1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ở việt nam

159 261 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về thời gian: Tác giả lấy nguồn số liệu liên quan đến công tác quản lý nhà nước và tìm các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội thông qua xây dựng thang

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

- -

HOÀNG MINH TUẤN

NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM

XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

(KINH TẾ BẢO HIỂM )

MÃ SỐ: 9340201

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ CHÍNH

TS ĐẶNG ANH DUỆ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

Tôi đã đọc và hiểu về hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận án

Hoàng Minh Tuấn

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 6

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước 6

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 14

1.3 Kết luận về tổng quan nghiên cứu và xác lập vấn đề nghiên cứu 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 22

2.1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội 22

2.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội 22

2.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội 23

2.1.3 Quản lý bảo hiểm xã hội 26

2.2 Nội dung của quản lý nhà nước về BHXH 32

2.2.1 Về hoạch định chính sách và định hướng phát triển BHXH 32

2.2.2 Xây dựng hệ thống pháp luật về BHXH 32

2.2.3 Xây dựng cơ chế tài chính BHXH 32

2.2.4 Hỗ trợ, bảo trợ của Nhà nước 33

2.2.5 Thanh tra, kiểm tra hoạt động BHXH 34

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về Bảo hiểm xã hội 35 2.3.1 Nhân tố bên trong 35

2.3.2 Nhân tố bên ngoài 37

2.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt nam 39

2.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới 39

2.4.2 Bài học cho Việt Nam 51

Trang 4

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53

3.1 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu 53

3.1.1 Mô hình nghiên cứu 53

3.1.2 Giải thích các biến trong mô hình nghiên cứu 53

3.1.3 Các giả thuyết nghiên cứu 56

3.2 Phương pháp nghiên cứu 57

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu 57

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 57

3.2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 63

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 64

4.1 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 64

4.1.1 Về xây dựng hệ thống pháp luật về BHXH 67

4.1.2 Về phát triển đối tượng 68

4.1.3 Về công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội của Nhà nước 76

4.1.4 Thanh tra, kiểm tra hoạt động BHXH 78

4.1.5 Về công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực BHXH 79

4.2 Những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 80

4.3 Nguyên nhân của tồn tại về công tác quản lý nhà nước về BHXH 81

4.4 Kết quả nghiên cứu về công tác quản lý bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 83

4.4.1 Mô tả đặc điểm mẫu khảo sát 83

4.4.2 Mô tả các đặc trưng của dữ liệu 84

4.4.3 Phân tích độ tin cậy của thang đo (hệ số cronback Alpha) 86

4.4.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng 90

4.5 Kết quả uớc lượng 93

4.5.1 Kết quả ước lượng theo 6 nhóm nhân tố biến phụ thuộc 93

4.5.2 Xác định tầm quan trọng của các biến độc lập 96

4.6 Một số phát hiện từ phân tích mô hình 97

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 99

Trang 5

5.1 Quan điểm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội của Đảng và Nhà nước 100

5.2 Định hướng phát triển bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đến năm 2025 101

5.3 Dự báo xu hướng bảo hiểm xã hội giai đoạn 2016-2025 102

5.3.1 Về tình hình tham gia bảo hiểm xã hội 102

5.3.2 Về tình hình hưởng chính sách bảo hiểm xã hội 106

5.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 108

5.4.1 Tiếp tục hoạch định, hoàn thiện chính sách và định hướng phát triển bảo hiểm xã hội 108

5.4.2 Tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội 109 5.4.3 Đề xuất và xây dựng cơ chế đảm bảo bền vững tài chính bảo hiểm xã hội 113

5.4.4 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền và xây dựng bộ máy trong hoạt động của bảo hiểm xã hội 115

5.4.5 Phối hợp và tăng cường nội dung trong hoạt động thanh tra, kiểm tra bảo hiểm xã hội 115

5.4.6 Tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế về bảo hiểm xã hội 117

5.4.7 Tăng cường cải cách hành chính, áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội 119

5.4.8 Tăng cường năng lực quản lý đầu tư quỹ BHXH 120

5.4.9 Cần hiện đại hóa hệ thống hành chính của BHXH và tăng cường hoạt động của các cơ quan nhà nước liên quan trong quản lý nhà nước về BHXH 121

5.5 Điều kiện thực hiện giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội 122

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 125

KẾT LUẬN CHUNG 126

HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN 127

KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 128

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 129

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

PHỤ LỤC 135

Trang 6

Ký hiệu Diễn giải

ASXH An sinh xã hội

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

Trang 7

Bảng 2.1: So sánh mức hỗ trợ của chính phủ trong các hệ thống BHXH 40

Bảng 2.2: Tỉ lệ đóng BHXH của NLĐ khu vực chính thức 44

Bảng 2.3: Tỉ lệ đóng BHXH của NLĐ khu vực phi chính thức 44

Bảng 4.1:Tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội (2008-2015) 68

Bảng 4.2: Số người tham gia bảo hiểm xã hội chia theo khu vực (2008-2015) 69

Bảng 4.3: Số người hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội (2008-2015) 74

Bảng 4.4: Tình hình thu-chi quỹ bảo hiểm xã hội (2008-2015) 76

Bảng 4.5: Cơ cấu người khảo sát theo đơn vị khảo sát và giới tính 83

Bảng 4.6: Cơ cấu người khảo sát theo đơn vị khảo sát và nhóm tuổi 84

Bảng 4.7: Đánh giá công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội hiện nay 84

Bảng 4.8: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội hiện nay 85

Bảng 4.9: Cronbach's Alpha của thành phần về công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội 86

Bảng 4.10: Cronbach's Alpha của thành phần về trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về BHXH 87

Bảng 4.11: Cronbach's Alpha của thành phần mức độ cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về BHXH 88

Bảng 4.12: Cronbach's Alpha của thành phần về cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý nhà nước về BHXH 88

Bảng 4.13: Cronbach's Alpha của thành phần về phát triển hệ thống chính sách an sinh xã hội ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH 89

Bảng 4.14: Cronbach's Alpha của thành phần về phát triển các chính sách bảo hiểm thương mại ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH 89

Bảng 4.15: Cronbach's Alpha của thành phần về nhu cầu, nhận thức của người dân về BHXH ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH 90

Bảng 4.16: Kiểm định KMO và Bartlett's 91

Bảng 4.17: Tổng các phương sai được giải thích 91

Bảng 4.18: Tọa độ các thành phần chính của các biến 92

Trang 8

Bảng 4.20: Kết quả hồi quy chuẩn hóa các nhân tố tác động đến công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội hiện nay 96 Bảng 4.21: Xác định tầm quan trọng của các biến độc lập trong mô hình 97 Bảng 5.1: Dự báo số người tham gia bhxh đến năm 2025 (Kịch bản 1) 103 Bảng 5.2:(Kịch bản 2) Dự báo số người tham gia bảo hiểm xã hội đến năm 2025 104 Bảng 5.3: Dự báo số người hưởng hưu trí đến năm 2025 106

Trang 9

Sơ đồ 1 Quy trình nghiên cứu 4Hình 3.1: Mô tả mô hình nghiên cứu 53 Hình 4.1: Số lượng người hưởng các chế độ hưu trí và trợ cấp chia theo nguồn năm 2015 72 Hình 4.2: Số lượt người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần chia theo loại hình 73 Hình 5.1: So sánh kết quả dự báo số người tham gia bảo hiểm xã hội giữa hai kịch bản 105 Hình 5.2: Dự báo số người đóng trên một người hưởng từ quỹ bảo hiểm xã hội đến

2025 theo 2 kịch bản 108

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết, lý do lựa chọn đề tài

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người lao động, nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời đảm bảo mục tiêu của hệ thống an sinh xã hội mà BHXH là một trụ cột chính, lớn nhất không thể tách rời Chính sách BHXH ở nước ta được thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước Hơn 60 năm qua, trong quá trình tổ chức thực hiện, chính sách BHXH ngày càng được hoàn thiện và không ngừng đổi mới, bổ sung cho phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước Cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế

từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), chính sách BHXH

và tổ chức quản lý hoạt động BHXH cũng có nhiều đổi mới tích cực như: BHXH không những góp phần ổn định đời sống của người lao động mà còn khuyến khích họ tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải cho xã hội, xây dựng đất nước Trong quá trình thực hiện BHXH đã không ngừng phát triển cả về chất lượng lẫn số lượng Số người tham gia ngày càng tăng lên, mở rộng cho các đối tượng tham gia Trong công tác quản lý cũng đã có những thay đổi căn bản Đặc biệt hệ thống tổ chức đã được thống nhất trên phạm vi cả nước với mô hình 3 cấp, theo ngành dọc từ Trung ương

tới địa phương

Bên cạnh những mặt đạt được trong công tác quản lý Nhà nước về BHXH chúng ta vẫn còn những tồn tại cần sớm được khắc phục cả về nội dung chính sách, tổ chức quản lý hoạt động Điển hình trong lĩnh vực tài chính BHXH thì số nợ đọng về BHXH tính đến 31/12/2015 đã lên đến gần 14.000 tỷ đồng, trong lĩnh vực quản lý đối tượng tham gia là các doanh nghiệp thì chỉ mới quản lí được 200.000 doanh nghiệp trong tổng số 400.000 doanh nghiệp trên phạm vi cả nước, lực lượng lao động tham gia BHXH chỉ chiếm 24,6% trong tổng số người lao động thuộc diện tham gia BHXH trong số 200.000 doanh nghiệp, so với dân số tham gia lực lượng lao động trên phạm

vi cả nước chỉ chiếm 22,3%, tương đương mức độ che phủ gần 1/5 lực lượng lao động

Trang 11

chơi” của tổ chức đề ra Trong đời sống xã hội ngày càng xuất hiện những thách thức mới như vấn đề việc làm, đời sống người lao động, dân số… Bên cạnh đó cũng xuất hiện nhiều thách thức mới từ phía chủ sử dụng lao động như trốn đóng, nợ đọng diễn

ra thường xuyên và quy mô ngày càng lớn Hệ thống hành lang pháp lý đã quy định cụ thể và phát huy hiệu quả nhất định, tuy vậy đôi lúc mức điều tiết, điều chỉnh còn chưa kịp thời và chưa phù hợp với đa số nguyện vọng của người lao động cả nước Tất cả những yếu tố tác động đó bắt buộc chúng ta phải thay đổi để phù hợp với xu hướng này và BHXH không nằm ngoài quy luật đó Đây là những đòi hỏi cấp thiết cần được nghiên cứu để góp phần thực hiện tốt hơn chính sách cũng như tổ chức quản lý nhà nước của hệ thống BHXH Việt Nam Trong đó, quản lý nhà nước về BHXH cần phải được chú trọng và quan tâm vì công tác quản lý Nhà nước về BHXH có tốt thì hệ thống an sinh xã hội mới đạt được mục tiêu đề ra và đáp ứng lòng mong mỏi của hàng

triệu người lao động cả nước Chính vì vậy NCS đã chọn đề tài: “Nghiên cứu nhân tố

ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam”

Luận án có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Từ đó giúp hoàn thiện hơn trong công tác quản lý nhà nước về BHXH và có chiến lược phát triển cho BHXH về lâu dài

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý Nhà nước về BHXH ở Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án hướng tới việc tập trung

nghiên cứu và giải đáp câu hỏi nghiên cứu:

+ Những nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam?

+ Những giải pháp và đề xuất nào phù hợp giúp công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam đạt hiệu quả tốt hơn?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết được câu hỏi nghiên cứu đặt ra, luận án xác định đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu như sau:

Trang 12

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: “Công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam”

- Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Luận án giới hạn nghiên cứu các đơn vị điển hình cấp Trung ương và một số đơn vị trên địa bàn thủ đô Hà Nội trong lĩnh vực nghiên cứu và quản

lý BHXH

- Về thời gian: Tác giả lấy nguồn số liệu liên quan đến công tác quản lý nhà

nước và tìm các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội thông qua xây dựng thang đo kết hợp bảng hỏi các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực BHXH với nguồn số liệu nghiên cứu chủ yếu từ 2008 - 2015 Đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam có giá trị đến năm 2025

- Về nội dung nghiên cứu: Luận án đi sâu vào nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam trên cơ sở các nội dung sau: (1) đánh giá, luận giải các kết quả nghiên cứu trước đây; (2) hệ thống hóa vấn đề

lý luận về quản lý nhà nước về BHXH; (3) đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, định hướng nghiên cứu về mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; (4) kiểm định giả thuyết nghiên cứu trong khung cảnh nghiên cứu là các nhân tố tác động đến công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam.; (5) đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề đặt ra, luận án tiến hành chọn mẫu nghiên cứu, đối tượng trong mẫu nghiên cứu, tiến hành điều tra thông qua bảng hỏi và xây dựng thang đo cho nhóm nhân tố ảnh hưởng Sau khi thu thập số liệu điều tra từ mẫu chọn, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để chạy mô hình thông qua phần mềm SPSS để kiểm định mức độ ảnh hưởng với biến phụ thuộc là công tác quản lý nhà nước về BHXH và nhóm biến độc lập bao gồm: Trình độ năng lực đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy quản lý nhà nước về BHXH; mức độ cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về BHXH; cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý nhà nước về BHXH; Phát triển của hệ thống an sinh xã hội; phát triển của các chính sách BHTM; nhu cầu nhận thức của người dân về BHXH Sau khi đánh giá mức độ các nhân tố ảnh hưởng bằng hệ

số tin cậy Cronbach’s Alpha sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố trong mô hình và giả thuyết nghiên cứu lên công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt nam

Trang 13

6 Thiết kế nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu của luận án bao gồm các bước sau:

- Xác định các biến số và thước đo cho các biến số: các biến trong mô hình bao gồm biến phụ thuộc (công tác quản lý nhà nước về BHXH) và 06 biến độc lập được chia thành 2 nhóm gồm: nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài

- Thiết lập mô hình nghiên cứu và mối quan hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu: mô hình nghiên cứu được thiết lập với biến phụ thuộc và các biến độc lập

- Xác định nguồn dữ liệu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu: nguồn

dữ liệu là nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các bảng hỏi với 252 mẫu của các chuyên gia, nhà quản lý, nhà khoa học trong lĩnh vực BBHXH Phương pháp thu thập

dữ liệu là phương pháp tổng hợp các khoản mục có liên quan đến các biến, tính toán các chỉ tiêu trên Excel, mã hóa các biến, kiểm tra dữ liệu, xử lý và làm sạch dữ liệu, sau đó, chuyển toàn bộ dữ liệu vào phần mềm chuyên dụng SPSS

- Xác định phương pháp phân tích thông tin: luận án sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, hồi quy tương quan với sự trợ giúp của phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu nghiên cứu Sử dụng kết hợp với các phương pháp tổng hợp, so sánh,

Sơ đồ 1 Quy trình nghiên cứu

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Tổng quan nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

Trang 14

7 Đóng góp mới của luận án

Luận án dự kiến có những đóng góp sau:

- Về mặt lý luận: Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước,

kết hợp thực tiễn công tác quản lý và mô hình nghiên cứu mà tác giả đề xuất của thì luận án đã có nhiều đóng góp mới như: Xây dựng được bộ thang đo đánh giá các tiêu chí, nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH; Bộ thang đo, biến số

đo lường các tiêu chí, nhân tố ảnh hưởng đảm bảo độ tin cậy, có liên quan chặt chẽ tới khía cạnh đo lường, đảm bảo ý nghĩa thống kê; Sử dụng mô hình đề xuất để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH và kiểm định được các giả thuyết đặt ra; Kết quả nghiên cứu của Luận án có ý nghĩa về mặt lý thuyết, mở ra hướng nghiên cứu về phương pháp, quy trình đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về BHXH, có cơ sở để thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về BHXH và phát triển lĩnh vực BHXH

- Về mặt thực tiễn: Luận án cũng chỉ rõ các nhân tố tác động, mức độ tác động

của các nhân tố đến công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam Trên cơ sở phân tích, đánh giá đó thì tác giả cũng đưa ra nhiều giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội ở Việt nam hiện nay và trong giai đoạn tới

8 Kết cấu của luận án

Ngoài lời mở đầu và kết luận và các mục theo quy định, kết cấu của luận án bao gồm 05 chương:

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu đến công tác quản lý nhà nước

về bảo hiểm xã hội

Chương 2: Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả phân tích nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước

về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

Chương 5: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm

xã hội ở Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐẾN CÔNG TÁC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

Công tác quản lý Nhà nước về BHXH là vấn đề lớn trong chính sách an sinh xã hội (ASXH) được Đảng và Nhà nước hết sức chú trọng và quan tâm Không chỉ dừng lại ở chủ trương mà còn là những nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực BHXH Trong

và ngoài nước cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau về vấn đề BHXH nói chung và công tác quản lý nhà nước về BHXH nói riêng, tuy nhiên

để áp dụng vào thực tiễn của nước ta hiện nay và trong tương lai thì cần xem xét kỹ lưỡng những nghiên cứu này để tìm ra những điểm phù hợp nhất, tối ưu nhất cho công tác quản lý nhà nước về BHXH Sau đây là một số công trình nghiên cứu đã công bố trong thực tiễn

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước

Helmuth, C., & Kerstin, R (2015) trong bài viết có tựa đề “Social insurance

with competitive insuarance markets and risk misperception”, các tác giả chỉ ra rằng giữa BHXH và BHTM có sự ảnh hưởng nhất định đến nhau trong quá trình hoạt động song hành Người tham gia có thể lựa chọn hình thức BHXH của nhà nước, hay BHTM của các công ty tư nhân Tác giả cũng chỉ ra rằng trong việc lựa chọn loại hình bảo hiểm thì đa số những người giàu, người có thu nhập cao thường chọn hình thức BHTM, số người có thu nhập thấp và trung bình lại chọn loại hình BHXH Bên cạnh

đó tác giả cũng chỉ ra trong quá trình thực hiện chính sách ASXH nếu nhà nước bảo trợ cao cho đối tượng tham gia BHXH rất dễ xảy ra tác động tiêu cực với các đối tượng khác trong xã hội khi chưa được tham gia loại hình BHXH này Mặt khác thị trường BHTM nếu không được nhà nước kiểm soát chặt chẽ sẽ rất nguy hiểm khi rủi

ra xảy ra đối với người tham gia, vì không có sự bảo trợ của nhà nước cho các rủi ro của người tham gia loại hình BHTM

Các tác giả cũng chỉ nêu ra được nhân tố BHTM có ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH mà chưa nêu ra được thêm các nhân tố khác tác động đến công tác quản lý nhà nước về BHXH trong quá trình thực hiện Bài viết trên cũng chỉ

ra rằng khi có thu nhập cao thì người tham gia sẽ nghiêng về lựa chọn tham gia BHXH, đồng thời cũng chấp nhận rủi ro mà loại hình BHTM mang lại

Georges, C., Helmuth, C., & Pierre, P (2000) trong bài viết có tựa đề “Political

sustainability and the design of social insurance” các tác giả phân tích vấn đề hỗ trợ

Trang 16

từ phía nhà nước có ảnh hưởng đến thiết kế bảo hiểm xã hội như thế nào Nó phân biệt giữa vấn đề tái phân phối và quy mô của bảo trợ xã hội Sau quá trình nghiên cứu nhóm tác giả đã đưa ra các kết quả Thứ nhất, có thể thích hợp để áp dụng một hệ thống ít phân phối lại hơn mức tối ưu hóa khác, nhằm đảm bảo hỗ trợ của nhà nước cho tất cả các đối tượng tham gia trong hệ thống BHXH Thứ hai, bảo hiểm tư nhân bổ sung có thể làm tăng phúc lợi của người có thu nhập thấp, ngay cả khi nó chỉ được dành cho những người có thu nhập cao Thứ ba, trường hợp cấm (bổ sung) bảo hiểm tư nhân tham gia vào một số sản phẩm có rủi ro cao cho người tham gia Nhóm tác giả cũng kết luận rằng bảo hiểm tư nhân bổ sung có thể phát triển tốt hơn khi hiệu quả của thị trường bảo hiểm tư nhân mang lại cho những người tham gia tăng lên

Trong bài phân tích này các tác giả cũng chỉ dừng lại ở góc độ làm thế nào để loại hình BHTM có thể phát huy và cạnh tranh với loại hình BHXH Tuy nhiên bài viết cũng chỉ ra rằng loại hình BHXH an toàn hơn với người tham gia vì có sự hỗ trợ, bảo trợ của nhà nước Trong chính sách của mình thì nhà nước bảo trợ loại hình BHXH hơn BHTM, tuy nhiên BHTM cũng có nhiều đóng góp cho thị trường tài chính, giúp nền kinh tế có thêm nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển

Trong bài nghiên cứu của Xian, H., & Qin, G (2014) có tựa đề “Does social

insurance enrollment improve citizen assessment of local government performance? Evidence from China” tác giả khẳng định rằng quản lý nhà nước ở BHXH Trung Quốc

là một trong những chính sách xã hội quan trọng ở nước này, sự thành công từ BHXH cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hoạt động hiệu quả của Chính phủ Lợi ích

từ chính sách BHXH rất quan trọng với sự phát triển và ổn định của đất nước, tác giả phân tích rằng quản lý nhà nước về BHXH xã hội giúp diện bao phủ của chính sách này càng nhiều thì sự ủng hộ của người dân với chính quyền càng tăng lên, bởi họ nhận thấy được sự quan tâm từ chính sách hỗ trợ, bảo trợ của nhà nước Bài viết này cũng chỉ ra rằng việc người dân hiểu được ý nghĩa của chính sách BHXH và đăng ký tham gia theo quy định của pháp luật là rất quan trọng trong BHXH Nhà nước muốn phúc lợi xã hội phải được phân phối một cách công bằng trong đời sống xã hội, nâng cao trình độ dân trí để chính sách BHXH thực sự là một điểm tựa của người dân, người lao động trong cuộc sống Cuối bài viết tác giả một lần nữa khẳng định chính quyền Trung Quốc phần nào thành công trong công tác quản lý nhà nước về BHXH khi nhu cầu, nhận thức của người dân tham gia tăng lên

Tuy nhiên hạn chế của bài viết mà hai tác giả đưa ra là: với đất nước có số dân khổng lồ như Trung Quốc thì việc hiểu chính xác được ý nghĩa của BHXH trong toàn dân cũng là hết sức khó khăn, đặc biệt là những người lao động trong khu vực nông

Trang 17

thôn, những người lao động liên tục di cư từ nơi này đến nơi khác để tìm kiếm việc làm Do đó kỳ vọng trong công tác quản lý nhà nước về BHXH ở các khu vực là không giống nhau, luôn có một khoảng cách nhất định trong nhận thức của người dân xung quanh vấn đề về BHXH

Trong bài viết của nhóm tác giả Ramona, L., Raúl, R., Pedro, G., & Josefa, M

(2014) có tựa đề “ Social insurance officer: A tool for evaluating and predicting future

knowledge flows from an insurance organization” bài báo này nhóm tác giả chia sẻ vấn đề tri thức trong quản lý BHXH Theo đó nhóm tác giả đã tiến hành một cuộc khảo sát lớn tại các tổ chức BHXH ở nước Anh, sau khi thu thập dữ liệu về việc đánh giá tri thức của cán bộ quản lý trong hệ thống BHXH để phân tích đưa ra các kết quả rất có ý nghĩa Nhóm tác giả chỉ ra rằng mối quan hệ đồng nhất giữa các cán bộ và ý định chia sẻ kiến thức của họ trong tổ chức BHXH có ảnh hưởng lớn đến thành công trong quản lý nhà nước về BHXH Đồng thời từ nghiên cứu trên nhóm tác giả cũng đưa ra nhóm giải pháp cho nhà nước, các nhà quản lý BHXH trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước về BHXH như: xác định năng lực của từng cán bộ, nhân viên để giao nhiệm vụ cụ thể trong quá trình làm việc; xác định vai trò của lãnh đạo bộ máy trong điều hành hoạt động của tổ chức là nhân tố then chốt trong quản lý; ai giữ vai trò như một nhóm trưởng để khuếch tán kiến thức, chia sẻ những gì họ biết với các đồng nghiệp trong tổ chức, ai giữ vai trò lưu trữ, thu thập thêm kiến thức để ứng dụng trng công tác quản lý; đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý của cán bộ BHXH trong việc thích nghi với tình hình những thay đổi trong công tác quản lý BHXH

Cuối bài viết nhóm tác giả khẳng định rằng tri thức của đội ngũ cán bộ BHXH

có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động hệ thống BHXH, đây là lực lượng điều hành trực tiếp chính sách quan trọng của nhà nước đến người lao động nói riêng và toàn thể xã hội nói chung Sự vận hành của bộ máy quản lý nhà nước trong BHXH có đóng góp quan trọng từ tri thức được vận dụng của cán bộ quản lý này

Tuy nhiên hạn chế của nhóm tác giả trong bài phân tích trên là chưa đưa ra được điều kiện để thực hiện những giải pháp đó như : Tình hình kinh tế - xã hội của quốc gia, quan điểm xây dựng chính sách của từng quốc gia để có định hướng rõ cho lực lượng quản lý trong bộ máy BHXH trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước về BHXH

Trong bài nghiên cứu của nhóm tác giả Gianni, B., Caterina, L., & Nicoletta,

M (2014) có tựa đề “Do emotion affect social insuarance demand ?” bài nghiên cứu

này phân tích vể nhận thức của người tham gia về BHXH là một trong những yếu tố quyết định việc có tham gia BHXH hay không Từ yếu tố nhận thức này có thể dự

Trang 18

đoán được nhu cầu tham gia BHXH trong tương lai trên cơ sở sử dụng dữ liệu quản lý

mà nhà nước đang quản lý Cách tiếp cận với người có nhu cầu tham gia BHXH là xây dựng bảng hỏi truyền thống để khảo sát trực tiếp

Trong quá trình phân tích nhóm tác giả có đề cập đến sự so sánh giữa các chính sách BH khác nhau để người tham gia lựa chọn, mục đích của sự so sánh này của nhóm tác giả là kiểm chứng vấn đề nhận thức của họ như thế nào đến chính sách BHXH, từ nhận thức đó họ sẽ quyết định nhu cầu tham gia loại hình BH Kết quả nghiên cứu này rất có ý nghĩa trong công tác quản lý nhà nước về BHXH bởi nó giúp các nhà hoạch định chính sách phải làm gì để biết nhu cầu tham gia BHXH của người dân, yếu tố tâm lý nào quyết định đến vấn đề lựa chọn BHXH chứ không phải loại hình BH khác

Cuối bài viết nhóm tác giả cũng đề xuất giải pháp giúp nhận thức của người dân

về BHXH tăng lên là: tiếp cận đa ngành nghề để phân tích nhu cầu về BHXH và phải kết hợp phương pháp quản lý hiện đại trong BHXH để phù hợp với công tác thống kê lực lượng tham gia trong tình hình mới

Hạn chế của bải nghiên cứu trên là nhóm tác giả hỏi nhu cầu, nhận thức của người tham gia một cách giàn trải mà chưa tập trung vào lĩnh vực then chốt nơi có nhiều nguy cơ xảy ra rủi ro với họ và nhóm tác giả cũng chưa chỉ ra được những nhân

tố khác cũng ảnh hưởng đến vấn đề quản lý nhà nước về BHXH

Trong bài nghiên cứu Russell, S., Ingrid, N., & Xiaolei, Q (2009) có tựa đề

“What determines employer willingness to “top up” social insurance?: Evidence from

Shanghai's 25 plus X scheme” các tác giả nghiên cứu khảo sát dựa trên 103.195 người lao động làm việc trong các tổ chức tư nhân tại thành phố Thượng Hải của Trung Quốc Bài nghiên cứu này nhằm chỉ ra rằng trình độ, nhận thức của NLĐ trong các tổ chức sử dụng lao động có ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH và trong công tác quản

lý nhà nước về BHXH ở Thượng Hải Nhóm nghiên cứu cho rằng trong suốt thời gian dài những người lao động trong thành phố Thượng Hải chỉ biết đến một hình thức BH hưu trí thương mại tự nguyện do NSDLĐ đóng mà chưa biết đến BHXH, do đó nhóm nghiên cứu nhận ra là quyền lợi của NLĐ ở đây không được đảm bảo

Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu, nhóm tác giả cũng tuyên truyền về chính sách BHXH để NLĐ có cơ hội tiếp cận, so sánh Những LĐ có nhận thức tốt hơn thì mong muốn lựa chọn BHXH để thay thế cho loại hình BHTM Chính những nhu cầu này của những NLĐ sẽ giúp chính quyền Thượng Hải có chiến lược lâu dài trong sử dụng BHXH như một công cụ để ổn định lực lượng lao động và thị trường lao động

Trang 19

Hạn chế của nghiên cứu là mới chỉ bó hẹp trong một số ít lực lượng lao động trong các tổ chức tư nhân ở thành phố lớn như Thượng Hải Tuy nhiên mẫu khảo sát này cho ý nghĩa quan trọng vì đa số NLĐ trong mẫu đều mong muốn tham gia BHXH khi được tiếp cận Nhóm tác giả cũng chỉ mới đưa ra hai nhân tố ảnh hưởng đến BHXH đó là chính sách BHTM và trình độ nhận thức của người tham gia mà chưa đề cập đến những nhân tố khác

Anil, D (2010), trong bài viết có tựa đề “Risks in the labor market and social

insurance preferences: Germany and the USA”, tác giả đã đưa ra mối liên hệ giữa thị trường lao động và nhu cầu bảo hiểm xã hội bằng cách tính ra tỷ lệ thất nghiệp nghề nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp nghề nghiệp được coi là thước đo dự báo về thị trường lao động với vấn đề đầu tư tìm kiếm việc làm của người lao động Các điều kiện chính trị

ở Đức và Mỹ với thị trường lao động đa dạng và có sự khác biệt đáng kể về hỗ trợ bảo

bảo hiểm xã hội cùng với thu nhập Chính sách ASXH ở hai quốc gia trên cũng có các chiến lược khác nhau, ở Đức thì nhận được hỗ trợ bảo trợ của nhà nước cao hơn, còn ở

Mỹ ưu tiên những người có thu nhập cao Do đó chính sách ASXH có ảnh hưởng nhiều đến quyền lợi của NLĐ tham gia trên thi trường lao động từ hai quốc gia trên

Kết quả đạt được trong nghiên cứu nhằm góp phần hiểu biết về sự hỗ trợ chính phủ cho BHXH và từ đó cung cấp công cụ để thiết kế các cơ chế ASXH nhằm mục đích giúp đỡ các trường hợp lao động tham gia BHXH

Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ phản ánh một góc độ rất nhỏ về vấn đề quản lý nhà nước trong thiết kế chính sách ASXH, mà chủ yếu tập trung trong nghiên cứu là

về thị trường lao động và thu nhập người lao động có tác động đến nhu cầu tham gia BHXH xã hội ở hai quốc gia có điều kiện kinh tế và chính trị khác nhau là Đức và Mỹ Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về BHXH trong quá trình thực hiện chính sách BHXH thì tác giả chưa đề cập đến

Qin Gao, Sui Yang, & Shi Li (2012), đã nghiên cứu và sử dụng số liệu điều tra

di cư trong dự án thu nhập hộ gia đình Trung Quốc 2007-2008, nhằm xem xét mối liên quan giữa tình trạng lao động nhập cư có hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội của họ, bao gồm cả lương hưu, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, và các quỹ tiết kiệm nhà ở Kết quả cho thấy rằng có một hợp đồng lao động, đặc biệt là một hợp đồng dài hạn sẽ cải thiện đáng kể tỉ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động di cư đến Hơn nữa, chuyển từ việc có một hợp đồng ngắn hạn hoặc không có hợp đồng để có một hợp đồng dài hạn tăng đáng kể tỷ lệ kỳ vọng của

Trang 20

một số lao động có bảo hiểm xã hội, trong khi mất một hợp đồng dài hạn làm giảm khả năng có bảo hiểm xã hội Những kết quả nổi bật tầm quan trọng của việc có một hợp đồng lao động dài hạn cho khả năng lao động nhập cư để có được bảo hiểm xã hội và

do đó tăng cường nhận thức của NLĐ về giá trị BHXH khi có được HĐLĐ dài hạn để bảo vệ quyền lợi cho chính mình Đề tài chỉ dừng lại nghiên cứu mối quan hệ của hợp đồng lao động với BHXH và đưa ra một số giái pháp tạo việc làm cho lực lượng lao động tại Trung Quốc mà chưa chỉ ra được cách thức làm thế nào để NLĐ có thể nhận thức rõ hơn về vai trò của BHXH trong suốt quá trình làm việc của họ

Gerhard, I (2015) cho rằng để đạt được các mục tiêu về an sinh xã hội, quản lý nhà nước về BHXH là một trong những công cụ quan trọng nhất trong sự phát triển của các quốc gia về phúc lợi xã hội Bảo hiểm xã hội, theo nghĩa bảo hiểm xã hội của Bismarck, đã trải qua những thay đổi lớn Vai trò ban đầu của bảo hiểm xã hội là bảo

vệ cho người lao động đã mất đi tầm quan trọng của nó khi phạm vi bảo hiểm xã hội của tư nhân ngày càng mở rộng Các hình thức bảo trợ xã hội khác, đặc biệt là các chương trình xã hội do nhà nước cấp cho gia đình, người thất nghiệp, hoặc những người có nhu cầu ngày càng phổ biến

Tác giả cũng chỉ đề cập đến chính sách ASXH có ảnh hưởng đến vấn đề quản

lý nhà nước về BHXH, trong đó nhấn mạnh vấn đề bảo trợ của nhà nước quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến bản chất của BHXH Tác giả chưa chỉ ra được công tác quản lý nhà nước nên tập trung vào những vấn đề gì để BHXH có thể phát triển đồng bộ cùng chính sách ASXH, phục vụ tốt hơn cho công tác quản lý nhà nước về BHXH

Helmuth, C., & Pierre, P (2003), với bài nghiên cứu ‘Social insurance

competition between Bismarck and Beveridge’ cho rằng các chương trình bảo hiểm xã hội khác nhau theo mối quan hệ giữa đóng góp và lợi ích Các hệ thống Bismarcki cung cấp các lợi ích liên quan đến thu nhập, trong khi các hệ thống Beveridgean cung cấp các khoản thanh toán ổn định Thông thường các quốc gia có nhiều lao động sẽ theo hướng các quốc gia Beveridgean Tuy nhiên, chế độ Beveridgean sẽ không bền vững khi hội nhập kinh tế Bài nghiên cứu này chỉ ra tính hợp lệ của một giả thuyết như vậy trong một mô hình đơn giản Nó chỉ ra rằng thu nhập có một tác động đáng kể đến bảo vệ xã hội dựa trên mức đóng góp Tuy nhiên, các mô hình cân bằng có thể xuất hiện phức tạp hơn và đa dạng hơn so với giả thuyết ban đầu cho thấy Trong một

số trường hợp, sự cân bằng thậm chí có thể ngụ ý rằng tất cả người nghèo di chuyển đến đất nước có mô hình Bismarcki Hai tác giả cũng chỉ đề cập đến một phần quản lý

về thu nhậ và lực lượng lao động trong mô hình quản lý BHXH ở các quốc gia mà các tác giả cũng chưa chỉ ra được mô hình quản lý nhà nước tối ưu trong BHXH

Trang 21

Richard, W (2015), nghiên cứu về bảo hiểm xã hội và tập trung vào lương hưu hoặc bảo hiểm xã hội, đặc biệt là lương hưu Mỹ và An Sinh Xã Hội Một trọng tâm chính của phân tích là hiệu quả của việc đóng góp được xác định và được xác định có lợi cho lương hưu về tiết kiệm, sử dụng mô hình kim cương OLG là khung phân tích chính Như vậy, nó chỉ là các chương vĩ mô theo định hướng trong lý thuyết Thêm nữa là Feldstein và Liebman đề nghị cho chuyển đổi các hệ thống an sinh xã hội Mỹ một kế hoạch cụ thể, mức đóng góp được xác định và các cuộc tranh luận Diamond / Feldstein vào việc các hệ thống hiện nay nên được duy trì hoặc chuyển sang "tư nhân hóa" kế hoạch đóng góp được xác định trước Đề tài chủ yểu đề cập đến quản lý hệ thống lương hưu nhằm thích ứng với hệ thống An sinh xã hội và nghiên cứu có nên chăng tư nhân hóa một số lĩnh vực quản lý BHXH để giảm gánh nặng cho hệ thống An sinh xã hội do chính phủ tổ chức Tuy nhiên để làm được vấn đề này thì quốc gia đó phải có hệ thống ASXH rất phát triển và một nền kinh tế thịnh vượng Tác giả nhận thấy có sự ảnh hưởng nhất định từ hệ thống ASXH lên công tác quản lý nhà nước về BHXH Tuy nhiên bài nghiên cứu chưa đề cập đến sự ảnh hưởng của các nhân tố khác đến công tác quản lý nhà nước về BHXH

Philippe, D., & Jean, H (2007) trong bài viết "Equilibrium social insurance

with Policy-Motivated Parties" tiến hành nghiên cứu các nền kinh tế chính trị và cải cách hành chính trong quản lý ảnh hưởng đến bảo hiểm xã hội trên hai khía cạnh là quản lý mức thu nhập và rủi ro Một số đồng ý về mức độ bảo hiểm xã hội, mà họ có thể bổ sung vào các thị trường tư nhân dựa vào mô hình cạnh tranh chính trị Wittman Bên phải thu hút các cá nhân ít rủi ro hơn và phong phú hơn, và bên trái thu hút các cá nhân rủi ro hơn và nghèo hơn Tác giả chứng minh trong thực tế chúng ta thấy rằng sự chênh lệch thu nhập dẫn đến cả hai bên đều ít được tham gia BHXH Mặt khác trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực BHXH thì những người có thu nhập cao hơn thì tiếp cận và xử lý các thủ tục hành chính dễ dàng hơn với những người có thu nhập thấp, tình trạng này có thể đạt trạng thái cân bằng khi có sự thay đổi trong quá trính quản lí và kiểm soát của nhà nước và thái độ phục vụ của đội ngũ quản lý BHXH Ngoài ra tác giả cũng đề xuất với chính phủ là muốn có sự cạnh tranh của loại hình BH khác để người tham gia có thể cân nhắc lựa chọn tham gia

Tác giả cũng chỉ dừng lại trong nghiên cứu của mình có sự ảnh nhất định trong tác động của chính trị, cải cách hành chính và sự cạnh tranh của loại hình BH tư nhân khác đến quản lý nhà nước về BHXH mà chưa đề cập đến các nhân tố khác và đưa ra giải pháp tổng thể cho công tác quản lý nhà nước về lâu dài

Trang 22

Marcelo, B., & Guillermo, C (2014) với bài viết “Work and tax evasion incentive

effects of social insurance programs: Evidence from an employment-based benefit xtension” nghiên cứu cải cách hành chính nhằm khuyến khích các chương trình bảo hiểm xã hội, kiểm soát thu nhập tham gia BHXH của cá nhân là NLĐ ở những doanh nghiệp nhỏ thông qua cơ quan thuế Phân tích dựa trên một cuộc cải cách bảo hiểm xã hội ở Uruguay mà mở rộng phạm vi bảo hiểm của NLĐ trong khu vực tư nhân đăng

ký Cải cách trong việc giảm thủ tục hành chính tham gia cho NLĐ, giải quyết hồ sơ, thủ tục trong BHXH đã tăng lên nhanh chóng (khoảng 5% so với mức trước cải cách), chủ yếu là do sự gia tăng trong việc tham gia lực lượng lao động vào hệ thống BHXH, chương trình này cũng giúp NLĐ hiểu hơn về vai trò của BHXH để họ tham gia Tổng kết chương trình cải cách BHXH thì lực lượng lao động tham gia đã tăng nhanh hơn nhiều so với trước cải cách (cao hơn mức trước cải cách 25%)

Mức độ đạt được của hệ thống BHXH khi muốn tăng diện bao phủ phải có hai điều kiện: Một là, tuyên truyền để tăng nhận thức của NLĐ về vai trò của BHXH; Hai

là, thông qua cơ quan thuế kiểm soát thu nhập NLĐ và thực hiện cải cách hành chính trong BHXH giúp NLĐ thuận tiện hơn trong quá trình đăng ký tham gia BHXH, đảm bảo quyền lợi khi tham gia BHXH, đặc biệt là lực lượng LĐ ở khu vực có thu nhập thấp Các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhỏ trong quản lý nhà nước về BHXH, nhưng chưa chỉ ra những nhân tố khác cũng ảnh hưởng đến tổng thể quản lý nhà nước

về BHXH tại Uruguay

Năm 2013 hai tác giả Raj, C., & Amy, F.(2013) trong bài viết “Social

Insurance: Connecting Theory to Data” đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu về bảo hiểm xã hội, tập trung vào công việc cải cách hành chính đã kết nối gần hơn giữa nhu cầu tham gia của lực lượng lao động với chính sách BHXH Xem xét của họ có hai phần Đầu tiên bài nghiên cứu của hai tác giả thảo luận về động cơ cho sự cải cách của chính phủ trong công tác quản lý nhà nước về BHXH Hai tác giả xem xét các lập luận ban đầu trong định hướng phát triển BHXH của Chính phủ, việc cải cách hành chính trong quản lý BHXH đã mang lại hiệu quả rõ rệt Sau đó mô tả công việc thực nghiệm rằng các xem xét về lựa chọn trong tham gia bảo hiểm của lực lượng lao động có nguồn thu nhập không chỉ đơn thuần là lựa chọn tham gia loại hình BH nào, mà trong

đó họ có xem xét đến thủ tục tham gia nhanh gọn, thuận tiện cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn tham gia loại hình BH của những LĐ này Trong phần thứ hai của bài báo, họ xem xét việc các chính sách bảo hiểm xã hội tối ưu, đưa ra các công thức cho các cấp độ tối ưu của các quyền lợi bảo hiểm trong điều kiện của tham số thực tế đáng tin cậy Hai tác giả cũng tóm tắt công việc gần đây trên khía cạnh khác của chính

Trang 23

sách tối ưu, trong đó đánh giá cao vai trò quản lý của nhà nước về BHXH, đây là yếu

tố quan trọng nhất Cuối cùng, tác giả thảo luận về các thách thức chính còn tồn tại trong việc tìm hiểu các thiết kế tối ưu của chính sách bảo hiểm xã hội

Đóng góp của hai tác giả là công tác quản lý nhà nước về BHXH thông qua diện bao phủ của BHXH, lực lượng LĐ là một phần đánh giá mức độ tham gia thực tế của người lao động về BHXH, khi cần thiết nhà nước có thể can thiệp vào thị trường lao động để người lao động trong có nhiều cơ hội được tham gia BHXH

Tuy nhiên hai tác giả cũng mới chỉ ra một nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản

lý nhà nước về BHXH là sự hiểu biết và tham gia BHXH của NLĐ mà cũng chưa chỉ

ra được các nhân tố còn lại cũng có mức ảnh hưởng trong công tác quản lý nhà nước

về BHXH

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước

Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước trong BHXH trong những năm gần đây, khối trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp đã đưa vấn đề quản lý nhà nước về BHXH vào giảng dạy, vấn đề này đã được đưa thành một môn học căn bản và hiện nay đã có rất nhiều giáo trình, tài liệu viết về vấn đề quản lí

nhà nước về BHXH, có thể kể đến như: Từ điển Bách khoa năm 2003, NXB chính trị Quốc gia, Hà nội Giáo trình “An sinh xã hội” NXB Đại học kinh tế quốc dân năm

2008 do PGS.TS Nguyễn Văn Định chủ biên, giáo trình “Bảo hiểm” NXB Đại học

kinh tế quốc dân năm 2008 do PGS.TS Nguyễn Văn Định làm chủ biên, giáo trình

“Bảo hiểm xã hội” (2010) của PGS.TS Nguyễn Tiệp, do Nhà xuất bản Lao động - Xã hội xuất bản Giáo trình “Bảo hiểm xã hội” (2012) do TS Hoàng Mạnh Cừ và ThS

Đoàn Thị Thu Hương đồng chủ biên, được xuất bản bởi NXB học viện tài chính Giáo trình Luật ASXH - Trường Đại học luật Hà nội (2013) của TS Nguyễn Thị Kim Phụng chủ biên, do NXB Công an nhân dân xuất bản… Bên cạnh các giáo trình và tài liệu nghiên cứu, giảng dạy cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về BHXH trên nhiều khía cạnh khác nhau như:

Trong đề tài khoa học cấp bộ về ‘Thực trạng và định hướng hoàn thiện tác

nghiệp chi trả các chế độ BHXH hiện nay’, Dương Xuân Triệu (1996) đã khái quát những vấn đề lý luận về BHXH và quỹ BHXH; phân tích thực trạng hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam giai đoạn 1995 - 1996 thông qua việc phân tích các mặt như: cơ sở vật chất phục vụ công tác chi trả, hệ thống sổ sách biểu mẫu chi trả BHXH, quản lý đối tượng chi trả, quy trình chi trả và lệ phí chi trả; đồng thời qua việc phân

Trang 24

tích các phương thức chi trả BHXH, đề tài đã nêu lên phương hướng hoàn thiện các phương thức chi trả BHXH ở nước ta Kết quả của đề tài này là:

+ Đề tài đã nêu lên được những ưu điểm và nhược điểm của phương thức chi trả trực tiếp và gián tiếp

+ Đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện tác nghiệp chi trả các chế độ BHXH cho người lao động như: cần hoàn thiện các văn bản quy định có liên quan đến quản lý đối tượng, quản lý tài chính tạo hành lang pháp lý để cho BHXH các cấp có cơ sở thực hiện; xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy chi trả hoàn chỉnh từ Trung ương đến cơ sở; tính toán mức phí chi trả giữa các vùng, các khu vực cho hợp lý hơn; tăng cường cơ sở vật chất cho BHXH huyện, thị phục vụ cho công tác chi trả trực tiếp; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tài chính trong khâu nghiệp vụ, chuyên môn; đẩy mạnh công tác học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác BHXH; tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về chính sách, chế độ BHXH

Tuy nhiên trong nghiên cứu của mình tác giả cũng chưa chỉ ra trong quản lý nhà nước về BHXH phải chịu ảnh hưởng của nhân tố nào và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lên công tác quản lý nhà nước về BHXH như thế nào?

Bùi Văn Hồng (1997), với đề tài về ‘Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện

các chính sách BHXH’, đã phân tích thực trạng và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện các chính sách BHXH ở Việt Nam qua các thời kỳ (thời kỳ trước năm 1995 và thời kỳ từ năm 1995 đến 1997) Tuy nhiên, do thời kỳ này vẫn chưa có Luật BHXH và

tổ chức BHXH Việt Nam mới thành lập, cho nên đề tài chỉ làm rõ các chính sách BHXH của Nhà nước và vấn đề chi trả cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH thông qua tổ chức công đoàn, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Còn những nội dung khác liên quan đến công tác quản lý nhà nước về BHXH trên phạm vi quốc gia thì tác giả chưa nghiên cứu đến

Trong đề tài nghiên cứu ‘Hoàn thiện phương thức tổ chức, quản lý chi trả chế

độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người tham gia BHXH’, Dương Xuân Triệu (1998) đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về chế

độ trợ cấp ốm đau, thai sản, TNLĐ & BNN cả trước và sau khi BHXH Việt Nam đi vào hoạt động Đề tài đã phản ánh được quá trình tổ chức quản lý chi ba chế độ theo

cơ chế cũ, cũng như từ khi BHXH Việt Nam ra đời, đã phân tích được những mặt mạnh, mặt yếu cùng với những tồn tại do các văn bản pháp luật về BHXH gây ra Qua

đó, đề tài cũng đã đưa ra những kiến nghị làm cơ sở cho việc sửa đổi các văn bản pháp

Trang 25

luật hiện hành để đáp ứng các yêu cầu đổi mới cơ chế chính sách về BHXH Tuy nhiên, đề tài mới đánh giá được mức ảnh hưởng của pháp luật và đội ngũ cán bộ lên công tác quản lý nhà nước về BHXH mà chưa đề cập đến những nhân tố khác có tác động lên quản lý nhà nước về BHXH

Với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về ‘Chiến lược phát triển BHXH phục

vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020’, Nguyễn Huy Ban (1999) đã nghiên cứu và phân tích các vấn đề:

+ Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển hoạt động BHXH Tác giả

đề cập đến những mục tiêu cơ bản trong phát triển nền kinh tế và xã hội ở Việt Nam; hoạt động BHXH là nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế; những yêu cầu phát triển BHXH nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế và xã hội

+ Vấn đề thực hiện BHXH ở một số nước trên thế giới và trực trạng chính sách

ở BHXH ở Việt Nam Sau khi nêu lên tình hình thực hiện BHXH nói chung trên thế giới, tác giả đề tài đã lựa chọn Philippin, Malaysia và Nhật Bản để nghiên cứu và đưa

ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng vào điều kiện Việt Nam

+ Lịch sử phát triển chính sách BHXH ở Việt Nam qua các giai đoạn từ năm

1945 đến 1999; đánh giá những thành tựu, cũng như những mặt đạt được của hệ thống chính sách BHXH và tổ chức thực hiện chính sách BHXH ở Việt Nam

+ Chiến lược phát triển BHXH Việt Nam đến năm 2020 Nội dung này đề tài đã nêu lên những quan điểm và định hướng để phát triển BHXH ở Việt Nam, đồng thời

đề xuất các giải pháp cho việc hoạch định chính sách BHXH ở Việt Nam như: dự báo dân số và lao động đến năm 2020; vấn đề BHXH cho các loại hình lao động thuộc các khu vực kinh tế khác nhau; các nguồn đóng góp, mức đóng góp và cơ chế quản lý sử dụng quỹ BHXH, mô hình tổ chức quản lý hoạt động BHXH

Có thể khẳng định đây là đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ mức độ ảnh hưởng của BHXH và KT-XH đến nhau Tuy nhiên trong nghiên cứu của mình tác giả cũng chưa đưa ra được mức dự báo tham gia BHXH của NLĐ và chưa kiểm chứng mức ảnh hưởng của các nhân tố khác lên công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam

Đỗ Văn Sinh (2001), với đề tài khoa học “Quỹ BHXH và những giải pháp đảm

bảo sự cân đối ổn định giai đoạn 2000 - 2020” đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận

cơ bản về BHXH và quỹ BHXH; phân tích thực trạng về quản lý và cân đối quỹ BHXH ở Việt Nam qua hai giai đoạn (giai đoạn trước năm 1995 và giai đoạn từ năm

1995 đến 2001); có những đánh giá về chính sách BHXH và tổ chức thực hiện chính sách BHXH nói chung Thông qua sự phân tích và đánh giá, đề tài đã đưa ra các quan

Trang 26

điểm, giải pháp quản lý và cân đối quỹ BHXH ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2020 Như vậy, toàn bộ các vấn đề về công tác quản lý Nhà nước về BHXH ở Việt Nam đề tài này cũng không đề cập nghiên cứu

Mai Thị Cẩm Tú (2004) với đề tài khoa học “Cơ sở khoa học xây dựng hệ tiêu

thức quản lý BHXH” tác giả đi sâu vảo nghiên cứu về khoa học quản lý, về thông tin

và vai trò của thông tin trong quản lý, cách thức quản lý trong thực hiện chính sách BHXH Tác giả cũng đưa ra bộ tiêu chí đánh giá công tác quản lý BHXH như: tiêu thức về các chủ thể quản lý theo cơ cấu tổ chức quản lý; tiêu thức định danh BHXH; tiêu thức định danh loại hình đối tượng tham gia Từ đó xây dựng tiêu thức tổng thể trong công tác quản lý BHXH để phục vụ mục tiêu quản lý đồng bộ và thống nhất trong

hệ thống BHXH Việt Nam Tác giả cũng đưa ra cách thức quản lý khi có sự thay đổi về chính sách vĩ mô của nhà nước về BHXH giữa cái cũ và mới, tuy nhiên tác giả mới chỉ

ra tiêu thức quản lý trong chính sách BHXH mà chưa chỉ ra được nội dung quản lý nhà nước về BHXH, chưa chỉ ra được nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý BHXH

Trần Đức Nghiêu (2005) trong tiểu đề án về hoàn thiện quy chế chi BHXH, đã

tiến hành tổng hợp khá đầy đủ các văn bản pháp luật về BHXH liên quan đến quy chế chi BHXH, trình bày những nội dung cụ thể về chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, chi trả trợ cấp BHXH một lần, chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản và nghỉ dưỡng sức; quy trình chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng; quy trình chi trả trợ cấp một lần, chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản và nghỉ dưỡng sức Ngoài ra tác giả cũng đã nêu lên những ưu, nhược điểm của quy trình hiện hành về quản lý chi BHXH Thông qua đó đã đưa ra các biện pháp để khắc phục Cụ thể tiểu đề án đã đưa ra được dự thảo văn bản sửa đổi bổ sung một số điều quy định về quản lý chi trả các chế độ BHXH bắt buộc ban hành kèm theo Quyết định số 1184/QĐ-BHXH ngày 26/9/2003 của BHXH Việt Nam Tuy nhiên, tiểu đề án mới chỉ tập trung nghiên cứu về quy trình quản lý chi

mà chưa đề cập đến vấn đề quản lý Nhà nước về BHXH nói chung tại Việt Nam

Nguyễn Kim Thái (2006) với tiểu đề án “hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy,

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hệ thống BHXH Việt Nam” tác giả đã chỉ ra mô hình quản lý BHXH ở Việt Nam là phù hợp, bộ máy được tổ chức gọn nhẹ Về chức năng, nhiệm vụ được quy định rõ ràng, khắc phục được tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các cấp quản lý Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện mô hình quản lý BHXH hiện nay như: tập trung hoàn thiện bộ máy BHXH ở cấp xã, phường để phục vụ chiến lược BHXH cho người dân và BHYT toàn dân; thành lập trung tâm thống kê và dự báo ở các địa phương về tình hình thực hiện và tham gia BHXH; đưa ra biểu nắm bắt thông tin về đội ngũ cán bộ, viên chức ngành BHXH…

Trang 27

Tuy nhiên tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở việc làm thế nào để hoàn thiện mô hình, cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng ngành BHXH mà chưa đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về BHXH, mới chỉ ra được nhân tố đội ngũ cán bộ, viên chức có ảnh hưởng đến công tác quản lý và thực hiện BHXH, tác giả chưa chỉ ra các nhân tố khác ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam

Vũ Đức Thuật (2006) với đề tài nghiên cứu khoa học “thực trạng và giải pháp

hoàn thiện đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của hệ thống BHXH Việt Nam” tác giả chỉ

ra rằng để đáp sự phát triển của ngành BHXH trong thời gian tới, đặc biệt khi đối tượng tham gia BHXH, BHYT mở rộng, thực hiện mục tiêu BHXH cho mọi NLĐ và BHYT toàn dân thì khối lượng công việc của cán bộ, viên chức trong ngành BHXH cũng tăng lên tương ứng, đòi hỏi công tác đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cũng phải được quy hoạch cho phù hợp đảm bảo tiện nghi làm việc cho đội ngũ cán bộ

Tác giả thống kê trong cả nước có 76 dự án cấp trung ương và tỉnh; 554 dự án cấp huyện; mức chi cho các dự án sau 10 năm thành lập ngành là 600 tỉ đồng Đây là mức chi khiêm tốn so với nhu cầu của hệ thống ngành BHXH Tác giả phân tích rằng với mức đâu tư cơ sở vật chất như vậy sẽ không đáp ứng nhu cầu về trang thiết bị phục

vụ cho công tác quản lý BHXH, việc không đảm bảo cơ sở vật chất sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công việc, không giải quyết kịp thời nhu cầu của người tham gia và chiến lược phát triển của ngành

Bài nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra được nhân tố về cơ sở vật chất có ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH, tuy nhiên để chỉ ra các nhân tố khác ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH thì tác giả chưa chỉ ra được

Nguyễn Danh Long (2008) với chuyên đề tốt nghiệp “tăng cường quản lý nhà

nước đối với hoạt động BHXH ở Việt Nam” trong bài viết của mình tác giả chỉ ra sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động của BHXH xuất phát từ các nguyên nhân : xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển KT-XH; xuất phát từ yêu cầu của nhà nước pháp quyền và định hướng của Đảng; xuất phát từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Trong bài viết của mình tác giả cũng đưa ra kinh nghiệm của một

số nước trên thế giới và rút ra bài học cho Việt Nam trong công tác quản lý nhà nước với hoạt động của BHXH Những nội dung quản lý nhà nước về BHXH cũng được tác giả đưa ra phân tích, đánh giá là: ban hành văn bản quy phạm pháp luật về BHXH; tổ chức và hoàn thiện bộ máy thực hiện BHXH; tổ chức hoạt động BHXH và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH

Trang 28

Tuy nhiên tác giả mới đưa ra các nội dung quản lý nhà nước về BHXH mà chưa chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH, chưa đưa ra chiến lược và cách thức dự báo xu hướng BHXH trong thời gian tiếp theo

Phạm Trường Giang (2008) với luận án tiến sĩ “hoàn thiện cơ chế thu bảo hiểm

xã hội ở Việt Nam” tác giả đã làm rõ việc phối hợp của các bộ phận trong hệ thống thu BHXH phát hiện những tồn tại, bất cập Để từ đó đưa ra những giái pháp hoàn thiện

cơ chế thu BHXH Tuy nhiên tác giả chỉ dừng lại ở một số giải pháp giúp cân đối quỹ trong dài hạn mà chưa đề cập đến những vấn đề quản lý tổng thể về mặt Nhà nước trong BHXH

Trong luận án tiến sĩ ‘Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế

độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam’ Nguyễn Thị Chính (2010) đã định hướng tới mục tiêu hoàn thiện công tác tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cần có quan điểm toàn diện về hệ thống tổ chức chi trả bảo hiểm xã hội, đồng thời phải vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài Tác giả cũng đã chỉ ra vấn đề trong vận hành bộ máy chi trả là chưa thực sự chặt chẽ trong phối hợp của ngành dọc từ Trung ương tới địa phương Tuy nhiên luận án cũng mới dừng lại trong việc làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến hoạt động chi trả, đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức

và hoạt động chi trả các chế độ cho người lao động Đồng thời tác giả cũng chỉ mới đưa

ra một số giải pháp trong vấn đề chi trả chế độ cho người lao động trong thời gian tới mà chưa có những đánh giá trong quản lý nhà nước về BHXH một cách tổng quát

Trong bài nghiên cứu của Nguyễn Nguyệt Nga (2012) dựa trên nghiên cứu của

Paulette Castel (2011) với chủ để “Việt Nam: Phát triển một hệ thống BHXH hiện đại

- Những thách thức hiện tại và các phương án lựa chọn cải cách cho tương lai ” tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề trong thực hiện quản lý nhà nước về BHXH như: vấn

đề tham gia BHXH ở khu vực phi chính thức của NLĐ; bất bình đẳng giữa các nhóm tham gia đóng bảo hiểm; thiếu sự bền vững về tài chính; năng lực quản lý đầu tư quỹ BHXH…Đồng thời đưa ra các giải pháp cần thiết đổi mới để mở rộng độ bao phủ, khuyến khích bình đẳng, tăng cường tính bền vững về tài chính, cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý bảo hiểm xã hội để đảm bảo an sinh và thu nhập cho lượng dân số già của Việt Nam trong những thập kỷ tới đây

Tuy nhiên tác giả cũng mới chỉ ra một số nhân tố như: trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, đầu tư quỹ BHXH; hệ thống ASXH và cải cách hành chính trong BHXH có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về BHXH mà chưa nghiên cứu đến các nhân tố khác, cũng như chưa chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến công tác quản lý nhà nước về BHXH

Trang 29

Mặt khác các công trình nghiên cứu trong nước có đề cập đến công tác quản lý Nhà nước về BHXH trên từng lĩnh vực nhỏ, chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu và toàn diện về vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH một cách đầy đủ trong nhiều mối quan hệ ràng buộc Đây cũng là cơ sở quan trọng để tác giả có thể kế thừa, xây dựng cách thức nghiên cứu sâu hơn trong phạm vi nghiên cứu Tác giả có thể tin tưởng rằng với công trình nghiên cứu của mình sẽ có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt nam trong dài hạn

1.3 Kết luận về tổng quan nghiên cứu và xác lập vấn đề nghiên cứu

Tổng quan nghiên cứu giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quát nhất về các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài Từ đó rút ra được những khoảng trống và câu hỏi nghiên cứu

Qua việc tổng quan các nghiên cứu được trình bày ở trên, tác giả nhận ra một số

“khoảng trống” của các nghiên cứu trước đây như sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về BHXH là một đề tài

đã được thực hiện ở các nước có nền KT-XH phát triển như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đức,… Tuy nhiên, Ở Việt Nam nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về BHXH chỉ mới được nghiên cứu ở một số khía cạnh khác nhau, với số lượng nghiên cứu còn hạn chế, thời gian nghiên cứu chưa dài Kết quả nghiên cứu của các công trình này chủ yếu ở một nội dung nhỏ trong công tác quản lý nhà nước về BHXH Các nghiên cứu tập trung nhiều vào công tác quản lý nghiệp vụ như: công tác quản lý thu, công tác quản lý chi, cân đối quỹ… chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về các nội dung quản lý nhà nước về BHXH và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước

về BHXH Do đó cần bổ sung các bằng chững thực nghiệm về những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH ở Việt Nam

Thứ hai, các nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về BHXH đã thực hiện hầu như đều bị giới hạn phạm vi về thời gian nghiên cứu như: nghiên cứu của Anil Duman (2010), Qin Gao, Sui Yang, Shi Li (2012), Gerhard Igl (2015)… chỉ nghiên cứu một nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH, chưa đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm, những giải pháp cho những nhân tố có ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về BHXH

Xuất phát từ những vấn đề còn khuyết thiếu như đã nêu, NCS đi vào nghiên

cứu đề tài: “Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về bảo

hiểm xã hội ở Việt Nam” với mục tiêu góp phần lấp đầy khoảng trống còn tồn tại Tác

giả cho rằng đề tài có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tế, đưa ra những giải pháp phù

hợp cho công tác quản lý nhà nước về BHXH trong thời gian tới

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nội dung của Chương 1 tập trung làm rõ lý thuyết tổng quan về quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về công tác quản lý nhà nước về BHXH, thông qua các công trình đã công bố bao gồm các bài báo khoa học, sách chuyên khảo, luận án, Trong mỗi phần tác giả đều tập hợp trình bày tổng quan về những điểm chung của các nghiên cứu và phân tích, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của các nghiên cứu để chỉ ra khoảng trống nghiên cứu còn cần phải hoàn thiện khi nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về BHXH Trên cơ sở khoảng trống tác giả đã lựa chọn tên đề tài nhằm bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm liên quan đến công tác quản lý nhà nước về BHXH

Trang 31

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 2.1 Khái quát chung về bảo hiểm xã hội

2.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội

Trong thực tế có rất nhiều cách hiểu khác nhau về BHXH tùy thuộc vào cách tiếp cận của người đọc Tuy vậy chúng ta có thể hiểu chung nhất về BHXH theo các cách sau đây:

Theo giáo sư Henri Keliler thuộc trường Đại học tổng hợp tự do Bruxelles của

Bỉ đã đưa ra khái niệm về bảo hiểm là: “BHXH là toàn bộ các luật và quy định nhằm

đảm bảo cho người lao động hưởng lương (và người lao động tự do với một số hạn chế) cũng như gia đình họ (những người có quyền theo quy định) được hưởng trợ cấp khi họ ở trong hoàn cảnh mất toàn bộ hay một phần thu nhập từ lao động hoặc các phát sinh những chi phí cần được hỗ trợ” Theo khái niệm này thì BHXH bao gồm:

- Bảo hiểm y tế

- Bảo hiểm tàn tật

- Trợ cấp gia đình

- Thai sản

- Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

- Bảo hiểm hưu trí và tử tuất

- Trợ cấp thất nghiệp

Theo tập 1 từ điển Bách khoa Việt nam thì: “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp

một phần thu nhập cho người lao động bị mất hoặc giảm thu nhập trong các trường hợp do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già,tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính chung từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội ”.

Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cũng đưa ra khái niệm về BHXH theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp là:

Theo nghĩa rộng, BHXH là sự đảm bảo hoặc thay thế hoặc bù đắp một phần thu

nhập cho người lao động và gia đình họ khi người lao động tham gia BHXH bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện BHXH xảy ra và trợ giúp các dịch vụ

Trang 32

việc làm, chăm sóc y tế cho họ trên cơ sở quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, nhằm ổn định đời sống cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội

Theo nghĩa hẹp, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập

cho người lao động và gia đình họ từ quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, khi người lao động tham gia BHXH bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện BHXH xảy ra, nhằm đảm bảo ổn định đời sống gia đình người lao động và đảm bảo

an sinh xã hội

Trong luật BHXH, khái niệm về BHXH được hiểu theo nghĩa hẹp này và được

Quốc hội Việt nam thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 đã xác định “BHXH là sự

đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết

Theo tác giả hiểu theo nghĩa chung nhất về BHXH là: “BHXH là sự đảm bảo

hoặc thay thế một phần thu nhập do mất hoặc giảm thu nhập trong các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất, trên cơ sở đóng góp từ các bên tham gia, có sự bảo trợ của nhà nước Dưới góc độ pháp luật thì BHXH là tổng hợp các quy định về điều kiện đóng và hưởng BHXH của người tham gia theo quy định

Chúng ta có thể thấy rõ các khái niệm BHXH nêu trên đều có đặc điểm chung là:

- BHXH là một chính sách xã hội được luật cụ thể hóa tùy theo điều kiện cụ thể của từng nước

- Để tổ chức và thực hiện được chính sách BHXH phải dựa vào một quỹ tiền tệ chung do người lao động, người sử dụng lao động đóng góp và có sự hỗ trợ bảo trợ của nhà nước

- Người lao động và gia đình họ được hưởng lợi từ chính sách BHXH khi xảy

ra các sự kiện về BHXH theo quy định của từng quốc gia

- Mục đích của BHXH là đảm bảo đời sống cho người lao động tham gia BHXH và gia đình họ, từ đó đảm bảo mục tiêu ASXH đề ra

2.1.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội

2.1.2.1 Đối với người lao động

Vai trò lớn nhất của BHXH là bù đắp những thu nhập bị mất hoặc giảm trong các trường hợp: Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp; Hưu trí và

Trang 33

tử tuất Sự hỗ trợ này không những giúp NLĐ giảm thiểu những khó khăn trước mắt

mà còn tạo điều kiện để họ và gia đình ổn định cuộc sống

NLĐ nhận được sự hỗ trợ trong các trường hợp nêu trên cũng cảm nhận được trách nhiệm của Nhà nước đối với mình, sự cưu mang và san sẻ rủi ro của cộng đồng khi gặp khó khăn, nhờ đó họ không chỉ ổn định về cuộc sống mà càng có niềm tin với Đảng, với nhà nước và với cộng đồng

BHXH cũng là cơ hội để mỗi NLĐ thể hiện trách nhiệm với những thành viên khác về san sẻ rủi ro trong quá trình lao động Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệu quả trong chi tiêu cá nhân, giúp họ tiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết khi hết tuổi lao động, mất sức lao động…góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình

Mặt khác nhờ có BHXH mà NLĐ có thể yên tâm lao động sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất tốt cho xã hội để đóng góp cho sự phát triển chung KT-XH, trong suốt quá trình lao động NLĐ được đảm bảo ổn định về mặt thu nhập ở mức độ cần thiết từ nguồn quỹ BHXH, đây cũng là động lực để NLĐ tiếp tục phấn đấu

2.1.2.2 Đối với người sử dụng lao động

BHXH giúp các tổ chức sử dụng lao động, các doanh nghiệp, ổn định hoạt động thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý Nếu không có BHXH, khi NLĐ ốm đau, tai nạn không có thu nhập thì đời sống của NLĐ sẽ gặp nhiều khó khăn, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ lao động, chất lượng, hiệu quả lao động trong các tổ chức lao động sẽ bị ảnh hưởng theo BHXH góp phần làm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị ổn định, sản xuất, kinh doanh được hoạt động liên tục, hiệu quả, các bên của quan hệ lao động trở nên gắn bó với nhau hơn Mặt khác khi có những rủi ro lớn xảy ra thì NSDLĐ không bị lâm vào tình trạng nợ nần hoặc phá sản

do phải chi trả cho NLĐ

Khi xảy ra rủi ro thì BHXH thay mặt cho NSDLĐ chi trả cho NLĐ những thu nhập bị mất hoặc giảm này, sự quan tâm thông qua việc đóng góp vào quỹ BHXH sẽ kích thích NLĐ tích cực lao động để tạo ra thật nhiều của cải, vật chất tốt cho xã hội Mối quan hệ khăng khít này còn thể hiện ở chỗ, khi NLĐ giúp NSDLĐ tăng lợi nhuận,

mở rộng phạm vi sản xuất kinh doanh thì NSDLĐ lại tạo điều kiện để NLĐ có thêm thu nhập, mức đóng BHXH tăng lên thì mức hưởng cả NLĐ sau này cũng tăng lên Nói cách khác BHXH là cầu nối giữa NLĐ và NSDLĐ trong mối quan hệ hài hòa lợi ích, cả hai bên đều có lợi về lâu dài

Trang 34

BHXH tạo điều kiện cho NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ trong quá trình lao động, BHXH còn chứng minh mối quan hệ lao động mang tính nhân văn sâu sắc, nâng cao trách nhiệm của tổ chức sử dụng lao động với lực lượng lao động trong toàn xã hội

2.1.2.3 Đối với nhà nước và xã hội

Trong BHXH thì vai trò của nhà nước là rất lớn, không chỉ thể hiện ở quản lý thống nhất, toàn diện về BHXH mà còn là sự hỗ trợ, bảo trợ cho BHXH Trong điều kiện nguồn lực có hạn thì quỹ BHXH đã giúp nhà nước giảm đi gánh nặng chi tiêu cho NSNN trong việc chi trả BHXH, nhờ đó nhà nước dành một phần NSNN để kiến thiết, xây dựng các chương trình mang tính phúc lợi cao để phục vụ lợi ích chung cho toàn XH

BHXH còn có vai trò đối với xã hội đó là việc hình thành tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng, củng cố truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội Hiện nay BHXH là một bộ phận lớn nhất trong mạng lưới ASXH, BHXH là cơ sở để phát triển các bộ phận ASXH khác BHXH còn là căn cứ để đánh giá trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức độ ASXH đạt được mỗi nước BHXH còn phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia Khi kinh tế phát triển, đời sống của NLĐ được nâng cao thì nhu cầu tham gia BHXH của họ càng lớn Thông qua hệ thống BHXH, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của nhà nước cũng ngày càng được nâng cao thể hiện bằng việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng về hình thức bảo hiểm Nhà nước đứng ra quản lý toàn diện về BHXH thì mức độ

an toàn của NLĐ trong thu nhập càng cao, bảo trợ của nhà nước trong BHXH còn thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với lực lượng lao động nói riêng và toàn xã hội nói chung, từ đó giúp xã hội trở nên ổn đinh hơn

BHXH còn là một kênh huy động nguồn vốn, làm thị trường tài chính trở nên phong phú hơn, giúp nền kinh tế phát triển thông qua việc đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi

từ quỹ BHXH Nguồn quỹ này cho ngân hàng nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước vay, để từ đó các cá nhân, tổ chức có nhu cấu vay vốn đế sản xuất, kinh doanh thông qua hệ thống ngân hàng này

Ở Việt nam, không những thông qua chính sách BHXH bắt buộc đối với khu vực chính thức, mà BHXH còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình sản xuất lạc hậu, nhỏ lẻ tiền lên sản xuất công nghiệp, dịch vụ hiện đại nhanh chóng Với vai trò của mình BHXH là một khâu không thể thiếu trong việc thực hiện mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế đất nước

Trang 35

2.1.3 Quản lý bảo hiểm xã hội

Quản lý BHXH là quá trình tổ chức và điều khiển các hoạt động của BHXH theo một trật tự thống nhất nhằm đạt được mục tiêu và chiến lược đề ra Như vậy quản

lý BHXH bao gồm hai nội dung cơ bản là quản lý nghiệp vụ về BHXH và quản lý nhà nước về BHXH, trong đó:

2.1.3.1 Quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xã hội

Thông thường do các cơ quan thực hiện BHXH đảm nhiệm Thực tế, trên thế giới có rất nhiều mô hình tổ chức quản lý nghiệp vụ BHXH, tùy theo nhu cầu, điều kiện của từng nước, từng thời kỳ Có nước lựa chọn mô hình chế độ tự quản của những người đóng góp, theo quy định của pháp luật Có nước tồn tại nhiều tổ chức BHXH độc lập, theo từng đối tượng (BHXH công chức, BHXH các ngành) hoặc theo từng chế

độ (quỹ chăn sóc y tế, quỹ tai nạn lao động, quỹ hưu trí…)

Tuy nhiên, đối với đa số các nước, trong đó có Việt nam, lựa chọn thiết lập mô hình do một cơ quan BHXH thống nhất từ cấp Trung ương đến các địa phương để quản lý nghiệp vụ BHXH Cơ quan quản lý cao nhất về nghiệp vụ ở nước ta đó là bảo hiểm xã hội Việt nam Chính điều này không những hỗ trợ cho thị trường lao động, tạo

sự thống nhất trong toàn hệ thống mà còn giúp mở rộng phạm vi bao phủ và thực hiện đồng bộ chính sách BHXH nói riêng và chính sách ASXH nói chung Theo mô hình này, BHXH là cơ quan dịch vụ công, thuộc chính phủ, thực hiện pháp luật BHXH, quản lý, sử dụng quỹ BHXH theo quy định

2.1.3.2 Quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

Đây là sự tác động của các chủ thể nhân danh quyền lực nhà nước, theo các quy định của pháp luật, nhằm thực hiện các chức năng nhà nước trong lĩnh vực BHXH Theo phạm vi thì nội dung quản lý nhà nước về BHXH bao gồm các lĩnh vực lập pháp (ban hành văn bản pháp luật về BHXH), hành pháp (tổ chức thực hiện pháp luật BHXH, thanh kiểm tra, xử phạt vi phạm, giải quyết khiếu nại trong BHXH) và tư pháp (giải quyết tranh chấp, xét xử vi phạm trong lĩnh vực BHXH) Ngoài ra, thuộc chức năng quản lý nhà nước về BHXH còn bao gồm các hoạt động nghiệp vụ hỗ trợ cho thẩm quyền của nhà nước như: tuyên truyền chính sách pháp luật BHXH, thống kê, thông tin, cải cách thủ tục hành chính, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về BHXH…

Tại Việt nam thì cơ quan quản lý nhà nước về BHXH được Chính phủ giao là

Bộ lao động thương binh và xã hội, trong đó vụ BHXH là đơn vị chủ trì trong các vấn

đề quản lý trong lĩnh vực BHXH theo quy định

Trang 36

Để hiểu thế nào là quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội thì phải hiểu thế nào là quản lý nhà nước, đây là căn cứ khoa học để thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm

xã hội

√ Khái niệm về quản lý nhà nước

Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm

“quản lý” Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

Theo quan niệm của C.MÁC: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công

tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” (Các Mác – Ph Ăng ghen, toàn tập, tập 23, trang 23)

Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý

là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với

ý trí của người quản lý Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội

và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN” (Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, trang 407)

Trang 37

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt.uản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa

Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước,

từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp

Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật

Quản lý nhà nước (QLNN) là sự biểu hiện năng lực của con người trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách có ý thức dưới một hình thức có tổ chức xã hội nhất định - Tổ chức nhà nước và QLNN Vì vậy QLNN biểu hiện trước hết ở những tác động có ý thức vào các quá trình phát triển của xã hội, vào nhận thức của con người, buộc con người phải suy nghĩ và hành động theo một hướng và các mục tiêu nhất định

QLNN là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, giữ gìn trật tự xã hội và phát triển xã hội theo mục tiêu đã định Ở nước ta, đó là mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt phát triển KT-XH của đất nước theo định hướng XHCN đã được xác định trong Cương lĩnh của Đảng

Nhà nước tổ chức thực hiện các nội dung QLNN Hoạt động của các cơ quan QLNN ở tầm vĩ mô theo một chu trình liên hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại giữa các khâu như: nhận tin - xử lý tin – nghiên cứu- đề ra giải pháp- kiểm tra Nội dung QLNN đối với hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN bao gồm các chức năng sau:

√ Đặc điểm quản lý nhà nước

Từ khái niệm về quản lý nhà nước nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm của quản

lý nhà nước như sau:

Trang 38

- Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước Quản lý nhà nước được thiết lập trên cơ sở mối quan

hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”

- Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội

- Quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối lên đối tượng quản lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học

- Quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Cùng với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không

bị gián đoạn Các quyết định của nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản lý

có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định

√ Cơ cấu hệ thống và các yếu tố tạo nên hoạt động quản lý nhà nước

Cơ cấu, hệ thống quản lý nhà nước bao gồm các yếu tố sau đây tạo thành: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản

lý trong quá trình quản lý

Chủ thể quản lý nhà nước được xác định theo vùng lãnh thổ trên cơ sở hình thành các đơn vị hành chính và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo quy định của pháp luật Hệ thống quản lý nhà nước được xây dựng theo hệ thống chức năng chiều dọc, tạo ra cơ cấu quản lý phù hợp với chức năng quản lý của từng lĩnh vực theo các

cơ quan nhà nước và theo nghành Hệ thống quản lý nhà nước là một tập hợp các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội được nhà nước uỷ quyền Trong các cơ quan tổ chức

đó, cán bộ, công chức nhà nước được xác định cụ thể về quyền và nghĩa vụ

Xác định đối tượng quản lý nhà nước giúp cho ta trả lời câu hỏi “quản lý ai” và suy cho cùng đối tượng quản lý nhà nước chính là con người, hay cụ thể hơn là hành

vi con người trong xã hội Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau có thể phân chia đối tượng quản lý nhà nước ra nhiều loại, như các cấp độ đối tượng quản lý (con người, tập thể, toàn bộ hệ thống tổ chức)

Trang 39

Trong quản lý nhà nước cần làm rõ khách thể của quản lý nhà nước Khách thể của quản lý nhà nước chính là hệ thống các hành vi, hoạt động của con người, các tổ chức con người trong cuộc sống xã hội, là hệ thống trong đó bao trùm các lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất các giá trị vật chất và tinh thần cũng như các điều kiện sống của con người trong xã hội Có thể chia khách thể của quản lý nhà nước theo các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng

Phương pháp quản lý nhà nước là phương thức, cách thức mà chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý (hành vi, đối tượng quản lý) nhằm đạt được những mục đích quản lý Phương pháp quản lý nhà nước thể hiện ý chí của nhà nước, nó phản ánh thẩm quyền của các cơ quan nhà nước và được biểu hiện dưới những hình thức nhất định Các phương pháp quản lý trong hoạt động quản lý nhà nước là: thuyết phục, cưỡng chế, hành chính, kinh tế, theo dõi, kiểm tra; ngoài ra còn những phương pháp riêng áp dụng trong quá trình thực hiện những chức năng riêng biệt hoặc những khâu những giai đoạn riêng biệt của quá trình quản lý

Chương trình quản lý được diễn ra kế tiếp nhau theo trình tự thời gian tương ứng với việc giải quyết một số nội dung trong quản lý như: đánh giá tình hình các vấn

đề cần giải quyết; chuẩn bị dự thảo quyết định; thông qua quyết định; ban hành quyết định; tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra đánh giá thực hiện các quyết định

Tóm lại, quản lý nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố nội tại Muốn đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước cần phải phân tích cơ cấu quản lý tạo nên hoạt động quản lý và sự tác động của từng yếu tố đó đến hoạt động quản lý

√ Quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội

Cho đến nay chưa có khái niệm cụ thể hoặc định nghĩa chính xác về quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH Song từ việc làm rõ các khái niệm ở phần trên cùng với một số văn bản có đề cập đến quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, có thể hiểu về quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH như sau:

Quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH là quá trình nhà nước sử dụng trong phạm vi quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh vào các quan hệ nảy sinh trong hoạt động BHXH nhằm đảm bảo cho hoạt động BHXH diễn ra theo đúng quy định của pháp luật và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của BHXH

Quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH; Tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về BHXH; Tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách về

Trang 40

BHXH đến việc tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BHXH

Từ khái niệm quản lý nhà nước nêu trên ta có thể nêu ra một số đặc điểm riêng của quản lý nhà nước trong hoạt động BHXH như sau:

Nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH trong nền kinh tế thị trường Xuất phát từ tính phức tạp, năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thị trường đòi hỏi mang tính quyền lực nhà nước để tổ chức và điều hành các hoạt động BHXH Chủ thể ấy chính là nhà nước mà cụ thể hơn là các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền Để hoàn thành sứ mệnh của mình nhà nước phải xây dựng, tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH

Pháp luật là cơ sở và là công cụ quản lý hàng đầu, công cụ không thể thay thế

do xuất phát từ nhu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trường để nhà nước tổ chức

và quản lý các hoạt động BHXH nói riêng và hoạt động kinh tế - xã hội nói chung

Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế nói chung, các quan hệ BHXH nói riêng diễn ra phức tạp và đa dạng đòi hỏi sự quản lý của nhà nước Để quản lý được nhà nước phải sử dụng đến hệ thống các công cụ như: Luật, các văn bản luật, các công cụ cưỡng chế Luật và các văn bản luật nhà nước ban hành mang tính chuẩn mực Những quy tắc sử sự có tính bắt buộc chung được nhà nước sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu trong việc quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội cũng như các hoạt động BHXH

Quản lý của nhà nước đối với hoạt động BHXH đòi hỏi có một bộ máy thực hiện các hoạt động BHXH mạnh, có hiệu lực và hiệu quả và một hệ thống pháp luật về BHXH đồng bộ hoàn chỉnh Yếu tố nội tại để bộ máy có thể hoạt động và vận hành tốt không ai khác ngoài con người Tại Việt nam thì đội ngũ cán bộ trong ngành BHXH là nhân tố quyết định thành bại trong hoạt động BHXH, trong đó trình độ của họ là yếu

- Xây dựng cơ chế tài chính BHXH

- Hỗ trợ, bảo trợ của Nhà nước

- Thanh tra, kiểm tra hoạt động BHXH

Ngày đăng: 08/11/2018, 09:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alexander, L. & Dirk, K. (2016), ‘On the optimal provision of social insurance Progressive taxation versus education subsidies in general equilibrium by’, Journal of Monetary Economics, Volume 77, pp.72 -102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Monetary Economics
Tác giả: Alexander, L. & Dirk, K
Năm: 2016
2. Anil, D. (2010), ‘Risks in the labor market and social insurance preferences: Germany and the USA’, International Journal of Social Economics, Volume 37, Issue 2, pp. 101 -121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Social Economics
Tác giả: Anil, D
Năm: 2010
3. Arturo, A., Roy, B., Alejandra, E., & María, E. (2016), ‘Universal social insurance for Mexico: Modeling of a financing scheme’, Economic Modelling, Volume 52, Part B, pp. 838-850 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Modelling
Tác giả: Arturo, A., Roy, B., Alejandra, E., & María, E
Năm: 2016
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2006), Nghị quyết số 56/2006/QH11 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 56/2006/QH11 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
Năm: 2006
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (2012), Nghị quyết số 15-NQ/TW về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, ban hành ngày 01 tháng 06 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 15-NQ/TW về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
Năm: 2012
6. Ban Chấp hành Trung ương khoá X (2008), ‘Kết luận về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2008 – 2012’, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá X, ngày 28 tháng 1 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá X
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương khoá X
Năm: 2008
7. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (2005), Báo cáo của BHXH Việt Nam từ năm 2005- 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của BHXH Việt Nam từ năm 2005-2015
Tác giả: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
Năm: 2005
8. Bộ Chính trị (2012), Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020, ban hành ngày 22 tháng 11 năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị (2012"), Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2012
9. Bùi Văn Hồng (1997), Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện các chính sách BHX’, đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện các chính sách BHX
Tác giả: Bùi Văn Hồng
Năm: 1997
10. Các Mác – Ph. Ăng ghen (2004), Các Mác – Ph. Ăng ghen toàn tập 23, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Mác – Ph. Ăng ghen toàn tập 23
Tác giả: Các Mác – Ph. Ăng ghen
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 2004
11. Charles, K., & Yui, L.(2001), ‘Productivity growth, increasing income inequality and social insurance: the case of China?’, Journal of Economic Behavior &Organization, Volume 46, Issue 4, pp. 395-408 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Charles, K., & Yui, L.(2001), ‘Productivity growth, increasing income inequality and social insurance: the case of China?’, "Journal of Economic Behavior & "Organization
Tác giả: Charles, K., & Yui, L
Năm: 2001
12. Christopher, S., & Şevin, Y. (2008), ‘Politically credible social insurance’, Journal of Monetary Economics, Volume 55, Issue 1, pp.129-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Monetary Economics
Tác giả: Christopher, S., & Şevin, Y
Năm: 2008
13. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế − xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế"−"xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Năm: 2011
14. Đỗ Văn Sinh (2001), ‘Quỹ BHXH và những giải pháp đảm bảo sự cân đối ổn định giai đoạn 2000 – 2020’, Đề tài khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ BHXH và những giải pháp đảm bảo sự cân đối ổn định giai đoạn 2000 – 2020’
Tác giả: Đỗ Văn Sinh
Năm: 2001
15. Dương Xuân Triệu (1996), ‘Thực trạng và định hướng hoàn thiện tác nghiệp chi trả các chế độ BHXH hiện nay’, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và định hướng hoàn thiện tác nghiệp chi trả các chế độ BHXH hiện nay’
Tác giả: Dương Xuân Triệu
Năm: 1996
16. Dương Xuân Triệu (1998), ‘Hoàn thiện phương thức tổ chức, quản lý chi trả chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người tham gia BHXH’, Đề tài khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện phương thức tổ chức, quản lý chi trả chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người tham gia BHXH
Tác giả: Dương Xuân Triệu
Năm: 1998
17. Friedel , B., Hannah, L., & Claudia, V. (2012). ‘How much social insurance do you want? An experimental study’, Journal of Economic Psychology, Volume 33, Issue 6, pp. 1170-1181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Economic Psychology
Tác giả: Friedel , B., Hannah, L., & Claudia, V
Năm: 2012
18. Georges C., Helmuth, C., & Pierre, P. (2000), ‘Political sustainability and the design of social insurance’, Journal of Public Economics, Volume 75, Issue 3, pp. 341-364 Sách, tạp chí
Tiêu đề: social insurance’, Journal of Public Economics
Tác giả: Georges C., Helmuth, C., & Pierre, P
Năm: 2000
19. Gerhard, I. (2015), ‘Social Insurance: Legal Aspects’, International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences (Second Edition), pp. 362-364 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences (Second Edition)
Tác giả: Gerhard, I
Năm: 2015
58. Tổ chức Lao động quốc tế (2014), Hơn 70% dân số thế giới không được hưởng chế độ bảo trợ xã hội đầy đủ, truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2016 từhttp://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/newsitems/WCMS_245457/lang--vi/index.htm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w