện nói, mặc dù có chú trọng 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho họcsinh, song hầu như kĩ năng nói của học sinh còn rất yếu Chính vì vậy mà cứ đến tiếtluyện nói là các em rất lo lắng, băn khoăn, rụt rè, chỉ sợ mình bị thầy cô giáo gọi lênnói trước lớp
Mặt khác, trong các giờ chuyên đề hoặc thi giáo viên dạy giỏi các cấp, thườngkhông đề cập tới tiết luyện nói
Xuất phát từ yêu cầu thực tế và qua quá trình giảng dạy của bản thân tôi từtrước đến nay thì chưa có trường nào, giáo viên nào đưa ra một mẫu chung của mộttiết dạy hay một tiết giáo án luyện nói nhưng với niềm mong muốn chia sẽ tôi mạnhdạn quyết định nghiên cứu và đưa ra những ý tưởng nho nhỏ của mình qua quá trình
áp dụng phương pháp dạy tiết luyện nói trong ngữ văn lớp 9 và cụ thể là:
“Phương pháp soạn và dạy tiết luyện nói trong phân môn tập làm văn lớp 9”
Trong quá trình nghiên cứu và biên soạn theo chiều hướng của một cá nhân vềmột vấn đề có lẽ không tránh khỏi thiếu sót
Kính mong hội đồng thẩm định sáng kiến trường THCS Trưng Vương, phònggiáo dục và đào tạo TP Buôn Ma Thuột và hội đồng thẩm định UBND TP và bạn bèđồng nghiệp góp ý để đề tài này của tôi hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 42 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
a Mục tiêu chung của đề tài:
Mục tiêu của dạy học môn Ngữ văn và đăc biệt phương pháp dạy kĩ năng nóitrong bộ môn là hình thành những con người có ý thức, có tư tưởng tình cảm cao đẹp,
có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ và đặc biệt là có khả năng thích ứngvới cuộc sống năng động trong xã hội hiện đại từ đó vận dụng khả năng diễn ngôn củamình một cách lưu loát, mạch lạc
Nghiên cứu góp một ý kiến nhỏ vào việc đổi mới phương pháp và nâng caochất lượng giảng dạy tiết luyện nói trong phân môn tập làm văn ở lớp 9 nói riêng vàphân môn Ngữ văn THCS nói chung
b Nhiệm vụ của đề tài:
Đưa ra những kinh nghiệm, sáng kiến của bản thân đã đúc rút qua quá trình ápdụng theo các phương pháp trong khi dạy tiết luyện nói trong phân môn tập làm vănlớp 9
Tham vọng hơn là được áp dụng cho tất cả tiết luyện nói trong phân môn tậplàm văn THCS Nhằm đẩy mạnh hơn nữa chất lượng và kết quả của môn Ngữ văntrong các năm tới
Với đề tài này không những giúp học sinh nắm vững và chắc các kiến thức về
các kiểu bài tập làm văn trong chương trình mà qua đó còn rèn cho học sinh hìnhthành 4 kĩ năng cơ bản nghe, đọc, nói, viết, đặc biệt là kĩ năng nói
Học sinh từ chỗ còn lo lắng, rụt rè, nói còn ngập ngừng vấp váp đến chỗ nói tốthơn, lưu loát, ngừng nghỉ đúng chỗ, hơn nữa nói có kết hợp với ánh mắt cử chỉ, thái
độ, tình cảm
Không những thế, qua tiết luyện nói còn phát hiện được chỗ yếu của học sinh,giúp học sinh khắc phục được những điểm yếu để viết tốt bài tập làm văn Từ đó cóthể rèn luyện cho học sinh khả năng thể hiện, bộc lộ, giao tiếp của mình trong nhàtrường và ngoài xã hội góp phần nâng cao chất lượng bộ môn cũng như chất lượngchung của toàn trường
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng là học sinh khối lớp 9 cụ thể
- Lớp 9A Năm học 2011 - 2012
- Lớp 9B Năm học 2012 - 2013
Trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai – TP Buôn Ma Thuột - Tỉnh Đắk Lắk
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Phân môn tập làm văn trong chương trình Ngữ vănlớp 9
- Việc vận dụng các phương pháp trong quá trình dạy tiết luyện nói trong phânmôn tập làm văn 9
- Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 9 trường THCS Nguyễn Thị MinhKhai
Trang 55 Phương pháp nghiên cứu:
- Với quá trình giảng dạy ở môn Ngữ văn 9, vừa tiếp thu học hỏi, vừa thâm nhậpthực tế qua những giờ lên lớp dạy bộ môn Ngữ Văn ở các khối lớp, bản thân tôi tựhọc hỏi đồng nghiệp trong và ngoài trường tìm phương pháp để phát huy có hiệu quảtiết dạy, chủ yếu chú trọng tiết luyện nói
-Từ tình hình học tập của học sinh qua các tiết luyện nói, qua ý kiến của đồngnghiệp, hoạt động của nhóm chuyên môn
- Nghiên cứu một số chuyên đề về công tác đổi mới phương pháp dạyhọc
- Khai thác các thế mạnh của học sinh trong quá trình vận dụng phương pháp dạytiết luyện nói
- Học hỏi, lắng nghe ý kiến của bạn bè đồng nghiệp qua quá trình bản thân dạy, dự
giờ 1tiết luyện nói và tổ chức chuyên đề “Phương pháp dạy một tiết luyện nói trong phân môn ngữ văn 9” Tại trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai năm học
2009-2010 tại lớp 9A
Từ đó, tôi đúc kết kinh nghiệm và trong điều kiện cho phép xin mạnh dạn để viếtlên sáng kiến nhỏ này
Trang 6PHẦN HAI:
PHẦN NỘI DUNG 1a Cơ sở lí luận của đề tài.
Như chúng ta đã biết môn Ngữ văn có đặc thù riêng là chia làm 3 phân môn là:Văn học, tiếng Việt và tập làm văn Tuy có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ, rènluyện cho học sinh kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết nhưng chúng có vị trí tương đối độclập bởi mục tiêu riêng biệt của từng phân môn Theo đó ba phân môn có những nhậnthức khác biệt, do đó cũng có phương pháp dạy học đặc thù
Với môn Ngữ văn 9 vì đã trải qua một quá trình rèn luyện và sử dụng thành thạotiếng Việt với bốn kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết qua đó mà đến năm lớp 9 nàythì giáo viên có thể hình thành mức độ tư duy cho học sinh có hiểu biết nhất định vềtri thức ngôn ngữ, kĩ năng riêng để các em có ý thức vận dụng đúng đắn và làm trongsáng ngôn ngữ của ta
Trên cơ sở đó mà làm cho các em yêu quí môn Ngữ văn hơn, say mê hơn trongquá trình học Trước tình hình đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng ta phải khôngngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phương pháp soạn giảng để trong mỗi tiết dạy, họcsinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩnhiều hơn trên con đường chủ động chiếm lĩnh kiến thức
Mặt khác, nói đến phương pháp dạy học là nói đến cách dạy của người thầy.Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là một môn học có vị trí quan trọng
Vì đây là môn học vừa mang tính công cụ, vừa là môn học mang tính nghệ thuật, lại
là môn học mang tính nhân văn rất cao
Bởi vậy, để học sinh học tốt môn Ngữ Văn ở trường phổ thông nói chung, ngườigiáo viên phải chú trọng đến phương pháp dạy học, phải tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu
và áp dụng những hình thức, biện pháp tổ chức dạy học mới, hiện đại, sinh động, đưahọc sinh đến với môn học này một cách tự giác, bằng niềm say mê thật sự Có như thếmới đáp ứng được yêu cầu của môn học mang đậm tính nhân văn này
Đặc biệt hơn là trong quá trình dạy người thầy phải chú ý đến kĩ năng luyện
ngôn ngữ cho học sinh vì ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát
triển theo sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức
và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người Nhờ có ngôn ngữ, con người mới cóphương tiện để nhận thức và thể hiện nhận thức của mình, để giao tiếp và hợp tác vớinhau…
Vì thế tiết “Luyện nói” là một tiết học vô cùng quan trọng đối với học sinh
THCS Qua tiết luyện nói giáo viên luyện cho học sinh biết vận dụng từ ngữ và cácquy tắc ngữ pháp cơ bản đã học để nói đúng, viết đúng, biết diễn đạt ý tưởng chínhxác, rõ ràng, trong sáng Hơn nữa giáo viên còn rèn luyện cho học sinh các mặt cụ thể
Trang 7về lời nói (phải rõ nghĩa, rõ ý), giọng nói (phải vừa nghe, vừa cố gắng truyền cảm) và
tư thế nói (phải mạnh dạn, tự tin giúp cho lời nói có sức thuyết phục hơn).
Nói năng tốt có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các em không chỉ trong thờigian học tập ở trường mà còn trong suốt thời gian sống và làm việc sau này
Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh là một việc khó, nhưng dù khó thế nào, yêucầu kĩ năng nói cũng phải luôn luôn được coi trọng Nếu như nghe và đọc là hai kĩnăng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin, thì nói và viết là hai kĩ năng quantrọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cần được rèn luyện và phát triển trongnhà trường
Luyện nói trong nhà trường là giúp cho học sinh có thói quen nói trong những
môi trường giao tiếp khác nhau Nó được thực hiện một cách hệ thống, theo nhữngchủ đề nhất định, gắn với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày
Nói đến sự phát triển của xã hội không thể không nói đến vai trò đặc biệt quantrọng của ngôn ngữ
Hiện nay, các nước trên thế giới rất coi trọng dạy học theo quan điểm giao tiếp.Đây là một trong những tư tưởng quan trọng của chiến lược dạy học các môn ngônngữ ở trường phổ thông, lấy hoạt động giao tiếp là một trong những căn cứ để hìnhthành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe, nói, đọc, viết Nếu người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn học sinh chủ động khám pháchiếm lĩnh tác phẩm văn chương, thì người học (học sinh) phải tự mình bộc lộ sự hiểubiết, phải biết phát triển tư duy thành lời - ngôn bản
Muốn cho người nghe hiểu cho được thì người nói phải nói cho tốt, có nghĩa lànói phải mạch lạc, logic, phải bảo đảm các qui tắc hội thoại, phải chú ý đến các cửchỉ, nét mặt, âm lượng…
Vì thế, luyện nói là việc rất quan trọng trong quá trình dạy - học văn, là biệnpháp góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của giờ dạy học Ngữ văn
Luyện nói tốt sẽ giúp người học sẽ có được một công cụ giao tiếp hiệu quảtrong cuộc sống xã hội
1.b Cơ sở thực tiễn của đề tài:
Tục ngữ có câu “Học ăn, học nói, học gói, học mở Không ngẫu nhiên mà
“học nói” được xếp vào vị trí thứ hai của câu nói Điều này cho thấy nói cũng là một
kĩ năng rất quan trọng trong giao tiếp hàng ngày Trên thực tế, việc dạy học môn Ngữvăn hiện nay rất coi trọng cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết nhưng bản thân tôi trongthực tế giảng dạy ở trường thuộc địa bàn vùng ven thành phố, đa số học sinh còn hạnchế kỹ năng nói trước tập thể, rất ngại nói, không tự tin khi nói trước đông người
Đối với học sinh ở trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai tỉ lệ học sinh dân tộcthiểu số chiếm tỉ lệ cao phần tiếp thu còn nhiều hạn chế Hơn nữa, do thời gian thảo
Trang 8luận cũng như luyện nói bố trí quá ít so với nội dung yêu cầu, một vài giáo viên chưachú trọng khâu luyện nói cho học sinh Chính vì thế mà hoạt động nói của học sinhchưa đáp ứng yêu cầu mong muốn.
Ở một vài giáo viên việc dạy tiết luyện nói rơi vào đơn điệu, bởi giáo viên chỉ sửdụng hệ thống câu hỏi phát vấn, đàm thoại Những học sinh được luyện nói đa số làhọc sinh khá giỏi Còn những em học sinh trung bình, yếu kém thì vẫn cứ trầm lặng,nhút nhát
Việc tăng cường tính hợp tác để tạo hứng thú cho những đối tượng đó hầu nhưkhông có và cứ như thế thì nhiều học sinh không có cơ hội để rèn kĩ năng nói
Nhiều giáo viên tuy đã có sự chú ý rèn kĩ năng nói cho học sinh song còn lúngtúng trong khâu soạn giảng cũng như qui trình các hoạt động lên lớp Một phần cũng
do sách giáo viên, sách chuẩn kiến thức… không có hướng dẫn cụ thể (nhất là ở tiết luyện nói)
Khi giáo viên có sự đầu tư cho tiết dạy và hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị chuđáo thì việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm trong giờ học tiết luyện nói đạt hiệuquả cao Không khí học tập của học sinh khác hẳn khi giáo viên thuyết giảng, lúc này
ở các em lộ rõ sự thích thú, đa số các thành viên trong nhóm có vẻ háo hức và nói một
cách tự nhiên Tất cả như có một “luồng điện vô hình” nào đó được lan truyền cho cả
lớp làm nóng lên không khí học tập Nhiều em giơ tay xin được trình bày kết quả thảoluận, được trình bày những điều mà nhóm đã phát hiện, cảm nhận tổng hợp và thật làthoả mãn với những kiến thức được chắt lọc rút ra từ chính sự hiểu biết của các em
Đó cũng là lúc giáo viên có điều kiện để điều chỉnh và phấn khích các em học tập.Thực tế đựợc giáo viên quan tâm sẽ giúp cho các em thêm sự tự tin vào khả năng củamình là phải học tập tốt hơn, cố gắng hơn để được phát biểu, nói trước lớp trong lầnsau
Để tạo được động lực niềm tin nhằm kích thích ý thức học tập bộ môn Ngữ văn
và đăc biệt là giờ luyện nói của các em trước hết người thầy giáo phải là người tìm rađược những biện pháp tối ưu kích thích khả năng nói để học sinh nói ra được nhữngđiều mình tư duy, cảm thụ trong giờ học văn bản cũng như trong tiết luyện nói
Đây cũng là kĩ năng vừa giúp các em thể hiện mình, tự bày tỏ những suy nghĩcảm xúc những điều cảm thụ, phân tích, đánh giá một cách tự tin trứơc tập thể Vừa làbiện pháp có khả năng khắc phục đựơc những khó khăn, thực trạng mà chúng ta đangquan tâm Từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn
Trên cơ sở nắm vững những lí luận cơ bản đó, tôi mạnh dạn đưa ra ý kiến
cá nhân của mình về vận dụng các Phương pháp dạy tiết luyện nói trong phân môn tập làm văn 9 để đào tạo ra những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống
xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước
2 Thực trạng:
Trang 9Trong cuộc đời làm nhà giáo, ai ai cũng trăn trở làm thế nào để có thể đemđến cho học sinh một khối lượng kiến thức thật nhiều, thật sâu và một sự hứng thúhọc tập? Làm thế nào nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn mình? Một loạtcâu hỏi và tất cả nỗi trăn trở đó đã thôi thúc, giúp ta tìm ra phương pháp tối ưu chomỗi bản thân mình
Muốn thế thì mỗi chúng ta phải nhìn thấy được thực trạng của trường mìnhdạy của địa phương, môn học… từ đó mới tìm ra giải pháp hữu hiệu
Bản thân tôi là một giáo viên qua nhiều năm trực tiếp làm công tác giảngdạy môn ngữ văn bậc học THCS ở trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai và đặc biệtdạy Ngữ văn khối 9 Tôi nhận thấy thực tế của việc nói và viết văn của học sinh hiệnnay còn yếu Đặc biệt là kĩ năng nói, kĩ năng nói một vấn đề trước tập thể, đám đônglại càng khó hơn
Trước thực tế đó, tôi không khỏi lo lắng vì hiệu quả bài nói kém, nhiều họcsinh còn sợ sệt, rụt rè, nói vấp váp, thậm chí không nói được, không phân biệt đượcgiữa nói và đọc; hoặc nếu bị thầy cô buộc phải nói thì học sinh làm cho lấy có, nóicho nhanh rồi xuống để đối phó với thầy cô giáo mà bài nói ấy theo một trình tự, hệthống nào cả, biến giờ luyện nói như một giờ tập làm văn không chú ý đến vấn đề nói
Từ những trăn trở trên, tôi đã nghiên cứu, tìm ra những phương pháp
nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy “Luyện nói trong phân môn Tập làm văn lớp 9”
Đứng trước thực trạng đó bản thân cũng nhìn thẳng vào những mặt mạnh,
yếu, thuận lợi khó khăn của vấn đề để xác định những giải pháp hợp lý để đưa vàoứng dụng, tôi đã thấy được những thuận lợi và khó khăn sau:
- Có BGH quan tâm nên việc chỉ đạo kịp thời các vấn đề liên quan tới bộ môn
- Bản thân được đào tạo trên chuẩn, luôn có ý thức học hỏi, tiếp thu cái mớiluôn luôn nghĩ và tìm ra các phương pháp để mục đích cuối cùng là đẩy mạnh chấtlượng bộ môn Ngữ văn
- Đối tượng học sinh lớp 9 đã có ý thức học tập tốt hơn so với các lớp dưới
- Việc học Ngữ văn nhìn chung trong những năm gần đây đã có biến chuyểntrong tâm thức của các em vì nó là trong những môn dự thi vào THPT
* Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi đó khi nghiên cứu đề tài này tôi còn gặp những khó khăn không nhỏ
Trang 10Đối tượng học sinh trong nhà trường có trình độ tiếp thu chênh lệch không
đồng đều nhau nhiều (Tỉ lệ học sinh đồng bào tương đối cao)
Chất lượng đầu vào còn thấp (Cụ thể một số em vào lớp 6 nhưng đọc chưa đọc
thông, viết chưa thạo còn bị sai lỗi chính tả rất nhiều) Nên việc dạy truyền thụ kiến
thức của thầy và cảm thụ văn chương sẽ rất khó
Nhiều em còn chây lười đặc biệt là thực hiện “4 không’’: không soạn bài, khônghọc bài, không làm bài, không phát biểu ý kiến xây dựng bài…
Một số gia đình học sinh chưa thật sự quan tâm, nhắc nhở và giám sát nên các
em bỏ học, sa đà vào những trò chơi game, dẫn đến sao nhãng việc học
Một số ít giáo viên còn chạy theo thành tích: coi thi, chấm thi chưa nghiêmtúc…
Một số ít giáo viên chưa chú trọng đến việc dạy tích hợp rèn luyện các kĩ năngthực hành, kĩ năng luyện nói, kĩ năng làm chủ bản thân… cho học sinh
Đứng trước những thuận lợi và khó khăn trên thì đề tài này cũng có những thành công và hạn chế
b Thành công - hạn chế:
* Thành công
“Vận dụng các phương pháp dạy tiết luyện nói trong phân môn tập làm văn
9 để đào tạo cho học sinh là những người năng động, mạnh dạn trước đám đông,
không rụt rè e ngại
- Giúp rèn luyện cho học sinh các kĩ năng làm chủ bản thân
- Để tạo được động lực niềm tin nhằm kích thích ý thức học tập bộ môn Ngữ văn
- Phát huy tối đa tính tích cực của chủ thể là học sinh
- Phát huy được các thế mạnh của hoạt động nhóm hoạt động tổ
- Chú trọng và quan tâm được cả ba đối tượng học sinh (giỏi – khá; trung bình;yếu - kém)
Tạo được không khí tự nhiên, thoải mái, nhẹ nhàng và lựa chọn nội dung hấp dẫn
để lôi cuốn các em vào hoạt động luyện nói
Thể hiện được thái độ khích lệ, động viên, nâng đỡ để tránh cho em cảm giác tự
ti, xấu hổ
Nếu ta vận dụng phương pháp dạy tiết luyện nói phù hợp thì biến tiết luyện nói
là một giờ giải lao trao đổi bình luận về một vấn đề cần quan tâm đó là văn chươnghay một vấn đề liên quan đến học tập hoặc kĩ năng sống của bản thân
Từ những thành công thì đề tài trên còn gặp những hạn chế
* Hạn chế:
Từ trước tới nay, hầu như các trường, phòng giáo dục rất hiếm tổ chức chuyên
đề về việc dạy và học tiết luyện nói trong chương trình Ngữ văn THCS
Chưa có sách nghiên cứu riêng về phương pháp dạy tiết luyện nói
Trong sách chuẩn kiến thức cũng chưa có một cái chuẩn về dạy và soạn tiếtluyện nói
Trang 11Giờ luyện nói trên lớp là học sinh thường nói như đọc (học thuộc lòng bài nói
rồi lên lớp đọc lại) làm cho việc nói, trình bày thiếu tự nhiên, thiếu tư thế và tác
Tiết 29 - Tuần 8 - Bài 7: Luyện nói kể chuyện
Tiết 43 - Tuần 11 - Bài 11: Luyện nói kể chuyện
Tiết 83, 84 - Tuần 21 - Bài 20: Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
Tiết 96 - Tuần 24 - Bài 23: Luyện nói về văn miêu tả
* Lớp 7:
Tiết 40 - Tuần: 10 - Bài 10: Luyện nói: Văn biểu cảm về sự vật, con người.Tiết 56 - Tuần: 14 - Bài 13: Luyện nói: Phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm văn học
Tiết 112 - Tuần 28 - Bài 27: Luyện nói: Bài văn giải thích một vấn đề
Tác động trực tiếp khả năng tiếp cận và phản biện nên học sinh thường chú ý vàhứng thú hơn
Rèn được kĩ năng mạnh dạn, điều chỉnh ngôn ngữ, giọng nói, thái độ nói trướctập thể
Do đó, đổi mới tiết luyện nói là điều cần thiết để đảm bảo mục tiêu môn học,giúp học sinh hoàn thiện 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết
Trên cơ sở của các điểm mạnh thì việc vận dụng đề tài còn gặp những mặt yếu
Trang 12độ trong khi nói của từng đối tượng
Học sinh chuẩn bị bài nói chưa kĩ khiến các em không chủ động trong việctrình bày bài nói điều đó cũng dẫn đến việc học sinh nói ngập ngừng, ấp úng
Học sinh chuẩn bị còn mang tính đối phó, sợ cô hoặc thầy nên chuẩn bị cho córồi học thuộc hoặc chép ra giấy đứng dậy nói như đọc
d Các nguyên nhân, các yếu tố tác động:
Nguyên nhân chủ quan:
- Là cá nhân người giảng dạy phải tâm huyết với nghề, ham học hỏi, tích cựcứng dụng các phương pháp mới vào giảng dạy, chú tâm đến từng đối tượng học sinh
để giáo dục
- Kĩ năng nói của học sinh cần được rèn luyện nhiều trong mọi tình huốngkhông chỉ cần trong tiết luyện nói của phân môn tập làm văn không mà cả trong cáctiết dạy rồi trong thực tế sinh hoạt đời thường, giao tiếp Đến khi đó các em mới mạnh
và tự tin nói trước đông người được
Nguyên nhân khách quan:
Phần lớn học sinh đều xuất thân và sinh sống ở vùng nông thôn, điều kiện tiếpxúc với chỗ đông người còn hạn chế nên các em thiếu tự tin, e dè, ngại ngùng và hồihộp khi nói trước tập thể
Đôi khi học sinh chuẩn bị bài nói rất kĩ nhưng vì thiếu tự tin, hồi hộp quá nên các
em cũng không nói được bài nói của mình
Khi tham gia luyện nói, lời nói của các em không tự nhiên, nói lủng củng ngậpngừng không rõ ràng, không nói được điều muốn nói, không kết hợp được các yếu tốphi ngôn ngữ như: cử chỉ, nét mặt, âm lượng…
Trong bài nói thường sử dụng nhiều từ địa phương ở vùng quê của các em, điều
ấy sẽ ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp của các em trong cộng đồng xã hội sau này.Học sinh chuẩn bị bài nói chưa kĩ khiến các em không chủ động trong việc trìnhbày bài nói điều đó cũng dẫn đến việc học sinh nói ngập ngừng, ấp úng
Thời gian 45 phút cho một tiết luyện nói không đủ để giáo viên có thể cho sốlượng học sinh lên nói được nhiều, vì lớp học có sĩ số đông
Trang 13Sách giáo viên chưa có định hướng rõ ràng trong việc giúp người dạy dễ dàngkhi dạy các tiết luyện nói.
3 Giải pháp, biện pháp:
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
*Mục tiêu của giải pháp:
- Giúp học sinh phát huy tốt kĩ năng giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày đăcbiệt là trong các giờ học Ngữ văn
- Để mỗi giáo viên đều có một định hướng chung trong việc dạy và soạn tiết luyện nóitrong phân môn tập làm văn
- Đưa ra những việc làm cụ thể, khả thi trong khi vận dụng các phương phápdạy tiết luyện nói trong phân môn tập làm văn
- Cách vận dụng các giải pháp đó như thế nào và đạt hiệu quả ra sao?
* Mục tiêu của biện pháp thực hiện:
- Muốn thực hiện tốt tiết luyện nói này, giáo viên cần nắm vững mục tiêu bài dạyluyện nói là:
+ Luyện kĩ năng nói là chính (chú trọng về ngôn ngữ diễn đạt của học sinh) + Còn nội dung bài luyện nói cần xếp sau kĩ năng nói (Chú trọng đến bố cục
bài nói đã là đủ)
- Giáo viên luyện từ chỗ học sinh nói còn ngập ngừng, vấp váp đến chỗ nói lưu loát,ngừng nghỉ đúng chỗ, hơn nữa nói có kết hợp với ánh mắt cử chỉ, thái độ, tình cảm Đặc biệt, ở mỗi một lớp, mỗi khối học, giáo viên yêu cầu mức độ nói khác nhau (lớplớn yêu cầu cao hơn lớp nhỏ) để làm thế nào từ lớp 6 đến lớp 9 kĩ năng nói của các
em được dần dần nâng cao hơn
- Trong đề tài này đối tượng là học sinh lớp 9 nên đòi hỏi đã hoàn thiện với yêu cầu kĩnăng của một bài luyện nói chứ không còn ở mức độ tập nói vì các lớp dưới đã đượchọc tiết luyện nói rồi
Bên cạnh xác định được mục tiêu trên, để chuẩn bị cho tiết luyện nói đạt kết quả tốt thì ta cần phải đưa ra nội dung và cách thức thực hiện cụ thể và tiến hành với các biện pháp nào?
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
- Dạy luyện nói phải gây hứng thú học tập của học sinh, phát huy tính tích cực,độc lập, sáng tạo của học sinh Giờ luyện nói là giờ thể hiện cá tính, là giờ học sinh
Trang 14được làm chủ mình hơn cả, giáo viên đừng gò bó các em, đừng vội vàng phê phán cácbiểu hiện chưa tốt của các em, vấn đề là phải tạo những điều kiện cần và đủ để các emnói.
- Dạy luyện nói phải kết hợp việc rèn luyện kĩ năng với việc giáo dục
tư tưởng, tình cảm, tư duy cho học sinh, giáo dục lòng yêu mến tự hào về tiếng Việt,
tự hào về dân tộc ta
- Dạy luyện nói không chỉ dạy lời nói, dáng điệu nói….mà phải dạy chiềusâu của tâm hồn, tư tưởng của học sinh mà cụ thể hơn là dạy nếp sống có văn hóa, nóinăng tốt, chống lại nói năng xấu đang có nguy cơ lan tràn trong học sinh hiện nay nhưnói tục, nói trống không, nói tiếng lóng chứ không chỉ chú trọng đến nói về môn họccủa mình không
* Cách thực hiện giải pháp, biện pháp:
1 Về phương pháp dạy tiết luyện nói trong phân môn tập làm văn:
Biện pháp thứ nhất:
Xác định yêu cầu của một tiết luyện nói
Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết dạy, chúng ta phải hiểu rằng đây là
tiết học giúp học sinh “Luyện nói” thì học sinh phải được nói
Phải thực sự luyện trên lớp cho từng em được nói và nói một cách lưu loát Giáo viên phải nêu thật rõ yêu cầu luyện nói, nếu cần ghi tóm tắt lên bảng.Khi học sinh trình bày, giáo viên phải nắm bắt để nhận xét đúng khả năng,thành tích đạt được của các em trong quá trình trình bày một vấn đề bằng miệng.Đồng thời giáo viên hướng cho học sinh đi đúng yêu cầu, nói chứ không phải là đọc
Đã nói thì phải vận dụng đúng ngôn ngữ nói thể hiện rõ nhất là ngữ điệu trong
sử dụng thành văn Ngoài ra, các em còn biết thể hiện qua cử chỉ, nét mặt, sắc tháitình cảm, thái độ khi trình bày
Biện pháp thứ 2: Chuẩn bị cho tiết luyện nói:
Bước 1 : Chuẩn bị trước đề tài luyện nói:
Muốn một giờ luyện nói đạt kết quả tốt, ngoài việc hướng dẫn học sinh đi đúngyêu cầu của một giờ luyện nói trên lớp thì việc cho các em chuẩn bị bài ở nhà cũng rấtquan trọng
Muốn các em chuẩn bị bài tốt, có chất lượng thì sự chuẩn bị, hướng dẫn củagiáo viên cũng phải chu đáo Trong sách giáo khoa thường có một số vấn đề, đề bàigợi ý để giáo viên lựa chọn, vậy nên chọn đề nào cho phù hợp, để có hiệu quả cao chođối tượng học sinh của mình dạy theo ý chủ quan của giáo viên
Trang 15Giáo viên xem trước chương trình để dặn dò các em chuẩn bị bài luyện nóitrước
Khi đã chọn được đề phù hợp rồi, giáo viên phải phân việc cụ thể cho từng đối
tượng học sinh (có thể phân theo dãy bàn, theo tổ, theo nhóm) để học sinh chuẩn bị kĩ
lưỡng, tránh đối phó qua loa, đại khái
Giáo viên cần dặn trước từ 5 đến 7 ngày , vì lớp học phần lớn là học sinh có lực
trung bình (chưa kể học sinh yếu, kém) nên dù có căn dặn trước một tuần nhưng vẫn
có em không chuẩn bị ở nhà, điều này làm cho giờ luyện nói khó có thể mà thànhcông được
Minh họa cho biện pháp 2:
Trong chương trình ngữ văn 9 phân môn tập làm văn cụ thể:
Tiết 65: Luyện nói: Tự sự kết hợp miêu tả nội tâm
Trong sách giáo khoa yêu cầu 3 đề và tôi cho học sinh lựa chọn sau đó chốt lạighi tên các đề tài của các nhóm tổ đã chọn để tiện quá trình tiến hành kiểm tra sựchuẩn bị đề tài
Ví dụ 1:
Đề bài:
Dựa vào nội dung phần đầu tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương
(Từ đầu nhưng việc trót đã qua rồi) Hãy đóng vai Trương Sinh để kể lại câu chuyện
và bày tỏ niềm ân hận
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị cụ thể như sau:
Phân tích đề :
- Học sinh phải xác định kiểu bài cho tiết luyện nói:
+ Tự sự sáng tạo sắm vai nhân vật
- Yêu cầu của văn bản tự sự sáng tạo
+ Là văn bản tự sự đảm bảo các yếu tố để tạo thành một câu chuyên: + Sự việc
+ Nhân vật
+ Cốt truyện
- Có sử dụng yếu tố nghị luận và miêu tả nội tâm phù hợp
Dàn bài:
M ở bài : Trương Sinh tự giới thiệu về mình và tình huống xảy ra câu chuyện.
Thân bài: Diễn biến sự việc
- Trương Sinh đi lính