Câu 1. Tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt? So sánh hàng hóa sức laođộng với hàng hóa thông thường? Ý nghĩa của việc nghiên cứu này đối với hoạtđộng thực tiễn của sinh viên?Trả lờia. Tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt?Để giải thích tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt, trước hết ta tìmhiểu về khái niệm hàng hóa và sức lao động. Theo C.Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thânthể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực màcon người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”. Còn hàng hóađược định nghĩa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của conngười thông qua trao đổi, mua bán. Nó là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị vàgiá trị sử dụng. Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinhtrong hàng hóa. Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhucầu nào đó của con người. Một vật, khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giátrị sử dụng. Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hànghóa. Sức lao động cũng chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sửnhất định: thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủđược sức lao động của mình và có quyển bán sức lao động của mình như một hànghóa; thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, đểtồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống. Sự tồn tại đồng thờihai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa.Vậy tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt? Cũng như mọi hàng hóakhác, hàng hóa sức lao động cũng có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Nhưngtrong cả 2 thuộc tính đó của hàng hóa sức lao động đều tồn tại những khía cạnhkhác biệt để có thể khẳng định rằng hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt.Trong thuộc tính “giá trị”: Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức laođộng khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao gồm cả yếu tố tinh thần vàlịch sử. Điều đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còncó những nhu cầu về tinh thần, văn hóa… Lấy ví dụ về một người công nhân làmthuê trong một nhà máy, anh ta bán sức lao động của mình cho chủ nhà máy. Sứclao động của anh ta là có hạn nên để có thể tái sản xuất ra sức lao động, mỗi ngàyanh ta cần phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như quần áo, đồ ăn, nước uống, nhà ở, vật dụng sinh hoạt,…không chỉ cho chính bản thân anh ta màcòn cho cả gia đình và con cái. Ngoài ra, anh ta còn có những nhu cầu về tinh thần,văn hóa như giải trí sau một ngày làm việc mệt mỏi hay tham gia các phong tục tậpquán truyền thống của địa phương nơi anh ta sinh sống. Những nhu cầu đó phụthuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụthuộc vào cả điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó. Xét về thuộc tính “giá trị sử dụng”. Hàng hóa sức lao động không chỉ có giátrị mà còn có giá trị sử dụng như bất kỳ một hàng hóa thông thường nào. Giá trị sửdụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sứclao động, tức là quá trình lao động của người công nhân. Nhưng quá trình sử dụnghay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ: hànghóa thông thường sau quá trình tiên dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -BÀI TẬP LỚN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ
NGHĨA MÁC – LÊNIN 2
Đề bài:
1 Tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt? So sánh hàng hóa sức lao động với hàng hóa thông thường? Ý nghĩa của việc nghiên cứu này đối với hoạt động thực tiễn của sinh viên?
2 Xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa có điểm gì giống và khác nhau? Tại sao Việt Nam là một nước nhập khẩu tư bản?
Họ và tên: Dương Thành Bích
Mã sinh viên: 11160578 Lớp: Kinh tế học 58 Lớp tín chỉ: 22
Hà Nội, 12/05/2017
Trang 2Câu 1 Tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt? So sánh hàng hóa sức lao động với hàng hóa thông thường? Ý nghĩa của việc nghiên cứu này đối với hoạt động thực tiễn của sinh viên?
Trả lời
a Tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt?
Để giải thích tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt, trước hết ta tìm hiểu về khái niệm hàng hóa và sức lao động
Theo C.Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích” Còn hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Nó là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Một vật, khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng cũng đều là hàng hóa Sức lao động cũng chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định: thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyển bán sức lao động của mình như một hàng hóa; thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa
Vậy tại sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt? Cũng như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng Nhưng trong cả 2 thuộc tính đó của hàng hóa sức lao động đều tồn tại những khía cạnh khác biệt để có thể khẳng định rằng hàng hóa sức lao động là hàng hóa đặc biệt
Trong thuộc tính “giá trị”: Là hàng hóa đặc biệt, giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao gồm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Điều đó có nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân còn
có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa… Lấy ví dụ về một người công nhân làm thuê trong một nhà máy, anh ta bán sức lao động của mình cho chủ nhà máy Sức lao động của anh ta là có hạn nên để có thể tái sản xuất ra sức lao động, mỗi ngày anh ta cần phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như quần áo, đồ ăn,
Trang 3nước uống, nhà ở, vật dụng sinh hoạt,…không chỉ cho chính bản thân anh ta mà còn cho cả gia đình và con cái Ngoài ra, anh ta còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa như giải trí sau một ngày làm việc mệt mỏi hay tham gia các phong tục tập quán truyền thống của địa phương nơi anh ta sinh sống Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc vào cả điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó
Xét về thuộc tính “giá trị sử dụng” Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng như bất kỳ một hàng hóa thông thường nào Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiên dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động, đó lại là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã chiếm đoạt Ví dụ khi một công ty lương thực thực phẩm thuê công nhân, nghĩa là mua hàng hóa sức lao động từ công nhân, quá trình họ tiêu dùng hàng hóa sức lao động chính là quá trình người công nhân tạo ra sản phẩm là lương thực, thực phẩm, đồ ăn, nước uống, Những sản phẩm đó lại đem đi bán sẽ mang lại một giá trị mới Hoặc đối với những công ty sản xuất máy móc, công nhân của họ trong quá trình lao động sẽ tạo
ra các loại máy móc, những máy móc đó lại tiếp tục tạo ra một loạt các sản phẩm khác, tạo ra các giá trị mới ngày càng lớn Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Nói cách khác, hàng hóa sức lao động tạo ra giá trị thặng dư khi được đem vào sử dụng và chỉ có hàng hóa sức lao động mới có thể tạo ra giá trị thặng dư Chính vì vậy mà hàng hóa sức lao động là một hàng hóa đặc biệt khác hẳn so với những hàng hóa thông thường khác
b So sánh hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường?
Hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động đều là hàng hóa, được đem ra mua bán trên thị trường, chịu tác động của thị trường như cung, cầu,… Cả hai đều có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Tuy nhiên, hàng hóa sức lao động có một số điểm khác biệt so với hàng hóa thông thường và trở thành một loại hàng hóa đặc biệt Ta xét bảng so sánh sau:
Trang 4Tiêu chí so sánh Hàng hóa sức lao động Hàng hóa thông thường Phương thức tồn tại Gắn liền với con người. Không gắn liền với con
người
Giá trị
Chứa đựng cả yếu tố vật chất, tinh thần và lịch sử Được đo gián tiếp bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động
Chỉ thuần túy là yếu tố vật chất Được đo trực tiếp bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng đặc biệt: quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, đó chính là giá trị thặng dư
Giá trị sử dụng thông thường: sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng đều tiêu biến mất theo thời gian
Giá cả Nhỏ hơn giá trị. Có thể tương đương với giá
trị
Quan hệ giữa người
mua và người bán
Người mua có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu, người bán phải phục tùng người mua
Người mua và người bán hoàn toàn độc lập với nhau
Quan hệ mua – bán
Quan hệ mua bán đặc biệt:
mua bán chịu, thường không ngang giá và mua bán có thời hạn
Ngang giá, mua đứt – bán đứt
Ý nghĩa
Là nguồn gốc của giá trị thằng dư
Sức lao động là hàng hóa đặc biệt.
Là biểu hiện, là hình thái nguyên tố của của cải trong
xã hội tư bản
c Ý nghĩa của việc nghiên cứu này đối với hoạt động thực tiến của sinh viên?
Mục đích và mong muốn chung của mọi sinh viên là có được một công việc
ổn định sau khi ra trường, tuy nhiên đó không phải là điều dễ dàng Việc nghiên cứu về vấn đề này và đưa ra kết luận sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt có ý nghĩa thực tế rất lớn đối với việc giải quyết nỗi lo này của sinh viên cũng chính là thực trạng thiếu việc làm của xã hội Trước hết, việc nghiên cứu hàng hóa sức lao
Trang 5động có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng thị trường lao động ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đã thừa nhận sức lao động là hàng hóa (khi có đủ các điều
kiện trở thành hàng hóa) cho nên việc xây dựng thị trường sức lao động là tất yếu.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề cốt lõi, trọng tâm của Đảng ta Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta đòi hỏi phải có sự phát triển đồng bộ các loại thị trường và Nghị quyết của Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh phải tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, thị trường lao động từ chỗ không tồn tại đã bắt đầu hình thành và phát triển
Thị trường sức lao động là thị trường mà trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình để xác định số lượng lao động được sử dụng cũng như mức tiền công và tiền lương Thị trường lao động là một trong những loại thị trường cơ bản và có một vị trí đặc biệt trong hệ thống các thị trường của nền kinh tế Quá trình hình thành và phát triển cũng như sự vận động của thị trường lao động có những đặc điểm hết sức riêng biệt Thị trường lao động cũng như các loại thị trường khác tuân thủ theo những quy luật của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh Điểm khác biệt lớn nhất ở đây là do tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động như đã trình bày ở trên
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thống các chính sách và cơ chế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để các ngành, các hình thức kinh tế, các vùng phát triển, tạo nhiều việc làm đáp ứng một bước yêu cầu việc làm và đời sống của người lao động, do đó cơ hội lựa chọn việc làm của người lao động ngày càng được mở rộng, tình trạng thất nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học của sinh viên ngày càng
giảm Đại hội VIII của Đảng nêu rõ: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi
công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm Tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu Giảm đáng kể tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, trang 114 – 115) Vì vậy từ chỗ thụ động, trông chờ vào sự
bố trí công việc của Nhà nước, người lao động đã trở nên năng động hơn, chủ động
tự tìm việc làm trong các thành phần kinh tế Các quan hệ lao động – việc làm thay đổi theo hướng các cá nhân được tự do phát huy năng lực của mình và tự chủ hơn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp với quan hệ cung cầu lao động trên thị
Trang 6trường Lực lượng sinh viên không chỉ có nhiều sức lao động mà còn được qua đào tạo chuyên ngành, có thể tự do lựa chọn công việc để phát huy năng lực Người sử dụng lao động được khuyến khích làm giàu hợp pháp nên đẩy mạnh đầu tư tạo việc làm Khu vực kinh tế tư nhân được thừa nhận và khuyến khích phát triển, mở ra khả năng to lớn giải quyết việc làm tạo ra nhiều cơ hội cho người lao động bán sức lao động của mình
Ngày nay, vai trò của Nhà nước trong giải quyết việc làm đã thay đổi cơ bản Thay vì bao cấp trong giải quyết việc làm, Nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo hành lang pháp luật, xóa bỏ hàng rào về hành chính và tạo điều kiện vật chất đảm bảo cho mọi người được tự do đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm, tự do hành nghề, hợp tác và thuê mướn lao động Cơ hội việc làm được tăng lên và ít bị ràng buộc bởi các nguyên tắc hành chính và ý chí chủ quan của Nhà nước Từng bước hình thành cơ chế phân bố lao động theo các quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ chế và chính sách xuất khẩu lao động
Tóm lại, nghiên cứu thừa nhận sức lao động là hàng hóa đã tạo cơ hội để việc xây dựng thị trường sức lao động được chú trọng, đẩy mạnh Quá trình hình thành và phát triển cũng như sự vận động của thị trường lao động đã tạo ra nhiều việc làm hơn, giúp cho sinh viên có thể tự do phát huy năng lực của mình và tự chủ hơn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp
Câu 2 Xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa có điểm gì giống và khác nhau? Tại sao Việt Nam là một nước nhập khẩu tư bản?
Trả lời
a Xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa có điểm gì giống và khác nhau?
Để có thể so sánh xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa, trước tiên ta tìm hiểu về khái niệm hàng hóa, tư bản và điểm giống và khác nhau giữa tư bản và hàng hóa Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê Chúng đều có những điều kiện để đồ vật có thể trở thành hàng hóa hoặc tư bản, tuy nhiên những điều kiện đó thì khác nhau Để đồ vật trở thành hàng hóa, chúng cần có: tính ích dụng đối với người dùng; giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động; sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm Những hàng hóa có đặc điểm sau
Trang 7được coi là tư bản: có thể sử dụng để tạo ra hàng hóa khác; có để tạo ra được, đối lập với đất đai là nguồn lực tồn tại tự nhiên với các đặc điểm như vị trí địa lý, khoáng sản dưới lòng đất; không bị sử dụng hết ngay lập tức trong quá trình sản xuất như nguyên liệu hoặc bán sản phẩm
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh ngoại thương mà hàng hoá dịch
vụ của quốc gia này bán cho quốc gia khác Nói một cách đơn giản xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ của một nước, hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ nước đó được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Xuất khẩu tư bản là đem tư bản ra nước ngoài, nhằm chiếm được giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác được tạo ra ở các nước nhập khẩu tư bản Cả xuất khẩu hàng hóa và xuất khẩu tư bản đều là đưa đồ vật, hàng hóa ra khỏi lãnh thổ của một nước Giữa chúng có một số điểm khác nhau được trình bày trong bảng sau:
Tiêu chí
so sánh Xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu tư bản
Định nghĩa
Là bán hàng hóa ra thị trường nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư
VD: xuất khẩu mặt hàng thời trang, thực phẩm,…ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng dư
Là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài để sản xuất giá trị thặng
dư ở nước sở tại
VD: Công ty cử người sang nước ngoài xây dựng công ty con để làm ăn và thu về lợi nhuận cho công ty trong nước
Mục đích
Là thủ đoạn để các nước tư bản tiến hành bóc lột các nước chậm phát triển thông qua trao đổi không ngang giá (tồn tại dưới hình thái hiện vật)
Là thủ đoạn để các nước tư bản tiến hành bóc lột giá trị thặng
dư ở các nước nhập khẩu tư bản bằng cách xuất khẩu tư bản cho vay
Hình thức - Hàng hoá nước ta bán ra nước
ngoài theo hợp đồng thương mại được ký kết của các thành phần kinh tế của nước ta với các thành phần kinh tế ở nước ngoài không thường trú trên lãnh thổ Việt Nam;
- Hàng hoá mà các đơn vị, dân cư
Xét về hình thức đầu tư, có thể phân chia thành:
- Xuất khẩu tư bản hoạt động (đầu tư trực tiếp): đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận cao;
- Xuất khẩu tư bản cho vay
Trang 8nước ta bán cho nước ngoài qua các đường biên giới, trên bộ, trên biển,
ở hải đảo và trên tuyến hàng không;
- Hàng hoá do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bán cho người mua nước ngoài nhưng giao hàng tại Việt Nam;
- Hàng hoá do các chuyên gia, người lao động, học sinh, người du lịch mang ra khỏi nước ta
(đầu tư gián tiếp): cho vay để thu lợi tức
Xét về chủ sở hữu tư bản, có thể phân chia thành xuất khẩu
tư bản nhà nước và xuất khẩu
tư bản tư nhân
Điều kiện
áp dụng
Khi một nước có điều kiện tự nhiên, khoa học kĩ thuật, yếu tố đầu vào và người lao động,…hơn hẳn các nước khác thì hao phí lao động
xã hội sẽ thấp khiến cho giá cả hàng hoá thấp, hàng hoá bán ở trong nước vấp phải cạnh tranh cao, lợi nhuận không nhiều Vì vậy họ tìm cách xuất khẩu sang các nước
có điều kiện sản xuất kém hơn mình để mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn
Một số nước lạc hậu về kĩ thuật hiện đang thiếu tư bản, mặt khác tiền lương thấp và nguyên liệu rẻ Ở một số nước phát triển, họ có nhu cầu về vốn
để đầu tư đổi mới kĩ thuật
Kết quả Làm cho quan hệ thương mại giữa
các nước trên thế giới gắn kết lại với nhau hơn Được lợi cho cả nước xuất khẩu hàng hoá (thu được
tỷ suất lợi nhuận cao) và lợi cho nước nhập khẩu hàng hoá (mua được sản phẩm rẻ hơn so với chi phí mình bỏ ra để làm chúng)
Tuy nhiên làm cho nước nhập khẩu phụ thuộc vào nước xuất khẩu nhiều
Một mặt làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển
và mở rộng ra trên địa bàn quốc
tế, thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động và quốc tế hóa đời sống kinh tế của nhiều nước, làm cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở các nước nhập khẩu phát triển nhanh chóng Mặt khác để lại trong các quốc gia nhập khẩu tư bản những hậu quả nặng nề như: nền kinh tế phát triển mất
Trang 9cân đối và lệ thuộc, nợ nần chồng chất do bị bóc lột năng nề
b Tại sao Việt Nam là một nước nhập khẩu tư bản?
Ngược lại với xuất khẩu tư bản, nhập khẩu tư bản là nhập tư bản từ các nước ngoài vào nước mình hay kêu gọi đầu tư của các nước xuất khẩu tư bản nhằm huy động vốn, tạo việc làm khắc phục tình trạng thất nghiệp, tạo môi trường trí tuệ công nghệ hiện đại để đào tạo nguồn nhân lực, tạo được thị trường quốc tế ngay trong nước mình
Luồng tư bản xuất khẩu chủ yếu từ các nước tư bản phát triển sang các nước kém phát triển hoặc đang phát triển (chiếm tỷ trọng trên 70%) Các nước này
thường có những đặc điểm rất hấp dẫn đầu tư tư bản: Thứ nhất, năng suất lao động
ở các nước đang phát triển rất thấp Lý do là nguyên liệu thì rẻ nhưng lại rất thiếu
vốn tự nhiên (yếu tố cơ bản của sản lượng biên) và chất lượng lao động thấp Thứ
hai, nhi ều nước còn lạc hậu về kinh tế, khoa học kĩ thuật dẫn đến thiếu việc làm, tiền lương thấp, mức thất nghiệp và bán thất nghiệp cao và ngày càng tăng
Thứ ba, sự phổ biến của các thị trường không hoàn hảo và thông tin không đầy đủ
Thành công của một nền kinh tế thị trường phát triển phụ thuộc chủ yếu vào sự tồn tại của các điều kiện tiên quyết về luật pháp, văn hoá và thể chế nhất định Chẳng hạn như bộ máy tư pháp mạnh, quyền sử hữu được xác định rõ ràng, hệ thống tiền
tệ ổn định, cơ sở hạ tầng phát triển, hệ thống giao thông và thông tin liên lạc thuận tiện, nhiều thông tin Trong khi ở các nước công nghiệp phát triển phần lớn những điều kiện này phần lớn đã được đảm bảo, thì ở các nước đang phát triển nhiều cơ
sở tổ chức và luật pháp còn thiếu thốn hay yếu kém Kết quả là không phân phối được các nguồn lực
Việt Nam cũng là một trong số các nước đang phát triển, còn tồn tại một số nhược điểm Tiềm lực tài chính của đại đa số các doanh nghiệp Vịêt Nam còn yếu Theo kết quả điều tra về doanh nghiệp được tổng cục thống kê công bố, tính đến cuối năm 2003, cả nước có khoảng 72.016 doanh nghiệp, với tổng lượng vốn đầu
tư là 1 709 nghìn tỷ đồng, trung bình quy mô vốn đầu tư của một doanh nghiệp đạt 23,73 tỷ đồng, như vậy quy mô là rất nhỏ Ngoài tiềm lực tài chính yếu, doanh nghiệp Vịêt Nam còn bộc lộ một số hạn chế như mức độ áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất chưa cao, hệ thống đại lý phân phối sản phẩm mỏng, chưa tạo dựng được thương hiệu có danh tiếng, thông tin thị trường không hoàn hảo… Bên cạnh đó, lực lượng lao động của Việt Nam khá lớn nhưng tỷ lệ lao động chất lượng
Trang 10cao hoặc đã qua đào tạo lại thấp, môi trường đào tạo kém chuyên nghiệp nên vẫn còn tồn tại tình trạng thất nghiệp Nước ta còn lạc hậu cả về kinh tế, tiền lương, lực lượng lao động, khoa học kĩ thuật, nguyên liệu rẻ nhưng lại thiếu tư bản nên hấp dẫn đầu tư, trở thành một nước nhập khẩu tư bản
Hết