Giáo trình Hàng hải Địa văn TS. Lê Văn Ty ĐH Giao thông vận tải TpHCM Mục lục: Chương 1: Khái niệm cơ bản về trái đất Chương 2: Xác định phương hướng trên biển Chương 3: Xác định quãng đườn
Trang 1Chương VIH- ĐIỀU KHIỂN TÀU TRONG NHỮNG ĐIÊU KIEN HANG HAI DAC BIBT
I- CHẠY TAU GAN BO
1 Các đặc điểm khi chạy tàu gần bờ
Chay tau gần bờ là dẫn tàu dọc theo bờ biển với khoảng cách gần, dẫn tàu xuyên qua
nội hải, qua các eo biển, khi nhập bờ
- Khi chạy tàu gần bờ thì có nhiều mục tiêu địa văn để quan sắt vì vậy chúng ta có thể xác định được vị trí tàu bằng bất kỳ phương pháp địa văn nào với độ chính xác cao, nhưng sự
thay đổi các gía trị đo cũng rất nhanh vì vậy cần lựa chọn phương pháp thích hợp và có sự chuẩn bị trước
- Nếu chạy tàu ở khu vực có nhiều hòn đảo nhồ, độc lập và có nhiều tàu thuyền qua
lại thì việc theo dõi radar để xác định vị trí tàu phải thực hiện liên tục và nên chọn những
mục tiêu có ảnh rõ nét để nhận biết, tốt nhất là những mục tiêu có bố trí các tiêu phản xạ _ radar Phải kết hợp nhiều phương pháp và các phương tiên khác nhau khi xác định vị trí tàu
để so sánh
Khi chạy gần bờ nếu có những sự cố bất thường thì chúng ta để đàng xử lý hơn và
dễ đàng gọi trợ giúp, nhưng cũng gặp nhiều chướng ngại vật như các bãi cạn, mật độ tàu thuyền đánh cá lớn, sương mù ven bờ vì vậy nếu vùng biển nào chưa được khảo sát kỹ, khu vực có nhiều tàu thuyền đánh cá, nhất là thời kỳ biển lặng và có nhiều sương mù, thì ta không dẫn tàu vào khu vực đó nếu không thật cần thiết
- Ảnh hưởng của đòng chảy ven bờ thường lớn nên độ trôi dạt rất đáng kể Trong
trường hợp biển động mạnh hay có giông tố thì ta không nên đản tàu chạy sát ven bờ vì khi bị trôi dạt hay bị sự cố tàu dễ bị đưa lên bờ
- Nhiễu của các sóng vô tuyến ở gần bờ thường rất mạnh vì vậy cần phải lưu ý khi sử dụng các thiết bị VTĐ hàng hải
2 Công tác chuẩn bị khi hàng hải gần bờ
2.1 — Các tàiliệu:
- Các hải đổ có tỉ lệ xích lớn và có thời gian tu chỉnh gần nhất, hải đồ phải liên tục, không được sót bất kỳ vùng nào Đủ số lượng và loại hải đồ
- Các hướng dẫn về hàng hải như các thông báo, hàng hải chỉ nam, bảng tính
thủy triều, danh mục các trạm phát vô tuyến
2.2 Thiết bị và đụng cụ hàng hải: Đầy đủ và ở trong tình rạng hoạt động tốt, được
hiệu chỉnh chu đáo Các thiết bị thông tin liên lạc cũng phải đầy đủ, tốt và luôn trực sẵn sàng
2.3 Thao tac hai dé:
Trong khi thao tác sơ bộ phải chú ý không kẻ đường đi vào những vùng,
những điểm còn nghỉ ngờ chưa khảo sát kỹ, đánh dấu những mục tiêu cần lưu ý trong qúa trình xác định vị trí tàu, đánh đấu các phao tiêu, các chướng ngại vật phải lưu ý Các hướng
đi phải ghỉ rõ ràng và đây đủ Nếu thấy cần thiết thì ghi các lưu ý ra giấy để các sỹ quan
trong lúc đi ca phải chú ý Các điểm chuyển hướng cần có các mục tiêu để xác định vị trí tàu
Trang 2Hàng hải địa văn 120 Lê Văn Ty
4 ' Xác định vị trí tàu
4.1 Nhận dạng mục tiêu
Đây là việc làm hết sức quan trọng, đòi hỏi sỹ quan trực ca phải có kinh nghiệm và
cẩn thận Phải kết hợp radar và mắt thường, khi có sự nghỉ ngờ trong vị trí xác định thì phải
tiến hành xác định liên tục, thay đổi mục tiêu, sử đụng nhiều đường đẳng trị Khi vị trí còn
nghỉ ngờ thì không được chuyển hướng Nên sử dụng các mục tiêu nhân tạo có đầy đủ đặc
tính và ghỉ rõ trên hải đồ
Lưu ý các ảnh trong màn hình rađar đối với các mép bờ có địa hình thấp, bùn, thoai thoải thì thường không giống với hình dang ghi trong hải đổ, tương tự khi thủy triểu thay đổi
4.2 Phương pháp phát biện khi nhận nhầm mục tiêu
Ta tiến hành xác định vị trí tàu nhiều lần và đều đặn, dựa vào sự bố trí của các vị trí sau khi thao tác lên hải đồ ta có những kết luận sau:
- Nếu các vị trí tàu bố trí theo một đường cong hoặc sắp xếp lộn xộn không theo quy
luật xung quanh đường chạy tàu thì ta đã nhận nhằm mục tiêu
- Khoảng cách giữa các vị trí và thời gian tương ứng giữa các lần xác định vị trí tàu
không theo đúng tỉ lệ thì có thể đã nhận nhầm mục tiêu
© 5 Phương pháp tìm phao đầu luồng
-Phao đầu luồng là phao chỉ vị trí ngoài cùng để từ đó tàu được dẫn vào luồng, có thể
là một phao có hình dạng và đặc tính khác với các phao luéng khác (ví như có thể được sơn
trắng, đèn chớp trắng theo moose .) hoặc là thuyển đèn (luồng Thượng hải), và thường được
đánh số “O”.-
Việc tìm phao đầu luồng hết sức quan trọng đối với một thuyên trưởng hay sỹ quan khi tàu nhập bờ, nhất là trong điều kiện tầm nhìn xa bị hạn chế
Phương pháp phát hiện và tiếp cận
- Sử dụng rađar:
Thường thì tại phao đầu luồng người ta có gắn vật phản xạ sóng radar nên ảnh của nó trong màn hình thường khá rõ, song nếu không có kinh nghiệm thì nhiều khi bị lẫn với các tàu thuyền nhỏ xung quanh
Trang 3Lê Văn Ty
Ta sử dụng một mục tiêu bờ dễ nhận biết trên màn hình radar, trên hải đồ ta đo trước
phương vị và khoảng cách tương quan giữa chúng sau đó ta so sánh với các ảnh phát hiện trên
radar thì sẽ để dàng tìm ra phao
Đối với radar ta phải sử dụng thang tầm xa, các chế độ như khuếch đại, cộng hưởng,
độ sáng, khử nhiễu một cách hợp lý Nếu radar có cấu tạo các đường phương vị điện tử
(EBL) thì việc xác định càng dễ dàng
SHM
- Sử dụng GPS
Bằng chế độ đặt báo động điểm đến (toạ độ và bán kính khu vực cần báo động) khi
tàu tiếp cận với vòng tròn đã đặt, máy thu GPS sẽ báo động cho ta biết Hơn nữa GPS là hệ
thống cho vị trí tàu chính xác, ta có thể so sánh vị trí tầu và tọa độ của phao để tìm kiếm khi
đến gần
-Sử dụng vô tuyến tìm phương:
Nếu có 1 phao tiêu vô tuyến hay một tạm phát nào đó ở trên bờ và thuận tiện cho việc tìm và tiếp cận phao đầu luồng ta có thể sử dụng nó bằng cách đo phương vị vô tuyến tới trạm phát sao cho giá trị phương vị bằng giá trị của đường nối giữa phao và trạm phát Ta dẫn tau theo hướng của phương vị vô tuyến sẽ tiếp cận được phao “0”
Trong trường hợp có sai số về phương vị (e) thì ta sẽ có sai số về độ địch chuyển
An =D €° / 57,3
II/ Dan tau trong ludng hep
Trang 4Hàng hải địa văn 122 Lê Văn Ty
1 Những điều lưu ý
Luông hẹp là vùng nước hàng hải mà khả năng quay trở cũng như mớn nước của tầu
bị hạn chế, vì vậy việc đi lại trong luồng hẹp là khó khăn Ở trong luổng hẹp dòng chảy cũng
có thể khá mạnh và có những xoáy nước ở các khúc cong làm cho tính năng điểu động của tàu bị ảnh hưởng rất lớn Hiện tượng bị lún khi luồng hẹp và độ sâu nhỏ, hút nhau trong luéng hẹp khi 2 tàu chạy gần nhau thể hiện rất rõ và chúng ta cần phải tránh
Trước khi đi vào luồng hẹp ta cần phải chuẩn bị chu đáo:
-Có đủ tài liệu để nghiên cứu trước đặc điểm của luông, cần có các bình đồ để theo
đối và xác định vị trí tàu Cần nghiên cứu kỹ càng chế độ thủy triểu, hướng và tốc độ dòng chảy, tính chất của đáy luỗng, đọc kỹ các thông số của hải đăng, nhất là những hải đăng ở
đầu luỗng, hải đăng đánh dấu chướng ngại vật
-Phải đặt ra các phương án tương đối cụ thể để dẫn tàu như việc lường trứơc các điểm quay trở, góc đè đạt, các mục tiêu sẽ được sử đụng theo dõi vị trí tàu, các chập tiêu dẫn tàu cũng như đổi hướng phải tuân thủ nghiêm ngặt, nếu máy móc có sự cố thì phải xử lý như thế nào, ước lượng khu vực phải thả neo, cho lên bãi cạn
-Máy móc và thiết bị hàng hải phải hoạt động tốt (nhất là máy lái radar, máy đo
sâu) Nếu luồng hẹp thuộc vùng quản lý của chính quyền sở tại thì phải tuân thủ những hướng
- din của họ, nếu là vùng nước hàng hải bình thường thì trước lúc đi vào luông hẹp phải hiểu
biết kỹ càng, hệ thống thông tin liên lạc phải thường trực và khi không có tàu thuyền khác qua lai mới có thể dẫn tàu vào Nếu không đủ thông tin và không thật cần thiết thì không din tàu vào luồng hẹp
- Về lý thuyết thì tàu chạy xuôi đòng sẽ ăn lái kém hơn khi chạy ngược nhưng thực tế
do cấu tạo của luông, tốc độ và hướng đòng chảy mà có thể tàu chạy xuôi có tính ăn lái tốt
hơn Khi hành trình chúng ta cần theo đõi để xử lý
- Sóng gió là nguy cơ đối với việc đi lại ở luồng hẹp Ở các cửa sông thì thường có bãi bổi, sóng đổn qua khu vực này tạo nên những đợt sóng cuộn rất đễ đưa tàu lên cạn Khi đi qua
vùng này chúng ta phải có độ sâu dự trữ đủ lớn (> 2 lần độ sâu của sóng cuộn dưới ky tàu) thì
ta mới nên dẫn tàu qua Tại đây khi dẫn tàu ta cần cho hướng mũi tàu vuông góc với hướng sóng Độ chênh mớn nước đủ để cho tàu ăn lái đồng thời để phòng tàu bị đính cạn thì ta dé
dang ra can
- Chi nén din tau qua vùng hẹp vào ban ngày và tầm nhìn xa tốt:›
Nếu cần thì nên đựng các mạng lưới đẳng trị để giúp việc xác định vị trí tàu được
nhanh chóng
- Vì trong luông hẹp phải đổi hướng nhiều lần, nếu sử dụng radar ở chế độ Head- up thì chú ý sử đụng nút Khuếch đại hợp lý sao cho không gây ra hiện tượng lưu ảnh trên màn
hình đẫn đến mất mục tiêu quan sát Cần theo đối liên tục vị trí tàu và các mục tiêu bên luồng để tránh việc nhầm lẫn khi dẫn tàu
2- Một số mạng lươi đẳng trị
Mạng lưới đẳng trị bao gồm các đường đẳng trị (thường cùng loại như phương vị,
khoảng cách, hiệu khoảng cách) được xây dựng trước, dùng để hạn chế khu vực có chướng
ngại vật và nhanh chóng xác định vị trí tàu.
Trang 52.1 Mạng lưới đẳng trị phương vị
Sử dụng 2 mục tiêu nhìn thấy rõ hoặc phát hiện rõ bằng radar va có ghi trên hải dd, ta
kẻ các đường thẳng sao cho chúng tạo thành những góc kẹp đều nhau, vừa phải đủ để theo
đối vị trí tàu được liên tục (thường cách nhau 5°)
2.2 Mạng lưới đẳng trị khoảng cách
Sử dụng một hoặc 2 mục tiêu tùy theo mục đích sử dụng Giá trị khoảng cách ghi trên
các đường đẳng trị có thể là đơn vị khoảng cách (Cables) hoặc gía trị góc kẹp đứng (°, độ) néu do bing sextant
2.3 Mạng lưới đẳng trị hiệu khoảng cách
Khi có 2 mục tiêu trở lên ta có thể dựng mạng lưới đẳng trị góc kẹp ngang, giá trị ghi
trên các đường đẳng trị là góc kẹp ngang giữa các mục tiêu
3 Quay trở trong luồng
Khi quay trở trong luồng cần phải nghiên cứu kỹ dòng chảy Phụ thuộc vào địa hình của luồng có thể sự tác động của dòng vào các phần khác nhau của thân tàu không giống
nhau
và khi tàu có mớn nước lớn và độ chênh mơn nước mũi lái nhỏ thì khả năng nghe lái sẽ kém.
Trang 6Hang hai dia van 124 Lê Văn Ty
Giả sử tàu dang di theo hướng HT1 cần phải chuyển sang hướng HT2 của luồng, lúc
này bắt buộc ta phải tính toán điểm bất đầu quay trở để sao cho khi quay trở xong ta đi đúng luồng đã định Lúc này chúng ta cần biết rõ đặc tính của con tàu, bán kính vòng quay trở sẽ thay đổi phụ thuộc vào trạng thái chở hàng, tốc độ tàu và đòng chảy tác động, phải kết hợp kinh nghiệm và phương pháp tính toán Sau đây giới thiệu 2 phương pháp nh toán theo lý
thuyết:
3.1 Phương pháp Đô mô gô rốp
bán kính vòng quay trở là Rọ thì vị trí kết thúc : ia B
quay trở sẽ là B B được xác định bằng các vi vựi *
di= Rq tga/2
d2= 2Rq sin a/2
3.2 Phương pháp vẽ
Giả sử 2 hướng C1 và C2 đã thao tác
trên luồng trong hải đồ, bằng cách vẽ ta có thể
xác định được điểm bắt đầu và kết thúc (A,B)
- _ Sử dụng radar dẫn tàu trong luồng:
Điều chỉnh tàu sao cho vòng cự ly đi động luôn tiếp xúc với 2 mép luồng
Il/ Hang hai trong sa mù
1 Đặc điểm khi hàng hải trong sa mù
Trang 7- Tầm nhìn xa bị hạn chế vì vậy không thể sử dụng các phương pháp quan trắc mục tiều bằng mắt thường
- Việc xác định vị trí tàu chủ yếu dựa vào radar và các hệ thống vô tuyến hàng hải
Sương mù thường gây nhiễu màn ảnh radar vì vậy phải điều chỉnh radar sao cho vừa khử được
nhiễu nhưng không làm mất các ảnh mục tiêu khác
- Hang hải trong sa mù được coi là một tinh huống hàng hải đặc biệt vì việc cảnh giới
gặp nhiều khó khăn và dễ dẫn tới tai nạn do va chạm hoặc bị mắc cạn
- Khi hàng hải trong sa mù thì chúng ta phải tăng cường cảnh giới bằng cách cử người
Ở tại các vị trí khác nhau (mũi, lái, trên cao, đưới thấp) với mục đích phát hiện âm thanh của
các tn hiệu sa mù như còi, chuông, cổng Cần chú ý rằng âm thanh trong môi trường có sương
mù đã không truyền theo đường thẳng (có thể sai đến hàng chục độ) Ngoài ra nếu tàu hành
trình ở khu vực có nứi, đảo, những tầng băng lớn thì âm thanh mà chúng ta phát hiện có thể
là âm thanh đội lại Như vậy hướng của âm thanh chưa chắc là hướng tới tàu mục tiêu, nó chỉ giúp ta biết được có mục tiêu trong vùng sa mù Âm hiệu mà chúng ta phát hiện còn phụ
thuộc vào hướng gió Nếu âm hiệu phát ở hướng xuôi gió thì người quan sát đứng ở thấp gần
mặt:nước sẽ phát hiện được trước so với người trên cao, và ngược lại vất tín hiệu ngược gió
2 Hang hai trong vùng có sa mù
- Trước khi vào vùng có sa mù ta phải chuẩn bị tốt các máy móc thiết bị hàng hải, đặc
biệt radar phải luôn hoạt động để vừa cảnh giới vừa xác định vị trí tàu, máy đo sâu phải sẵn
sàng hoạt động và thường xuyên kiểm tra độ sâu nếu hàng hải vùng có độ sâu hạn chế
- Việc theo đối các mục tiêu trên màn ảnh radar phải liên tục, nhất là những mục tiêu
bị che khuất bởi vùng râm hoặc nhiễu Chỉ được kết thúc việc theo đõi khi thực sự đã hết
nguy cơ va chạm
- Thường xuyên đưa vị trí tàu từ các máy chỉ báo lên hải đổ để kịp thời điều chỉnh
hướng đi cho đúng
-Trước khi vào vùng có sa mù bằng mọi cách ta phải có vị trí tàu chính xác Sử dụng đồng thời nhiều phương pháp xác định vị trí tàu để tránh nhâm lẫn Chọn các mục tiêu có ảnh
rõ nét trên màn ảnh radar để xác định vị trí tàu và tránh mất mục tiêu hoặc bị xác định nhầm mục tiêu
- Khi xác định vị trí tàu ta cần đánh giá độ chính xác vị trí một cách cẩn thận và nếu
có sai số thì ta luôn coi vị trí tàu ở về phía có chướng ngại vật
-Nếu chỉ có một đường vị trí và trong khi hàng hải chỉ có vị trí dự đoán thì ta tiến hành điều chỉnh vị trí dự đoán về đường vị trí và tiến hành đánh giá các số hiệu chính của la bàn cũng như của tốc độ kế
-Theo kinh nghiệm đi biển, nếu chúng ta hành trình đến vùng có vách núi cao thì khi
ta dùng cdi kết hợp với đồng hỏ bấm giây có thể ước tính được khỏng cách tới bờ bằng công
thife : Dfhly) = 0,09 £ Trong đó t là thời gian từ khi ta phát tín hiệu cho tơi khi ta nghe tin hiệu dội lại Ngoài ra chúng ta phải quan sát các hiện tượng trên mặt biển như màu nước
biển, màu đục của đồng nước ở cửa sông đổ ra, rác, chim chóc từ bờ qua đó ta có thể biết được khu vực hành trình của tàu có gân bờ hay không
-Nếu khu vực hàng hải có sa mù và có nhiều chướng ngại vật, khi không thật cần
thiết thì nên dừng tàu chờ cho tâm nhìn xa tết lên, VỊ trí neo chờ phải được xác định chính
xác, tránh xa đường đi thông thường của các tàu thuyền, phải thường xuyên cảnh giới và kiểm
tra vị trí tau.