1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mở cửa thị trường tài chính việt nam những lợi ích và rủi ro khi tham gia thị trường tài chính quốc tế (tự do hóa tài chính) của việt nam – minh họa

22 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 260 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, là một nước đang phát triển, ngoài những lợi ích nhận được khi tự do hóa tàichính, Việt Nam cũng phải đối mặt với các rủi ro và thách thức không nhỏ do quá trình nàymang lại,

Trang 1

Mục lục

Mở đầu 1

Nội dung 2

1 Khái niệm và thực trạng của tự do hóa tài chính tại Việt Nam 2

1.1 Khái niệm 2

1.2 Phân loại 2

1.3 Bản chất của tự do hóa tài chính 2

1.4 Quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam 3

1.4.1 Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1998) 3

1.4.2 Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (từ năm 1988 đến 2006) 3

1.5 Tình hình hạ mặt bằng lãi suất hiện nay 4

2 Lợi ích và rủi ro của tiến trình tự do hóa tài chính 5

2.1 Lợi ích của tiến trình tự do hóa tài chính 5

2.2 Rủi ro của tiến trình tự do hóa tài chính 8

2.2.1 Những rủi ro từ việc giảm thiểu sự can thiệp nhà nước 8

2.2.2 Tác động tiêu cực của việc rửa tiền 8

2.2.3 Tự do hóa có thể làm tăng khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính 9

3 Ví dụ minh họa cụ thể - Ngành bảo hiểm của Việt Nam 11

3.1 Các cam kết mở cửa của Việt Nam trong lĩnh vực hoạt động KDBH và nhận định ban đầu về tác động của nó tới thị trường bảo hiểm Việt Nam 11

3.1.1 Cam kết cung cấp dịch vụ qua biên giới 11

3.1.2 Các cam kết hiện diện thương mại 12

3.1.3 Cam kết liên quan đến kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc 12

3.1.4 Cam kết xoả bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc sau 1 năm 13

3.2 Những thành tựu và hạn chế 13

3.2.1 Những thành tựu 13

3.2.2 Những vấn đề còn tồn tại 19

3.2.3 Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của các doanh nghiệp bảo hiểm trong thời gian tới 20

Trang 2

Mở đầu

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có nhiều cố gắng chủ động hội nhập tài chính và từngbước thực hiện tự do hóa tài chính Trước hết là việc thiết lập các mối quan hệ tài chính vớicác tổ chức tài chính - tiền tệ thế giới như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới(WB); thành viên chính thức của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, ASEAN, tham gia cácdiễn đàn kinh tế: Diễn đàn Á - Âu, Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC, thamgia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) gần đây nhất là thành viên của Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO)

Tự do hóa tài chính không chỉ là yêu cầu bắt buộc để có thể tham gia sân chơi thế giới màcòn là xu thế tất yếu của hội nhập kinh tế bởi những lợi ích vô cùng to lớn mà nó mang lại chocác quốc gia Quá trình tự do hóa tài chính sẽ giúp tạo ra một môi trường minh bạch, linh hoạt

và hiệu quả cho hệ thống tài chính, thu hút đầu tư, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, manglại động lực phát triển, khả năng tiếp cận công nghệ mới cho các tổ chức tài chính trong nướccũng như cơ hội sử dụng các dịch vụ tài chính đa dạng, chất lượng cao

Tuy nhiên, là một nước đang phát triển, ngoài những lợi ích nhận được khi tự do hóa tàichính, Việt Nam cũng phải đối mặt với các rủi ro và thách thức không nhỏ do quá trình nàymang lại, như là việc tiếp nhận những khoản đầu tư có rủi ro cao, nguy cơ rút vốn ào ạt ra nướcngoài hay nguy cơ vỡ nợ do sử dụng tiền vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn…

Để tìm hiểu rõ hơn về các lợi ích và rủi ro Việt Nam có thể gặp phải trong tiến trình tự do

hóa tài chính, nhóm em xin nghiên cứu đề tài “Mở cửa thị trường tài chính Việt Nam: Những lợi ích và rủi ro khi tham gia thị trường tài chính quốc tế (tự do hóa tài chính) của Việt Nam – minh họa tình huống hay sự kiện cụ thể”.

Trang 3

1.2 Phân loại

Theo chiều dọc, có thể phân loại tự do hóa tài chính thành tự do hóa thị trường vốn và tự do

hóa thị trường tiền tệ Nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính theo chiều dọc bao gồm: Tự dohóa lãi suất, tự do hóa hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM), tự do hóahoạt động ngoại hối, tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính

Theo chiều ngang, tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa tài chính trong nước và tự do hóa

tài chính với nước ngoài Tự do hóa tài chính trong nước là cho phép các tổ chức tài chínhtrong nước tự do thực hiện các dịch vụ tài chính theo nguyên tắc thị trường, các thị trường tàichính trong nước được khuyến khích phát triển, các công cụ chính sách tiền tệ được điều hànhtheo tín hiệu thị trường Tự do hóa tài chính với nước ngoài bao gồm tự do hóa giao dịch vãnglai và tự do hóa giao dịch vốn

Theo công cụ thị trường, bao gồm tự do hóa thị trường sơ cấp, tự do hóa thị trường thứ cấp

và tự do hóa thị trường tài chính phái sinh

1.3 Bản chất của tự do hóa tài chính

Có thể nói, bản chất của tự do hóa tài chính là hoạt động tài chính theo cơ chế nội tại vốn cócủa thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ chính phủ sang thị trường, mục tiêu là tìm

ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu,nhiệm vụ kinh tế – xã hội Do đó, kết quả của tự do hóa tài chính thường được thể hiện bằng tỷ

số giữa tiền mở rộng (tiền mặt và tiền gửi trong hệ thống NHTM) trên thu nhập quốc dân Hạt nhân của tự do hóa tài chính là tự do hóa lãi suất và cần thiết phải kiểm soát quá trình tự

do hóa lãi suất Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, thực chấtcủa tự do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu vốn trên thịtrường xác định lãi suất cân bằng Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp bằng các công cụ đểđiều chỉnh theo định hướng mà thôi Hay nói cách khác: Tự do hóa lãi suất là việc trao cho thịtrường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng, ngân hàng trung ương chỉ sử dụng cáccông cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ratrong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế

Trang 4

1.4 Quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

Quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam, chính là quá trình điều hành cơ chế lãi suất qua cácthời kỳ phát triển của nền kinh tế, quá trình đó được thể hiện như sau:

1.4.1 Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1998)

Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kếhoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sách lãi suất bao cấp khá nặng nề, lãi suấtđựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳnày với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình dolạm phát tăng cao và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa

1.4.2 Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (từ năm 1988 đến 2006)

Bước ngoặt trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế Việt Nam trong lĩnh vực ngânhàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủtướng Chính phủ) Nghị định này chính là tiền đề cho hai pháp lệnh về NHNN và pháp lệnh vềngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23/05/1989 của Hội đồng nhà nước.Hai pháp lệnh này có nội dung chủ yếu: Xóa hẳn mô hình ngân hàng một cấp và xây dựng môhình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trườngphát triển Trong đó NHNN Việt Nam thực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng, quản

lý hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế,còn ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, thực hiện chức năng kinh doanh trực tiếp vềlĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền kinh tế Từ Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực1.10.1990, đến ngày 1.10.1998 Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ra đời

và có hiệu lực cho đến nay đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động kinh doanhcủa hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế

Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, chúng ta thấy những bước pháttriển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế

a Cơ chế thức thi chính sách lãi suất cố định (1989-5/1992)

Đây là cơ chế lãi suất đã có từ trước nhưng có sự thay đổi căn bản, theo nguyên tắc của việcxác định lãi suất là: Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp của cácthành phần kinh tế Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá, đặc biệt

là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế Thực tế vậnhành trong một thời gian (1989-1992), cơ chế lãi suất thời kỳ này đã bắt đầu phát huy tác dụng,

là bước chuyển của cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương

b Cơ chế điều hành khung lãi suất (6/1992-1995)

Đặc trưng của cơ chế này là NHNN điều hành cơ chế lãi suất theo khung lãi suất, quy định

rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế Các ngân hàng thương mại,các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất

Trang 5

thích hợp cho mình, thực chất là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãisuất dương, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

c Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-7/2000)

Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là NHNN đã thay đổi căn bản cơ chế điềuhành linh hoạt trần lãi suất, bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vàocủa ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu ra)

d Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000-5/2002)

Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng Nhà nước(NHNN) đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất trần.Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, NHNN sẽcông bố điều chỉnh kịp thời

Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các tổ chức tíndụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trongnước của từng loại ngoại tệ Theo cơ chế lãi suất này cho thấy NHNN Việt Nam đã quyết tâmđổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thịtrường khu vực và thế giới

e Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 – 2006)

Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được NHNN chuyển đổi từng bước bắt đầu từ tháng 5năm 2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp theo tháng 5 năm 2002 là áp dụng cơchế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong nước Trong năm 2008, NHNN ViệtNam đã tăng lãi suất cơ bản 3 lần và tới thời điểm tháng 6 năm 2008, mức lãi suất đang là14%, mức cao nhất ở Châu Á, từ mức 12% trước đó NHNN cũng giảm giá đồng VND 2%trong tháng này nhằm giải tỏa áp lực đối với đồng tiền trong nước

Có thể nói quá trình đổi mới cơ chế điều hành lãi suất ngân hàng ở Việt Nam từ khi có môhình ngân hàng hai cấp (1988) đến nay đã trải qua năm bước chuyển đổi căn bản, đó là nhữngbước đi khá thận trọng và khẳng định xu hướng tất yếu của quá trình tự do hóa lãi suất ở ViệtNam

1.5 Tình hình hạ mặt bằng lãi suất hiện nay

Theo ông Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho rằng, đối vớinhững khoản cho vay ngoài nhóm ưu đãi (nông nghiệp, xuất khẩu…), mặt bằng lãi suất hiệnkhoảng 20%, nếu kiềm chế được tốc độ lạm phát ở mức 9% như mục tiêu Chính phủ đặt ra, thìnăm 2012 hoàn toàn có thể giảm mặt bằng lãi suất cho vay thêm 4 điểm phần trăm so với hiệnnay, tức là 15 - 16%/năm Thậm chí, nếu tiếp tục thực hiện quyết liệt các biện pháp được đặt ratrong Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2011 về các biện pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát,

ổn định kinh tế vĩ mô, thì hoàn toàn có thể hạ lãi suất cho vay xuống mức 13 - 14%/năm

Giả sử năm 2012, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng là 9%, ngân hàng huy động tiền gửikhoảng 10,5%/năm, thì người gửi tiền cũng đã có lợi, vì ngân hàng bảo đảm được lãi suất thựcdương Thông thường, ngân hàng mất khoảng 2,5% chi phí cho hoạt động huy động và cho

Trang 6

vay, nếu ngân hàng chỉ lấy lợi nhuận 1 - 2%, thì mức lãi suất cho vay 14 - 15%/năm là hoàntoàn phù hợp Như vậy, người gửi tiền có lợi, ngân hàng có lợi, người vay vốn cũng có lợi vànền kinh tế được hưởng lợi rất nhiều, bởi khi chi phí vốn giảm sẽ kích thích đầu tư, thúc đẩytăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, tạo thêm việc làm.

Ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc NHNN Việt Nam, cho biết việc công bố hạ lãi suất củaNHNN diễn ra đúng kịch bản đã có trước đó, không phải chịu áp lực từ bất kỳ sự tác động nào.Những biện pháp NHNN đang làm đối với hệ thống sẽ tạo ra sự vững chắc cho thị trường, tạochuyển biến tích cực, giảm mặt bằng lãi suất, khi đó, các nhà đầu tư sẽ chuyển sang đầu tư chochứng khoán, tạo điều kiện cho thị trường này phát triển

Mặc dù đưa ra dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới khác nhau, nhưng hầu hết các tổchức tài chính quốc tế đều có chung nhận định rằng, tình hình kinh tế thế giới năm nay ảm đạmhơn năm 2011 Tốc độ tăng GDP thế giới năm nay được dự báo ở mức 2,4 - 3,2%, thấp hơnđáng kể so với tốc độ tăng trưởng 4% trong năm 2011 Tốc độ tăng trưởng GDP giảm, nhu cầu

về nguyên, nhiên, vật liệu giảm sẽ kéo theo giá hàng hoá, đặc biệt là nguyên vật liệu trên thịtrường thế giới (ngoại trừ giá dầu mỏ được dự báo ổn định) giảm xuống, thay vì tăng 20%trong năm qua Với tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam năm 2011 tương đương 89%GDP (đạt 105,8 tỷ USD), thì khi giá cả trên thị trường thế giới giảm sẽ làm giảm đáng kể áplực đối với lạm phát của Việt Nam Theo ông Vũ Viết Ngoạn, cộng cả việc tăng giá than, điện

và các loại hàng hoá, dịch vụ khác do Nhà nước định giá, thì tốc độ tăng giá tiêu dùng năm naytối đa cũng chỉ ở mức 9% Đây là cơ hội rất lớn để giảm lãi suất cả huy động lẫn cho vay.Như vậy, việc hạ mặt bằng lãi suất hiện nay tuy là quyết định của NHNN nhưng vẫn tuântheo các quy luật của thị trường, đảm bảo lãi suất thực dương

2 Lợi ích và rủi ro của tiến trình tự do hóa tài chính

2.1 Lợi ích của tiến trình tự do hóa tài chính

Tự do hóa tài chính không chỉ là yêu cầu bắt buộc để có thể tham gia sân chơi thế giới màcòn là xu thế tất yếu của hội nhập kinh tế bởi những lợi ích vô cùng to lớn mà nó mang lại chocác quốc gia Quá trình tự do hóa tài chính sẽ giúp tạo ra một môi trường minh bạch, linh hoạt

và hiệu quả cho hệ thống tài chính, thu hút đầu tư, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, manglại động lực phát triển, khả năng tiếp cận công nghệ mới cho các tổ chức tài chính trong nướccũng như cơ hội sử dụng các dịch vụ tài chính đa dạng, chất lượng cao cho người dân trongnước…

Trước hết khi tự do hóa tài chính, sẽ có rất nhiều các tổ chức tài chính nước ngoài hoạt độngtại Việt Nam.Với tính chuyên nghiệp và quy mô của các tổ chức này, để có thể tồn tại và pháttriển tự bản thân các tổ chức tài chính trong nước phải nâng cao năng lực quản lý và hoạt độngcủa mình Do áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, các định chế tài chính ngày càng nâng khảnăng làm việc Kết quả là việc đánh giá, thẩm định dự án được thực hiện nghiêm túc và đạthiệu quả cao hơn Chính vì vậy, vốn đầu tư có thể được đưa vào những dự án mang tính sinhlợi và có hiệu quả cao Qua đó nâng cao hiệu suất sử dụng vốn đầu tư của toàn xã hội Ngoài rachính sự cạnh tranh do tự do hoá mang lại sẽ làm tăng thêm chất lượng các dịch vụ tài chính

Trang 7

được cung cấp bởi lúc này sự độc quyền bị loại bỏ Người tiêu dùng có thể được hưởng nhữngsản phẩm dịch vụ mới, đa dạng, tiện ích với chất lượng tốt nhất, chi phí thấp nhất và thời gianngắn nhất Mặt khác như chúng ta đã biết một nhược điểm nổi bật của quá trình luân chuyểntiền tệ là không thể chuyển hết toàn bộ số tiền tiết kiệm huy động được cho đầu tư, mà nó luôn

bị tiêu hao một phần cho các giao dịch phát sinh và đọng lại trong các tổ chức kinh doanh tàichính (dưới dạng dự trữ bắt buộc hay tiền mặt chờ luân chuyển ) Việc tự do hoá tài chínhnhư đã nói sẽ cắt giảm đáng kể các khoản chi phí giao dịch, chi phí quản lý và đặc biệt là giảm

sự khác biệt giữa lãi suất cho vay và lãi suất vay vốn Chính điều này làm tỷ trọng tiền tiếtkiệm dành cho đầu tư ngày càng gia tăng, giúp tăng thêm nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1988 - 2010

Thứ hai, khi tự do hóa tài chính, nếu môi trường đầu tư trong nước trở nên thuận lợi, chophép nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi ích, thì lập tức các nguồn tài chính từ bên ngoài sẽ nhanhchóng vận hành vào thị trường trong nước để thỏa mãn các nhu cầu mở rộng, phát triển kinh

tế Do đó tốc độ phát triển kinh tế cũng sẽ nhanh chóng tăng lên Nguồn tài chính từ thị trườngquốc tế xâm nhập vào thị trường nội địa sẽ kéo theo sự xâm nhập của công nghệ, lao động taynghề cao và sự xâm nhập của các loại nguyên liệu, dịch vụ phục vụ cho quá trình phát triển sản

Trang 8

xuất kinh doanh Tạo công ăn việc làm, tay nghề công nhân được nâng lên thỏa mãn được nhucầu thị trường quốc tế, hàng hóa chất lượng cao sẽ được sản xuất, kim ngạch xuất khNu tănglên nhanh chóng Tất cả những điều này sẽ tạo tiền đề và động lực quan trọng cho phát triểnkinh tế xã hội

Cùng với xu thế mở cửa, giao lưu quốc tế ngày càng tăng, nhu cầu chi trả, thanh toán chocác giao dịch vãng lai ngày càng lớn, nhưng đây chủ yếu là những khoản thanh toán, chi trảcho các nhu cầu thường xuyên cần thiết với kim ngạch không lớn Việc tự do hoá các giao dịchnày sẽ giảm bớt chi phí xã hội, giảm bớt phiền hà cho người dân khi có nhu cầu mua ngoại tệchuyển ra nước ngoài vì những mục đích hợp pháp, các nhà đầu tư chuyển lợi nhuận về nướckhi kinh doanh có lãi; xoá bỏ cơ chế xin-cho; làm giảm tâm lý cất giữ ngoại tệ, mang ngoại tệlậu ra nước ngoài…

Ngoài ra việc tự do tài chính còn đẩy mạnh việc sử dụng vốn nhàn rỗi của tư nhân vào tiếntrình đầu tư, bởi vì lúc này những ràng buộc về thủ tục vay vốn sẽ được đơn giản hoá, lãi suấthuy động tương đối thấp do sự cạnh tranh của các tổ chức đầu tư tài chính Từ đó nguồn vốnđược đưa vào nền kinh tế một cách thuận lợi và hiệu quả góp phần vào việc tạo ra hàng hóa,của cải vật chất cho xã hội

Hơn nữa, quá trình tự do tài chính sẽ giúp cho các cá nhân dễ dàng tiếp cận được các nguồntín dụng Thông qua việc kinh doanh hoặc học tập bằng các nguồn tín dụng vay mượn được,mỗi cá nhân có thể nâng cao kiến thức của mình Ngoài ra, hiệu ứng lan tỏa về “vốn tri thức”

sẽ làm cho mặt bằng kiến thức của xã hội không ngừng nâng cao Chính vì vậy, chất lượngnguồn nhân lực của xã hội được cải thiện một cách đáng kể

Việc tự do hoá tài chính sẽ đảm bảo cho lãi suất thực được dương bởi vì sự cân bằng giữacung và cầu vốn trên thị trường tài chính Việc mở cửa thị trường dịch vụ tài chính cũng gópphần thúc đẩy chính phủ các nước chủ nhà cải tiến phương pháp quản lý vĩ mô nền kinh tế vàthay đổi cách thức can thiệp vào thị trường, đồng thời thúc đẩy việc hoàn thiện hàng lang pháp

lý và hệ thống kiểm tra, giám sát của chính phủ đối với những lĩnh vực dịch vụ này

Các nhà nghiên cứu lập luận rằng sở dĩ tự do hoá tài chính có tác động tích cực đến nềnkinh tế chính là nhờ tác động lợi thế của kinh tế quy mô, do vậy các tổ chức tài chính có thể hạgiá thành phục vụ Bên cạnh đó, việc loại bỏ yếu tố độc quyền, tăng cường sự cạnh tranh lànhân tố có tính quyết định trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hoá các loại hìnhsản phẩm và mở rộng cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng

Tóm lại, lợi ích to lớn nhất của tự do hoá tài chính là tạo ra một sự cạnh tranh bình đẳngtrong một thị trường trước đây vốn được đặc trưng bằng những yếu tố độc quyền Cạnh tranhchính là động lực thúc đẩy việc giảm thiểu chi phí, nâng cao chất lượng phục vụ, phân tán rủi

ro và tạo cơ hội phát huy lợi thế kinh tế quy mô, tăng cường chuyển giao công nghệ và tạo môitrường thay đổi chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế Trên cơ sở đó, tăng cường năng lực cạnhtranh và sẵn sàng đối phó với những bất thường có thể xảy ra trên bình diện quốc tế

Trang 9

2.2 Rủi ro của tiến trình tự do hóa tài chính

Những rủi ro trong tiến trình tự do hóa tài chính thường được nhắc đến như là việc tiếp nhậnnhững khoản đầu tư có rủi ro cao, nguy cơ rút vốn ào ạt ra nước ngoài hay nguy cơ vỡ nợ do

sử dụng tiền vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn Từ những vấn đề riêng lẻ, chúng ta có thể tổngkết được hai vấn đề lớn mà Việt Nam phải đối mặt trong tiến trình hội nhập tài chính hiện nay

2.2.1 Những rủi ro từ việc giảm thiểu sự can thiệp nhà nước

Như chúng ta đã biết, thị trường tài chính được xem như là một công cụ điều tiết vĩ mô và làmột lĩnh vực hết sức đặc biệt mà Nhà nước sử dụng để thực hiện mục tiêu điều hành nền kinh

tế của quốc gia Trong khi đó, tiến trình tự do hóa tài chính là việc giảm dần sự can thiệp củanhà nước vào lĩnh vực tài chính, và đây chính là vấn đề đầu tiên mà chúng ta phải đối mặttrong quá trình tự do hóa Việc mở cửa thị trường, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước có thểlàm hạn chế phần nào chức năng điều tiết vĩ mô của thị trường tài chính Đặc biệt hơn, nếu nhưchúng ta thực hiện việc mở cửa thị trường trong điều kiện hệ thống tài chính nội địa chưa đượcchuẩn bị tốt, khả năng cạnh tranh chưa cao, thì nền tài chính có nguy cơ bị thống trị bởi các tổchức, doanh nghiệp tài chính nước ngoài, và khi đó quyền kiểm soát và điều tiết thị trường tàichính của Nhà nước sẽ dần bị thu hẹp lại, và do đó có thể làm ảnh hường đến mục tiêu chiếnlược của quốc gia

Bên cạnh đó, việc chính phủ thực hiện chính sách quản lý thông thoáng có thể tạo điều kiệncho những hoạt động phi pháp diễn ra, như là tình trạng lừa đảo, buôn lậu và đặc biệt là hoạtđộng rửa tiền

2.2.2 Tác động tiêu cực của việc rửa tiền

Rửa tiền nếu được hiểu một cách khái quát là là những hoạt động nhằm mục đích hợp pháp hóanhững tài sản có được từ các hoạt động phi pháp Một cách rửa tiền phổ biến là việc đầu tư vàonhững nước đang phát triển thông qua các ngân hàng Từ những ngân hàng này, lượng “tiềnbẩn” này sẽ được đem đi đầu tư vào những công cụ tài chính nhằm là giảm “tính bẩn” của đồngtiền Và cuối cùng là hội nhập trở lại lượng tiền này vào nền kinh tế như những dòng tiền bìnhthường khác

Chúng ta có thể thấy những nước đang phát triển như Việt Nam, với sự kiểm soát lỏng lẻo đốivới hệ thống tài chính quốc gia sẽ là đối tượng của hoạt động rửa tiền này Câu hỏi đặt ra ở đây

là nền kinh tế của những quốc gia này chịu những ảnh hưởng tiêu cực gì từ hoạt động rửa tiền?

Có những lập luận cho rằng nếu như chúng ta bỏ qua nguồn gốc bất chính của những dòng tiềnnày thì nó vẫn được xem như là những nguồn vốn đầu tư bình thường khác, vẫn có thể góp phầnvào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia nếu chúng ta biết sử dụng nó một cách hợp lý Tuynhiên, những dòng vốn có nguồn gốc phí pháp này lại chứa đựng những tác động tiêu cực to lớnkhác, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế

Thứ nhất, hoạt động rửa tiền có thể làm suy yếu hệ thống tài chính quốc gia Điều này cóthể giải thích bằng hai lý do Lý do trước hết là rửa tiền sẽ làm suy yếu từ bên trong hệ thốngtài chính thông qua việc mua chuộc chính những nhân viên trong những tổ chức tài chínhnày Từ đó, làm sai lệch đi những quyết định đầu tư và làm giảm tính hiệu quả quá hệ thống

Trang 10

tài chính Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ việc làm giảm sự tin tưởng của khách hàng đốivới hệ thống ngân hàng Bất cứ một thông tin nào cho thấy việc các ngân hàng tiếp tay chonhững hoạt động phi pháp như là rửa tiền có thể dẫn đến sự mất lòng tin vào hệ thống ngânhàng, từ đó anh hưởng đến sự phát triển của hệ thống này Trong trường trượng xấu nhất cóthể dẫn đến khủng hoảng hệ thống ngân hàng nếu như những khách hàng bị lôi kéo bởi tâm

lý bầy đàn và rút vốn ào ạt

Thứ hai là hoạt động rửa tiền sẽ gây ra tác động tiêu cực đến hiệu quả đầu tư của nền kinh

tế Mục đích đầu tư của những nguồn tiển phi pháp không phải là lợi nhuận, do đó chúng chủyếu sẽ chảy vào những kênh đầu tư ít rủi ro, làm cung nguồn vốn trong những khu vực nàytăng cao quá mức và làm giảm tỷ suất sinh lợi trong những lĩnh vực này Thậm chí nhữngkhoản đầu tư từ những nguồn vốn phi pháp này còn không quan tâm đến khả năng sinh lợicủa dự án, điều này càng hạ thấp hơn tỷ suất sinh lợi bình quân, ảnh hưởng xấu đến sự tăngtrưởng của nền kinh tế

Ngoài ra hoạt động rửa tiền còn có những tác động tiêu cực khác như việc làm giảm cácnguồn vốn đầu tư hiệu quả từ nước ngoài, từ đó hạn chế những lợi thế có được từ những đầu

tư này như là sự tiếp nhận các công nghệ hiện đại, kỹ thuật lao động hay là những kinhnghiệm quản lý từ những quốc gia phát triển Bên cạnh đó, hoạt động này còn có thể tạo ra

sự cân bằng giả tạo trong cán cân thanh toán, khi chu kỳ rửa tiền hoàn tất, việc rút ra ồ ạt củalượng tiền này sẽ làm thâm hụt cán cân thanh toán, trầm trọng hơn có thể dẫn đến khủnghoảng tài chính

Từ những phân tích trên chúng ta có thể thấy được hoạt động rửa tiền không những có ảnhhưởng xấu về mặt xã hội mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến nền kinh tế của Việt Nam.Việc mở cửa thị trường, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước là điều chúng phải thực hiện.Tuy nhiên, đi đôi với việc tự do hóa cần phải có những biện pháp phù hợp để tiến trình tự dohóa không làm phương hại đến những mục tiêu của quốc gia và hạn chế những kẽ hở luật pháptạo điều kiện cho những hoạt động phi pháp diễn ra

2.2.3 Tự do hóa có thể làm tăng khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng tài chính thường là điều mà các chính phủ lo ngại khi thực hiện mở cửa thịtrường Một nghiên cứu phân tích về các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới đã cho thấy

18 trong 25 trường hợp được nghiên cứu, khủng hoảng tài chính đã diễn ra theo sau việc tự dohoá tài chính khoảng Do vậy, nhiều người cho rằng khủng hoảng ngân hàng là sự kiện kéotheo của việc cải cách hệ thống tài chính theo hướng mở cửa Thậm chí, nhiều chính phủ cònxem đó là cái giá phải trả cho tiến trình tự do hoá

Tuy nhiên, tiến trình tự do hóa tài chính bản thân nó không phải là nguyên nhân thực sự dẫnđến khủng hoảng Việc mở cửa thị trường chỉ làm bộc lộ những yếu kém sẵn có của hệ thốngtài chính trong nước cũng như những thiếu sót trong chính sách tài chính vĩ mô, từ đó làm tăngthêm những rủi ro dẫn đến khủng hoảng tài chính Nói cách khác, nguyên nhân chính của cáccuộc khủng hoảng tài chính lại chính là những yếu kém tiềm ẩn của hệ thống ngân hàng, sựthiếu lành mạnh của hệ thống chính sách quản lý vĩ mô, và sự thiếu vắng của một chế độ giám

Trang 11

sát, kiểm tra có hiệu quả, chứ không phải xuất phát từ bản thân quá trình tự do hoá tài chính

Nội dung phần phân tích này sẽ tập trung vào việc phân tích những rủi ro mà Việt Nam cóthể sẽ đối mặt trong tiến trình hội nhập, và bằng cách nào những rủi ro này dẫn đến tình trạngkhủng hoảng tài chính

Đầu tiên là tình trạng nợ xấu gia tăng có thể đẫn đến nguy cơ vỡ nợ ở các ngân hàng Khitiến trình tự do hóa tài chính được thực hiện, chính phủ bắt đầu nới lỏng những quy định đốivới thị trường tài chính, điều kiện cho vay tín dụng của các ngân hàng cũng trở nên thôngthoáng hơn, và khi đó, hoạt động tín dụng của các ngân hàng bắt đầu được gia tăng Nếu nhưtrong lúc này việc giám sát, theo dõi của những cơ quan quản lý từ chính phủ không được thựchiện tốt, và chính bản thân các ngân hàng cũng thiếu khả năng trong việc thẩm định các dự áncũng như theo dõi hoạt động sử dụng nguồn vốn của các đối tượng cho vay, thì tất yếu lànhữug khoản nợ xấu bắt đầu gia tăng, ảnh hưởng đến nguồn vốn kinh doanh của các ngânhàng Một khi tình trạng nợ xấu này kéo dài, nguồn lực từ các ngân hàng bị bào mòn thì khảnăng vỡ nợ ở các ngân hàng là hết sức đáng ngại Hậu quả thứ hai của tình trạng nợ xấu này làviệc khả năng cho vay tín dụng của các ngân hàng bị giảm sút Khi hoạt động cho vay khôngcòn được tiếp tục, thì điều tất yếu là khả năng sản xuất sẽ bị thu hẹp, và làm ảnh hưởng đếntổng thể nền kinh tế

Vấn đề thứ hai mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong tiến trình tự do hóa là nguy cơ khủnghoảng cán cân thanh toán Như chúng ta đã biết tình trạng thâm hụt đã tồn tại trong suốt nhữngnăm vừa qua trong cán cân tài khoản vãng lai của Việt Nam, và sự thâm hụt này được bù đắpbằng những nguồn tài trợ đến từ sự thặng dư trong cán cân tài khoản vốn Tuy nhiên, vấn đềđáng lưu tâm là tính ổn định của những nguồn tài trợ này

Những nguồn tài trợ có thể kể đến là FDI và FII Đầu tư trực tiếp FDI từ nhiều năm qua đã

là nguồn vốn chủ đạo trong việc bù đắp thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai Tuy nhiên theo dựbáo thì xu hướng nhập siêu trong năm 2008 sẽ tăng mạnh và với tốc độ giải ngân FDI hiện naythì khó có thể bù đắp cho lượng thâm hụt này

Bên cạnh nguồn vốn FDI thì FII cũng là một nguồn vốn quan trọng đóng góp vào cán cânthanh toán Nguồn vốn này có đặc điểm mới xuất hiện trong những năm gần đây, với tốc độtăng khá nhanh (năm 2005 là 14,1 triệu USD, năm 2006 là 1.339 triệu USD, năm 2007 là6.500 triệu USD) Mặc dù vậy, nhưng tính ổn định và khả năng “đảo chiều” của nguồn vốn FIIlại chính là rủi ro dẫn đến sự khủng hoảng trong cân cân thanh toán Dòng vốn FII chảy vàoViệt Nam chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư nước ngoài và được đầu tư chủ yếu vào nhữngcông cụ tài chính và bất động sản trong thời gian qua Với tính chất nhạy cảm của nguồn vốnnày, nếu như nhà đầu tư cảm nhận được những sự suy giảm của thị trường thì khả năng đảochiều của nguồn vốn này là rất lớn Và nếu hiện tượng rút vốn ào ạt này diễn ra, thì tình trạngkhủng hoảng cán cân thanh toán là điều tất yếu

Một rủi ro tiềm ẩn khác là hiện tượng bong bóng tài sản và tình trạng tăng giảm bất thườngcủa thị trường chứng khoán và bất động sản Những bong bóng tài sản này hình thành từ mongmuốn làm giàu nhanh chóng của các nhà đầu tư Một hệ lụy tất yếu của vấn đề này là các

Ngày đăng: 07/11/2018, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w