1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vận dụng kiến thức sinh học ở cấp THCS để giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn đời sống

31 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo hiện nay, vận dụng kiến thức môn học để giải quyết vấn đề thực tiễn là trách nhiệm của mỗi quốc gia và đã được nhiều quốc g

Trang 1

VẬN DỤNG KIẾN THỨC SINH HỌC Ở CẤP THCS ĐỂ GIẢI

QUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG THỰC TIẾN ĐỜI SỐNG

A.MỞ ĐẦU.

I.Đặt vấn đề:

1/ Thực trạng các vấn đề đòi hỏi có giải pháp mới để giải quyết:

-Ngày nay,chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển, hiện đại với biết bao đổi thayđang diễn ra đặc biệt là nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một cách bất ngờ;đổi mới một cách cực kì nhanh chóng.Theo đó hệ thống giáo dục cũng đặt ra những yêu cầuđổi mới để thích nghi với đời sống xã hội.Trước đòi hỏi của thực tiễn, nước ta đang trênđường hội nhập và phát triển thì đổi mới giáo dục trong đó đổi mới phương dạy học là hếtsức cần thiết

-Trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo hiện nay, vận dụng kiến thức môn học để giải quyết vấn đề thực tiễn là trách nhiệm của mỗi quốc gia và đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới

nhiều hình thức khác nhau Nhưng chúng ta đã biết nguyên tắc đầu tiên trong năm nguyên tắc giảng dạy thì nguyên tắc thứ nhất là liên hệ thực tế như :Ulrich Lipp - một chuyên gia về

phương pháp sư phạm đã nói: “Giờ giảng tốt thường được bắt đầu từ thực tiễn và kết thúc

bằng thực tiễn.”

Những gì được dạy trên lớp phải gắn với cuộc sống bên ngoài, ở quá khứ, hiện tại vàtương lai của người học Với người lớn tuổi, nếu nội dung học không liên quan đến côngviệc đang làm, họ sẽ không muốn học Họ chỉ có thể hiểu lý thuyết qua ví dụ thực tế

-Học phải suy nghĩ, phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành Học vàhành phải kết hợp với nhau" Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của BanChấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đápứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định mục tiêu giáo dục phổ thông: "Đối với giáodục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân,phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoạingữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo củangười học, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theonhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn "

- Tổ chức UNESCO cho rằng, mục đích của việc học là: " Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình"

-Từ trước đến nay, đa phần học sinh đều cho rằng các bộ môn thuộc Khoa học tự nhiêntrong đó có bộ môn Sinh học thường là khô khan, khó hiểu Điều này gây ảnh hưởng khôngnhỏ tới việc đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Một thực trạng

dễ thấy là ở học sinh, đặc biệt là những em có học lực từ trung bình trở xuống thường rất khótập trung trong giờ học bộ môn Vấn đề đặt ra là giáo viên phải không ngừng tìm tòi mọiphương pháp, cách thức để khơi dậy sự hứng thú, nhiệt tình học tập của học sinh nếu khôngtiết dạy sẽ trở nên nhàm chán, khó có được sự thành công Tuy nhiên, qua khảo sát thực tếcho thấy phần lớn giáo viên bộ môn khi dạy chỉ chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức mà ítchú trọng đến khâu liên hệ thực tế tạo cảm hứng cho học sinh, nếu có thì cũng chỉ là đưa ranhững ví dụ mang tính hàn lâm Chúng ta đều biết rằng ngoài hệ thống tri thức mang tínhkhoa học được thể hiện trong sách giáo khoa, các tài liệu khác, tri thức bộ môn còn được thểhiện rất nhiều ở hệ thống kinh nghiệm mà cha ông chúng ta qua các thế hệ đã đúc kết quakho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ Thế nhưng trên thực tế việc vận dụng hệ thống kinhnghiệm này trong dạy và học bộ môn còn ít được quan tâm Vì thế khi học sinh tiếp xúc với

Trang 2

những vấn đề mang tính thực tế học sinh thường gặp khó khăn trong việc giải thích, liên hệ

và đặc biệt, mức độ hứng thú đối với bộ môn là không cao

-Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy bộ môn, với sự trăn trở tìm giải pháp khơi dậy sựhứng thú học tập ở học sinh chúng tôi mạnh dạn trình bày ra đây một số kinh nghiệm trongviệc vận dụng kiến thức ở bộ môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống

2.Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:

-Học sinh vận dụng kiến thức của các môn học khác nhau để giải quyết các tình huốngthực tiễn; tăng cường khả năng vận dụng tổng hợp, khả năng tự học, tự nghiên cứu của họcsinh

- Thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành trong nhà trường với thực tiễn đờisống; đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phương châm "học đi đôi với hành"

-Có thể nói sự liên hệ thực tế và giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống chính là nhữngnhịp cầu cũng là nguồn cảm hứng giúp con người biến kiến thức thành những thí nghiệm,những công trình nghiên cứu hoặc những sáng tạo trong khoa học, đồng thời còn giúp conngười đến gần với cuộc sống và thiên nhiên nhiên Người có kiến thức vận dụng vào thựctiễn phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn

đề một cách tích cực và phù hợp họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời vàlàm chủ cuộc sống của mình Ngược lại người thiếu thì thường bị vấp váp, dễ bị thất bạitrong cuộc sống

- Góp phần đổi mới hình thức, phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập; thúc đẩy sự tham gia của gia đình, cộng đồng vào công tác giáo dục

3.Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Học sinh ở trường THCS

II/ Phương pháp tiến hành:

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn có tính định hướng cho việc nghiên cứu, tìm giải

pháp của đề tài:

-Để nâng cao chất lượng dạy và học ngoài việc chúng ta cần tích cực đổi mới phươngpháp dạy học: vận dụng công nghệ thông tin vào dạy học, các phương pháp dạy học tích cực,những phương pháp dạy học tích hợp.Để góp phần nâng cao hiệu quả học tập của các em thìvấn đề thực hành, trải nghiệm của các em cũng được quan tâm

-Năm học 2015-2016 là năm học tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học và lànăm học có nhiều đổi mới trong việc dạy học, kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng pháttính tích cực, chủ động sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường kĩ năng thựchành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; đa dạng hóa các hìnhthức học tập, chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của họcsinh.Đồng thời giúp học sinh tham gia cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyếtcác tình huống thực tiễn dành cho học sinh trung học

-Trong giảng dạy các môn học ở trong trường phổ thông nói chung và trong dạy mônSinh học nói riêng việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển tư duysáng tạo cho học sinh là vô cùng quan trọng, đặc biệt là kĩ năng vận dụng kiến thức sinh học

để giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống

Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy ở các trường phổ thông hiện nay, hầu hết các giáo viênchỉ chú trọng việc cung cấp kiến thức lí thuyết, nội dung bài học cho học sinh, rèn luyện kĩnăng làm các bài thi, bài kiểm tra bằng các câu hỏi lí thuyết, trắc nghiệm việc rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn đời sống, vào giải quyết các vấn đề thực tiễncòn chưa được chú trọng

Trang 3

Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm, có nhiều nội dung kiến thức gắn liền vớithực tiễn đời sống Vì vậy, trong dạy học việc rèn luyện và nâng cao cho học sinh kĩ năngvận dụng kiến thức sinh học để giải quyết một số vấn đề thực tiễn là rất thiết thực và cầnphải đặc biệt quan tâm

2 Các biện pháp tiến hành giải pháp:

-Vận dụng kiến thức môn học để giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống là một phươngpháp mới, song để thực hiện được mục tiêu giáo dục này phải trải qua một quá trình và ápdụng đồng thời nhiều biện pháp khác nhau

-Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp giáo dục để rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcsinh học vào thực tiễn đời sống, vào giải quyết các vấn đề thực tiễn còn chưa được chútrọng.Do đó trước hết, giáo viên phải xác định mục đích yêu cầu của việc liên hệ và các vấn

đề cần giải quyết, đặc biệt chú ý mục tiêu về kĩ năng, đưa kĩ năng vận dụng kiến thức củamôn học vào các tình huống cụ thể Trên cơ sở đó, định hướng cho hệ thống kiến thức củabài dạy đạt mục tiêu một cách có hiệu quả

- Xác định cơ sở khoa học của nội dung vận dụng kiến thức vào thực tiễn

-Chọn các ý tưởng, giải pháp tốt nhất:

-Tổ chức các biện pháp liên hệ thực tiễn.

-Tiếp theo đó, để khảo sát thực tế về nhu cầu của người học, giáo viên thực hiện biện phápđiều tra, thống kê, phân loại Biện pháp này phải tiến hành điều tra trên diện rộng (toàn bộhọc sinh ở các lớp mình giảng dạy), sau đó thống kê và phân loại đối tượng học sinh để tìmphương pháp phù hợp trong quá trình giảng dạy

-Trong quá trình thực hiện giảng dạy theo hướng liên hệ thực tế, giáo viên cần vận dụngbiện pháp giải thích, phân tích, chúng minh, tổng hợp Các biện pháp này giáo viên sẽ vậndụng trong thời điểm giải quyết các tình huống trong thực tiễn

-Một giờ giảng tốt, có hiệu quả cần gợi mở và thu hút người học bằng những câu hỏi liênquan đến thực tế công việc của họ, cung cấp cho họ kiến thức mới về lý thuyết và kết thúcbằng các yêu cầu rất thực tế

-Để có thời gian liên hệ thực tế, nội dung bài giảng nên được cắt giảm và chỉ tập trung vàonhững nội dung thực sự cần thiết Thực tế cho thấy, giờ học ở Việt Nam hiện nay phải truyềnđạt quá nhiều nội dung, vì vậy mà mỗi giáo viên cần phải linh hoạt trong việc chọn lọc điều

gì là có ích nhất cho người học

-Đánh giá kết quả.

B NỘI DUNGI/ Mục tiêu:

Dạy học tích hợp, liên môn xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết

những vấn đề thực tiễn

Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi hỏi họcsinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạy học cầnphải tăng cường theo hướng tích hợp, liên môn như bạn hỏi

Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy

học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủquyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả,bảo vệ môi trường, an toàn giao thông

Trang 4

Còn dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay

nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiếnthức ở các môn học khác nhau Đối với những kiến thức liên môn nhưng có một môn họcchiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình của môn đó và không dạy lại ở các mônkhác

Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ đềliên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình dạyhọc các bộ môn liên quan

-Sự khác nhau giữa chủ đề "đơn môn" và chủ đề "liên môn"?

Chủ đề đơn môn đề cập đến kiến thức thuộc về một môn học nào đó còn chủ đề liên môn

đề cập đến kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học

Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thì không có gì khác biệt Đối với một chủ

đề, dù đơn môn hay liên môn, thì vẫn phải chú trọng việc ứng dụng kiến thức của chủ đề ấy,bao gồm ứng dụng vào thực tiễn cũng như ứng dụng trong các môn học khác

Do vậy, về mặt phương pháp dạy học thì không có phân biệt giữa dạy học một chủ đềđơn môn hay dạy học một chủ đề liên môn, tích hợp

Điều quan trọng là dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh đòi hỏi phải tổ chức hoạtđộng học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, mà các hoạt động ấy phải được tổ chức ởtrong lớp, ngoài lớp, trong trường, ngoài trường, ở nhà và cộng đồng, đặc biệt quan tâm đếnhoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn

-Ưu điểm với học sinh :

Trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối

với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ

đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyếtcác tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc

Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phảihọc lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải,nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiếnthức tổng hợp vào thực tiễn

-Ưu điểm với giáo viên

Đối với giáo viên thì ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu hơn nhữngkiến thức thuộc các môn học khác Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắcphục dễ dàng bởi hai lý do:

Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải

dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu vềnhững kiến thức liên môn đó;

Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn

là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học củahọc sinh cả ở trong và ngoài lớp học;

Trang 5

Vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp,

hỗ trợ nhau trong dạy học

Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việcdạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng caokiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần phát triển đội ngũ giáo viên bộ mônhiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp Thế

hệ giáo viên tương lai sẽ được đào tạo về dạy học tích hợp, liên môn ngay trong quá trìnhđào tạo giáo viên ở các trường sư phạm

-Giáo viên có gặp khó khăn?

Khó khăn của giáo viên hiện nay nếu có chỉ là vấn đề tâm lí Về thực chất thì không có nhiềukhó khăn cả về kiến thức lẫn phương pháp dạy học

Hơn nữa, từ nhiều năm nay, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo tích hợp nhiều nội dung giáo dục vào quátrình dạy học các môn học trong trường phổ thông như: giáo dục đạo đức, học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục pháp luật; giáo dục phòng chống thamnhũng; giáo dục chủ quyền quốc gia, tài nguyên và môi trường về biên giới, biển, đảo; sửdụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi trường; đa dạng sinh học và bảo tồn thiênnhiên; ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; giáo dục an toàn giaothông

Về dạy học kiến thức liên môn, Bộ cũng đã tổ chức tập huấn giáo viên về rà soát chươngtrình, SGK, xây dựng các chủ đề liên môn

Tới đây, Bộ sẽ ban hành văn bản "Hướng dẫn nội dung sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn và

tham gia diễn đàn trên mạng về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường phổ thông".

Mục đích là để nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn trong trường phổ thông,tập trung vào thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướngphát triển năng lực học sinh; đồng thời giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên bước đầu chủđộng lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đề tíchhợp, liên môn

Mặt khác xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với các chủ đề theo hình thức, phương pháp,

kỹ thuật dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh, tạo tiền đềtích cực cho việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông saunăm 2015

-Giáo viên cần trang bị những gì?

Giáo viên cũng không phải trang bị thêm nhiều về mặt kiến thức vì bản chất vẫn là dạy họcmôn học mà mình đang dạy Mặt khác, trong những năm qua giáo viên cũng đã được trang bịthêm nhiều kiến thức mới về phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực

Vấn đề bây giờ là phải vận dụng những kiến thức đó để: xây dựng các chủ đề dạy học; xácđịnh những năng lực có thể phát triển cho học sinh trong mỗi chủ đề; biên soạn các câu hỏi,bài tập để đánh giá năng lực của học sinh trong dạy học; thiết kế tiến trình dạy học thành các

Trang 6

hoạt động học của học sinh; tổ chức dạy học để dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm Đó chính

là nội dung trọng tâm sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn được nêu trong hướng dẫn nói trên

II.Mô tả giải pháp của đề tài :

1.Thuyết minh tính mới:

Về mặt khoa học,giáo viên chúng ta ai cũng biết rằng tất cả các môn học trong nhà trường

ít nhiều đều liên quan với nhau, cùng hổ trợ nhau trong việc phát triển kiến thức, kĩ năng chohọc sinh Trong bối cảnh hiện nay ngành giáo dục đang hướng tới việc đào tạo ra những conngười toàn diện, hiểu biết về nhiều mặt do đó việc khai thác mối liên hệ giữa các bộ môncàng cần phải được phát huy Cần nhắc lại rằng Sinh học không chỉ liên quan mật thiết vớicác bộ môn thuộc khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa mà còn gắn bó với các bộ mônthuộc khoa học xã hội như Văn, Giáo dục công dân Vấn đề đặt ra là chúng ta cần khai thácmối liên hệ đó như thế nào, đảm bảo tính tích hợp trong quá trình dạy học ra làm sao để nângcao hiệu quả của từng tiết dạy Qua thực tế giảng dạy ở đơn vị chúng tôi thấy, nếu giáo viênbiết kết hợp giữa kiến thức bộ môn có liên hệ vào thực tiễn đời sống thì bài học sẽ hay hơn,sinh động hơn rất nhiều Lý do giải thích cho vấn đề này đó là những câu ca dao, tục ngữ,thành ngữ ngoài việc ôn lại cho học sinh kiến thức văn học còn giúp học sinh giải thíchnhững kinh nghiệm mà cha ông ta đã đúc kết qua nhiều thế hệ trên cơ sở khoa học Hơn thếnữa đó lại là những vấn đề hết sức gần gũi với cuộc sống thường ngày của học sinh nên dễtạo được cảm xúc, hứng thú để học tập

Hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS trong dạy học môn Sinh học ở bậc THCS:

Vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có

để giải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn sảnxuất trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày như làm bài thực hành, làm thí nghiệm, áp dụngtrong chăn nuôi, trồng trọt, giải thích các hiện tượng tự nhiên, các vấn đề sinh học trongnông nghiệp

Kĩ năng vận dụng kiến thức thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành trong nhàtrường với thực tiễn đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phương châm "học đi đôivới hành"

Theo chúng tôi kĩ năng vận dụng kiến thức là năng lực hay khả năng của chủ thể vậndụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó áp dụng vào thực tiễn 1.1 Qui trình rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học môn Sinh học:

Để rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học, theochúng tôi cần thực hiện 6 bước sau:

Trang 7

Hình 2.1 Quy trình rèn luyện KNVD kiến thức vào thực tiễn.

* Quy trình gồm 6 bước:

Bước 1 : Xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tập

- Giáo viên giới thiệu hoạt động và xác định mục tiêu, nhiệm vụ cho học sinh

- Hoặc giáo viên giới thiệu hoạt động và học sinh tự xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tậpdưới sự hướng dẫn của giáo viên

Bước 2 : Xác định kiến thức cần liên hệ với thực tiễn

- GV cung cấp phương tiện (các hình vẽ, mô hình, bảng biểu, sơ đồ, nội dung đã chuẩn bịsẵn hoặc thông tin trong sách giáo khoa ở từng mục, từng phần tương ứng) và yêu cầu HSthực hiện nhiệm vụ (trả lời câu hỏi, mô tả, điền từ, hoàn chỉnh sơ đồ, tranh luận, giải quyếttình huống, nêu hiện tượng thực tiễn mà HS cho là liên quan

- HS tiến hành thảo luận dưới sự tổ chức, theo dõi, hướng dẫn của giáo viên để hoàn thànhcác nhiệm vụ đặt ra:

+ Giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn học sinh để giúp các em tự hoàn thành chính xác nhiệm

vụ được giao

+ Giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn học sinh liên hệ kiến thức với thực tiễn đời sống

Bước 3: Xác định cơ sở khoa học của nội dung vận dụng kiến thức vào thực tiễn:

- Giáo viên cần tổ chức cho học sinh tìm cơ sở khoa học của nội dung vận dụng kiến thứcvào thực tiễn có liên quan

Bước 4: Chọn các ý tưởng, giải pháp tốt nhất:

- Sau khi xác định được nội dung liên hệ thực tiễn, học sinh tiến hành thảo luận, nêu các ýtưởng, giải pháp để giải quyết vấn đề

- Học sinh tiến hành báo cáo tổng hợp các ý kiến của nhóm

- Giáo viên tổ chức đánh giá các giải pháp, định hướng, tư vấn cho học sinh chọn lựa các giảipháp tối ưu nhất, hiệu quả nhất để giải quyết các vấn đề

- Giáo viên có thể nêu vấn đề hoặc đề xuất bổ sung một số giải pháp khác

Bước 5: Tổ chức các biện pháp liên hệ thực tiễn:

- GV tổ chức các biện pháp dạy học rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- HS thực hiện, vận dụng, giải thích, rút kinh nghiệm

Bước 6: Đánh giá kết quả:

- Giáo viên hướng dẫn để học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau, điều chỉnh, tự rút ra kếtluận đúng

- Giáo viên đánh giá tổng hợp, định hướng kĩ năng vận dụng kiến thức cho học sinh theo cáchướng mới

Trang 8

-Khi rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn chúng ta phải tuân thủ 6 bướcnói trên, sản phẩm của bước trước là điều kiện cho bước tiếp theo thực hiện Khi học sinh đãthành thạo thì có thể bỏ qua bước 1

Giáo viên có thể sử dụng qui trình trên với nhiều mức độ: giáo viên định hướng, GV–

HS cùng thực hiện (khi giáo viên chưa có kĩ năng, kĩ năng còn yếu) → giáo viên định hướng,học sinh tự thực hiện (đã được rèn luyện về kĩ năng) → học sinh tự định hướng, học sinh tựthực hiện (đã thành thạo về kĩ năng)

1 2 Phương pháp đánh giá kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh:

Theo chúng tôi, để đánh giá kĩ năng vận dụng kiến thức của học sinh, chúng ta cần kếthợp các loại đánh giá sau:

- Loại quan sát tiến trình thực hiện

Để thực hiện Nguyên tắc kết hợp lí luận với thực tiễn trong việc dạy học Sinh học, cần:

- Đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức Sinh học để có thể vận dụng chúng vàothực tiễn;

- Chú trọng nêu các ứng dụng của Sinh học vào thực tiễn

- Chú trọng đến các kiến thức Sinh học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn

- Chú trọng rèn luyện cho học sinh có những kĩ năng sinh học vững chắc

- Chú trọng công tác thực hành sinh học trong học chính khóa cũng như ngoại khóa

- Chú trọng nêu vấn đề, nêu tình huống, giao các "dự án", đề tài khoa học kĩ thuật ứngdụng sinh học cho HS nghiên cứu

1.4 Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học môn Sinh học:

Để rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS trong dạy học Sinh học,chúng tôi đã sử dụng một số biến pháp như:

- Sử dụng câu hỏi - bài tập

2.1 Vận dụng liên hệ thực tiễn đời sống:

Trong quá trình giảng dạy bộ môn Sinh ở trường THCS chúng tôi đã sưu tầm và sử dụng một

số câu Ca dao, Tục ngữ, Thành ngữ để liên hệ thực tiễn đời sống trong các bài dạy ở cáckhối 6, 7, 8, 9 và bước đầu mang lại hiệu quả Tôi xin mạnh dạn đưa ra đây để cùng trao đổivới quý đồng nghiệp

1) “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng”

Đây là câu ca dao rất quen thuộc mà hầu như ai cũng đã từng biết, từng nghe Chúng

ta có thể sử dụng câu ca dao này trong bài 27 - Sinh học 6 (Sinh sản, sinh dưỡng do người).Ngoài việc giúp học sinh nhớ lại nghĩa bóng của câu ca dao là khi sử dụng thành quả hômnay cần biết ơn những người đã tạo ra nó chúng ta còn có thể khai thác mục 1 (Giâm cành)hoặc phần cũng cố bằng cách khai thác nghĩa đen của nó Câu hỏi: Người ta trồng khoai

Trang 9

bằng dây ở đây là hình thức sinh sản sinh dưỡng nào? (Học sinh có thể dễ dàng nhận biết đây

là hình thức giâm cành)

2) “Rừng vàng, biển bạc”

-Với câu thành ngữ này giáo viên có thể sử dụng chúng làm lời dẫn khi bước sang chươngIX: Vai Trò Của Thực Vật (Sinh học 6) Trước hết giáo viên nêu câu thành ngữ và hỏi: Tạisao người ta lại nói "Rừng vàng, biển bạc" như vậy? Để tìm hiểu chúng ta sẽ đi vào chươngIX: Vai Trò Của Thực Vật

Chúng ta cũng có thể sử dụng nó trong các bài từ bài 46 đến bài 48 Sinh học 6 ở phầncũng cố bằng câu hỏi tương tự Với câu thành ngữ này học sinh sẽ dễ dàng tiếp cận với vaitrò của Rừng nói riêng và Thực vật nói chung trong các bài học

Đặc biệt ở bài 58: Sử Dụng Hợp Lí Tài Nguyên Thiên Nhiên và bài 60: Bảo Vệ Đa DạngCác Hệ Sinh Thái ở Sinh học 9 Với bài 58 ta có thể sử dụng câu thành ngữ này trong mục 3-

Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên.Với bài 60 ta sử dụng trong mục II- “ Bảo vệ các hệsinh thái rừng” và mục II- “Bảo vệ hệ sinh thái biển” với cùng một câu hỏi: Tại sao nói rừng

là vàng, biển là bạc? Qua đó yêu cầu học sinh nêu rỏ vai trò của rừng, của biển đối với tựnhiên và đời sống con người từ đó nâng cao ý thức cho học sinh trong việc sử dụng hợp lí vàbảo vệ tài nguyên rừng và biển

3 “Không lân, không vôi thì thôi trồng lạc”

Với câu tục ngữ này thì chúng ta có thể sử dụng ở bài 50: Vi khuẩn ( Sinh học 6) Quátrình đó giáo viên có thể đưa câu hỏi: Vì sao người ta lại nói không có lân, không có vôi thìthôi trồng lạc? Lưu ý, đây là câu hỏi khó đối với học sinh nên giáo viên cần phải gợi ý.Chẳng hạn: Vì sao người ta không nói là không đạm? Phải chăng cây lạc có khả năng cốđịnh đạm? Từ đó dẫn dắt học sinh đến vai trò của vi khuẩn cố định đạm cộng sinh với rễ cây

họ đậu nên lượng đạm cần bón ít hơn nhưng lân và vôi thì không thể thiếu được Với câu tụcngữ này chúng ta cũng có thể đưa vào phần cũng cố bài học

4) “Tháng chín đôi mươi, tháng mười mồng năm”

Đây là câu tục ngữ nói về kinh nghiệm bắt rươi của người dân vùng sông nước lợ Khidạy bài 17: Một số giun đất khác và đặc điểm chung của ngành giun đất (Sinh học 7), trongmục I: Một số giun đất thường gặp - sách giáo khoa có nêu đại diện là rươi Để sinh độnghơn cho bài dạy, khi dạy đến mục này giáo viên có thể sử dụng câu tục ngữ này với câu hỏi:Câu tục ngữ đề cập đến vấn đề gì? Với việc sử dụng câu tục ngữ này chắc chắn giáo viên sẽ

dễ dàng hơn trong việc làm cho học sinh hiểu: Tháng chín vào ngày 20 và tháng mười vàongày mồng năm (âm lịch) thì Rươi xuất hiện nhiều bởi lẽ đây là giai đoạn chúng kết đôi đểsinh sản

5) “Tôm chạng vạng, cá rạng đông”

Đây là câu tục ngữ mà chúng ta có thể sử dụng khi dạy bài 22: Tôm sông (Sinh học 7)

ở mục II -Dinh dưỡng- hoặc có thể đưa vào phần củng cố bài học với câu hỏi: Câu tục ngữtrên muốn nói điều gì? Vì sao tôm lúc chạng vạng cá lúc rạng đông? Học sinh sẽ dựa vàokiến thức ở mục II để trả lời Giáo viên hướng dẫn thêm: đây là kinh nghiệm đánh bắt tôm,

cá của người dân, tôm có tập tính kiếm ăn vào lúc chập tối (chạng vạng), còn đa số loài cá thìkiếm ăn vào lúc hửng sáng

6) “Ngang như cua”

Câu thành ngữ này về nghĩa bóng nói đến tính cách của những người ngang ngạnh,ương bướng Khi dạy bài 24- Sinh học 7- ta có thể sử dụng để giải thích cách di chuyển củaloài cua Rõ ràng đây cũng là cách gây hứng thú cho học sinh trong giờ học

7) “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

Chương trình Sinh học 7 trong bài 27: Đa Dạng Và Đặc Điểm Chung Của Lớp Sâu Bọ,

có đề cập đến chuồn chuồn Khi dạy ta nên đưa câu tục ngữ này vào để học sinh có thể thấyđược tập tính hoạt động của chuồn chuồn trong mối tương quan với thời tiết Điều này còngiúp học sinh có thói quen liên hệ kiến thức bài học với thực tế cuộc sống xung quanh

8) “Ngư ông lặn ngụp như cóc bôi vôi”

Trang 10

Câu thành ngữ này chế diễu người ngư dân mà không biết lặn nhưng nó lại đè cập đếnđặc điểm sinh học của loài cóc Khi dạy về hệ hô hấp của Ếch đồng, giáo viên có thể đưa câuthành ngữ này vào và hỏi học sinh: Cóc (hoặc ếch) bôi vôi thì sẽ dẫn tới hậu quả gì? Sau đódẫn dắt học sinh trả lời: Cóc hô hấp chủ yếu qua da, nếu bôi vôi lên da thì khi xuống nước nó

sẽ không thở được và phải trồi lên mặt nước và sau một thời gian nó có thể chết Điều nàyvừa giúp học sinh hiểu về câu thành ngữ vừa có thể khắc sâu được nội dung bài học liênquan

9) “Nước mắt cá sấu”.

Khi nói về người có tâm địa giã dối, ngoài mặt thì làm ra vẻ xót thương nhưng tronglòng thì hả hê, cha ông ta đã đúc kết bằng câu thành ngữ trên Ta có thể vận dụng nó vào việcdạy bài 40: Đa Dạng Và Đặc Điểm Chung Của Lớp Bò Sát ( Sinh học 7) Để khai thác giáoviên có thể hỏi: Câu thành ngữ này muốn nói điều gì? Cá Sấu khóc có tác dụng gì? Sau đógiáo viên dẫn dắt học sinh đến câu trả lời: Cá sấu bài tiết nước mắt nhằm thải bớt lượng muốitrong cơ thể Đây là một trong những cách mà học sinh có thể khắc sâu lĩnh vực kiến thứcnày

10) “Nói như nước đổ đầu vịt”

Đây cũng là một câu thành ngữ quen thuộc để chỉ những người chậm tiếp thu, bày dạybao nhiêu cũng chẳng thu nhận được gì giống như nước đổ lên đầu vịt Trong chương trìnhSinh học 7 ở bài 44: Đa Dạng Và Đặc Điểm Chung Của Lớp Chim - có đề cập đến loài vịt.Khi dạy bài này giáo viên đưa câu thành ngữ này vào với cách dẫn dắt: Câu thành ngữ nàynói lên điều gì? Em tiếp thu được kiến thức nào ở môn sinh học qua câu thành ngữ trên? Quátrình đó sẽ giúp học sinh dễ dàng tiếp thu được nội dung: ở Vịt có tuyến phao tiết chất nhờn,khi rỉa lông sẽ làm cho lông nó thêm mượt và không thấm nước, điều này giúp nó bơi lặndưới nước mà không bị ướt Vậy là câu thành ngữ trên đây cũng chính là một nội dung kiếnthức cần truyền tải

11) “Nhát như thỏ đế ”

Đây cũng lại là một câu thành ngữ về khía cạnh nghĩa bóng thì muốn ám chỉ tính cáchnhút nhát của một người nào đó nhưng về khía cạnh sinh học lại cho chúng ta biết về một tậptính của loài Thỏ Chúng ta có thể đưa câu thành ngữ này vào bài 46: Thỏ (Sinh học 7) vớimục đích khắc sâu cho học sinh: loài Thỏ thường có tập tính ẩn náu trong hang, trong bụirậm để trốn tránh kẻ thù, chỉ cần có tiếng động nhẹ là nó sẽ lập tức bỏ chạy ngay

12) “Hôi như chuột chù”

Với câu này giáo viên có thể sử dụng tương tự như câu 11 trên đây Ở bài 50: Đa DạngCủa Lớp Thú (Sinh học 7) giáo viên đặt câu hỏi: Tại sao lại nói “Hôi như chuột chù” ? Họcsinh có thể dễ dàng trả lời được câu hỏi này là vì chuột chù có tuyến hôi ở hai bên sườn

13) “Nhai kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa”

Câu thành ngữ này có ở câu hỏi 2, bài 25: Tiêu Hóa ở Khoang Miệng (sinh học 8) Ởcuối bài học, trong phần củng cố giáo viên cho học sinh trả lời câu hỏi: Hãy giải thích nghĩađen về mặt sinh học của câu thành ngữ, sau đó hướng học sinh vào nội dung câu trả lời: khi

ăn, nhai càng kĩ thì hiệu suất tiêu hóa càng cao, cơ thể hấp thu nhiều chất dinh dưỡng hơnnên no lâu hơn

14) “Ăn có chừng, dùng có mực”

Về mặt sinh học câu thành ngữ này có liên quan đến vấn đề tiêu hóa mà bài 30: VệSinh Tiêu Hóa (Sinh học 8) có đề cập đến Khi sử dụng câu thành ngữ này vào bài học giáoviên có thể đặt câu hỏi: Câu thành ngữ trên muốn nói điều gì? Vấn đề sinh học nào được đưa

ra ở đây? Học sinh có thể dễ dàng dựa vào nội dung của chương nói về tiêu hóa để trả lời.Sau đó giáo viên có thể chốt lại vấn đề: Sự hấp thụ chất dinh dưỡng của con người là có giớihạn và còn phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp do đó việc ăn uống phải có điều

độ, không dè sẻn nhưng cũng không được xa hoa lảng phí

15) “Có thực mới vực được đạo”

Trang 11

Với câu thành ngữ này chúng ta có thể sử dụng vào mục I, bài 24: Tiêu Hóa Và Các

Cơ Quan Tiêu Hóa (Sinh học 8) Sau khi nêu câu thành ngữ này giáo viên có thể hỏi: Emhiểu như thế nào về câu thành ngữ này? Vấn đề sinh học nào được đề cập ở đây? Chắc chắnhọc sinh có thể dễ dàng trả lời được câu hỏi này, sau đó giáo viên chốt lại vấn đề và nhấnmạnh vai trò của việc ăn uống

16) “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”

Chúng ta có thể áp dụng câu thành ngữ này vào chương Tiêu Hóa (Sinh học 8) Tùythuộc vào khả năng liên hệ của giáo viên mà đưa vào bài cụ thể Giáo viên có thể dẫn dắtbằng cách yêu cầu học sinh giải thích câu thành ngữ này trên cơ sở khoa học sau đó hướnghọc sinh tới nội dung vấn đề: Khi đói cơ thể thiếu hụt năng lượng nên chỉ cần một lượng nhỏthức ăn cũng là rất quan trọng nhưng khi no dù có nhiều thức ăn cũng không cần thiết vì cơthể không thể hấp thụ được Chính điều này giúp học sinh khắc sâu thêm sự cần thiết phải ănuống hợp lý

17) “Cái răng cái tóc là vóc con người”

Khi dạy bài 20: Vệ Sinh Tiêu Hóa (Sinh học 8) ở mục II -Bảo vệ hệ tiêu hóa khỏi cáctác nhân độc hại và đảm bảo sự tiêu hóa có hiệu quả- giáo viên đưa câu thành ngữ này vào vàgiải thích: Từ xa xưa ông cha ta đã nhận định cái răng, cái tóc tạo nên vẽ đẹp của con ngườinhất là người phụ nữ Vậy để có bộ răng đẹp, khỏe thì chúng ta phải làm gì? Với câu hỏi nàygiáo viên sẽ dẫn dắt học sinh đến các biện pháp vệ sinh răng miệng

18) “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”

Đây là câu tục ngữ mà ta có thể đưa vào Bài 30: Vệ Sinh Tiêu Hóa (Sinh học 8) Giáoviên dẫn dắt: Câu tục ngữ này muốn khuyên chúng ta điều gì? Sau đó hướng dẫn học sinh điđến kết luận: Nhà sạch tạo cảm giác mát mẽ, bát đũa sạch dễ tạo cảm giác ngon miệng Vìvậy rất cần thiết chúng ta phải chú ý đến việc chăm lo vệ sinh nơi ăn chốn ở Như vậy chỉ vớicâu tục ngữ chúng ta vừa giúp học sinh lĩnh hội kiến thức bài học vừa giáo dục ý thức vệsinh cho học sinh

19) “Ăn chín uống sôi”

Với câu thành ngữ này chúng ta có thể sử dụng tương tự như ở câu 18 trên đây ở bài30: Vệ Sinh Tiêu Hóa (Sinh học 8) Giáo viên đặt câu hỏi: “Ăn chín uống sôi” có tác dụnggì? Học sinh dễ dàng trả lời được rằng nó giúp hạn chế được tác hại của vi khuẩn, vi rút,trứng giun sán xâm nhập vào cơ thể và đây cũng là một trong những biện pháp vệ sinh hệtiêu hóa

20) “Trời nóng chóng khát, trời mát chóng đói”

Với câu tục ngữ này giáo viên nên sử dụng trong việc củng cố bài 33: Thân nhiệt(sinh học 8) Giáo viên có thể yêu cầu học sinh giải thích câu tục ngữ này, nếu học sinh gặpkhó khăn thì giáo viên có thể hướng dẫn: Trời nóng, lượng mồ hôi thoát ra nhiều hay ít?Lượng nước trong cơ thể thay đổi như thế nào? Khi trời mát mẽ quá trình chuyển hóa của cơthể tăng hay giảm? Từ đó hướng học sinh đến kết luận: Khi trời nóng nước trong cơ thể bịmất nhanh để giảm nhiệt làm cơ thể thiếu nước do đó ta cảm thấy mau khát Ngược lại khitrời mát mẽ quá trình chuyển hóa trong cơ thể tăng nên ta mau đói

21) “Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng nam”

Đây cũng là câu tục ngữ chúng ta có thể sử dụng trong bài 33: Thân Nhiệt (sinh học8) Giáo viên hỏi: Làm nhà hướng nam có tác dụng gì? Sau đó hướng học sinh đến câu trảlời: nhà hướng Nam tránh được ánh nắng trực tiếp của mặt trời, hướng Nam có nhiều gió vàomùa hè (gió Đông- Nam) nên thoáng mát, còn về mùa đông thì tránh được gió Đông -Bắc.Từ đó giáo viên tích hợp kiến thức liên môn (Địa lí) để học sinh nhắc lại kiến thức liênquan về các phương hướng (tám phương và tứ hướng)

22) “Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”

Về nghĩa bóng, câu ca dao trên diễn tả nỗi vất vả, khó nhọc của người nông dân nhưngvẫn lạc quan, yêu đời Khi dạy bài 33: Thân Nhiệt (sinh học 8) Giáo viên đưa câu ca dao nàyvào phần cũng cố hoặc vào mục II- Sự điều hòa thân nhiệt Giáo viên yêu cầu học sinh giải

Trang 12

thích ý nghĩa của câu ca dao trên cơ sở khoa học Giáo viên dẫn dắt: Thời tiết buổi trưa nhưthế nào? Mồ hôi thánh thót nghĩa là gì? Sau đó hướng vào kết luận: Thời tiết buổi trưa nắngnóng, thêm vào đó ở ruộng cày có nước nên độ ẩm cao, mồ hôi thoát ra từ cơ thể không bayhơi được nên chảy thành dòng nhỏ xuống nước nên ta ví như mưa ruộng cày Câu ca dao nàykhông chỉ giáo dục học sinh tinh thần lạc quan trong lao động mà còn giúp học sinh giảithích được các hiện tượng tự nhiên liên quan.

23) “Nắng tháng ba, chó gà thè lưỡi”

Khi dạy bài 33: Thân nhiệt (sinh học 8) ngoài các câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ đãnêu ở trên chúng ta còn có thể sử dụng thêm câu này vào phần cũng cố hoặc ra bài tập vềnhà Giáo viên yêu cầu: Hãy giải thích câu tục ngữ trên trên cơ sở khoa học sinh học Cáchdẫn dắt: Câu tục ngữ trên muốn nói điều gì? Vấn đề sinh học nào được nêu ra ở đây? Họcsinh có thể trả lời được dựa trên những gì đã học Cuối cùng giáo viên chốt lại: Câu tục ngữmuốn nói đến cái nắng gay gắt về tháng ba làm cho chó gà phải lè lưỡi Sở dĩ vậy là bởi vìchó, gà không có tuyến mồ hôi nên khi trời nắng chúng không thể làm giảm nhiệt độ cơ thểbằng cách thoát mồ hôi Tuy nhiên ở miệng của chúng dưới lưỡi có tuyến nước, khi trời nóngchó, gà lè lưỡi để bài tiết nước, nước trong miệng làm giảm nhiệt độ cơ thể

24) “Thịt thối hơn muối bùi ”

Giáo viên sử dụng câu tục ngữ này trong bài 26: Tiêu Chuẩn Ăn Uống - Cách Lập KhẩuPhần (Sinh học 8) Giáo viên hỏi học sinh: Vì sao người ta nói thịt thối lại hơn muối bùi?Giáo viên chú ý hướng tới việc giải thích trên cơ sở giá trị dinh dưỡng của muối và thịt Đâychính là câu tục ngữ đề cao vai trò dinh dưỡng và năng lượng của thịt

25) "Của không ngon nhà đông con cũng hết”

Bài 32: Vệ Sinh Tiêu Hóa (sinh học 8) Giáo viên có thể đưa câu tục ngữ này vào đểgiúp học sinh nắm bắt vấn đề cần truyền tải một cách dễ dàng hơn Giáo viên đặt câu hỏi: Vềkhía cạnh sinh học câu trên cho chúng ta biết điều gì? Giáo viên có thể gợi ý: Nhà đông conthì kinh tế gia đình và vấn đề đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng thường như thế nào? Việc quâyquần, sum họp thường có tác dụng gì trong vấn đề ăn uống? Thông qua đó giáo viên hướngdẫn học sinh đi đến kết luận: gia đình đông con thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhucầu dinh dưỡng cho các thành viên nên thường có nhu cầu bổ sung thêm thức ăn Hơn thếviệc sum họp, quây quần thường có tác dụng kích thích việc lấy thức ăn của các thành viên

26) “Trời đánh tránh bữa ăn”

Áp dụng câu tục ngữ này với bài 32: Vệ Sinh Tiêu Hóa (Sinh học 8), giáo viên có thểhỏi: Câu tục ngữ nhắc ta điều gì? Vì sao lại như vậy? Rõ ràng đây là câu hỏi khó và giáoviên buộc phải hướng dẫn thêm: Câu này khuyên ta nên giữ tinh thần sảng khoái, vui vẽtrong bữa ăn bởi chỉ có như vậy thì mới đảm bảo sự ngon miệng, quá trình tiêu hóa mới diễn

ra thuận lợi

27) “Chết đi sống lại không dại thì ngây”

Khi dạy bài 50: Đại não (Sinh học 8) Giáo viên hỏi học sinh: Giải thích nghĩa đen củacâu trên? Về mặt sinh học, vì sao có hiện tượng đó? Bằng cách này giáo viên hướng dẫn họcsinh đi đến kết luận: những người bị thương hoặc ốm nặng mặc dù may mắn qua được cơnnguy kịch nhưng thường bị tổn thương về hệ thần kinh và có thể không được minh mẫn nhưlúc bình thường Câu tục ngữ nói về vấn đề ấy và đó là kinh nghiệm của cha ông từ xưa

28) “Rượu vào lời ra” hoặc “Tửu nhập bất hành lễ”

Về mặt nghĩa đen câu tục ngư trên liên quan đến lĩnh vực thần kinh học được đề cậptrong bài 54: Vệ Sinh Hệ Thần Kinh (sinh học 8) Ở mục III của bài với tiêu đề “Tránh lạmdụng các chất kích thích và ức chế đối với hệ thần kinh” Trước hết giáo viên yêu cầu họcsinh giải thích câu thành ngữ trên trên cơ sở khoa học Có thể học sinh gặp khó khăn, lúc đógiáo viên gợi ý bằng câu hỏi: rượu có tác dụng gì đối với hệ thần kinh? Tiếp đó giáo viênhướng học sinh đi đến kết luận: Rượu là chất kích thích, nếu sử dụng nhiều, liên tục nó sẽlàm cho hoạt động của vỏ não bị rối loạn, trí nhớ kém Người uống rượu nhiều thường rấthay nói vì võ não bị kích thích, khó kiểm soát được lời nói và hành động Dân gian còn nói

Trang 13

thêm “Tửu nhập bất hành lễ” nghĩa là uống rượu nhiều dẫn đến say thì thường không biết lễnghĩa là gì nữa Việc đưa câu tục ngữ trên vào bài dạy giúp học sinh khắc sâu thêm tác hạicủa rượu, đặc biệt là ở tuổi học sinh.

29) “Dạy con từ thuở còn thơ ”

Trong phần cũng cố của bài 52: Phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện.Giáo viên nên đưa câu ca dao này vào để học sinh tìm hiểu Về mặt sinh học, yêu cầu họcsinh nêu được: Muốn có được những thói quen (phản xạ có điều kiện) thì phải được rènluyện lâu dài Dạy con thì phải uốn nắn ngay từ nhỏ để hình thành các phản xạ tốt Đó cũngchính là ý nghĩa về mặt sinh học của câu ca dao này

30) “Nữ thập tam, nam thập lục”

Áp dụng đối với bài 58: Tuyến sinh dục nam (Sinh học 8) Giáo viên nêu câu hỏi: Câuthành ngữ trên muốn nói điều gì? Sau đó giáo viên giải thích để học sinh hiểu: Thập tamnghĩa là mười ba, thập lục nghĩa là mười sáu, đây là tuổi dậy thì, tuổi có khả năng sinh sản.Đương nhiên độ tuổi dậy thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố Ngày nay độ tuổi dậy thìthường là 10- 12 tuổi

Cũng câu tục ngữ trên ta có thể áp dụng trong bài 30: Di truyền học với con người(Sinh học 9) Về khía cạnh khác ta có thể hiểu câu thành ngữ này theo nghĩa: ông cha ta chorằng nữ 13, nam 16 là độ tuổi có thể dựng vợ gả chồng Sau đó giáo viên hỏi học sinh: Quanniệm trên có còn phù hợp không? Độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật hiện hành làbao nhiêu?

31) “Giỏ nhà ai quai nhà nấy” hoặc “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”.

Áp dụng trong bài 1: Men Den Và Di Truyền Học (Sinh học 9) bằng việc đặt câu hỏicho học sinh: Câu tục ngữ muốn nói lên điều gì? Sau đó dẫn dắt học sinh đến câu trả lời: Concái nhà ai thì mang đặc điểm của nhà đó Điều này thể hiện đặc điểm di truyền Còn có câutương tự ta có thể vận dụng: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”

32) “Cha mẹ sinh con- trời sinh tính”

Với câu này ta cũng có thể áp dụng trong mục I của bài 1: Menđen và Di truyền học”.Giáo viên đặt câu hỏi: Em hiểu câu tục ngữ trên như thế nào? Giải thích nghĩa của câu tụcngữ trên về mặt sinh học? Sau khi học sinh phát biểu, giáo viên chốt lại: Tính cách của concái có thể không giống cha mẹ bởi lẽ việc hình thành nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và

về mặt nào đó nó còn liên quan đến sự biến dị

33) “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”

Đây là câu tục ngữ mà ta có thể sử dụng trong bài 30: Di Truyền Học Với Con Người

- mục I- (sinh học 9) Giáo viên gợi ý cho học sinh tìm hiểu: Câu tục ngữ muốn nói điều gì?Vấn đề sinh học nào được nêu lên ở đây? Dựa vào kiến thức đã học học sinh có thể giải thíchđược: Câu nói này của cha ông ta là có cơ sở khoa học, với ngụ ý rằng trước khi kết hônchúng ta phải tìm hiểu kĩ đặc điểm sinh học của gia đình, có mắc các bệnh di truyền hay làcác vấn đề khác liên quan Có khi những biểu hiện sinh học đó không thấy ở người mìnhmuốn lấy nhưng có thể thấy ở thế hệ con cháu

34) “Lấy chồng từ thuở mười ba Đến nay mười tám em đà năm con”

Đây là câu ca dao vui mà chúng ta nên đưa vào để làm sinh động thèm cho tiết học ởbài 30: Di Truyền Học Với Con Người -mục II: Di truyền học với hôn nhân và kế hoạch hóagia đình- (Sinh học 9) Giáo viên đưa câu ca dao này vào và giải thích: Đây là câu nói về sựvất vả của người phụ nữ trong xã hội cũ Qua đó giáo viên hỏi: Việc lấy chồng sớm có hại,

có lợi như thế nào? Ngày nay có nên lấy chồng quá sớm hay không? Vì sao? Chắc chắn vớikiến thức đã học học sinh sẽ trả lời được: Việc lấy chồng sớm là không nên, ngày nay khôngnên lấy chống sớm bởi lẽ nó sẽ ảnh hưởng không tốt đến việc học tập, thêm nữa việc sinhcon quá sớm có thể ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe do lúc đó cơ thể chưa phát triển Đócũng chính là cơ sở của việc pháp luật nước ta quy định độ tuổi kết hôn là 20 đối với nam, 18đối với nữ

Cũng đề cập đến vấn đề tảo hôn còn có một dị bản khác của câu ca dao:

Trang 14

“Lấy chồng từ thuở mười ba Chồng chê tôi bé không cho nằm cùng.

Đến khi mười tám đôi mươi Tôi nằm dưới đất nó lôi lên giường

Một rằng thương hai rằng thương Bốn cái chân giường gãy một còn ba ”

Để tăng hưng phấn cho quá trình dạy học chúng ta nên đưa vào và đó cũng là hình thứccũng cố bài tốt nhất

35) “Trai anh hùng năm thê bảy thiếp Gái chính chuyên thủ tiết thờ chồng”

Giáo viên có thể đưa câu ca dao này vào phần cũng cố trong bài 30: Di Truyền HọcVới Con Người -mục II: Di truyền học với hôn nhân và kế hoạch hóa gia đình- (Sinh học 9).Giáo viên đặt câu hỏi: Câu ca dao trên đề cập đến quan niệm gì của cha ông ta ngày trước?Quan niệm đó có còn phù hợp không? Từ đó hướng học sinh đến câu trả lời: Quan niệm trênhiện nay không còn phù hợp bởi lẽ nó vi phạm nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong đời sốnghôn nhân Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân Việt nam là “Tự nguyện,một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” Về mặt tâm- sinh lý, việc lấy nhiều vợ, nhiều chồng

sẽ dẫn đến sự mất cân bằng xã hội Hiện nay việc thủ tiết thờ chồng không còn là một điềubắt buộc nữa Điều này được hiểu như là một sự giải thoát cho người phụ nữ Lẽ đươngnhiên sự chung thủy vợ chồng thì bao giờ cũng được đề cao

36) “Trời sinh voi sinh cỏ”

Khi dạy bài 48: Quần Thể Người -ở mục II- Tăng dân số và phát triển xã hội (Sinhhọc) Giáo viên đưa câu thành ngữ này vào và hỏi: Theo em quan niệm trên ở câu thành ngữ

có hợp lí không? Tại sao? Với kiến thức đã học cũng như hiểu biết thực tế học sinh có thểphát biểu được: Quan niệm trên là không hợp lí vì với quan niệm trên hậu quả sẽ là sự giatăng dân số quá nhanh Điều này ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế xã hội vàhạnh phúc gia đình Vì vậy trong việc sinh đẻ số con sinh ra phải phù hợp với khả năng nuôidưỡng, chăm sóc của gia đình và đảm bảo sự hợp lý với sự phát triển kinh tế xã hội và điềukiện về tài nguyên, môi trường

37)“Tấc đất tấc vàng”

Câu thành ngữ này chúng ta có thể sử dụng trong bài 58: Sử dụng hợp lý tài nguyênthiên nhiên (Sinh học 9) Ở mục II, giáo viên đặt câu hỏi: Tại sao người ta lại nói tấc đất tấcvàng? Sau đó dẫn dắt học sinh đi đến kết luận: Đất rất quan trọng trong đời sống con người

Nó là môi trường sản xuất lương thực, thực phẩm nuôi sống con người Vì vậy chúng ta phảiquý đất, sử dụng hợp lí tài nguyên đất Qua đây giáo viên có thể giáo dục học sinh lý thứcbảo vệ tài nguyên, môi trường nói chung, tài nguyên đất nói riêng

2.2 Phân loại các loại bài dạy trong chương trình sinh học thcs có thể lồng ghép :

và muối khoáng diễn ra trên toàn bộ bề mặt của

cơ thể Còn cây sống trên cạn có bộ rễ đâm sâuxuống đất giúp cây đứng vững trong không gian

và hút nước, muối khoáng

Trang 15

2 Bài 9: Các

loại rễ, các

miền của rễ

Rễ phụ của cây Ngô có tác dụng gì?

-> Ở cây ngô từ gốc thân mọc ra nhiều rễ phụ gọi

là rễ chân kiềng giúp cho cây đứng vững và cũnghút được nhiều chất dinh dưỡng cung cấp chocây

1 Bón phân cho cây có lợi gì?

->Vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho cây, vừagóp phần cải tạo đất Do thành phần và tỉ lệ cácchất dinh dưỡng trong các loại phân khác nhaunên bón đủ phân và kết hợp các loại phân phùhợp với từng loại cây sẽ làm tăng năng suất thuhoạch

2.Tại sao trồng những loại cây họ đậu không cầnphải bón đạm?

->Những cây họ đậu như: đậu nành, đậu phộng ,

ở rễ có những nốt sần, trong nốt sần có rất nhiều

vi khuẩn cố định đạm tự do của không khí ở dướiđất nên trồng cây họ đậu không cần phải bónđạm Khi thu hoạch xong người ta còn vùi câyxuống dưới đất làm phân xanh để tăng lượng đạmcho đất

3 Tại sao trước khi gieo trồng người ta thườnghay cày, cuốc xới đất?

-> Để đất tơi xốp giúp cho rễ con và lông hútlách vào dề dàng, làm cho đất giữ được khôngkhí và nước

2 Tại sao ngày nay trồng bông hay cà chuangười ta không cần bấm ngọn?

-> Vì ngày nay ở 1 số nơi người ta dùng kĩ thuậtmới là nhập những giồng mới đã được tuyểnchọn có số cành hợp lí, hoa nhiều, năng suất cao

Người ta còn dùng những loại thuốc kích thíchsinh trưởng làm cho chồi lá, chồi hoa phát triểnkhông cần bấm ngọn

Thân to ra 1 Người ta thường chọn phần nào của gỗ để làmnhà, làm trụ cầu? Vì sao?

Ngày đăng: 08/11/2018, 08:00

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w