1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ) (LV thạc sĩ)

135 298 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 150,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)Diễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại (khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ)

Trang 1

HÀ NỘI,2 0 1 8

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÚY HÀ

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI (KHẢO SÁT SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN,

Y BAN, LÝ LAN, NGUYỄN THỊ THU HUỆ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THÚY HÀ

DIỄN NGÔN VỀ GIỚI NỮ TRONG VĂN XUÔI NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI (KHẢO SÁT SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN,

Y BAN, LÝ LAN, NGUYỄN THỊ THU HUỆ)

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 822 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN THIỆN KHANH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các sốliệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố theođúng quy định Kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tìm hiểu, phân tích mộtcách trung thực, khách quan Các kết quả này chưa được công bố trong bất cứ côngtrình nào khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2018

Tác giả luậnvăn

Nguyễn ThúyHà

Trang 4

MỤC LỤC

MỞĐẦU 1

Chương 1.GIỚI NỮ NHƯ LÀ SẢN PHẨM KIẾN TẠOXÃHỘI 9

1.1 Khái niệm giới, diễn ngôn và diễn ngôn vềgiớinữ 9

1.2 Nữ tính, nam tính như là sự kiến tạoxã hội 10

1.3 Giới nữ trong văn học như là một vấn đề văn hóa -xãhội 11

Chương 2.SỰ KIẾN TẠO HÌNH ẢNH GIỚI NỮ TRONG TÌNH YÊUVÀHÔNNHÂN 16

2.1 Sự kiến tạo hình ảnh người nữ trongtình yêu 16

2.2 Sự kiến tạo hình ảnh người nữ tronghônnhân 37

Chương 3.SỰ KIẾN TẠO VỊ THẾCỦAGIỚI NỮTRONG GIA ĐÌNHVÀ CÁC QUAN HỆXÃHỘI 40

3.1 Sự kiến tạo vị thế của người nữ tronggiađình 40

3.2 Sự kiến tạo vị thế của người nữ trong đời sốngxãhội 68

KẾTLUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆUTHAMKHẢO 80

PHỤLỤC 93

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đềtài

Một trong những khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu nổi bật trong các khoahọc xã hội hiện đại là lý thuyết diễn ngôn Diễn ngôn học là một lĩnh vực nghiên cứuliên ngành Nghiên cứu diễn ngôn không chỉ có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ học, kíhiệu học mà còn gắn liền với với các thành tựu của văn hóa học, xã hội học, tri thứcluận, sử học… Bàn về triển vọng của lý thuyết thuyết diễn ngôn đối với khoa học hànlâm, nhà nghiên cứu O.F.Rusakova khẳng định: “Ngày nay, lĩnh vực nghiên cứu có têngọi là ‘lí thuyết diễn ngôn’ là một trong những khuynh hướng đang phát triển mạnh mẽnhất trong các khoa học xã hội hiện đại Chứng cớ là hàng năm, số lượng các ấn phẩm,các hội thảo khoa học, các giáo trình đại học, các luận văn, luận án dành cho những lĩnhvực khác nhau trong việc vận dụng các lý thuyết diễn ngôn và phân tích diễn ngôn đangkhông ngừng tăng lên” Lý thuyết diễn ngôn tương thích với nhu cầu khámphánhữngcơchếtạo dựng trithức,niềm tin, sự kiến tạo chủ thể, các mối quan hệ quyềnlực và sự thực hành xãhộiđa dạng… Đặc biệt, đối với văn chương, lý thuyết diễn ngôncóthểmở ra một cách đọc mới, một cách lý giải mới các cơ chế ngầm vận hành vănbản.Theo chúng tôi,mộttrongnhữngđối tượng tương thíchvớithế mạnh của lý thuyếtdiễn ngôn làvănxuôinữ.Ở Việt Nam, từ 1986trởlại đây, văn xuôinữphát triển mạnh mẽ,trở thành một trong những hiện tượng đáng chú ý,cảvề mặt văn học lẫn bìnhdiệnvănhóa, xãhội.Dùsựphát triển nở rộ của văn xuôinữlà một “vấn đề” của đời sốngvănhọcđương đại, songhầuhết các nghiêncứuvề văn xuôi nữ Việt Nam thời gian gầnđây, đềuchọnđiểm xuất phát từ một vài khung tri thức quenthuộc:khám phá, đánh giá,lýgiảitừ đặc trưng thi phápthểloạihayphong cáchhọc,… Nhữngphương pháp này rõràng đãđemlạinhiềukhám phá mới mẻ và hấp dẫn về phương diện nghệ thuật, nhưngdường nhưlạithiếu chiều sâu cần thiếttrướccác vấn đề văn hóa, xãhộichi phối sự

cáct á c p h ẩ m T h ự c t ế c h o t h ấ y , c â u c h u y ệ n c h í n h củav ă n x u ô i n ữ c h í n h l à c á c

Trang 6

cấu trúc văn hóa, xãhội,chứ không phải là câu chuyện vănchươngnghệ thuật

đơnthuần

Nhìn chung, chúng tôilựachọn văn xuôinữđươngđạiViệt Nam làđốitượng khảosát, vìđâykhôngchỉlà một hiện tượng văn học, mà còn làhiệntượng văn hóa, xãhộiđángchú ý.Việcsử dụng lý thuyết diễn ngônxemxét văn xuôi nữ, có thể đem lại mộtcáchđọcmới, cách nhìn mới, cách lýgiảimới phùhợpvới bản chất của hiện tượngnày.Tuynhiên, dovấnđề đặt ra trong văn xuôinữđương đại rất rộng lớn, nên trongkhuônkhổcó hạn của luận văn, chúng tôichỉdừng lại ở vấn đề sự kiến tạo hình ảnhgiới nữ (sự tái định nghĩanữtính) trong cáctrườnghợp sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, LýLan, Nguyễn Thị ThuH u ệ

Y Ban làvừalà nhà văn, vừa là nhà báo, diễn ngôncủatác giảnày vềgiới nữ tiêubiểu cho một kiểu diễn ngôn giàu tính truyền thông - báo chí, tácphẩmcủa Y Ban chứađựng một thứ ngônngữđươngđạisống động về giới nữ Dạ Ngân ngoài sáng tác, cũnglàmộtnhà báo, nhưng khácvớiY Ban,DạNgânvừamuốn thoát khỏi sự “thu xếp của địnhmệnh”, vừa khôngthểthoát khỏi cái nhìn có tính khuôn mẫu về giới nữ, vốn đãđượckiếntạo,duytrìtrong cácđịnhchế truyền thống Lý Lan, một nhà văngốcHoa, thànhthạotiếngAnh, đã cótiếpxúcvớilý thuyết nữ quyền, nhưng sáng táccủabà lại có những dấu chỉ vềmột kiểu diễn ngôn đãđượcchính thống hóa Nguyễn Thị Thu Huệ, một tácgiảgiữ nhiềuchức vụ xã hội, đứng ở trung tâm,giữanhững ràng buộc của thiết chế xã hội,chínhtrị,để diễn giải lại về giới nữ Sáng táccủaY Ban códấuviết của một thứ diễnngônngoạibiên, thiểu số hướngđếntrung tậm Còn tácphẩmcủa Dạ Ngân, LýLan,NguyễnThị Thu Huệ có dấuvếtcủa thứ diễn ngôn trung tâmhướngrangoạibiên Cả

Dạ Ngân, Y Ban, Lý Lan vàNguyễnThị ThuHuệđều là các nhà vănnữ,bàn về sự kiếntạo giới nữ (sự tái định nghĩanữtính)củachính các nhà vănnữcó ý nghĩa đặc biệt, nếuchúng ta thừa nhận rằng ngôn ngữ chính dùng để kiến tạo thế giớilâu nayvẫn làngônngữ namgiới Bởi vậy, thực chất việc khảo sátdiễnngôn về giới nữ của các nhà văn

nữ đương đại, là miêutảsự hình thành một ngônngữriêng củanhàvănnữvềchínhgiớinữtrongđốisánhvớidiễnngônnamgiớivề“kẻkhác”

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài

2.1 Sự du nhập, giới thiệu lý thuyết diễn ngôn cũng như việc vận dụng nótrong nghiên cứu văn học Việt Nam cho đến nay có rất ít thành tựu, nếu khôngmuốn nói còn ở tình trạng sơkhai

Đời sống học thuật ở Việt Nam ghi nhận, khái niệm diễn ngôn, phân tích diễnngôn được đề cập và bàn thảo đầu tiên trong lĩnh vực ngôn ngữ học Trần Ngọc Thêm,

Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thái Hòa sớm quan tâm đến vấn đề này,đặc biệt là Diệp Quang Ban [11], Nguyễn Hòa [43]… là hai tác giả có nghiên cứuchuyên sâu đầu tiên về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn Bên cạnh những đóng góp củacác nhà nghiên cứu vừa kể, còn có những nỗ lực dịch và giới thiệu đường hướng phântích diễn ngôn của các giả dịch giả như Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên, TrầnThuần, Hoàng Văn Vân…

Nhìn sang lĩnh vực xã hội học, văn hóa học, sử học, văn học… dễ thấy, việc dịch,giới thuyết về khái niệm này cũng còn khá sơ lược Riêng trong nghiên cứu văn học,một số công trình phê bình hoặc biên soạn, tổng thuật, giới thiệu các lý thuyết vănchương hiện đại, dù có đề cập đến khái niệm này song có thể nói là chưa đủ để hiểu mộtcách đúng đắn, có hệ thống về lý thuyết diễn ngôn; chưa đáp ứng được yêu cầu thay đổi

hệ hình/ hình thành một khung tri thức mới làm cơ sở cho việc mở rộng phạm vi nghiêncứu cũng như xây dựng quan điểm phương pháp luận mới mẻ trong khoa nghiên cứuvăn học hiện đại ở nước ta

Thuật ngữ diễn ngôn được tìm thấy xuất hiện trong các công trình

nhưChủnghĩa cấu trúc và văn họccủa Trịnh Bá Đĩnh [39];Sự đỏng đảnh của phươngphápdo Đỗ Lai Thuý biên soạn và giới thiệu [133]; Năm 2003, Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân công bố công trình Các khái niệm và thuật ngữ củacác trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ 20[158] dịch từ tiếng Nga Có thể nói, đây là công trình đầu tiên giải thích cụ thể khái niệm diễnngôn, thực diễn ngônvàdiễn ngôn tâm thần phân lập, mà trước đó việc diễn giải

chúng còn thiếu cơ sở, mơ hồ, phiến diện Sau công trình của nhóm Đào Tuấn Ảnh,thuật ngữ và khái niệm diễn ngôn tiếp tục hiện diện qua các bản dịch củaVũH o à n g

Trang 8

Địch, Trần Ngọc Vương [165]; Đặng Anh Đào [152], Lê Hồng Sâm [174], Nguyễn TuệĐan, Tôn Thất Huy [166]; Trần Duy Châu, Lộc Phương Thủy, Phùng Văn Tửu, NgânXuyên [160], Trần Huyền Sâm, Trần Ngọc Hiếu, Đỗ Văn Hiểu và các nghiên cứu củaTrương Đăng Dung, Nguyễn Hưng Quốc, Phương Lựu, Lã Nguyên [97], Trần Đình Sử,Nguyễn Đăng Điệp, Trần Văn Toàn, Phạm Quốc Lộc, Lê Nguyên Long, Lê Thị VânAnh, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Trần Thiện Khanh [126]….Xét kĩ một số trường hợp, chúng tôi cho rằng, bài viết “Các lý thuyết diễn ngôn hiệnđại: kinh nghiệm phân loại” của O.F.Rusakova do Lã Nguyên dịch [97] , và các tiểuluận “Ba cách tiếp cận diễn ngôn” [78] của Nguyễn Thị Minh Ngọc, “Dẫn nhập lýthuyết diễn ngôn của M.Foucault và nghiên cứu văn học” []124] của Trần Văn Toànđánh dấu một bước chuyển đáng chú ý đối với việc tiếp nhận, du nhập lý thuyếtdiễnngôn.

2.2 Khác với tình hình dịch, giới thiệu lý thuyết diễn ngôn, việc nghiên cứu

văn xuôi nữ đương đại rất đa dạng Đã có nhiều công trìnhlấyvăn học nữ, văn xuôinữ, thơ nữnói chung làm đối tượng khảo sát, đấy là chưa kể có không ít nghiên

cứu trườnghợp

2.3 Mặc dù cách tiếp cận, cũng như điểm tựa lý thuyết của các nghiên cứu vềvăn học nữ rất phong phú Tuy nhiên, vấn đề giới trong văn học Việt Nam nóichung, đặc biệt vấn đề giới nữ trong văn xuôi nữ đương đại nói riêng vẫn chưa đượcquan tâm thíchđáng

Chúng tôi thấy việc nghiên cứu vấn đề giới trong văn học gần đây được thựchành chủ yếu bởi các nhà nghiên cứu phê bình thế hệ 7x và 8x Tiêu biểu là TrầnVăn Toàn, Hồ Khánh Vân, Nguyễn Thị Vân Anh… Tác giả Trần Văn Toàn trong

các nghiên cứu nhưNam tính hóa nữ tính - Đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh từ gócnhìn giới tính[121], Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật Trường hợp củaDũng trong Đoạn tuyệt[122];Nguyễn Thị Vân Anh trong một nghiên cứu thử nghiệmDiễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam[4],Thái Phan Vàng Anh trongVăn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975 - nhìn từdiễn ngôn giới[6],…cho thấy cốt lõi các diễn giải của họ là xuất phát từ lý thuyết

Trang 9

diễn ngôn đan xen với thi pháp học Nguyễn Đăng Điệp trongVấn đề phái tính vàâm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại[126]; Hồ Khánh Vân trongTừ lý thuyết phê bình nữ quyền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tácgiả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay[147]; Ý thức nữ quyền và sự phát triển bướcđầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỉ XX[148];Ý thức về địa vị giới thứ hai trong một số sáng tác của các tác giả

nữ ViệtNam và Trung Quốc từ 1980 đến nay[126]; Nguyễn Thị Thanh Xuân trongVấn đềphái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại (qua sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu)[151]; John C.Schafer trongĐọc Phạm Duy và LêVân tư duy về nam giới và nữ giới[161] cho thấy sự quan tâm đến

giới nữ từ nữ quyền luận đan xen với lý thuyết về giới, đôi chỗ còn trộn lẫn với thi

pháp học, phong cách học Trần Nho Thìn trongTừ thực tiễn Việt Nam, góp thêm một tiếngnói phương pháp luận vào cuộc thảo luận quốc tế về vấn đề Nho giáo và

nữ quyền[126], tiếp cận vấn đề từ góc độ văn hóa học, nữ quyền luận xen với phê

phán tư tưởnghệ

Tóm lại, các nghiên cứu về văn học nữ [văn xuôi nữ, thơ nữ] ở Việt Nam thời gianqua, thường đặt ra các vấn đề về tâm lý, thể loại, nhân vật, giọng điệu, bút pháp, ngônngữ… Góc độ tiếp cận chủ yếu vẫn là tâm lý học sáng tạo, xã hội học, và đặc biệt là thipháp học, phản ánh luận Từ những góc độ đó, các kết luận thường được rút ra là cácđặc điểm riêng về hoàn cảnh sáng tác, đặc trưng về nhân vật, đề tài, giọng điệu, bútpháp, ngôn ngữ… của một vài tác giả cụ thể cũng như của văn học nữ nói chung.Không ít nghiên cứu chủ trương đi tìm mối liên hệ giữa nhân vật trung tâm và tác giảtiểu sử, hướng đến việc gán cho tác phẩm tính chất tự thuật, tự truyện

Các nghiên cứu về giới nữ trong văn học Việt Nam tiếp cận từ góc độ giới, nữquyền hay diễn ngôn thường tập trung vào văn học từ sau 1986 đến nay, một số tiểuluận quan tâm đến cácdiễn ngôn, các diễn giải về giới trong văn học hồi đầu thếkỷ

XX Trong phạm vi trường quy, lý thuyết diễn ngôn có xu hướng trở thành thời thượng,khi được vận dụng vào việc triển khai các khóa luận, luận văn: điểm nổibật

Trang 10

ở các trường hợp này là tiếp nhận lý thuyết diễn ngôn của M Foucalt, hạn chế chính

là chưa hiểu thấu đáo quan điểm của Foucault, thành ra lý thuyết một đằng nhưngphương pháp và mô hình triển khai cơ bản vẫn theo mô hình lý thuyết, phương phápvốn rất quen thuộc hay đang thống trị trong các trườnghọc

- Nhiệm vụ chính của luận văngồm

Xác lập các hiểu thống nhất về khái niệm nữ tính/nam tính, khái niệm diễn ngôncũng như diễn ngôn về giới nữ

Phân tích, lý giải những điểm đặc thù trong diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn

nữ Việt Nam đương đại: so sánh với các diễn ngôn về giới nữ trước Đổi mới và cácdiễn ngôn về giới nữ trong văn xuôi của các nhà văn nam đương đại, nhằm chỉ ra sựduy trì và đồng thời là sự giải kiến tạo các diễn ngôn về nữ tính của văn xuôi nữ ViệtNam đươngđại

4 Đối tượng và phạm vi nghiêncứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các diễn ngôn về giới nữ củachính giới nữ (các nhà văn nữ), cụ thể bao gồm sự định nghĩa lại nữ tính/sự kiến tạohình ảnh nữ giới trong tình yêu – hôn nhân, gia đình và các mối quan hệ xãhội…

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: [văn xuôi nữ Việt Nam đương đại] tậptrung khảo sát các tác phẩm Dạ Ngân, Lý Lan, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ Luậnvăn nhìn nhận sáng tác của các nhà văn này như là các trường hợp tiêu biểu và lànhững biểu hiện cụ thể, sinh động của các diễn ngôn đương đại về giớinữ

5 Cơ sơ lý luận và phương pháp nghiêncứu

Nghiên cứu diễn ngôn đòi hỏi sự tiếp cận đa ngành, liên ngành Do đó, luận văn

sử dụng phối hợp nhiều phương pháp:

Trang 11

- Phương pháp loại hình: luận văn sử dụng phương pháp này để xem xét hiệntượng văn học nữ [văn xuôi nữ), xác định tính chất loại hình của văn học này cũngnhư các diễn ngôn về giới trong nó Khung phân loại được sử dụng để xác định đặcđiểm chung của hiện tượng văn học nữ ở đây là diễn ngôn: xác định diễn ngôn củagiới nữ và diễn ngôn về giớinữ.

- Phương pháp văn hóa học: phương pháp này trước hết trang bị cho tác giảluận văn quan điểm: đặt văn học vào trong hệ thống văn hóa, lý giải văn học từ vănhóa Cụ thể việc nghiên cứu diễn ngôn về giới nữ sẽ được đặt vào cái bối cảnh vănhóa truyền thống và đương đại đê nhìn nhận, mô tả và lý giải nó, xem diễn ngôn đónhư là sản phẩm của sự kiến vănhóa

- Phương pháp xã hội học: luận văn nhìn nhận diễn ngôn như là sản phẩm kiếntạo xã hội, diễn ngôn về giới nữ là sản phẩm của tư tưởng hệ, của một thờikỳlịch sử,

xã hội; diễn ngôn được kiến tạo, thực hành và bị kiểm soát theo một trật tự diễnngôn

- Phương pháp phân tâm học: sử dụng phương pháp này luận văn có thêm mộtgóc độ lý giải về ngôn ngữ, vô thức của nữ giới ở việc kiến tạo hình ảnh giới nữtrong tình yêu – hôn nhân, trong không gian gia đình cũng như các mối quan hệ xãhội

- Phương pháp kí hiệu học: phương pháp này được sử dụng hỗ trợ cho cácphương pháp văn hóa học, xã hội học, nhằm xác định một kí hiểu quyển và quátrình kí hiệu hóa ngôn ngữ… của giớinữ

Ngoài các phương pháp trên, luận văn còn sử dụng thường xuyên các thao tácthống kê, tổng hợp, so sánh… nhằm làm rõ hơn những vấn đề được đặt ra và tăng tínhthuyết phục cho các kết luận

6 Ý nghĩa lý luận và thựctiễn

- Chỉ ra nam tính, nữ tính là sự kiến tạo về mặt xãhội

- Làm sáng tỏ sự kiến tạo hình ảnh giới nữ (vị thế của người nữ) trong tìnhyêu,hônnhân,giađình(vaitròlàmvợ,làmmẹ,nộitrợ…)vàđờisốngxãhội(sự

Trang 12

kiến tạo tri thức, nghề nghiệp và tính độc lập về kinh tế….) của các sáng tác nữ Việt Nam đương đại

- Bước đầu nhận diện sự giải kiến tạo diễn ngôn về nữ tính và sự tạo dựng mộtdiễn ngôn khác về giới nữ của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại trong đối sánhvới diễn ngôn truyềnthống

7 Kết cấu của luậnvăn

- Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Tư liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc gồm 3chương

Chương 1: Giới nữ như là sản phẩm kiến tạo xã hội

Chương 2: Sự kiến tạo hình ảnh giới nữ trong tình yêu và hôn nhân

Chương 3: Sự kiến tạo vị thế của giới nữ trong gia đình và đời sống xã hội

Trang 13

Chương 1

GIỚI NỮ NHƯ LÀ SẢN PHẨM KIẾN TẠO XÃ HỘI

Chương này phân biệt khái niệm giới và giới tính; diễn ngôn về giới nữ của cácnhà văn nữ [chủ thể sáng tạo] và diễn ngôn về giới nữ của các nhà văn nam [chủ thểsángtạo]

Đồng thời khẳng định nam tính và nữ tính không phải là tự nhiên, mà là các sảnphẩm kiến tạo về mặt xã hội Diễn ngôn về giới nữ thay đổi theo từng ngữ cảnh văn hóa

xã hội

1.1 Kháiniệm giới, diễn ngôn và diễn ngôn về giớinữ

Giới(gender) khác vớigiới tính(sex) Lâu nay trong một số thực hành phê bình văn

học, hai khái niệm này được xem là đồng nghĩa, do đó thường bị dùng lẫn lộn, thay thếcho nhau

Theo các nhà xã hội học,giới tínhlá khái niệm dùng chỉ sự khác biệt về sinh lý căn

bản giữa đàn ông và đàn bà, “khác biệt về cơ quan sinh dục và những khả năng sinh

sản” [132, tr.17] Còn khái niệmgiớiđề chỉ chị sự phân biệt về mặt xã hội và vănhóa.

Các nhà nhân học xã hội cũng phân biệt, khái niệm “giới là sản phẩm của của vănhóa liên quan đến những quan niệm và hành vi được xem là phù hợp với mỗi giới tính”[132, tr.17], giới là “cấu trúc văn hóa - xã hội” [132, tr.20], “giới được tạo thành khôngchỉ trong gia đình hoặc trong quan hệ giữa các cá nhân mà còn trong cấu trúc của tất cảcác thiết chế xã hội chủ yếu, bao gồm trường học, tôn giáo, kinh tế và chính trị; nhữngthiết chế này định hướng cho tất cả chúng ta nam giới hay phụ nữ, những thành viêntrong một xã hội cụ thể” [132, tr.21] Giới tính là thuật ngữ chỉ “những đặc điểm nhậndạng bên ngoài phân biệt một người nam với một người nữ, cần thiết cho sự tái sản xuấtsinh học của con người” [132, tr.17] Trong khi giới tính là một đặc trưng sinh học thìgiới là một đặc trưng xã hội-văn hóa Vì là đặcđiểmsinhhọcnêngiớitínhcótínhbẩmsinh,đồngnhất,phổquátvà khôngthay

Trang 14

đổi; cũng như vậy, do là đặc trưng văn hóa-xã hội nên giới có là sản phẩm xã hội hóa,

có tính đa dạng, đặc thù cho từng thời kỳ, văn hóa, xã hội và có thể thay đổi

Theo các nhà nữ quyền luận, không chỉ giới mà cả giới tính đều là các kiến tạo xãhội Không có sự khác biệt tự nhiên giữa giới nam và giới nữ, yếu tố sinh học khôngquy định các hành vi xã hội của con người, mà chính cấu trúc văn hóa xã hội [thông quacác thiết chế như gia đình, nhà trường, các phương tiện thông tin đại chúng…] quy định

sự khác biệt đó Sự khác biệt giữa giới nam và giới nữ là do xã hội, văn hóa tạo nên chứkhông phải là sự tồn tại đương nhiên, tự nhiên, sẵn có Ngay cả giới tính cũng có thể do

xã hội, văn hóa tạo nên, tạo ra

Diễn ngôn là ngôn ngữ trong hoạt động, ngôn ngữ trong sự hành chức của nó Nóiđến diễn ngôn là “nói đến những phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chứchoạt động ngôn từ” [158, tr.157] Diễn ngôn là quá trình kí hiệu hóa để tạo nghĩa “Diễnngôn được tạo lập nên từ tri thức và những quan hệ quyền lực đa dạng trong cuộc sống.Diễn ngôn, đến lượt nó, cũng là phương cách tạo lập nên tri thức, cùng với những thựchành xã hội, các dạng thức của chủ thể và mối quan hệ quyền lực Được bắt rễ trongngôn ngữ, diễn ngôn tạo ra niềm tin, niềm tin biến thành tri thức, và tri thức tạo nênquyền lực Bởi vậy sẽ không có tri thức nào là chân lý tuyệt đối và hoàn toàn kháchquan” [149, tr.5] Mọi diễn ngôn đều là sản phẩm của văn hóa, xã hội

Kháiniệmdiễnngôncủagiớinữkhác với diễn ngônvề giớinữ.Khái niệmthứnhấtđềcậpđếngiớinữnhư mộtchủthể, xác định giớinữ cómộtdiễnngônsovới giớinam.Diễnngôn của giớinữ cóthể kiến tạonghĩa chobấtcứ hiệntượng, đốitượngnàoTrongkhiđókhái niệm thứ hai,chothấy, giớinữ làđối tượngđịnh nghĩacủadiễnngôn,chủthể củadiễnngônđó cóthểlàgiớinamhoặcchínhlàgiớinữ

1.2 Nữ tính, nam tính như là sự kiến tạo xãhội

Nhưđãnóiởtrên (đồng thời cũnglàquanđiểmcủa luậnvăn này),giớinamvàgiớinữlàsản phẩm củasựkiếntạoxãhội Namtínhvànữtính trongphạmviluậnvănkhôngđượcdùngtheonghĩasinhhọc,màlànhữngkiếntạoxã

Trang 15

hội, văn hóa Nam tính và nữ tính không phải là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm của

xã hội

Thừa nhận, nam tính và nữ tính là sản phẩm văn hóa, thì “tất yếu phải chấp nhậnmột thực tế: không có một quan niệm duy nhất, phổ quát cho cái gọi

lànamtính(masculine) haynữ tính(femininity) Nam tính hay nữ tính biến đổi một cách

đa dạng từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác; và ngay trong một nền văn hóa thìnam tính và nữ tính cũng luôn biến đổi từ thời kì này sang thời kì khác Điều này giải

thích vì sao trong những công trình nghiên cứu về giới hiện naynamtínhhaynữ tínhthường được dùng ở dạng số nhiều: những - nam tính (masculinities) và những – nữ

tính (femininities) … những quy phạm về nữ tính và nam tính không phải là một tồn tại

có tính chất tự nhiên mà là sản phẩm của diễn ngôn được kiến tạo từ một hệ hình trithức và những tương quan quyền lực của một thời đại cụ thể.” [121,tr.22]

1.3 Giới nữ trong văn học như là một vấn đề văn hóa - xãhội

"Đàn ông có thể coi văn chương như một thứ say mê, tạo kỳ đài Còn đàn bà viếtvăn xưa nay phần nhiều là để trải lòng Viết cho mình Viết bằng thứ bản năng máchbảo thần thánh nhiều hơn là viết bằng trí khôn Thế nên, đàn ông viết văn nhiều khi viếtbằng cái thông minh lồng lộng, còn đàn bà thường viết bằng tình yêu, bằng trái tim giàutrắc ẩn" Nếu coi văn chương là lĩnh vực của sự sáng tạo, sự độc đáo, nơi cá tính đượctôn vinh thì việc phụ nữ cầm bút làm văn chương xác nhận nhu cầu khẳng định giới tínhcủa mình Bởi vậy, dù họ đề cập tới những vấn đề vĩ mô hay nhỏ bé, xa xôi hay gần gụithì văn chương vẫn bộc lộ sự tinh tế, những góc nhìn riêng của đặc trưng giới tính

“Xưa nay bất kỳ nước nào cũng vậy, văn học là phần đàn ông, đàn ông là trung tâm củavăn học” [57, tr.423], văn chương ở xứ ta bao đời nay dường như vẫn chỉ dành riêngcho vài đấng nam nhi thi thố Phụ nữ “như đã bị ruồng đuổi ra ngoài bờ cõi văn học”[57, tr 432], một vài gương mặt phụ nữ hiếm hoi xuất hiện được coi là hiện tượng đặcbiệt, là hiện tượng của văn chương Tác phẩm của họ được xem như là những tiếng nóithan thân, phản kháng chế độ nam quyền, là lời kêu gọi sự ban ơn của nam giới Nhưngngười phụ nữh i ệ n

Trang 16

đại chọn viết văn để “sống một cuộc sống khác” (lời tự bạch của Xuân Quỳnh), họ viếtvăn bằng tri thức, bằng thái độ kiêu hãnh tự tin khẳng định bản lĩnh giới mình và giá trịvăn chương của mình Họ dùng văn chương để “tấn công vào những quan niệm đầymàu sắc nam quyền, tố cáo tình trạng bị nhào nặn thành phụ nữ theo những tín điềungười khác áp đặt cho giới mình” [57, tr.300].

Gần một thế kỷ trước, Phan Khôi đã dự đoán rằng biết đâu nữ lưu sau này sẽ “trởnên người chủ trương của văn học” “Nếu văn học mà quả lấy nữ tánh làm trung tâm thìđàn bà chủ trương lấy nền văn học là phải, mà như vậy thì văn học có lẽ lại tấn bộ hơntrước ” [57, tr 432,] Chỉ mấy chục năm sau lời tiên tri của Phan Khôi đã thành sựthật.Phan Khôi, người được coi là tiếp nhận văn học từ ánh sáng của nữ quyền, trong

bài viết:Văn học với nữ tánhông đưa ra những luận giải vì sao nữ giới có quan hệ với

văn học Ông cho rằng đàn bà có nhiều tính chất thích hợp với văn học như trầm tĩnh,nhẫn nại, nhiều tình cảm, vì thế đàn bà lấy những tính đó mà chuyên theo nghề văn họcthì dễ và mau chóng thành công hơn đàn ông Văn học với nữ tính có quan hệ, nữ tínhchoán hết mấy phần trong văn học Ông đưa ra hai ý kiến Thứ nhất, phụ nữ là biểu hiệncho cái đẹp và những gì liên quan đến cái đẹp đều gắn với họ, còn “cái đẹp là cái cốtcủa văn học” cho nên “văn học hay tả về đàn bà”; thứ hai, phụ nữ vốn mang bản chấtcủa nữ tính, sự mềm mại, yếu đuối, thiên về bộc lộ đời sống tình cảm từ bên trong mà

“văn học trọng đường tình cảm”, nên văn học “nói chuyện đàn bà thì khiến cho người ta

dễ cảm, cho nên nói về đàn bà nhiều hơn” [57,tr.429]

Vậy, điều kiện nào để phụ nữ trở thành chủ thể sáng tạo? Trước hết phải là học

“Người ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ” (Beauvoir) Những thuộctính mà từ trước đến nay người ta vẫn áp đặt cho phụ nữ không phải là cái vốn có, bảnchất phụ nữ, mà do người đàn ông áp đặt cho phụ nữ thông qua văn hóa, giáo dục Mặtkhác bản thân người phụ nữ cũng luôn cho rằng mình yếu kém hơn đàn ông, mình là

“thứ hai” Nước ta từ xưa tới nay trọng nam khinh nữ, đàn bàsinhrachỉlàcáivậtphụthuộcvàođànôngnênkhôngcầnhọchànhmàtựđànbà

Trang 17

cũng nghĩ rằng không cần học làm gì, chỉ một mình đàn ông học cũng đủ [57, tr.421].Trong xã hội phụ quyền, phụ nữ học chỉ để phục vụ chồng con và những người thântrong gia đình mà không được thi thố ngoài xã hội, bởi phụ nữ còn phải tuân theo cácquy tắc “Tam tòng”, “Tứ đức” Quan niệm “phụ nhân nan hóa” ấn định rất rõ ràngtrong đời sống văn hóa, người phụ nữ luôn bị coi và tự coi là “phái yếu Chữ “tài”, chữ

“trí” chỉ gắn liền với người quân tử, kẻ trượng phu Phụ nữ bị xếp chung hàng với hạngtiểu nhân Họ không có quyền đi học hay tham gia thi cử, không có mặt trong bộ máyquản lí làng xã hay có bất kì tiếng nói nào trong những vấn đề “nghị sự” Khổng Tử chorằng: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vi nan dưỡng dã Cận chi, tắc bất tốn, viễn chi tắc oán”(chỉ có đàn bà và bọn tiểu nhân là khó nuôi dạy Hễ ta gần gũi thì khinh nhờn, hễ ta xacách thì oán ghét) Từ đó nảy sinh tư tưởng trọng nam khinh nữ, “nhất nam viết hữu,thập nữ viết vô”… Nhưng cho đến nay thì sự bất bình ấy không còn nữa, sự học thìkhông ai kém ai và nền văn học văn học tương lai là chung cho tất cả đàn bàViệt?”Thời trung đại, dưới ảnh hưởng của diễn ngôn Nho giáo, phạm vi nam - nữ đượcphân chia một cách rạch ròi, vị thế chủ yếu thuộc về nam giới, “phu xướng phụ tùy”,người đàn ông nắm trong tay quyền quyết định và người phụ nữ là người phục tùng.Những quan niệm đạo đức chuẩn mực “phụ nhân nan hóa”, “Tam tòng, Tứ đức” củaNho giáo trở thành cái cùm để giam cầm nữ giới, “đẩy vị trí của họ xuống hàng kẻ nô

lệ, nô lệ không chỉ về kinh tế, chính trị, văn hóa, mà nô lệ cả về tình cảm và tình dục”,

là công cụ áp chế tinh thần người phụ nữ, ăn sâu vào tiềm thức của họ quán tính: tựmình tu dưỡng, tự mình ràng buộc, tự mình nhược hóa mình, là rào cản vô hình, hàkhắc trói buộc tự do và kìm hãm sự phát triển của người phụ nữ Bởi vậy, “thế giới vănhọc thời trung đại Việt Nam là thế giới của đàn ông,do đàn ông thống trị Những lời bàn

về thơ văn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX còn lưu giữ, truyền lại phổ biến, tuyết đối chỉ

có lời nói của đàn ông, không có tiếng nói phụ nữ, gần như không bàn về giới nữ”, “phụ

nữ chỉ đóng vai trò thực hành, gìn giữ và làm gia tăng quyền lực của những diễn ngônnam giới” [171] Trong văn chương, người phụ nữ rơi vào bi kịch “mất tiếng nói” [126,tr.169],hoặc

Trang 18

lời nói không có giá trị Họ trở thành đối tượng thay vì trở thành chủ thể của vănchương, họ không tồn tại với tư cách là chủ thể của diễn ngôn, của lời nói Họ mượnlời nam giới để diễn đạt văn chương của mình Hầu hết các tác giả nữ trong văn họctrung đại như Lý Ngọc Kiều, Lê Thị Yến (Ỷ Lan), Ngô Chi Lan, Đoàn Thị Điểm, PhạmLam Anh, Lê Ngọc Hân, Trương Thị Trong, Nguyễn Trinh Thận, Nguyễn Thị Hinh (BàHuyện Thanh Quan), Nguyễn Tĩnh Hòa, Nguyễn Thị Nhược Bích,…đều nói bằng ngônngữ của giớinam.

Thời kì 1945- 1975 dân tộc Việt Nam bước vào cuộc chiến đầy cam go, thử tháchvới thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Cả dân tộc quyết liệt đấu tranh để chiến đấu và chiếnthắng kẻ thù Văn học trở thành một thứ vũ khí tham gia trực tiếp vào hai cuộc khángchiến nhằm bảo về độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Giọng điệu sử thi là âmhưởng chính của giai đoạn văn học này Văn học hướng tới những sự kiện lịch sử cótính cộng đồng dân tộc, nhân vật thường đại diện cho vẻ đẹp phẩm chất của con ngườiViệt Nam Văn học động viên, kêu gọi, khích lệ mỗi cá nhân phát huy vai trò của mìnhtrong sự nghiệp chung của dân tộc Trong văn xuôi của nhiều tác giả, người phụ nữ

được nhìn nhận như những anh hùng mang vẻ đẹp của thời đại như: chị Sứ (Hòn Anh Đức), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng- Nguyễn Thi), Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng– Nguyễn Minh Châu), Phương Định (Những ngôi xao xa xôi- Lê Minh Khuê),…

đất-Con người cá nhân nhường chỗ cho con người cộng đồng Hình tượng nhân vật đượcxây dựng trong văn học hầu hết là những hình tượng phi giới tính Vì vậy, trong diễnngôn sử thi, người nữ được khai thác ở khía cạnh xã hội, mà chưa chú ý nhiều đếnnhững đặc trưng vềgiới

Từ 1986, công cuộc Đổi mới đã đem lại nhiều chuyển biến lớn lao trên mọiphương diện của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Trong bối cảnh tiếp xúc với nhiềuluồng tư tưởng mới, giao lưu văn hóa đa chiều của nền kinh tế thị trường, công nghiệphóa hiện đại hóa, thời đại bùng nổ của công nghệ thông tin,…nâng cao học vấn cũng làmột thành tựu đáng được ghi nhận Sự đổi mới toàn diện mọi mặt từ chính trị, văn hóa,

xã hội, kinh tế,…tác động mạnh mẽ đến đời sống văn họcđươngthời.Vănhọcchuyểntừâmhưởngsửthisangphảnánhcuộcsốngthếsự

Trang 19

Văn học quan tâm đến con người cá nhân, tới nhu cầu và khát vọng đời thường Hìnhtượng người nữ xưa nay được nhìn nhận, đánh giá dưới cái nhìn của nam quyền thì giờđây được nhìn bằng con mắt của chính họ Văn xuôi nữ đương đại đã thực sự chiếm ưuthế trên văn đàn Văn xuôi đương đại thực sự đã có những tiếng nói mới mẻ của giới nữvới sự đóng góp của hàng loạt cây bút nữ tài năng như Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài,

Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Dạ Ngân,Nguyễn Ngọc Tư,…Trong sáng tác của họ, nữ giới được nhìn như một khách thể thẩm

mĩ độc lập, một đối tượng cần được khám phá, lý giải Các nhà văn nữ thoải máiphôbàyđời sống, tâm tư tình cảm, khát vọng, nhu cầu của bản thân mà không cần dấudiếm Phụ nữ sáng tác với vai trò là một chủthể

- một tác nhân chống lại sự kiến tạo của nam giới về nữ tính và vị thế xã hội củagiới nữ Văn học nữ là diễn ngôn của giới nữ, là sự tự kiến tạo về giớimình

Tiểu kết chương

Giới và giới tính, nam tính và nữ tính đều là các kiến tạo văn hóa - xã hội Sự khácbiệt giữa giới nam và giới nữ không phải do yếu tố sinh học quy định, mà là do xã hội,văn hóa (ngôn ngữ) tạo nên Nam tính và nữ tính không tồn tại tự nhiên, sẵn có, tiênnghiệm mà là những kiến tạo xã hội, có thể thay đổi, uốn nắn; mỗi xã hội, cộng đồng,mỗi nền văn hóa và từng thời kỳ, … có một cách định nghĩa khác nhau về nam tính và

nữ tính Không có sự thật nào về nam tính, nữ tính tồn tại bên ngoài các diễn ngônvănhóa

Nói đến diễn ngôn là nói đến ngôn ngữ trong thực hành chức năng của chúng.Diễn ngôn, tri thức, quyền lực gắn bó với nhau Diễn ngôn tạo ra các niềm tin, niềm tintạo ra tri thức, tri thức tạo ra quyền lực Đến lượt mình quyền lực chi phối sự kiến tạo,diễngiải

Khái niệm diễn ngôn về giới nữ xác định giới nữ như một chủ đề, đối tượng của

sự kiến tạo Chủ thể của những sự định nghĩa, diễn giải này, trong phạm vi xem xét củaluận văn, là chính giới nữ Giới nữ định nghĩa, diễn giải về bản sắc nữ tính của chínhhọ

Trang 20

Chương 2

SỰ KIẾN TẠO HÌNH ẢNH GIỚI NỮ TRONG TÌNH

YÊUVÀ HÔN NHÂN

Chương này xem vị thế xã hội là một vấn đề quan trọng đối với người nữ, nhìnnhận những tri thức về vị thế xã hội của người nữ là một thứ quyền lực, một cơ chếkiếm soát, ràng buộc, định đoạt số phận của người nữ trong xã hội

Sau khi chỉ ra vị thế xã hội của người nữ chẳng qua cũng là một sự kiến tạo vềmặt xã hội, luận văn đi sâu phân tích các hình thức kiến tạo và sự thực hành duy trì cácvai trò, nhiệm vụ, bổn phận,… của người nữ trong tình yêu, hôn nhân

2.1 Sự kiến tạo hình ảnh người nữ trong tìnhyêu

2.1.1 Trinh tiết như là phẩm giá của người nữ

Cho đến nay, diễn ngôn Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến nếp sống, suynghĩ, ngôn ngữ của người Việt Trong phần lớn các cuộc tranh luận về chuẩn mực, đạođức, thì tiết hạnh của nữ giới vẫn được đề cao và trinh tiết của người nữ vẫn được coi làthước đo để đánh giá nhân cách của họ Xã hội không thể xóa bỏ bất bình đẳng giới,phụ nữ sẽ không được đối xử công bằng nếu như vẫn quá coi trọng và đề cao trinh tiếtcủa họ

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Trinh tiết là người con gái còn tân,còn trong trắng, chưa chồng và người con gái đó phải giữ được lòng trọn vẹn thủychung với chồng” [103, tr.1036] Xét theo khía cạnh đạo đức thì trinh tiết biểu trưngcho sự trong trắng trong tâm hồn, đức hạnh trong tình yêu, người phụ nữ có trinh tiết làngười có ý thức tiết chế dục vọng giữ gì thân thể thuần khiết, chung thủy với người bạnđời Ở mỗi thờikỳkhác nhau cách giải thích, cách định nghĩa về trinh tiết có sự thay

đổi.Trinh tiếtlà một kiến tạo văn hóa, khái niệm này biểu hiện sự kiểm soát của xã hội

đối với (một phần) thân thểnữ

Học giả Phan Khôi khẳng định: “Xưa nay trong đạo đàn bà, chữ trinh làm trọng,chữ trinh cũng như những chữ đạo đức, nhân, nghĩa, đó là chữ ta hấp thụ được từ vănhóa Tàu… Chữ trinh như một tín điều của một tôn giáo riêng dành cho đàn bà… ”

Dưới chế độ phụ hệ, con gái thuậnTam tòng, nếu mất trinh sẽ bị chabỏ,

Trang 21

chồng không nhìn thành ra bơ vơ nên phải giữ trinh Phan Khôi cũng cho rằng chữ trinh

có hai đường: nết và tiết Cái nết nghĩa là cái nết đoan chính và chính chuyên của ngườiphụ nữ, đoan chính là có ý giữ mình nghiêm nghị không cho ai được phạm đến, chínhchuyên là buộc mình duy nhất với một người chồng mà thôi Phụ nữ vì cái ý chí phẩmgiá của mình mà giữ trinh chứ không phải vì chồng hay vì ai cả Như thế, trinh là mộtcái nết, về sau người ta uốn nắn nó thành ra một cái tiết “Tiết là một cái dấu tỏ ra mình

đã làm hết bổn phận của mình đối với người mà mình thuộc về” [57, tr.53] Luật bắtđàn bà thủ tiết là do lòng ích kỷ của đàn ông mà sâu xa hơn là do cái thuyết thủ tiết củaTống Nho Dưới cái trị quyền theo học thuyết Tống Nho, phụ nữ ta cũng đã bị ngượcđãi mà chịu thiệt nhiều bề Pháp luật ta không cấm hẳn người đàn bà cải giá nhưng cũngcướp hết quyền lợi của người đàn bà cải giá Hạ người đàn bà cải giá xuống, tung ngườiđàn bà thủ tiết lên Phan Khôi cho rằng ngày nay trong xã hội ta “cái hay của nết trinhchừng như còn lại không được bao lăm, mà cái dở của nết trinh vẫn còn đè lên đầu hếtmột phần nữ giới Đó là kết quả của sự chuộng tiết hơn nết” [57,tr.57] Cuối bài viết

“Chữ trinh: cái tiết với cái nết”, Phan Khôi đặt chữ trinh trong thời buổi cái thói dâm ôtràn ngập cả thiên hạ, đàn bà con gái muốn giữ lấy nhân cách trên nền tự do độc lập thìcần phản đối cái tiết trinh, trau dồi lấy cái nết trinh [57, tr.57] Như thế trinh tiết trong

xã hội được nâng lên thành một chuẩn mực thiêng liêng, một áp lực phẩm hạnh củariêng người phụ nữ nhưng lại bị biến thành “của cải xã hội” được đặt dưới “cái nhìncông cộng” và sự phán xét công khai của cả cộng đồng, bị đặt dưới sự diễn giải, kiếntạo, điều chỉnh và phán xét của diễn ngôn nam giới Trinh tiết, như vậy, trở thành một

ám ảnh về phẩm tính, một sợi dây trói buộc nữ giới theo đạo đức nam quyền, một mặccảm quy thuộc tự biến thân thể mình thành thứ ‘đồ vật’ chịu quyền sở hữu từ duy nhấtmột người đàn ông Ý thức hệ Nho giáo đã định cho người nữ truyền thống phải có đủ

tứ đức “Công - Dung - Ngôn - Hạnh” Trinh tiết là một phạm trù đạo đức thuộc phạm

vi nghĩa của từ “Hạnh” Một trong những diễn ngôn tạo nghĩa cho chữ trinh là: “Chữtrinh đáng giá ngàn vàng” Diễn ngôn này đãxácđịnhvịtrícủachữtrinhđốivớicuộcsống,cuộcđờingườinữ,trinhgiữvaitrò

Trang 22

làm nên giá trị đầy đủ của một phụ nữ Trinh không chỉ là một chuẩn mực điểu chỉnhhành vi của người nữ mà còn là một cơ sở để người nam định giá và lựa chọn người nữ.Trong diễn ngôn văn học trung đại, việc người nam chọn vợ dựa vào tiêu chuẩn chữtrinh khá phổ biến Đối với nam giới, một người phụ nữ đoan trang, đứng đắn, trongtrắng là yêu cầu đầu tiên và mang tính chất quyết định khi chọn vợ “Chuyện người congái Nam Xương của Nguyễn Dữ có đoạn miêu tả: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ởNam Xương, tính tình đã “thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” Trong làng cóchàng Trương Sinh, “mến vì dung hạnh”, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về” [33,tr.176] Rõ ràng, theo mô tả của Nguyễn Dữ, Trương Sinh đã thực hành diễn ngôn Nho

giáo, chọn Vũ nương vì “hạnh”.Tiết hạnh ở đây chính là một thứ đảm bảo cho người

phụ nữ được lựa chọn, là thước đo phẩm chất đạo đức, đồng thời là một thử thách đốivới người nữ Trương Sinh trong “Người con gái Nam Xương” không chỉ là người đềcao đức hạnh của Vũ nương mà còn là người phát xét tiết hạnh của nhân vật này trongmột tình huống thử thách khác: xa chồng Cái chết và sự minh oan của Vũ nương trongtác phẩm của Nguyễn Dữ xoay quanh chủ đề: tiết hạnh Trương Sinh biến tiết hạnhthành một thứ đạo đức khắt khe, nghiệt ngã, thành sức mạnh vô hình trói buộc ngườiphụ nữ và dồn người nữ đến cái chết khi họ bị coi là thất tiết Nam giới là người làmchủ diễn ngôn đạo đức, giành được thẩm quyền xét duyệt phẩm chất tiết hạnh và địnhđoạt giá trị đời sống của người nữ Bởi thế lời nói của Vũ Nương không có giá trị Cho

dù Vũ Nương gắng sức phân trần: “cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”, “điều đâu baybuộc chịu tiếng nhuốc nhơ”, thậm chí thề thốt: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinhbạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ Nhượcbằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làmcơm cho diều quạ, và xin khắp mọi người phỉ nhổ” cũng không hóa giải được mối nghingờ về tiết hạnh của Trương Sinh Cái chết của nàng, không phải là sự minh oan chomột tấm lòng trinh bạch mà chính là sự thừa nhận vị trí quan trọng của tiết hạnh, trinhtiết trong đời sống của người nữ, và xét cho cùng là thừa nhận sức mạnhnamquyền.Người nữt ro ng xãhộiấykhôngcóýthứcphảnkháng,họthụđộng,

Trang 23

trông chờ sự minh oan, sự công nhận đức hạnh từ người đàn ông Cái chết của VũNương và cả “phần thưởng”, sự hóa thân của nàng dường như củng cố thêm tầm quantrọng của chuyện tiết hạnh, chứ chưa phải là giải oan Sự giải oan cho nàng chỉ có được

khi Trương Sinh xuất hiện công nhận tiết hạnh của Vũ Nương lúc sống.“Chuyện người

con gái Nam Xương” thực chất là chuyện về tiết hạnh, đức hạnh của người nữ trong xãhội phong kiến Trong gia đình Nho giáo, phụ nữ phải giữ gìn được sự trinh trắng đến

khi về nhà chồng Khi theo chồng, trinh là biểu hiện của đạo làm vợ:“Đạo tòng phu lấy

chữ trinh làm đầu” Đó là yếu tố tiên quyết cuộc sống hôn nhân của họ

Một cô gái mất trinh vì bất cứ lý do gì (chủ quan hay khách quan) đều bị coilàkhông có phẩm tiết, không đức hạnh, là “gái hư” Phải chăng vì nỗi sợ hãi, nỗi ámảnhtrong tiềm thức này mà trinh tiết đã trở thành một trong những mối quan tâmđặc biệttrong sáng tác của nữ giới Trinh tiết được quy chiếu trong diễn ngôn vềvăn hóa củacộng đồng đã khiến cho các nhà văn nữ Việt Nam đưa vấn đề trinh tiếtthành một sự kiệnquan trọng trong cuộc đời của các nhân vật nữ Trong văn xuôinữ Việt Nam đương đại,các nhà văn Phạm Thị Hoài, Đoàn Lê, Dạ Ngân, Võ ThịXuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ,

Y Ban, Đoàn Minh Phượng,… đều nói về trinh tiết.Khảo sát hơn 30 tập truyện ngắn, tiểuthuyết, tạp văn của 4 nhà văn nữ DạNgân, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, chúngtôi nhận thấy các nhà văn nàydành khá nhiều tâm huyết cho hệ vấn đề trinh tiết của nhânvật nữ như giá trị củatrinh tiết, nỗi sợ hãi đau đớn ám ảnh bị cưỡng đoạt trinh tiết, đặcbiệt là sự lên tiếngcủa người nữ trước tình trạng bị cưỡng đoạt trinh tiết, thái độ đấutranh để đạp đổquan niệm trinh tiết trong tư tưởng nam quyền Đồng thời các nhà văn

cũng thể hiệncái nhìn cởi mở về sự đánh giá phẩm tiết của người phụ nữ

Người nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ vẫn chịu ảnh hưởng và giam mình trong diễnngôn đạo đức truyền thống, chữ trinh vẫn đáng giá ngàn vàng Bởi thế, một cô gái còntrinh nhận thấy cái giá trị đích thực của bản thân mình dù cô thiếu thốn mọi thứ vật chất

khác: “Tôi không nghĩ rằng có người muốn lấy tôi Tôi.Một đứa con

Trang 24

gái trinh tiết nhưng thiếu thốn tất cả mọi thứ chứ không như các cô gái may mắn khác là

có tất cả mọi thứ nhưng lại mất trinh.” [53, tr.268]

Trong “Giới nữ”,khi xác định các huyền thoại về nữ giới, Beauvoir khẳng định,

“Đàn ông mong đợi một điều gì khác ngoài ham muốn thỏa mãn dục tính bản năng khi

sở hữu một người phụ nữ” Theo nghĩa này, trinh tiết được kiến tạo không chỉ như mộtphương tiện đáp ứng nhu cầu nam giới, mà việc cưỡng đoạt trinh tiết của một người nữcòn cấp cho anh ta bằng chứng của khả năng chinh phục tự nhiên Trong hệ huyền thoại

ấy, việc lấy đi trinh tiết của người nữ là biểu tượng của sức mạnh và lòng can đảm.Trinh tiết có giá trị bởi nó ghi dấu sự thống trị của người đàn ông lên thân thể nữ.Không những thế, nó quyết định sự sở hữu độc quyền, bởi “cách chắc chắn nhất đểkhẳng định điều gì thuộc về mình là không để bất kì kẻ nào khác chiếm dụng nó [173,tr.225] Người đàn ông cho rằng thân thể phụ nữ phải có tính chất bất động và thụ độngcủa một đồ vật vì họ sinh ra là để đươc chiếm đoạt Nhưng bị cưỡng đoạt trinh tiết trởthành nỗi đau đớn, sợ hãi ám ảnh cả cuộc đời người nữ bởi mất trinh đồng nghĩa vớiviệc “không có phẩm tiết”, là vết nhơ đạo đức:

“Năm Tho 11 tuổi, đi học về ngang qua nhà ông Đạo Ông gọi Tho vào nhà, đóng

cửa hiếp dâm xong, cấm Tho kể cho người khác nghe và dạy Tho nói dối cha mẹ Tho

về nhà, như đứa câm đứa khờ, tự bản thân cũng không biết chuyện gì đã xảy ra chomình, chỉ biết đau đớn, sợ hãi, uất ức… Nỗi đau đớn sợ hãi không nguôi đi, nhưng Tho

đờ đẫn như không còn cảm xúc hay ký ức nữa Tho không biết nói gì, không thể nói gìđược Cha Tho đem Tho vô bệnh viện để khám Tho cũng không rõ bằng cách nào,nhưng ông kiếm được một cái giấy chứng nhận Tho bị té, rách màng trinh Ông bảo mẹTho cất cái giấy đó cho Tho Nó sẽ là bùa bảo hộ hạnh phúc của Tho sau này ”[64,tr.5]

Sự cưỡng đoạt trinh tiết đã gây ra cho người nữ một sự chấn thương tâm lý và đauđớn thân thể tột cùng Họ uất nghẹn khi nhớ lại về bản thân mình bị chiếm dụng, chàđạp, thay vì một tồn tại được yêu và được trân trọng Điều này khiến chohọluônmangtâmlý“sợđànông”,đềphòngđànông,khôngdámnghĩđếnchuyện

Trang 25

yêu đương, thậm chí không dám để người đàn ông nào đụng chạm vào thân thể, hay để lời tán tỉnh của đàn ông lọt vào tai của họ:

“Từ lâu lắm rồi, Tho không bao giờ để cho bất cứ người đàn ông nào đụng đếnthân thể của mình Cũng không để bất cứ một lời tán tỉnh nào của đàn ông lọt vào taimình.” ” [64,tr.10]

“Tho lại càng không màng chuyện yêu đương Một lần bị cưỡng hiếp, một lần bịruồng rẫy, đủ để Tho ớn đàn ông suốt đời Hôm nọ, Tho thức giấc giữa khuya, tiếng thởhỗn hễn như dội ra từ ký ức làm Tho cứng đờ trên giường, rồi như một kẻ bị dìm dướiđáy nước ngoi lên theo bản năng sinh tồn, Tho vùng vẫy, nhào ra khỏi giường, chạyxuống cầu thang, mở đèn lên … Tho tắt đèn, chạy trở lên lầu, ói òng ọc vô bồn cầu.Khi điều hòa lại nhịp thở, Tho lên giường nằm, cổ họng vẫn nghèn nghẹn, nước mắt cứtrào ra Chuyện hai mươi mấy năm xưa, Tho tưởng không còn nhớ gì nữa, nhưng hóa racái tiếng thở hỗn hễn dồn dập ấy vẫn còn ám Tho khiếp sợ và uất ức đến đờ đẩn nhưngày còn thơ.” [64, tr.9]

Dưới ảnh hưởng của diễn ngôn truyền thống về trinh tiết, không chỉ người nữ màđàn ông trong văn xuôi đương đại cũng quan niệm trinh tiết là “bảo bối” đảm bảo hạnhphúc gia đình: “Anh yêu em nhưng anh khôngthểhôn em Chẳng để làm gì khi xảy rachuyện đó Rồi mình sẽ ân hận Em còn lấy chồng, em phải giữ nguyên vẹn trinh tiếtcho chồng em Đó là bảo bối của em trong cuộc sống vợ chồng Anh yêu em và thèmmuốn em nhưng em bé tý và tội nghiệp lắm…” [53, tr.280]

Một biểu hiện khác của việc đề cao trinh tiết là ca ngợi sự dâng hiến trọn vẹn thânthể của người nữ Nếu như mất trinh trở thành nỗi đau, nỗi ám ảnh nặng nề của phụ nữthì khoảnh khắc hiến dâng hiến trinh tiết thân thể cho chồng là một niềm vui, niềm hạnhphúc, tự hào của người phụ nữ trước chồng, bởi nó là một thứ “bảo hiểm suốt đời” chocuộc hôn nhân của họ Người nữ trong sác tác của Y Ban đắm chìm trong cảm xúc đê

mê hòa trộn thân thể với chồng: “Không còn vướng nữa, một cái gì đó đã thông quanhưng rất đau Để anh xem, ôi máu, em chảy máu Xuânnhổmdậy,mộtvàigiọtmáuvươngtrênđá.XuânnhìnmặtTuấnđangnghệtrasợ

Trang 26

hãi Xuân bật cười chồng ngốc của em, hôn em đi Nụ hôn ngượng nghịu Anh sao vậy?Xuân hỏi Tuấn Anh ngốc, anh ngốc, anh biết vì sao rồi Tuấn lại cuồng nhiệt, hối hả.”[19, tr.34].

Tuy nhiên trong văn xuôi nữ đương đại cũng đang hình thành những diễn ngônmới về người nữ Ở đó người nữ được kiến tạo với một tâm thế hiện đại hơn, với họchữ trinh được nhìn theo hướng cởi mở hơn Người nữ bị mất trinh khi buộc phải quan

hệ với người đàn ông mà không xuất phát từ tình cảm, đã tìm cho mình một cách baobiện: coi chuyện mất trinh như một một tainạn:

“Cẩm mở cửa ra hỏi gì vậy Thanh nói cho anh đi nhờ toa-lét Cẩm bất đắc dĩ đểanh vào Anh ở trong toa-lét mười phút rồi bước ra trần trụi, chỉ quấn ngang hông cáikhăn tắm của Cẩm Chị kinh ngạc đến nỗi không có một phản ứng nào Thanh ôm chịvật xuống giường, môi anh chà miết da thịt chị Phải thử mới biết thằng nào lại cái.Cẩm không ngờ.Thanh cũng không ngờ Anh đứng dậy nhìn vết máu trên tấm ga trảigiường, lấy cái khăn tắm phủ lên lấp liếm, áy náy: -“Không ngờ Cẩm còn trinh” Mấyngày sau họ không gặp nhau, tuy họ vẫn đi về trên cùng con đường như trước đây Cólần chuông điện thoại reo, Cẩm nhấc máy nói A-lô, bên kia đầu dây im lặng, rồi cúpmáy Cẩm suy nghĩ một đêm và kết luận mình bị tai nạn, té lầuhayđụng xe chẳng hạn:Không tiên liệu được, ngoài ý muốn nạn nhân, hậu quả tệ hại, trách mình hay tráchngười cũng vậy thôi.” [64,tr.65-66]

Người nữ trong văn học đương đại không hoàn toàn quy phục diễn ngôn đạo đứctruyền thống, họ có ý thức về quyền làm chủ bản thân, cất tiếng nói trước tình trạng bịcưỡng đoạt trinh tiết, đấu tranh để đạp đổ quan niệm trinh tiết trong tư tưởng namquyền Tho muốn làm rõ trắng đen cái lần mình bị phá trinh, và việc Đạo phủ nhânchuyện đã hiếp dâm mình trước mặt bao nhiêu người giữa thanh thiên bạch nhật đểmọi người có cái nhìn đúng về cô cho nên cô đã tính toán, sắp đặt thậtkỹcàng: “Tho đãtính toán, đã ôn nhẩm, đã dượt đi dượt lại câu nói: “Ông Đạo, ông là dân kỳ cựu ở xứnày, chắc ông còn nhớ chuyện mấy chục năm trước, người ta đồn rùm là ông Đạo đãphá trinh con gái ông Một, khiến cho cô ta lỡ dởduyênphận,tannátcuộcđời.Bâygiờônghãynóiminhbạch,chuyệnđónhưthế

Trang 27

nào?” Tho đã để sẵn trong túi áo cái máy ghi âm nhỏ xíu mà cực nhạy.… Tho sẽ đem

cái băng ghi âm đó đi tìm luật sư khởi kiện hắn.Nếu hắn chối: “Làm gì có chuyện đó!”

[64, tr.13] Khi cái kế hoạch nhằm minh chứng cho trinh tiết của mình không thành,Tho phản ứng dữ dội: “Tho phóng ra từ cái ghế lao vô người ông Đạo, hai nắm tay đấmtúi bụi vào mặt vào cổ hắn, Tho thét lạc cả giọng: “Đồ đạo đức giả! Đồ chó dái! Màycòn tồi bại hơn súc vật! Mày dày vò tan nát cuộc đời người ta mà còn vênh váo caongạo hả? Mày khốn nạn …” [64, tr.13-14] Người đàn bà bị hiếp dâm từ năm 11 tuổi điđòi công lý: “Tho mở cửa bước ra đường, đi tới phòng tiếp bạn đọc của các báo, hộiphụ nữ, ủy ban bảo vệ trẻ em, phòng cố vấn pháp luật, phòng tiếp dân, phòng luật sư,bất cứ nơi nào Tho mở được cánh cửa, để kể chuyện như một nhân chứng và nạn nhânrằng gã đàn ông tên Đạo đó đã cưỡng hiếp một bé gái mười một tuổi Bây giờ Thokhông trông mong chắt mót hạnh phúc với một người đàn ông nữa Tho chỉ đòi hỏicông lý cho người đàn bà.” [64,tr.15]

2.1.2 Tình yêu như là cuộc sống của ngườinữ

“Từ tình yêu hoàn toàn không có cùng một nghĩa đối với hai giới nam và nữ, và

đó là cội nguồn của những hiểu lầm nghiêm trọng giữa họ với nhau.” [173, tr.311] Đànông coi tình yêu như một công việc trong cuộc đời, họ yêu đàn bà chỉ có một mongmuốn là chiếm hữu, chinh phục đàn bà, mong muốn tình yêu của đàn bà Trong tìnhyêu, đàn ông là chủ thể tối thượng và người đàn bà được yêu chỉ là một giá trị trong sốnhững giá trị khác Trái lại, đối với phụ nữ, tình yêu “là bản thân cuộc sống của ngườiphụ nữ” [173, tr.311] Người phụ nữ khi yêu không chỉ tận tụy hết mình mà còn dânghiến trọn vẹn cả thể xác và tâm hồn, trong lúc không mảy may chú ý tới bất cứ cái gìkhác “Chính trạng thái vô điều kiện này biến tình yêu thành một tín ngưỡng, tínngưỡng duy nhất của họ.” [173, tr.312] Vị trí, ý nghĩa của tình yêu trong cuộc đờingười nam và nữ không phải là một quy luật của tự nhiên mà là một sản phẩm của sự tựkiến tạo xãhội

Theo Trần Nho Thìn, trong bối cảnh xã hội nam quyền phong kiến theo TốngNho, vai trò thống trị của người đàn ông được thiết chế xã hội ủng hộ tuyệt đối trởthành một nét tâm lý phổ biến, người phụ nữ vẫn được khuyến khích cam chịu thân

Trang 28

phận, an phận thủ thường [126, tr.200], họ bị mất tiếng nói trong địa hạt tình yêu, hạnhphúc lứa đôi Hơn nữa trong tư duy thời phong kiến nếu có chủ động trong tình yêu thì

đó là nam giới chứ không phải nữ giới Một nữ nhân vật được Nguyễn Du, một nhàNho sáng tác với tinh thần trọng yêu thương lại bị các nhà Nho khác lên án là dâm bởinhân vật ấy đã chủ động bước chân vượt ra khỏi khuôn phép lễ giáo phong kiến để tìmđến với người yêu, “một sự chủ động mà Nho gia không thể chấp nhận” [126, tr.202].Sang đầu thếkỷXX, hệ tư tưởng phong kiến suy tàn, nữ giới dần lấy lại địa vị nganghàng với nam giới Một số tác phẩm của văn xuôi của Tự lực văn đoàn tập trung vàochủ đề phụ nữ tự giải phóng trong tình yêu Sau năm 1945, nhiều tác phẩm văn xuôihiện thực xã hội chủ nghĩa sử thi hóa hình ảnh của nữ giới, phụ nữ được hình dung như

những người anh hùng mang như chị Sứ (Hònđất- Anh Đức), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng- Nguyễn Thi),… Từ năm 1986, kết quả của công cuộc đổi mới đất nước toàn

diện đã tạo ra những tiền đề cơ bản giải phóng nữ giới thoát khỏi sự áp chế của namgiới, phụ nữ có cơ hội xuất hiện như một chủ thể, tham gia vào các hoạt động chính trị,kinh tế, xã hội Ý thức về giới một cách tự giác ăn sâu vào tâm thức của đội ngũ nhữngngười cầm bút Nữ giới “kháng cự” diễn ngôn của nam giới, chủ động kiến tạo diễnngôn của giới mình trong tình yêu, hôn nhân, giađình…

Trong tương quan với các nhà văn nam, các cây bút nữ dường như có lợi thế trongviệc diễn đạt nội tâm nhân vật nữ, bộc lộ sâu sắc cách cảm, cách nghĩ, tư duy, hànhđộng của giới mình Xem xét thế giới nhân vật nữ của văn xuôi đương đại, chúng tôithấy rằng nỗi ám ảnh đau đáu trong suốt cuộc đời người nữ là tình yêu, là khát vọnghạnh phúc và mái ấm gia đình Bước vào những trang viết của bốn cây bút nữ Dạ Ngân,

Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng ta dường như bước vào vương quốc củađàn bà, hiếm thấy sự xuất hiện của nhân vật nam giới Nhân vật nữ giới trong nhữngsáng tác của họ dù trẻ hay già, dù đẹp hay xấu, dù bình thường hay tật nguyền, dù đanghạnh phúc hay lỡ dở, dù chưa có chồng hay người phụ nữ từng trải,…thì đều có mộtđiểm chung, đó là những “cô gái si tình” khaokhátyêu,khaokhátđượcyêu,simêvàdânghiến.Truyện“Hậuthiênđường”kiến

Trang 29

tạo hình ảnh cô bé mười sáu tuổi lần đầu chập chững bước vào tình yêu si mê người đànông của mình bằng tất cả sự ngây thơ, đắm đuối, mù quáng mà không biết rằng ngườiđàn ông đó là một kẻ ích kỷ, thô thiển, keo kiệt: “Ngày - mình nhớ anh ấy quá Haingày không thấy anh ấy đâu Hay anh ấy ốm rồi Đi học về, mình cứ thấy ngơ ngác nhưthế nào ấy”, "Ôi giời ơi, sao mà sung sướng thế Mình yêu anh ấy mất rồi Lúc ấy, mìnhkhông còn thấy cái gì ở trên đời này quan trọng bằng anh ấy.” [49, tr.296] Trong “Biểnấm”, năm hai mươi tuổi, cô gái si tình nhận được bức thư tình của người đàn ông bỏ vợhơn mình đến mười tuổi, lời yêu vẫy gọi, cô can đảm bỏ nhà ra đi, vượt mấy trăm cây

số, mấy lần qua phà để đến với người yêu: “Tôi bỏ nhà để đến với anh thế này chỉ được

bà đồng ý Còn bố mẹ thì cấm triệt để Ngày ấy Con gái mới lớn lại đi xa một mình,đến chỗ người đàn ông vừa bỏ vợ, liệu có ái dám to gan mà cho đi chưa? Nhưng tôi thìquyết tâm đi bằng được Tôi đã thắng.” [53,tr.151]

Người phụ nữ si tình trong tình yêu tự khước từ mình, cảm thấy hoan hỉ người đànông mình yêu Chừng nào còn yêu, còn được yêu và còn cần thiết đối với người yêu,chừng ấy họ cảm thấy mình hạnh phúc và có lý do để tồn tại Trong thế giới nhân vật

nữ của Nguyễn Thị Thu Huệ, người ta tìm thấy những cô gái háo hức bước vào tìnhyêu, khao khát tình yêu, khao khát sống đúng nghĩa với tình yêu nhưng tình yêu là thứkhó tìm trong cuộc sống hiện tại “Tôi mê đi trên chiếc giường hạnh phúc, chiếc giường

có một không hai trên thế gian này Tôi yêu và tôi được yêu Dù biết rằng đến phút ấy,tôi vẫn chưa được gì trọn vẹn ở cuộc đời Luôn luôn cô đơn, khát khao một cái gì cụthể, nên chẳng bao giờ có Rồi chợt gặp anh Anh bình dị nhưng sang trọng Anh dân

dã, nhưng đầy ắp những gì tôi khuyết Có người ví tình yêu ào nhanh như cơn bão Anhđến với tôi chẳng phải mưa dông, chớp giật Anh êm đềm thấm vào tôi như hơi thở Tôikhông tin rằng mình lại có tình yêu bời tôi mất nó quá lâu rồi” [53, tr.485] Tình yêutrong con mắt của cô gái si tình “trở thành một thứ tôn giáo” [173, tr.313] mà họ tônthờ: “Còn tôi Chợt nhận ra anh lả tất cả những gì lâu nay tôi thờ cúng, khấn vái Tôi tự

tìmthấyanhvàcầndânghiếnchoanh.”[53,tr.487].Conđườngtìnhyêuluônlà

Trang 30

con đường hấp dẫn với mọi phụ nữ Cô gái đi trên con đường ấy để mong tìm được mộttình yêu trọn vẹn: “Nàng lại sống cô độc với một khối tâm tư của cô gái đang tuổi yêuđương mà không kẻ giãi bày Nàng là người thơ mộng, hay hoài niệm và suy tưởng.Nàng muốn cuộc sống của mình phải như nàng nghĩ Sẽ lấy một người chồng lý tưởng,biết yêu và chiều nàng Một cuộc sống đầy đủ Nàng như một tiểu thư khuê các, biếtngâm thơ và thưởng trăng.” [49, tr.145] Cô thần tượng và si mê người đàn ông củamình, chàng thi sĩ nghèo với những vần thơ ngọt ngào nhưng bước ra khỏi thế giới nghệthuật ấy, người yêu cô là một tay nghiện rượu và hay hút thuốc lào, anh gặp cô vìngưỡng mộ, vì tìm cảm hứng cho thi ca chứ không phải vì tình yêu Cuộc tình tan vỡ,

cô “đành xếp vào góc cuộc đời một cuộc tình và chỉ nên đọc những bài thơ chàng intrên báo” [49, tr.145] Cô gái đến với người đàn ông thứ hai, rồi thứ ba nhưng khôngcuộc tình nào trọn vẹn Chuyện tình của cô gái trong “Bảy ngày mong đợi” lại là câuchuyện tình yêu “sét đánh”, Lụa yêu đến si mê, tin tưởng một người lính mà cô khôngbiết gì ngoài cái tên: “Anh ấy tốt lắm Bố đã từng là người lính Bố đừng nói xấu về họnhư thế Con và anh ấy yêu nhau Anh ấy bảo anh ấy gửi gắm tình yêu nơi con Và con

là người giữ tình yêu ấy trong lòng ” [49, tr.175] Trong thiên đường của tình yêu,không chỉ những cô gái mới lớn si tình đắm đuối vì yêu mà ngaycảnhững người phụ nữ

đã đi qua nửa cuộc đời mình, luôn coi mình là tỉnh táo cũng lạc lối, “luôn luôn ở ngoanngoãn trong tay hết những người đàn ông này đến những người đàn ông khác, nhưngcủa ai cụ thể thì không.” [39, tr.29], để khi tới “hậu thiên đường” nhìn lại không cuộctình nào đơm hoa kết trái: “Bốn mươi tuổi tôi đã có cái gì cho mình Tiền tài thì vớ vẩnchỉ đủ ăn và sống một cuộc sống đạm bạc Một vài cái váy, áo để đi dạ hội và nhảyđầm Công việc diễn ra đều đều và nỗi nghi ngờ đàn ông Dù thiếu họ nhiều khi cuộcsống của tôi lắm lúc gay gay Có những kẻ yêu tôi thật, thì tôi không ngửi được họ Cònmột vài người tôi yêu họ thì họ chỉ xuê xoa "chơi" với tôi Biết làm sao được Con cátrượt thường là con cá to Không có cái gì trong tay mình là nhất cả Bỗng dưng, tôithấy sập xuống người mình, một nỗi trống trải hoang vắng khủng khiếp ” [39,tr.292]

Trang 31

“Yêu một người nào đó không phải chính là một cảm giác mãnh liệt - nó là mộtquyết định, một phán đoán, một ước định Nếu tình yêu chỉ là một cảm giác thì sẽkhông có cơ bản cho ước định để mà yêu nhau mãi mãi” [176, tr.215] Sau cuộc hônnhân đổ vỡ với người chồng bị mắc chứng bệnh liệt dương, Tự tiếp tục mơ mộng với

“người số hai”- một quan chức lớn nhưng lại vô cùng thực tế đến keo kiệt Tự mơ mộngmột cuộc tình lãng mạn: một chiếc nhẫn kim cương hay bằng cỏ, một bó hồng trắng,một căn phòng sang trọng trọng khách sạn, rượu vang đỏ và nụ hôn: “Tôi đã tha hồ mơmộng suốt cả buổi tối sau khi nhận được cú điện thoại của người số hai: Ngày mai làmngày trai gái vu quy Sẽ có một chiếc nhẫn cưới kim cương, hoặc một chiếc nhẫn bằng

cỏ Một bó hoa hồng trắng Một phòng trong một khách sạn Có rượu vang đỏ Nhẫn sẽđược trao cùng với một nụ hôn nông nàn Tôi mê đắm trong sự tưởng tượng của chínhmình.” [18,tr.130] Nhưng rồi lại xấu hổ, thất vọng đến “tê bì”, “muốn độn thổ” và bị

ám ảnh bời cuộc tình “hai bịch sữa” Không có căn phòng sang trọng, không có hoahồng, cũng không có nhẫn dù là nhẫn cỏ… chỉ người đàn ông thực dụng đến keo kiệtvới hai bịch sữa thừa từ bữa ăn người đàn ông được chiêu đãi:“Hai bịch sữa đã ám ảnhtôi khủng khiếp Mỗi lần nhìn thấy ai cầm trên tay hai bịch sữa là người tôi run lên vàthân thể tôi như đang bị phơi trần như nhộng trước thiên hạ Sau cảm giác ê chề đó tôiluôn tự nhủ rằng tôi sẽ ngẩng cao đầu để từ chối lời đề nghị Tôi sẽ nói thẳng cảm giáccủa tôi về hai bịch sữa Nhưng tôi vốn là kẻ mơ mộng, tôi luôn tin rằng ngày mai sẽ làngày tốt đẹp Con người cũng đầy tốt đẹp Tôi cũng là một con người tốt đẹp Tôi cũngđáng được hưởng những điều tốt đẹp chứ Lần sau người số 2 sẽ mang đến cho tôi một

sự lãng mạn Hoa nhẫn cỏ nhẫn kim cương Lần sau tôi sẽ nhận được những điều tốtđẹp ấy” [18,tr.133-134]

Người phụ nữ si tình dâng hiến mình cho tình yêu, hi sinh bản thân mình cho tìnhyêu nhưng lại bị người đàn ông mình yêu phủ nhận: “- Cô lừa dối tôi cũng giỏi nhỉ? -Làm thế nào được Lúc ấy Em yêu anh và cần hắn Để đỡ đần và không muốn mất anh

- Cô lấy tiền của thằng già nuôi thằng trẻ Hai thằng đều thiệt còn cô thì lời Có phảikhông?- Em là người chẳng được gì.” [49,tr.86]

Trang 32

2.1.3 Sự sùng bái người đàn ông mình yêu của ngườinữ

Người phụ nữ si mê dâng hiến mình cho tình yêu để tự cứu thoát mình, nhưng cáinghịch lý của tình yêu si mê là để tự cứu mình, họ tự phủ định mình hoàn toàn “Ngườiphụ nữ si mê có thể mở to đôi mắt nhìn người đàn ông yêu mình và ánh mắt tôn vinhmình Qua chàng, cõi hư vô trở thành cuộc sống dồi dào và con người biến thành giá trị.Người phụ nữ không còn bị đắm chìm trong đêm tối mịt mù mà được nâng lên trên đôicánh, được khích lệ tới tận trời xanh” [173, tr.325] Sự sùng bái người đàn ông mìnhyêu khiến nữ giới bị đặt vào trạng thái “giới thứ hai” Xét từ phương diện chủ thể sángtác, các nhà văn nữ cũng là những người đồng giới với nhân vật của mình, cất lên tiếngnói về giới mình Cảm hứng sáng tác hướng về đề tài tình yêu, các cây bút nữ thườngđặt nhân vật người nữ trong thế đối sánh với thế giới người nam Đàn ông coi trọng chữ

“danh”, coi trọng sự nghiệp, coi trọng việc “làm ăn kiếm sống”, tình yêu chỉ là thứ yếu:

“Yêu mà bây giờ lúc nào cũng gặp nhau rồi ra bờ hồ ngồi tìm gốc cây tâm sự thì một làchết đói, hai là ễnh bụng ra Nếu không làm ăn kiếm sống thì lấy gì tiêu, chẳng nhẽ cứbòn tiền của các cụ để đi bao gái à? Thằng này nó đứng đắn, chí thú làm ăn và sòngphẳng Nó là mẫu thanh niên hiện đại lý tưởng bấy giờ Mà cứ gì yêu nhau phải nóinhiều, mai kia lấy nhau rồi chẳng còn chuyện gì mà nói” [49, tr.147] Còn “đàn bà, aicũng có những khả năng giống nhau: yêu đương, ghen tuông và cuồng si ” [49, tr.306].Bản tính nữ trong tình yêu luôn thể hiện ở sự quan tâm, chăm sóc, hướng về ngườimình yêu Phụ nữ mong ước được phục vụ cho người mình yêu Họ sẽ cảm thấy mình

là cần thiết trong lúc đáp ứng yêu cầu của người yêu, hòa nhâp vào cuộc sống củangười yêu Họ tự hào vì điều đó Họ nhìn người đàn ông mình yêu bằng ánh mắt đam

mê và ngưỡng mộ: “Em nghĩ về anh Anh là người đàn ông đang trên bệ phóng củadanh vọng Hằng đêm trong chương trình thời sự luôn thấy hình ảnh của anh Nhưng tất

cả những thứ đó không quan trọng với em Cái dẫn đến giây phút em đang tận hưởng là

vì em yêu và ngưỡng mộ anh Em đã rất ngưỡng mộ anh và khao khát một tình yêu.…

Em biết trong một người đàn ông dẫu có quyền lực và địa vịthếnàothìvẫncómộtphầncủaconngườibìnhthường.Emđãyêucáiphầnngười

Trang 33

bình thường đó trong anh Em đã không nhầm Cái giây phút như tan biến trong nhau

ấy Em đã bừng tỉnh để nhận ra sự nức nở của anh trên ngực em Trong cơn vọt trào củacảm xúc anh đã rên rỉ bằng tiếng của chú mèo chứ không phải tiếng gầm của sư tử Em

tự hào vì đã làm cho anh sung sướng.” [18, tr.227] Người phụ nữ nói về người đàn ôngbằng giọng điệu say mê, sùng bái, ngợi khen, trong lăng kính của tình yêu, người yêu làngười đàn ông đẹp nhất, vĩ đại nhất: “Tôi yêu anh Một tình yêu đầu tiên, thánh thiện vàtrong sáng vô cùng Tôi yêu tất cả những gì có ở nơi anh Và anh là người đẹp nhấttrong tất cả những chàng trai xung quanh tôị ” [49, tr.70] Sùng bái người yêu, ngườiphụ nữ nguyện tôn thờ, xả thân để công việc của người đàn ông được thuận buồm xuôigió, tự nguyện thực hiện chức năng duy trì giống nòi, khao khát xây dựng gia đình hạnhphúc Từ khi trúng tiếng sét của chú công, Tiệp si mê đến mức tưởng tượng cả cái dáng

đi nghiêng nghiêng, tình từ đến mức “tự tin vào sự trinh nguyên và vô điều kiện của tráitim mình” Tiệp đã viết một lá thư tình say mê ngay trong đêm ấy: “Ngay đêm đó nàng

về nhà viết cho anh một lá thư dày như một truyện vừa lời lẽ bồng bột và tự nguyện,tưởng rằng người ấy đang có hạnh phúc thì nàng yên phận nhưng một khi biết anh trụctrặc cũng chán ngán gia đình thì nàng không sợ gì mà không lao tới Trong thư nàngcam đoàn rằng nàng sẽ tôn thờ, sẽ xả thân để công việc của người ấy được hanh thông,

sẽ sinh cho người ấy những đứa con trai, sẽ phụng sự cái hạnh phúc mà mình mơ ước,

… ” [90, tr.79], “Từ buổi tối lập cập trong căn phòng nguy hiểm ấy, nàng thấy mìnhbồng bềnh như thiếu nữ, ngày như đêm, khi ở nhà cũng như khi ra đường, khi thao thứccũng như khi trôi vào giấc ngủ” [90, tr.80] Sự hi sinh trở thành một trạng thái thiêngliêng Người phụ nữ si mê không phải chỉ là một người tự yêu mình bị tha hóa trong cáitôi, họ còn mong muốn vượt qua giới hạn của bản thân mình và trở nên vô tận qua vaitrò trung gian của một người khác Lúc đầu họ hiến dâng mình cho tình yêu để cứuthoát mình, nhưng cái nghịch lý của tình yêu si mê là để tự cứu mình, rốt cuộc họ phủđịnh mình hoàntoàn”

Trang 34

2.1.4 Khao khát sex và mái ấm gia đình của ngườinữ

Hoạt động tính giao là thuộc tính của mọi sinh thể sống Nằm trong tứ khoái củacon người, hoạt động tính giao được mặc nhận như một nhu cầu phổ biến, thiết yếu củamột con người bất kể sang - hèn, quý - tiện Nhu cầu sex là một trong những biểu hiện

rõ rệt nhất về ý thức cá nhân của mỗi con người Sex là khát vọng con người được làchính mình “Tình yêu không phải là kết quả của của thỏa mãn tình dục thích đángnhưng hạnh phúc của tình dục là kết quả của tình yêu” [176, tr.244] S.Freud cho rằng,tình yêu tự căn bản là một hiện trượng tính dục “Con người nhờ kinh nghiệm mà thấyrằng tình yêu tính dục (sinh dục) đã cung cấp cho mình sự thỏa mãn lớn nhất, đến nỗi

nó trở thành một kiểu mẫu của tất cả hạnh phúc của mình thực sự” [176, tr.245] Đòihỏi tình yêu, tình dục là bản năng mạnh mẽ của con người Văn hóa Nho giáo, đại biểucho lợi ích của kẻ thống trị phong kiến, nó là một nghệ thuật thống trị khôn khéo, tinh

tế với mục đích trấn áp lòng người, làm cho dân vô tri, vô dục (không hiểu biết, khôngham muốn) Khẩu hiệu của nó là “khắc kỉ phục lễ”, nó yêu cầu cá nhân phải tự kìm chế,kìm nén cảm xúc, kìm nén dục vọng cá nhân Từ vai trò chi phối của Nho giáo, việccông khai đề cập tới sex trong sinh hoạt chính thống của xã hội thường bị coi là “tàdâm”, là đáng xấu hổ, đáng bị lên án Sex gắn liền với nhu cầuduytrì và bảo toànnòigiống

Xã hội phát triển, khả năng nhận thức tự nhiên, xã hội và chính bản thân conngười đã làm nảy sinh các nhu cầu mới, trong đó nổi lên là nhu cầu tinh thần, giảiphóng tinh thần khỏi sự kìm nén cảm xúc, dục vọng Sex được coi như một sự thănghoa của cảm xúc thẩm mĩ trong đời sống tinh thần được con người nâng niu, trân trọng.Nên ở các giai đoạn lịch sử trước, dẫu bị phê phán (thậm chí bị kết tội), nhu cầu hướng

về tính yêu lứa đôi và những khoái cảm mà tình yêu lứa đôi đưa lại vẫn được bày tỏbằng những cách thức khác nhau Văn chương là sản phẩm của đời sống tinh thần, tác

phẩm văn chương ra đời trước hết là nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần Vì thế,sex là một

đề tài muôn thủa của văn học, bởi lẽ nó vốn là phần cựckỳquan trọng trong đời sốngcon người, không có sex thì nhân loại không thể sinh tồn,pháttriển.Khisexcómặttrongtácphẩmvănchương,nókhôngđơnnghĩachỉlà

Trang 35

hành vi tình dục thuần túy, nó là vấn đề văn hoá - xã hội, là triết lý sống, là hệ giá trịhoặc chuẩn mực Nhu cầu tình dục là một trong những biểu hiện rõ nhất về ý thức cánhân của mỗi con người Nhưng dưới áp lực của các thiết chế kiến tạo diễn ngôn thìnhu cầu đặc biệt này của con người nói chung và giới nữ nói riêng ở mỗi thờikỳlịch sử,mỗi chặng đường văn hóa và văn học được kiến giải khácnhau.

Trong văn học Việt Nam thời trung đại, yếu tố sex hầu như vắng bóng trong cáctác phẩm văn chương được coi là chính thống Khi các quan niệm khắc kỷ về đạo đứcđang thịnh hành trong xã hội thì dù có muốn, từ “Truyền kỳ mạn lục”, “Thánh Tông dicảo”… đến “Truyện Kiều”, tiền nhân cũng chỉ đề cập tới sex một cách bóng bẩy, mơ

hồ Là nạn nhân của chế độ đa thê và tập tục hôn nhân sắp đặt, người phụ nữ trong xãhội phong kiến không được thỏa mãn mọi nhu cầu cá nhân của mình, trong đó có nhucầu tình dục Những chuẩn mực đạo đức khắt khe về phẩm hạnh nữ giới rất kiêng tránhviệc lấy chuyện tình dục ra bàn luận, đặc biệt lại là đàn bà, con gái Phụ nữ phát ngôn

về tình dục được cho là thiếu đoan trang, dâm tà Giới nữ rơi vào tình trạng “mất tiếngnói” trong diễn ngôn tình dục Họ xuất hiện trong văn chương không có tiếng nói riêng,không bộc lộ bản năng, là khách thể được miêu tả như một đối tượng

Trong văn học thời kỳ kháng chiến chống Mĩ, khi người đàn ông ra trận, ngườiphụ nữ ở lại hậu phương đảm đang việc nhà, hăng hái tham gia việc nước, họ đượcmiêu tả bằng ngôn ngữ sử thi, các nhà văn không khai thác họ ở phương diện tâm lýgắn với hành vi tình dục Các nhân vật nữ cũng thường có xu hướng né tránh, kìm nénhoặc chạy trốn nhu cầu tình dục Giới nữ là đối tượng miêu tả trong những sáng tác củanam giới, nam giới tạo ra hình ảnh nữ giới theo ý muốn của đàn ông Đặc điểm nàymang tính phổ biến bao trùm sáng tác của một thời kỳ văn học làm nên đặc thù diễnngôn của văn học thời kỳnàyso với các thời kỳ trước và sau đó Một số tác phẩm củavăn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 khai thác nhu cầu tình dục của phụ nữ nhưngchỉ dừng lại ở những lời nói mạnh bạo thổ lộ tình cảm, những hành vi đụng chạm thânthể, những cái nắm tay, cũng có những cảm xúc rạo rực, đê mê: “Bỗng Nhân rùng mình

- một cảm giác đê mê rộn trong mạch máu,tràn

Trang 36

ra tất cả mình mẩy, tay chân, dựng đứng tóc trên đầu Nóng ngùn ngụt, nóng đến tắcthở.” [151,tr 281],…nhưng cuối cùng những khát khao, cảm xúc, ham muốn bị dồn nén

để nhường chỗ cho sự nghiệp chung của dân tộc và đất nước Đây là nguyên nhân chủyếu lý giải vì sao văn học cách mạng Việt Nam lại nói “không” với sex

Từ sau năm 1975, và đặc biệt là từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, vănhọc Việt Nam có những biến chuyển và thay đổi lớn trên nhiều bình diện Sự đổi mớitoàn diện mọi mặt từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… đã tác động lớn đến đời sốngvăn học đương thời Trong điều kiện như thế, diễn ngôn về tình dục của nữ giới đượctạo ra mang một bản sắc riêng khác với các giai đoạn văn học trước và sau đó Nền vănhọc có sự tham gia đông đảo của các cây bút nữ Nữ giới không chỉ là khách thể của sựmiêu tả mà trở thành chủ thể tự biểu hiện những suy nghĩ, những khát vọng của giớimình về mọi mặt, trong đó có khát vọng và nhu cầu về tình dục Các nhà nhà văn nữ

đương đại như Y Ban (I am đàn bà, Xuân TừChiều, Tự, Nhân tình, Hai mươi bảy bước chân là thiên đường, ), Thuận (Vân Vy), Đỗ Hoàng Diệu (Bóng đè, Vu quy), Nguyễn Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận), Võ Thị Xuân Hà (Đàn sẻ ri bay ngang rừng), Võ Thị Hảo (Giàn thiêu, Biển cứu rỗi, Vờnyêu, Con dại của đá),… tỏ ra mạnh bạo và công

khai, trực diện trong diễn ngôn về tình dục, đặc biệt là đời sống tình dục của giới nữ.Chỉ dưới ngòi bút của nữ giới, tâm lý và nhục cảm của giới nữ mới được miêu tả mộtcách cụ thể, rõ rệt bằng chính nội tại tự thân nó với những cảm xúc thậtnhất

Khảo sát sáng tác của Dạ Ngân, Lý Lan, Y Ban, Nguyễn Thu Huệ, chúng tôi nhậnthấy các nhà văn đã tự cởi trói về tình dục, họ sẵn sàng chủ động bày tỏ sự ham thích,chủ động tìm kiếm tình dục, tìm cách tự thỏa mãn ham muốn tình dục Nhân vật Mytrong “Thiếu phụ chưa chồng” (Nguyễn Thị Thu Huệ) mạnh dạnbàytỏ quan niệm khingang nhiên chiếm chồng của chị gái để thỏa mãn cảm xúc: “Thời của tôi khác thời củachị rồi… Tôi muốn tự do và sung sướng” [49, tr.254] Thế giới nhân vật nữ trong sángtác của họ luôn luôn khát khao và đam mê nụ hôn và sex Đề cập đến những khát khao

và đam mê ấy, họ xây dựng hình tượng những phụ nữ gợitìnhvàkháttình.Cácnhàvănthườngchúýkhắchọavẻđẹpcủanữgiớiởnhững

Trang 37

phần thân thể mà tạo hóa đã ban tặng cho họ Gợi tình vốn là vẻ đẹp thiên bẩm của giới

nữ Là phụ nữ các cây bút nữ hiểu hơn ai hết sức mạnh đặc biệt của những phần thânthể (làn da, bầu vú, cặp mông, đôi chân và cả những phần kín nhạy cảm khác) trongyêu, trong khoái cảm và thăng hoa tình dục Điểm nhấn trong vẻ đẹp tự nhiên gợi tình

của người phụ nữ là đầu vú:“Thừa hưởng cái gien của mẹ nên mấy chị em My đều có

bộ ngực nở Ai cứ bảo đầu vú con gái phải hồng, My thì không, nó nhỏ và nâu sẫm Mythường nhìn xuống bụng và đùi, rồi hai bàn chân Tất cả tạm ổn: khuôn mặt tròn Haimắt to, môi dày và đỏ.Ngực to hông nở…” [49, tr.235

-236] Và khi trong giấc mơ với những khao khát tình dục của cô gái dậy thì: “Hai bên

vú cương lên và nhức nhối Tôi vật vã suốt đêm và không thể ngủ lại được nữa Nhữngngười hàng xóm bảo bà tôi Dạo này con Thảo nhà cụ dậy thì, đẹp ra đáo để Trông nónhư cái nụ hoa ấy, xem có đám nào gả nó đi cụ ạ, đểyêntâm cái tuổi già Tôi soi gướng.Khuôn mặt bầu bĩnh ra hơn Hai má ửng hồng Hai bầu vú thây lẩy, núm vú hồng sưngcứng lên.” [53, tr.271-272] Bằng ngôn từ giản dị, Y Ban rất tự hào về vẻ đẹp thôn quê

gợi tình của cặp vú:“Vạt áo được kéo lên cao để hở một bên vú bà Hàn ra ngoài Một

bên vú bánh dày trắng mịn Cái đầu vú nhỏ, quầng vú nhỏ nâu sậm chứ không thâm.”

[18, tr.30] Những khao khát tình dục cuồng nhiệt ở người đàn bà chân ngắn đã 28 tuổilàm cho cơ thể chuyển động, hai má nóng bừng, ngực co tròn trong tấm áo lót, vú sănlại: “Và hai đầu vú Nấm săn lại, chọc thẳng vào lớp vải… Hai núm vú săn cứng màuhồng nhô ra Nấm lấy hai lòng bàn tay xoa nhè nhẹ Một cảm giác đê mê lan khắp cơthể Nấm Một cảm giác thật dễ chịu” [20, tr.56] Với quan niệm và ý thức rõ ràng vềnhững điều mình viết, các cây bút nữ không hề mặc cảm, dè dặt khi đưa tình dục vàotrong tác phẩm Những người phụ nữ khát tình luôn khao khát nụ hôn và đạt đượcnhững khoái cảm tình dục bằng tất cả bức xúc lan tỏa: “Em nằm duỗi người, hai tay đểlên đầu Em thả lỏng người thoải mái Anh lại hôn em Môi anh vẫn nồng ấm Anh đãkết thúc và rất thoả mãn Một tay anh để lên ngực em xoa nhẹ Em muốn khóc nức nở

Em đã cố gắng để không khóc Em bắt ý nghĩ quay về một điều gì đó.” [18, tr.226]

tậncủatìnhyêu,khoáilạcgiữmộtvịtrírấtnhỏnhưngcháybỏng,sángrực”[173,

Trang 38

tr.48] Khoái lạc trong tình dục là một trong những yếu tố được đề cao, khoái lạc làmcho giới nữ không thoát khỏi cám dỗ của xác thịt “Người phụ nữ có thể đảm nhận giớitính của mình một cách vẻ vang: sự xúc động, khoái cảm, ham muốn không còn là mộttrạng thái mà là một sự dâng hiến, thân thể của họ không còn là một vật thể, mà là mộtbài ca, một ngọn lửa Lúc đó họ có thể phó thác mình một cách say đắm cho sự cám dỗcủa tình dục.” [173, tr.324] Cám dỗ của xác thịt thúc bách y như đói ăn và khát uốngđược ghi lại một cách thẳng thắn, chân thực không dấu diếm: “Nàng nhớ những cơnthèm sau khi rời Đính ra, cơ thể lúc đó như người đang ăn thịt mà phải chuyển sangchay tịnh, những cơn đói thực sự trên người, ở những vùng nhạy cảm nhất trên người làmột thứ đói trơ trẽn, thúc bách, thường trực y như đói ăn và khát uống vậy Ban ngàythì không nói làm chi, ban ngày làm cho sự đói ấy như một cái lá xấu hổ bị ánh sángchạm vào nhưng ban đêm thì nó sổ lồng một cách cũng rất là đáng xấu hổ… Nhiều lúcthử dùng tay để tưởng tượng nó là Đính nhưng sau đó thì rã rời, chán ngán và đầu óc u

u minh minh chứ không phải là sự đánh thức tươi tỉnh và bùng nổ như với Đính, nhưtrai trên và gái dưới được.” [90, tr.256] Vượt qua những định kiến, dám đối mặt trựcdiện với dư luận, các nhà văn nữ đương đại đã đưa tất cả “những bí mật phòng the” vàotác phẩm Nhân vật nữ trong sáng tác của họ không ngần ngại trò chuyện một cách tựnhiên với nhau về những chuyện “ thầm kín” trong cuộc “yêu”: “- Em nói chị khôngđược cười đâu đấy Hồi mới yêu nhau em ngủ với anh ấy Lúc anh ấy xuất ra tinh trùngbắn vọt lên mặt em Bây giờ nó chỉ rim rỉm ra ngay chỗ rốn thôi chị a - Trời ơi màylàm chị mày cười chết mất Mới quan hệ với nhau thì nòng súng còn nhỏ,lực bắn mạnhthì tất yếu đạn phải bay xa Dùng lâu nòng giãn ra rồi thì bắn xa sao được.” [17, tr.84].Người phụ nữ khát tình đòi hỏi được thỏa mãn những khát khao tình dục một cáchmạnh mẽ, chủ động làm tình trong những cuộc làm tình: “Nàng ngồi trên người Đính,như ban nãy Đính đã cẩn trọng với từng xăng-ti-met thịt da nàng Tiệp thấy mình bạodạn và lão luyện, sự nhịp nhàng của thịt da đằm thắm, ngọt ngào Từ thế thủ nàng àosang thế chủ, một cực khác với lần đầu, nàng bốc cháy từ gót chân đếnđỉnhđầuvàthậtsựkhôngbiếtmìnhđangbồngbềnhởđâu,chínhdanhhaykhông

Trang 39

chính danh, tà dâm hay không tà dâm, chỉ thấy mình đúng là mình trong tưởng tượng,thỏa mãn một cách hài hòa, sâu sắc” Không ít lần nhà văn Y Ban thể hiện trạng tháikhát tình của người phụ nữ khi người đàn ông mà cô hết mực yêu thương bỗng nhiênmắc phải chứng liệt dương do một sang chấn về tâm lý Những khao khát ấy khiến côkhông thể thụ động chờ đợi mà chủ động làm tình Y Ban với “I am đàn bà” môt thời đãtạo nên cơn “sốt” khi chị là người đầu tiên miêu tả thế chủ động của nhân vật người phụ

nữ giúp việc trong tình dục với ông chủ của mình Sự cám dỗ xác thịt, những khát khao,

thèm muốn đã khiến cho Thị(Iam đàn bà) - người đàn bà xa chồng đã 2 năm tự động

(chủ động) cởi quần áo làm tình với người đàn ông bị liệt mà hằng ngày mình chămsóc: “Thị thèm khát Thị mộng mị đi vào phòng ông chủ Cái ánh mắt của ông chủ nhưthúc vào tim thị Cái ánh mắt mừng rỡ Thị nhìn sâu vào cái ánh mắt mừng rỡ đấy rồithị trút bỏ quần áo của thị Thịlấychiếc khăn mỏng đắp trên người ông chủ Con giốngcon má đang cất cao đầu chờ thị Như giấc mơ đêm hôm nào thị cầmlấynó đưa vào cơthể thị Thị đã không phải thức giấc trong sự thèm khát cháy bỏng nữa Thị đã thỏamãn.” [18, tr.30] Khi những khát khao của họ không được đàn ông đáp ứng, hoặc đànông không đáp ứng được, họ tự tìm cách thỏa mãn cơn khát tình của mình Chồng Tự vì

bị bất lực không đáp ứng được đòi hỏi của vợ nên đã bỏ đi, rồi Tự qua tay người đànông thứ hai, thứ ba, thứ tư,… Ai cũng làm nàng không thỏa mản, hay chỉ thoả mản nửavời Nên cách tốt nhất, Tự nghĩ, là nên dùng “chim giả”, loại có điện chạy bằng pin đểkích thích Trong lúc cùng với các nhân viên trong cơ quan tổ chức đi Lạng Sơn để

“tham quan và mua sắm”, Tự đã tách phái đoàn đi đến đến cửa hàng của người Tàumua một con “chim giả”, đó là dụng cụ để đàn bà thủ dâm.“Nó bằng plastic màu đỏ,trông như món đồ chơi của trẻ con Dầu vậy tôi cũng bắt đầu nóng bừng Nhưng cái đầutôi lại tỉnh táo đến kỳ lạ, tạnh không, có một sự liên hệ.…Một tấm thân tròn mình cátrắm, với hai cái vú bánh dày, một đôi chân dài và cái bụng đã qua một lần sinh nở màvẫn thon, tịnh không có vết nứt Cái tấm thân cha mẹ sinh ra thế là quý lắm, khối người

đã mất bao nhiêu tiền để thẩm mỹ mà có nổi tấm thânđóđâu…”

“Bảnnăngtìnhdụccủaconngườichỉcóthểdẫndắtmộtcáchhợplý,chứkhông

Trang 40

được dè nén quá mức nếu không sẽ làm tổn thương con người hoặc bị phản kháng” [27,tr.73] Nhưng nếu bản năng tình dục không xuất phát từ cơn khát tình mà bị cưỡng đoạt,

nó không mang lại một sự cực khoái mà là một nỗi đau đớn ê chề: “Có đêm dậy sớmchui vào bếp nấu cám Quơ tay vơ rạ, vơ cả vào cái của nợ, cứng nhăng nhắc đangchổng ngược lên Hóa ra nó đã mò sang sớm nằm phục kích mình ở đó rồi Ối gái góa

là gái góa ơi Cái quân nó đi ăn trộm, nó có biết thương hoa tiếc ngọc đâu Nó chơihùng hục Nó véo cho thâm tím Nó cắn cho đứt cả đầu vú Gái góa là gái góa ơi, đauđớn ê chề, sáng ra vẫn lê ra đồng.” [18, tr.31] Tình dục dưới cái nhìn của những câybút nữ được thể hiện ở nhiều trạng thái, được thể hiện bằng lối viết thẳng thắn Đâycũng là cách để các nhà văn nữ tự giải tỏa mình, khẳng định quyền lực của giới nữ:quyền được yêu và được hưởng thụ tình yêu

Con đường đi tìm “người yêu”cũng là con đường lữ thứ mà người phụ nữ đi tìmhạnh phúc mái ấm gia đình Đích đến cuối cùng của mọi cảm xúc trong tình yêu là mái

ấm gia đình Mọi người phụ nữ đều khao khát mái ấm gia đình để được thực hiện vaitrò làm vợ, làm mẹ Trong “Đàn bà xấu thì không có quà”, người đàn bà chân ngắn khátkhao tình yêu, tình dục, mái ấm gia đình - khao khát những điều mà một người đàn bàbình thường khao khát nhưng người đàn bà ấy cũng ý thức được rằng đó là điều xa xỉ:

“Nấm cũng khao khát những điều mà một người đàn bà bình thường khao khát Một tìnhyêu Một tình dục Một chồng - vợ Một mái ấm gia đình và những đứa con NhưngNấm đã nhận ra chân dung đích thực của mình Vì thế Năm biết khát khao kia là nhữngđiều xa xỉ Vậy chẳng nhẽ Nấm sống một cuộc đời đồng trinh cho đến chết ư?… Nấmkhông bao giờ là một cô gái trinh trắng Nấm thích một tình yêu mạnh mẽ…” [20,tr.55]

Người đàn bà chân ngắn đã 28 tuổi khao khát một gia đình bình dị để được thựchiện vai trò của người phụ nữ trong gia đình: làm vợ, làm mẹ “Nấm muốn có một giađình bình thường Một người đàn ông có đôi chân ngắn như Nấm cũng được và mộtđứa con Nấm sẽ tất bật sớm tối để chăm lo cho cái gia đình đó Mọi người sẽ quâyquần yêu thương nhau để Nấm không phải chịu cảnh cô đơn Nếu Nấm có một gia đìnhnhư thế thì tối đến Nấm sẽ chỉ đọc sách cho mọi ngườinghe.”

Ngày đăng: 07/11/2018, 16:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy An (2008), Người phụ nữ qua cái nhìn hiện đại của một số nhà văn nữ, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ qua cái nhìn hiện đại của một số nhà vănnữ
Tác giả: Trần Thúy An
Năm: 2008
2. Nhuệ Anh (2006), Các nhà văn nữ của “thế kỉ nàng”, Tạp chí Văn nghệ, số 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà văn nữ của “thế kỉ nàng”, "Tạp chí "Văn nghệ
Tác giả: Nhuệ Anh
Năm: 2006
3. Phan Thị Vàng Anh (2016), Truyện ngắn, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2016
4. Nguyễn Thị Vân Anh (2017), Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án Tiến sĩ ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn ngôn về giới nữ trong văn học hiện thực xãhội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2017
5. Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng. (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb.Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb.Phụ nữ
Năm: 1996
7. Vũ Thị Tú Anh (2016), Quyền lực mềm của người phụ nữ trong văn hóa Đạo Mẫu, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lực mềm của người phụ nữ trong văn hóa ĐạoMẫu
Tác giả: Vũ Thị Tú Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016
8. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 2001
11. Diệp Quang Ban (2012), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2012
12. Y Ban (1993), Người đàn bà có ma lực, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn bà có ma lực
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1993
13. Y Ban -Nguyễn Minh Dậu, Hãy về với anh (1994), Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy về với anh
Tác giả: Y Ban -Nguyễn Minh Dậu, Hãy về với anh
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 1994
14. Y Ban (1995), Người đàn bà sinh ra trong đêm, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn bà sinh ra trong đêm
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1995
15. Y Ban (1996), Vùng sáng ký ức, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng sáng ký ức
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1996
16. Y Ban (2005), Cưới chợ, Nxb Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cưới chợ
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2005
17. Y Ban (2005), Thần cây đa và tôi, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần cây đa và tôi
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2005
18. Y Ban (2006), I am đàn bà, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: I am đàn bà
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2006
19. Y Ban (2008), Xuân Từ Chiều, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Từ Chiều
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Phụ Nữ
Năm: 2008
20. Y Ban (2010), Đàn bà xấu thì không có quà, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàn bà xấu thì không có quà
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2010
21. Y Ban (2013), Trò chơi hủy diệt cảm xúc, Nxb Trẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi hủy diệt cảm xúc
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2013
6. Thái Phan Vàng Anh (2016), Văn xuôi thế hệ các nhà văn nữ sau 1975 - nhìn từ diễn ngôn giới, http://huc.edu.vn/van-xuoi-cac-nha-van-nu-the-he-sau-1975-nhin-tu-dien-ngon-gioi-124-vi.htm Link
46. Phạm Văn Hoà, Ngô Thị Thanh Mai. Tìm hiểu đề ngữ liên nhân trong các bài diễn văn chính trị Anh - Việt, http://www.kh- sdh.udn.vn/zipfiles/So21/hoa_phanvan.doc Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w