1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu motif của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian việt nam và lào

95 442 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự thể hiện các motif của kiểu truyện về nhân vật thông minh, láu lỉnh ở Lào và Việt Nam trong đề tài này sẽ là những chứng cứ xác thực minh chứng cho sự đặc sắc của kiểu truyện, qua đó

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS Nguyễn Đức Ninh

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực

Tác giả

Nguyễn Thị Lý

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 13

7 Kết cấu của luận văn 13

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KIỂU TRUYỆN NHÂN VẬT NGƯỜI THÔNG MINH, LÁU LỈNH TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM VÀ LÀO 14

1.1 Một số khái niệm lý luận liên quan 14

1.2 Xác định thể loại của kiểu truyện nhân vật người thông minh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào 16

1.3 Kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào 19

Chương 2 NHỮNG MOTIF TƯƠNG ĐỒNG CỦA KIỂU TRUYỆN NHÂN VẬT NGƯỜI THÔNG MINH, LÁU LỈNH TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM VÀ LÀO 24

2.1 Những motif tương đồng 24

2.2 Căn nguyên sự tương đồng trong kiểu truyện 48

Trang 5

Chương 3 NHỮNG MOTIF KHÁC BIỆT CỦA KIỂU TRUYỆN

NHÂN VẬT NGƯỜI THÔNG MINH, LÁU LỈNH TRONG TRUYỆN

DÂN GIAN VIỆT NAM VÀ LÀO 56

3.1 Những motif khác biệt 56

3.2 Căn nguyên sự khác biệt trong kiểu truyện 70

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 87

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Các nhà nghiên cứu văn học Đông Nam Á đã từng nhận định: văn học dân gian là thành tựu của văn hóa Đông Nam Á nói chung và ở Lào nói riêng Vì vậy với mong muốn nghiên cứu về một thể loại văn học ở Việt Nam trong tương quan so sánh với văn học Lào- một nước láng giềng gần gũi, chúng tôi nhận thấy văn học dân gian là đối tượng nghiên cứu phù hợp Nghiên cứu văn học dân gian Đông Nam Á còn chưa nhiều, nhất là các thể loại tự sự dân gian Các nghiên cứu của các nhà khoa học trước đây có xu hướng thiên về thể loại trữ tình dân gian Chính vì vậy, nghiên cứu về tự sự dân gian, mà cụ thể hơn là truyện dân gian còn nhiều khoảng trống cần được lấp đầy Nghiên cứu truyện dân gian trong đề tài của chúng tôi góp phần bổ sung một phần vào khoảng trống đó

Trong kho tàng truyện dân gian Đông Nam Á, kiểu truyện (type) nhân

vật người thông minh, láu lỉnh là một trong những kiểu truyện xuất hiện ở

Lào, Việt Nam và nhiều nước khác Trong truyện dân gian ở Việt Nam và Lào thường có những kiểu truyện về những nhân vật thông minh, láu lỉnh, ranh mãnh như Xiêng Miệng, Xiêng Nọi, Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Ba Giai-

Tú Xuất, Thủ Thiệm… Đây là kiểu truyện mà tính trí tuệ, uyên bác được đề cao và chi phối tới toàn bộ kết cấu của cốt truyện Bên cạnh tính trí tuệ, kiểu truyện còn hấp dẫn bởi sự hài hước và tính giải trí do tính cách láu lỉnh, ranh

mãnh của các nhân vật tạo ra Nhận ra sức hấp dẫn của kiểu truyện nhân vật

người thông minh, láu lỉnh một số nhà nghiên cứu đã có những kiến giải

mang tính chất gợi mở về một khía cạnh nổi bật nào đó liên quan đến nhân vật Tuy nhiên còn nhiều vấn đề cốt lõi như kết cấu, motif,… cần phải được đào sâu và mở rộng hơn nữa Mặt khác, vấn đề cốt yếu là sự giống và khác nhau của kiểu truyện này ở Việt Nam- Lào như thế nào, tại sao lại có sự giống

Trang 7

và khác nhau đó? Giải quyết những vấn đề này giúp chúng ta có “cái nhìn tham chiếu” đầy đủ, sáng tỏ về giá trị của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh ở Đông Nam Á nói chung và hai nước Việt Nam- Lào nói riêng

Nghiên cứu về type và motif là những hướng đi để tìm ra bản chất, đặc trưng và sự phân bố của truyện dân gian theo các khu vực, vùng miền Motif

là thành tố góp phần làm rõ đặc điểm của một type truyện cụ thể nào đó Phân tích motif là “con đường ngắn nhất” cho sự liên kết của các văn bản truyện kể dân gian trên toàn thế giới Trên thế giới, đã có nhiều công trình thu thập và thống kê về type và motif truyện dân gian theo cấp độ quốc gia, khu vực như:

Bảng phân loại và danh mục kiểu truyện dân gian và Bảng chỉ mục các motif văn học dân gian của Antti Aarne và Stith Thompson, các nghiên cứu về type

và motif trong truyện dân gian Nhật Bản của Hiroko - Ikeda (Nhật Bản), về

type và motif trong truyện dân gian Trung Quốc của Wolfram Eberhard (Đức)…Tuy nhiên chưa có công trình nào phân loại về type và motif một cách hệ thống trong truyện dân gian khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam- Lào nói riêng Sự thể hiện các motif của kiểu truyện về nhân vật thông minh, láu lỉnh ở Lào và Việt Nam trong đề tài này sẽ là những chứng cứ xác thực minh chứng cho sự đặc sắc của kiểu truyện, qua đó có cái nhìn cơ bản,

đa diện, đa chiều về kiểu truyện này ở những nền văn hoá dân tộc khác nhau của khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên việc nghiên cứu truyện dân gian không phải chỉ dừng lại ở đó Ngoài việc tìm ra mối liên kết giữa các type truyện dân gian thông qua các motif tương đồng, cần phải nghiên cứu về nguồn gốc lịch

sử của truyện, nguyên nhân tạo ra sự tương đồng và khác biệt của motif ở truyện dân gian các nước, sự thể hiện tính chất xã hội….Vì vậy, tìm hiểu những motif của kiểu truyện nhân vật thông minh láu lỉnh và căn nguyên tạo

Trang 8

ra sự tương đồng và khác biệt của các motif đó trong truyện dân gian Việt Nam, Lào là cần thiết và hữu ích

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu ở nước ngoài

Đầu những năm 20 thế kỷ XX, trên thế giới có ít nhất có 4 trường phái nghiên cứu khoa học đã từng đặt ra vấn đề về đơn vị type và motif trong lĩnh vực nghiên cứu truyện kể dân gian Nổi bật nhất là hai công trình khoa học

chất lượng tiêu biểu của trường phái Phần Lan: The Type of the Folktale – A

Classification and Bibliography (Bảng phân loại và danh mục kiểu truyện dân gian), do Antti Aarne biên soạn và Stith Thompson mở rộng được xuất

bản lần đầu vào năm 1928 tại Helsinki, được biết đến với tên gọi tắt là Từ điển A-T.Tuy nhiên, sau đó S.Thompson đã biên soạn một bộ từ điển truyện dân gian không phải ở cấp độ cốt truyện (type) mà là ở cấp độ chi tiết (motif), bởi ông nhận ra sự tương đồng trong các truyện dân gian ở cấp độ motif

thường xuyên hơn cấp độ type Công trình thứ hai đó là Motif index of

Folk-Literature( Bảng chỉ mục các motif văn học dân gian) xuất bản năm 1936

Trong đó các tác giả đã lập bảng phân loại các motif đơn nhất và chia từ điển

ra làm 23 mục lớn, trong đó mục từ J: The wise and the foolish tập hợp các motif về người khôn ngoan và ngu ngốc Có 2799 motif về người khôn

ngoan và ngu ngốc mà các tác giả đã thống kê được, trong đó mục motif

J1100- J1249: là nhóm motif về những người thông minh và hành động, mục motif J1250- J1499: là nhóm motif phản biện bằng lời nói thông minh

Các motif về người thông minh trong cuốn từ điển này chủ yếu xuất hiện trong các truyện dân gian ở Châu Âu, Châu Mỹ như: Ý, Pháp, Anh, Iceland,

Do Thái, Ai Len, Mỹ… và một số nước Châu Á, trong đó tiêu biểu nhất là Ấn

Độ Chúng tôi nhận thấy không có sự xuất hiện các motif về người thông minh trong các truyện dân gian khu vực Đông Nam Á trong cuốn từ điển này

Trang 9

Tuy nhiên đây là cứ liệu tin cậy giúp chúng tôi tham khảo khi triển khai tìm hiểu về motif của kiểu truyện người thông minh trong truyện dân gian của Việt Nam và Lào

Bộ sách hai cuốn Tuyển tập V.Ia Propp (2003) do một nhóm tác giả

biên dịch một cách công phu gồm 4 phần: 1 Hình thái học truyện cổ tích, 2 Những căn rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ, 3 Những lễ hội nông nghiệp Nga, 4 Folklore và thực tại Cuốn sách là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cung cấp cho chúng tôi rất nhiều những vấn đề khoa học về lý thuyết nghiên cứu truyện kể dân gian cùng với những thí dụ cụ thể từ những ứng dụng tỉ mỉ của tác giả cuốn sách nhằm làm sáng rõ các quan điểm lý thuyết của mình

Với Tuyển tập V.Ia Propp chúng tôi kế thừa định nghĩa motif về phương diện

hình thái học của trường phái cấu trúc -chức năng, phương pháp nghiên cứu motif theo phương diện cấu tạo và phương pháp nghiên cứu motif theo phương diện tiếp cận nguồn gốc và sự biến đổi lịch sử

Ngoài các bộ sách có tính chất định hướng nghiên cứu kể trên, dưới đây chủ yếu chúng tôi điểm lại các công trình nghiên cứu của các học giả Lào về văn học dân gian Lào Cuốn Văn học Lào do Bò Xẻng Khâm Vôông Đa La chủ biên xuất bản năm 2008, Nhà xuất bản và phát hành sách Quốc gia Lào, với luận cứ của các nhà nghiên cứu bản địa đã giúp chúng tôi có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về văn học dân gian Lào nói chung và kiểu nhân vật thông minh trong truyện cổ Lào nói riêng Trong đó, các nhà nghiên cứu đã xếp kiểu truyện về các nhân vật thông minh ở một số nước Đông Nam Á vào thể loại truyện cười dân gian: “Kiểu truyện cười này từng được thấy ở nhiều nước anh em xóm giềng như ở Việt Nam có truyện “Trạng Quỳnh”, ở Campuchia có truyện “ Thơ Mênh Chây”, ở Thái Lan có truyện “ Sỉ Tha Nôn

Trang 10

Chay”[ 47, tr 125] Sự khẳng định về thể loại của kiểu truyện là cơ sở để chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình

Năm 2014, Viện khoa học xã hội quốc gia Lào- Viện nghiên cứu văn hóa

xuất bản cuốn Tuyển tập Văn học Lạn Xạng tập 1, trong đó các tác giả xếp

truyện Xiêng Miệng vào trong tập hợp các tác phẩm văn học dân gian của Lào thuộc thời kì Lạn Xạng và chỉ rõ thuộc thời vua Su Li Nha Vông Sả ( từ năm

1633) Việc cung cấp dữ liệu về thời gian ra đời truyện Xiêng Miệng một cách

chính xác giúp chúng tôi có căn cứ lịch sử trong quá trình nghiên cứu những vấn đề liên quan tới nhân vật

Cuốn Lịch sử- Văn học Lào-học hỏi từ 108 truyện cổ Lào và truyện thế

giới của Nghệ nhân ưu tú Mạ Hả Bun Mi Thếp Sỉ Mương là một trong số rất

ít những cuốn sách viết về Xiêng Miệng- nhân vật thông minh, láu lỉnh tiêu biểu ở Lào Trong cuốn sách, Nghệ Nhân đề cập tới những nội dung khái quát

trong truyện Xiêng Miệng Trong đó tác giả có nhấn mạnh sự bí ẩn và phức

tạp về thời gian ra đời Xiêng Miệng Đây là một trong những tài liệu hiếm hoi góp phần định hướng về nội dung cốt truyện về Xiêng Miệng

Trong cuốn Giáo trình năm thứ nhất của Đại học chuyên ngành Tiếng

Lào- Văn học do Vụ nghiên cứu Cấp cao- Bộ Giáo Dục và thể thao Lào biên

soạn năm 2016, xếp truyện Xiêng Miệng thuộc thể loại truyện cười Việc xác

định thể loại tác phẩm của các nhà nghiên cứu bản địa là định hướng cho chúng tôi trong việc xác định thể loại của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh ở Lào

- Nghiên cứu ở trong nước

Qua các nguồn tư liệu tiếng Việt đã tiếp cận được, người viết nhận thấy các tài liệu liên quan đến motif của kiểu truyện nhân vật thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Đông Nam Á nói chung và hai nước Lào Việt Nam nói

Trang 11

riêng còn rất hạn chế về số lượng Các bài viết, các công trình nghiên cứu chủ yếu mới chỉ đưa ra những kiến giải ban đầu về sự tồn tại của kiểu nhân vật thông minh trong khu vực Đông Nam Á và thế giới

Từ năm 1978, trong chuyên đề Nghiên cứu tiến trình lịch sử văn học dân

gian Việt Nam, Trường Đ.H.S.P I Hà Nội in năm 1978, Đỗ Bình Trị đã đánh

giá về nét độc đáo của nhân vật trí xảo trong truyện trạng Việt Nam đồng thời ông có nhắc đến khái niệm “tình tiết” trong văn học dân gian Ông nhận định

so với nhiều tình tiết nổi tiếng trong văn học dân gian thế giới có cốt truyện này ở những dân tộc thì dị bản Việt Nam có không ít chỗ trùng lặp

Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Đắc là một trong những người đầu tiên thực hiện lập bảng mục lục tra cứu Type và Motif cho từng bộ sưu

tập truyện kể Lần đầu tiên trong tập Những truyện kể Vêtala ( NXB KHXH

Hà Nội, 1986) do chính tác giả dịch có kèm theo bảng tra cứu type và motif

Nguyễn Tấn Đắc cũng đã lập bảng tra cứu type và motif cho sưu tập Truyện

dân gian Campuchia của Vũ Tuyết Loan, Nguyễn Sĩ Tuấn, Nguyễn Thị Hiệp(

NXB KHXH Hà Nội, 1987) Trong tài liệu này Nguyễn Tấn Đắc có nhắc đến những truyện về trí thông minh trong phần viết về loại truyện cổ mang tính xã hội của Campuchia: “ Truyện kể Campuchia cũng diễn đạt tài tình trí thông minh láu lỉnh, tài ứng phó đối đáp của dân gian Những chùm truyện về Thmênh Chây, về thằng Lêu, về con thỏ, rất được nhân dân Campuchia yêu thích” [24, tr 10] Ngoài việc giới thiệu truyện kể dân gian, nhà nghiên cứu cũng bước đầu chú ý quan sát phân tích type và motif của truyện Đến năm

2001, cuốn sách Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif của tác giả đã

được xuất bản Loạt tác phẩm này của tác giả là sự tiếp nối lý thuyết type và motif của trường phái Phần Lan trên thế giới khi áp dụng ở một vài trường hợp của một số nước Đông Nam Á

Trang 12

Trong cuốn Truyện Trạng Đông Nam Á (2001), NXB Tổng hợp Đồng

Nai, Trương Sĩ Hùng đã khẳng định sự kế thừa của truyện trạng với các thể loại khác của văn học dân gian và đặt các hệ thống truyện trạng Việt Nam bên cạnh các hệ thống truyện trạng của nước ngoài để chỉ ra những đặc trưng cơ bản, tiêu biểu cho thể loại truyện trạng Ông cũng khẳng định mối liên hệ giữa

truyện Trạng Quỳnh và truyện trạng ở các nước láng giềng của Việt Nam: “

không phải ngẫu nhiên, khi xếp các hệ thống Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Bột… của Việt Nam bên cạnh Thơmênh Chây của Cămpuchia, Xiêng Miệng của Lào ta thấy ngay được tính thống nhất trong nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật, thống nhất về chủ đề tư tưởng Nếu liên hệ rộng hơn đến tài liệu văn học dân gian của các dân tộc ít người Việt Nam – ta sẽ gặp những tác phẩm tương tự: Truyện Lục Pia(Tày), Truyện Chú Cuội (Mường), Chàng Ngốc (Chăm), Chàng Gơnác Hucr (Xrê)” [19, tr.20] Đây là một định hướng nghiên cứu sự tương đồng về type nhân vật trong các truyện dân gian Lào và Việt Nam, góp phần hỗ trợ chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Đức Ninh trong cuốn Về một số vấn đề văn hóa dân gian( Folklore)

Đông Nam Á ở phần viết về truyện cổ tích động vật và cổ tích sinh hoạt của

Mã Lai- Inđônêxia cho rằng, trong kiểu truyện cổ tích sinh hoạt của Mã Lai- Inđônêxia nổi lên hai loại hình tượng nhân vật: hình tượng nhân vật thông minh, ranh mãnh hoặc đại bịp, nói dối như Cuội và hình tượng nhân vật đần độn, ngu ngốc tham lam Trong đó, với hình tượng nhân vật thông minh, ranh mãnh: “ Tương tự loại nhân vật này là Silunchai ở Malaixia, Thơ Mênh Chây hoặc A Lêu ở Campuchia, Si ThaNon Trai ở Thái Lan, thằng Cuội ở Việt Nam”[ 29, tr 101] Quan điểm xem các nhân vật này là dạng nhân vật thông minh, ranh mãnh là quan điểm mang tính chất định hướng và gợi hứng cho luận văn này

Trang 13

Năm 2012, một công trình về type truyện đã ra đời ở Việt Nam do

Nguyễn Thị Huế chủ biên: Từ điển type truyện dân gian Việt Nam, Nxb Lao

động, HN Công trình này đưa ra rất nhiều những type truyện liên quan đến những nhân vật kiểu như Trạng Quỳnh Nhóm type truyện này được sắp xếp thuộc nhóm type truyện cười, truyện trạng, giai thoại từ mục 568-761 Tuy nhiên trong tài liệu này không gọi tên type truyện là type về nhân vật thông minh, láu lỉnh

Năm 2013, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Chiến trong bài viết Truyện

nhân vật thông minh láu lỉnh trong văn học dân gian Đông Á ( Trường hợp trạng Quỳnh của Việt Nam và Kim Sodal của Triều Tiên), Tạp chí khoa học

xã hội, số 4/2013, khẳng định sự ra đời của kiểu nhân vật này chính là ước mơ

về trí tuệ dân gian với tài phán đoán, sáng tạo và dũng cảm Trong nhiều trường hợp họ là cán cân công lý mang lại công bằng và quyền lợi cho những người không có địa vị trong xã hội Bài viết chỉ ra sự tương đồng và khác biệt

giữa truyện Trạng Quỳnh (Việt Nam) và truyện Kim Sondal (Triều Tiên) và

bước đầu có những lý giải về sự tương phản của hai chuỗi truyện này

Năm 2016, Tác giả La Mai Thi Gia trong cuốn: Motif trong nghiên

cứu truyện kể dân gian: lý thuyết và ứng dụng đã đưa ra đề nghị một cách tiếp

cận hiệu quả nhất hiện nay trong nghiên cứu motif truyện kể dân gian qua một ứng dụng cụ thể từ trường hợp motif tái sinh Đồng thời cuốn sách đã giới thiệu được quan điểm nhị nguyên về motif, những phương thức nghiên cứu motif theo quan điểm này và các ứng dụng trên thế giới khi nghiên cứu motif theo thuyết nhị nguyên Cuốn sách này cũng là một tài liệu tin cậy để chúng tôi tham khảo khi nghiên cứu về kiểu truyện dân gian từ góc độ type và motif

Năm 2014, Tác giả Đặng Quốc Minh Dương trong luận án: Kiểu truyện

con vật tinh ranh trong truyện dân gian Việt Nam và thế giới thể hiện quan

Trang 14

niệm nhân vật tinh ranh là những con vật mà trong quan niệm dân gian được xem là thông minh, tinh quái, mưu trí Từ đó tác giả triển khai nghiên cứu nhân vật thông minh với tư cách nhân vật- con vật Tuy cũng lựa chọn đối tượng nghiên cứu là nhân vật tinh ranh, thông minh nhưng luận án mới chỉ lựa chọn trong phạm vi con vật Đây là khoảng trống trong nghiên cứu về kiểu nhân vật thông minh, láu lỉnh với tư cách là con người trong truyện cười dân gian

Bước đầu tìm hiểu tình hình tư liệu, chúng tôi nhận thấy vấn đề motif

của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào chưa được giới nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu

như một đối tượng độc lập Đến thời điểm này vấn đề này vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu Với luận văn này, người viết mong muốn sẽ đưa ra được những nhận diện khái quát về kiểu truyện đồng thời nghiên cứu

và phân tích về một số motif thường gặp ở kiểu truyện nhân vật thông minh trong truyện cổ 2 nước Việt Nam và Lào Dù chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện motif của kiểu truyện về nhân vật thông minh ở hai nước nhưng để thực hiện đề tài, chúng tôi cũng đã được thừa hưởng thành quả của nhiều công trình sưu tầm, tập hợp, biên dịch truyện dân gian và nghiên cứu ở Việt Nam và Lào Những tài liệu này hỗ trợ chúng tôi về mặt phương pháp đồng thời cung cấp những cốt truyện cùng các bản kể về truyện dân gian

để chúng tôi tiện khảo sát và nghiên cứu Những khoảng trống được gợi ra từ

những tài liệu kể trên đã khiến chúng tôi nghiên cứu vấn đề Tìm hiểu motif

của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào

3 Mục đích nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Trang 15

+ nhận diện khái quát về kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian của 2 nước Việt Nam và Lào

+ làm rõ sự khác biệt và tương đồng của các motif trong kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là các motif của kiểu truyện về nhân vật người

thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào

- Phạm vi nghiên cứu: chúng tôi tập trung nghiên cứu những truyện dân gian

ở Việt Nam và Lào mà có nhân vật chính là người thông minh, tính cách láu lỉnh

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp liên ngành: Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các

phương pháp nghiên cứu liên ngành Trong đó chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành để lý giải căn nguyên của sự tương đồng và khác biệt của các motif trong truyện dân gian Việt Nam và Lào Tiếp cận vấn đề dưới góc độ của nhiều ngành khoa học giúp chúng tôi thấy được nét gặp gỡ, giao thoa trong các kiểu truyện nhân vật thông minh của hai nước Đông Nam Á do chịu (hoặc không chịu) ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, lịch sử, địa lý, tôn giáo…

+Phương pháp thống kê – phân loại: Phương pháp này được sử dụng

trong việc khảo sát, phân loại và trong khi so sánh đối chiếu các motif trong truyện dân gian Việt Nam và Lào Nhờ phương pháp thống kê mà chúng tôi có được các số liệu để phân loại các truyện kể; cũng qua đây thấy được tần suất xuất hiện các motif của kiểu truyện ở hai nước Nhờ phương pháp này mà chúng tôi có những số liệu tin cậy, làm cơ sở để đưa ra những lý giải thích hợp, những kết luận, khái quát khoa học về các motif của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh ở Việt Nam và Lào

Trang 16

+Phương pháp so sánh – loại hình: Phương pháp so sánh – loại hình

được sử dụng trong suốt quá trình xử lí đề tài Phương pháp này giúp chúng tôi thấy được những tương đồng và dị biệt về nhân vật, kết cấu, motif, của kiểu truyện ở hai nước Từ đó đưa ra những gợi mở về căn nguyên tương đồng, khác biệt của kiểu truyện này trong truyện dân gian giữa hai nước

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Luận văn nghiên cứu các motif của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào, góp phần bổ sung thêm cho nghiên cứu về motif và type truyện trong văn học dân gian nói chung

- Là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm đến chuyên ngành này

7 Kết cấu của luận văn

Để thực hiện luận văn, chúng tôi dự định triển khai nghiên cứu theo khung

Trang 17

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KIỂU TRUYỆN NHÂN VẬT NGƯỜI THÔNG MINH, LÁU LỈNH TRONG TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM VÀ LÀO 1.1 Một số khái niệm lý luận liên quan

1.1.1 Khái niệm type truyện

Theo Từ điển Văn học (bộ mới) “Tập hợp những truyện có cùng chủ đề

và cốt truyện tương tự như nhau, được gọi là kiểu truyện” [18, tr.1841] Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu dùng khá nhiều thuật ngữ chỉ nội hàm khái niệm kiểu truyện: type, dạng thức, típ truyện, dạng truyện Như theo Nguyễn

Tấn Đắc “Type chỉ một tập hợp những truyện có cùng cốt kể thuộc cùng một

kiểu truyện, hay một đơn vị truyện” [12, tr.136] Nghiên cứu type truyện trong

văn học dân gian là cách thức nghiên cứu những truyện có chung một chủ đề, cốt truyện Các truyện này sẽ có nhiều motif tương đồng, tất nhiên các motif này không hoàn toàn trùng khớp nhau trong tất cả các truyện Sự tương đồng giữa các motif góp phần làm thành một type truyện với hệ thống các motif đặc trưng có ý nghĩa phản ánh riêng

Trong truyện dân gian Lào và Việt Nam có một kiểu truyện với nhân vật chính là những người có tính cách thông minh nhưng láu lỉnh, ranh mãnh, hay sử dụng những mẹo lừa bịp, tinh quái Trong đề tài, chúng tôi vận dụng lý thuyết type truyện để nghiên cứu về kiểu nhân vật thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào Từ đây chúng tôi xin được gọi tên type

truyện này là: Kiểu truyện về nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong

truyện dân gian Lào và Việt Nam Cách gọi này tương đồng với thuật ngữ

type truyện trong các công trình nghiên cứu của nước ngoài và Việt Nam

Trang 18

1.1.2 Khái niệm motif

Motif là một trong những thuật ngữ văn học dân gian được sử dụng nhiều nhất hiện nay trong các công trình nghiên cứu về thể loại tự sự dân

gian Theo định nghĩa của Lê Bá Hán- Trần Đình Sử “Từ Hán Việt là mẫu đề

(do người Trung Quốc phiên âm chữ motif trong tiếng pháp), có thể chuyển

thành các từ khuôn, dạng hoặc kiểu trong tiếng Việt, nhằm chỉ những thành

tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian.” [17, Tr.197] Như vậy, chúng ta có thể hiểu motif

có những tính chất: Thứ nhất là những chi tiết tạo nên một cốt truyện Thứ hai được sử dụng nhiều lần trong truyện Thứ ba mang tính chất ổn định, bền vững Như đã nói, motif chính là phần tử đơn vị cấu tạo nên cốt truyện Motif nhỏ hơn type Nói cách khác, type là đơn vị lớn hơn motif, trong một type có thể chứa nhiều motif

Trong đề tài này, chúng tôi xem motif là dạng thức được lặp đi lặp lại nhiều lần và tiềm tàng những giá trị văn hóa, những lớp nghĩa riêng nhưng có

sự ổn định trong kiểu (type) truyện về những nhân vật thông minh ở hai nước Lào, Việt Nam Các motif khảo sát trong đề tài này được chúng tôi lựa chọn dựa trên những nguyên tắc sau:

- Những motif được lựa chọn là những motif có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện nhân vật thông minh, láu lỉnh đồng thời là yếu tố không thể thiếu góp phần hình thành nên cốt truyện

-Dựa trên việc so sánh giữa các cốt truyện có cùng motif, chúng tôi chọn ra những motif có tần suất xuất hiện cao nhất trong truyện dân gian hai nước Việt Nam và Lào

Trang 19

Dựa trên tiêu chí này, chúng tôi lựa chọn được 13 motif tiêu biểu với tần suất xuất hiện nhiều nhất trong các truyện

1.2 Xác định thể loại của kiểu truyện nhân vật người thông minh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào

Trong các công trình nghiên cứu đi trước, việc xác định thể loại để từ

đó xếp truyện Xiêng Miệng, Xiêng Nọi, Chàng Pô… ở Lào hoặc Trạng

Quỳnh, Xiển Bột, Ba Giai- Tú Xuất… ở Việt Nam (các nhân vật cùng loại tính

cách) vào ô nào trong bảng phân loại của văn học dân gian cho đến nay vẫn chưa thống nhất Nhìn chung các nghiên cứu văn học dân gian về kiểu truyện của loại nhân vật này chia thành bốn nhóm ý kiến chính:

1 Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng nên xem kiểu truyện dân gian này là

một thể loại riêng: Vũ Ngọc Khánh trong tuyển tập Kho tàng về các ông

Trạng Việt Nam đã thể hiện quan điểm đó Trong tuyển tập này, ngoài các

giai thoại viết về Trạng Nguyên có thật trong lịch sử Việt Nam, Vũ Ngọc

Khánh còn dành một phần tuyển tập về các Trạng dân phong trong đó có truyện về các nhân vật Trạng Quỳnh, Trạng Lợn Trong cuốn Truyện Trạng

Đông Nam Á(2001), NXB Tổng hợp Đồng Nai, đặt truyện trạng Việt Nam

trong tương quan so sánh với một số truyện trạng Đông Nam Á, Trương Sĩ

Hùng có “Ý kiến đề xuất về thể loại văn học dân gian: truyện trạng dân gian ở Việt Nam” tồn tại như một thể loại tương đối độc lập như các thể loại khác của văn học dân gian [19, tr.17] Ngoài ra có rất nhiều nhà nghiên cứu: Thạch Phương, Nguyễn Chí Bền, Mai Hương, Đỗ Bình Trị, Đặng Văn Lung, Bùi Mạnh Nhị, Trần Tấn Vĩnh, Nguyễn Tấn Phát… cũng có quan niệm tương tự khi gọi kiểu truyện về những nhân vật thông minh này là truyện Trạng

2 Nhóm ý kiến thứ hai xếp kiểu truyện này vào loại truyện cổ tích sinh

hoạt Trong cuốn: Văn học khu vực Đông Nam Á( tái bản năm 2000), nxb Đại

Trang 20

Học Quốc gia Hà Nội do Đức Ninh chủ biên, người viết phần văn học Campuchia đã chia văn học dân gian thành 3 loại: Thần thoại và truyền thuyết, Truyện cổ tích và Tục ngữ ca dao-dân ca Trong thể loại truyện cổ tích, các tác giả cho rằng: “ Trong kho tàng truyện cổ tích Campuchia, truyện

cổ tích sinh hoạt và cổ tích về loài vật nổi trội độc đáo với những mô típ truyện về nhân vật thông minh, láu lỉnh và con thỏ ranh mãnh khôn ngoan phản ánh tài trí của nhân dân Campuchia Người thông minh yếu kém về vật chất nhưng lại có sức mạnh trí tuệ, như Th mênh Chey” [26, tr 101-106] Vẫn

giữ quan điểm này, Đức Ninh trong cuốn Về một số vấn đề văn hóa dân gian(

Folklore) Đông Nam Á ở phần viết về truyện cổ tích động vật và cổ tích sinh

hoạt của Mã Lai- Inđônêxia đã cho rằng trong kiểu truyện cổ tích sinh hoạt của Mã Lai- Inđônêxia nổi lên hai loại hình tượng nhân vật: hình tượng nhân vật thông minh, ranh mãnh hoặc đại bịp, nói dối như Cuội và hình tượng nhân vật đần độn, ngu ngốc tham lam Trong đó, với hình tượng nhân vật thông minh, ranh mãnh: “ Tương tự loại nhân vật này là Silunchai ở Malaixia, Thơ Mênh Chây hoặc A Lêu ở Campuchia, Si ThaNon Trai ở Thái Lan, thằng Cuội ở Việt Nam”[ 29, tr 101]

3 Nhóm ý kiến thứ ba xếp nhóm truyện kiểu như Trạng Quỳnh thành một

tiểu loại của truyện cười dân gian Ở Lào, các nhà nghiên cứu văn học dân

gian cũng có cùng quan điểm với nhóm thứ nhất khi xếp kiểu truyện về các nhân vật thông minh như Trạng Quỳnh vào thể loại truyện cười dân gian: “ Kiểu truyện cười này từng được thấy ở nhiều nước anh em xóm giềng như ở Việt Nam có truyện “Trạng Quỳnh”, ở Campuchia có truyện “ Thơ Mênh Chây”, ở Thái Lan có truyện “ Sỉ Tha Nôn Chay”[47, tr.125] “Việc biến hóa giữa các đoạn, phần trong truyện cười đã thể hiện cho thấy tính cách và tài

năng sắc sảo, lém lỉnh của các nhân vật” [47, tr.124] Cũng trong cuốn Văn

học khu vực Đông Nam Á (tái bản năm 2000), Nxb Đại Học Quốc gia Hà Nội

Trang 21

do Đức Ninh chủ biên, người viết phần văn học Lào lại cho rằng : “Các truyện Xiêng Miệng, Xiêng Phốt, Lung Pao, Thao Pộ, Thạo Xốm Bò Khít, Tai Chang Bu Hang, đều thuộc loại truyện trào phúng thù”- là một loại truyện thuộc thể loại truyện cười của Văn học Lào [26, Tr 182]

4 Nhóm ý kiến thứ tư gọi chung kiểu truyện về nhân vật này là một loại

truyện cổ dân gian Đại diện tiêu biểu cho nhóm ý kiến này là nhà nghiên cứu

Nguyễn Tấn Đắc với cách chia kho truyện cổ Campuchia thành các nhóm truyện theo chủ đề và chức năng thể loại: Truyện về những truyền thuyết về buổi đầu của quốc gia, về sự xuất hiện của các triều đại; Truyện sự tích; Truyện mang tính xã hội Trong loại truyện mang tính xã hội: “ Truyện kể Campuchia cũng diễn đạt tài tình trí thông minh láu lỉnh, tài ứng phó đối đáp của dân gian Những chùm truyện về Thmênh Chây, về thằng Lêu, về con thỏ, rất được nhân dân Campuchia yêu thích” [24, tr 10] Nhân vật Thmênh Chây

mà tác giả nhắc đến ở đây chính là một nhân vật thuộc kiểu truyện nhân vật thông minh, láu lỉnh ở Campuchia Quan niệm này cũng có ưu điểm khi bao quát được tất cả các quan niệm khác với phạm vi rất rộng của khái niệm

“Truyện cổ dân gian” Nghĩa là dù là truyện cười, truyện cổ tích sinh hoạt, hay là truyện Trạng thì cũng đều thuộc phạm trù truyện cổ dân gian Có thể tên gọi về thể loại truyện này đang trong hồi tranh cãi Tuy nhiên phải thừa nhận rằng điểm chung không thể phủ nhận của các truyện dân gian này là đều

có một nhân vật trung tâm xuyên suốt- nhân vật cơ trí, nhân vật thông minh láu lỉnh, tinh ranh

Trong đề tài này, để tiện cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi tạm xem kiểu truyện về các nhân vật thông minh, láu lỉnh như Trạng Quỳnh, Sỉ Tha Nôn Chay, Thmênh Chây, A Lêu, Xiêng Miệng của văn học dân gian Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia là một kiểu truỵên dân gian kết chuỗi đặc

Trang 22

biệt có nhiều đặc điểm kế thừa và phát triển từ kiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt và loại truyện cười Bởi dù là truyện có những yếu tố gây cười, nhưng ẩn

ý sâu xa của những truyện này không nhằm mục đích chính là tạo ra tiếng cười Đồng thời, sự nhất quán về motif, kết cấu và tính cách của các nhân vật

ở các nước Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia tạo cho kiểu truyện có những đặc trưng riêng khác với những truyện cười thông thường Có thể đưa

ra tiêu chí để nhận diện kiểu truyện này: là kiểu truyện kết chuỗi bao gồm nhiều mẩu truyện nhỏ xoay quanh một nhân vật có tính cách thông minh, láu lỉnh, tinh ranh, các hành động, mánh khóe của nhân vật có thể gây cười cho người đọc

1.3 Kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào

1.3.1 Số lượng kiểu truyện

Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi khảo sát kiểu truyện nhân vật thông minh, láu lỉnh trong 16 tuyển tập truyện dân gian Lào và 9 tuyển tập truyện dân gian Việt Nam

Trong các tuyển tập truyện dân gian Lào chúng tôi thấy có 9 chuỗi truyện về nhân vật thông minh, láu lỉnh Các nhân vật là những người thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội Lào như: chú tiểu, con rể, chàng lười, bác nông dân, chàng mồ côi Trong số 9 chuỗi truyện này thì chuỗi truyện về Xiêng Miệng có thể xem là chuỗi truyện tiêu biểu của kiểu truyện này ở Lào với tính

hệ thống, nhất quán và dung lượng truyện dài nhất Ngoài chuỗi truyện về Xiêng Miệng, dung lượng của các chuỗi truyện nhân vật thông minh, láu lỉnh

ở Lào không dài, mỗi chuỗi truyện chỉ phản ánh được một phần tính cách láu lỉnh và sự thông minh của các nhân vật thông minh

Trang 23

Trong khi đó chín tập truyện dân gian Việt Nam, có 350 truyện, trong

đó có 6 truyện dài và 344 truyện ngắn với 19 nhân vật thuộc kiểu nhân vật người thông minh láu lỉnh Trong đó, có 12 nhân vật thuộc lớp truyện dân gian người Việt gồm: Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Bột, Ba Giai- Tú Xuất, Mân Nhụy, Nguyễn Kinh, Ông Tuyn, Thủ Thiệm, Bợm Bảy, Bộ Ninh, Ông

Ó, Em bé thông minh; 7 nhân vật thuộc truyện dân gian của các dân tộc thiểu

số ở Việt Nam như dân tộc Mường: Cuội; dân tộc Thái : Chàng rể thông minh, Con dâu thông minh; dân tộc Tày: Mồ côi thông minh và dân tộc Chăm: Ja Nyaoh Ka, Blek Bleng Ma, Trùm khôn Với số lượng các truyện và

tần suất xuất hiện các motif trong số 12/13 motif được khảo sát, truyện Trạng

Quỳnh được xem là chuỗi truyện điển hình cho kiểu truyện này ở Việt Nam

Tuy nhiên bên cạnh đó, truyện dân gian Việt Nam cũng có rất nhiều chuỗi truyện khác khá tiêu biểu cho kiểu truyện này và có sự đặc sắc không kém

Trạng Quỳnh như: Truyện Xiển Bột, Truyện Thủ Thiệm, truyện Ba Giai- Tú Xuất Sự có mặt đông đảo các chuỗi truyện về kiểu nhân vật người thông

minh, láu lỉnh ở Việt Nam, trong đó có sự đóng góp của nhiều đại diện của văn học các dân tộc thiểu số là một trong những căn cứ và cơ sở phỏng đoán

về nguồn gốc của kiểu truyện này

1.3.2 Kết cấu của kiểu truyện

Một đặc điểm dễ nhận diện của kiểu truyện về nhân vật thông minh ở Lào và Việt Nam là dạng truyện kết chuỗi, bao gồm nhiều truyện ngắn độc lập với nhau nhưng đều xoay quanh một nhân vật trung tâm chính là nhân vật thông minh, láu lỉnh Trong các chuỗi truyện ở Việt Nam thì dung lượng

dài hơn, số lượng nhiều hơn so với các truyện ở Lào: chuỗi truyện Trạng

Quỳnh có 66 truyện, truyện Xiển Bột có 44 truyện, truyện Ba Giai- Tú Xuất có

45 truyện, truyện Thủ Thiệm có 66 truyện, truyện Xiêng Miệng có 37

truyện…Trong các truyện ngắn này, nhân vật thông minh, láu lỉnh là nhân vật

Trang 24

nền tảng xuyên suốt chuỗi truyện, tham gia vào tất cả các diễn biến sự kiện trong câu chuyện Sự kết chuỗi của các truyện ngắn làm nên tính chỉnh thể cho toàn bộ chuỗi truyện Tuy nhiên mỗi một truyện nhỏ lại có nội dung, cốt truyện hoàn chỉnh, khiến cho các chuỗi truyện không có sự liên kết chặt chẽ với nhau trong một tổng thể hoàn chỉnh Theo dòng lưu truyền, khi kể chuyện người kể có thể lược chọn mỗi truyện nhỏ làm thành một truyện đơn, hoặc có thể sắp xếp thứ tự các truyện tùy theo sở thích Vì thế, các câu chuyện có lúc liền mạch, có lúc thống nhất nhưng cũng có lúc không nhất quán, chặt chẽ Về mức độ liên kết trong chuỗi truyện của Lào và của Việt Nam cũng có sự khác nhau Dù có sợi dây xâu chuỗi các truyện lại với nhau nhưng nhân vật chính vẫn là nhân vật thông minh, láu lỉnh Đây là điểm khu biệt của kiểu truyện này so với những dạng truyện kết chuỗi khác

Khảo sát hệ thống các chuỗi truyện ở hai nước, chúng ta nhận thấy kết cấu chung của các truyện cũng giống như kết cấu của nhiều thể loại tự sự dân gian khác, thường gồm ba phần: phần mở đầu, phần diễn biến và phần kết thúc Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy kiểu truyện này có những đặc sắc riêng, khó lẫn với các thể loại khác

Phần mở đầu và kết thúc của kiểu truyện này ít có sự nhất quán Đa số phần mở đầu là phần kể về xuất thân của nhân vật, nhưng sự thể hiện ở truyện dân gian Lào và Việt Nam có sự khác biệt Ở Việt Nam có chuỗi truyện sử dụng yếu tố kì lạ khi kể về xuất thân của nhân vật, còn ở Lào thì các nhân vật phần lớn là những nhân vật được bình thường hóa như những con người bình thường Phần kết thúc của các chuỗi truyện đa phần sẽ nói đến kết cục số phận của nhân vật như thế nào Ở Lào, các truyện thiên về kết thúc có hậu, nghĩa là nhân vật thông minh giành chiến thắng tuyệt đối, trở thành vua, hoàng tử hoặc thành người giàu có như Xiêng Nọi, Chàng Pô, chàng Tiềm To… Còn ở Việt Nam, đa số các kết thúc thường bằng cái chết của nhân vật

Trang 25

với tinh thần đấu tranh chống lại đối phương đến cùng như Trạng Quỳnh, Nguyễn Kinh, Thủ Thiệm, Xiển Bột Vì mục đích thể hiện tinh thần không khoan nhượng trước kẻ thù, có đôi khi nhân vật thông minh phải trả giá bằng cái chết như Trạng Quỳnh, như Nguyễn Kinh

Kiểu truyện về nhân vật thông minh ở Lào và Việt Nam phần nhiều có

sự tương đồng ở phần diễn biến truyện Phần diễn biến là những cuộc đấu trí của nhân vật thông minh và là phần chiếm dung lượng lớn nhất trong mỗi chuỗi truyện Đó là những cuộc đấu trí của các nhân vật thông minh với nhiều thế lực đối kháng mà phần thắng hầu hết nghiêng về các nhân vật này Mỗi lần thử thách, đấu trí nhân vật chính lại được khắc hoạ và tô đậm thêm phẩm chất thông minh cũng như tính cách láu lỉnh, ranh mãnh của mình Động cơ

mà các nhân vật thông minh đấu tranh chống lại các thế lực lớn đa phần là sự phản kháng, đáp trả lại sự xấu xa, chơi bẩn của đối phương

Như vậy, kết cấu của kiểu truyện về nhân vật người thông minh, láu lỉnh là dạng truyện kết chuỗi nhưng vẫn có những đặc điểm khác so với các loại truyện kết chuỗi khác trong văn học dân gian Đó là sự thống nhất các dữ kiện trong chuỗi truyện để làm nổi bật tính cách láu lỉnh và trí tuệ thông minh của một nhân vật trung tâm

Tiểu kết:

Kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Việt Nam và Lào được chúng tôi xác định tương đương với thuật ngữ type truyện Trong type truyện này có các motif khác nhau Mỗi motif là tình tiết,

sự việc, là đơn vị phần tử cấu tạo nên một cốt truyện Kết cấu của kiểu truyện này ở Việt Nam và Lào thường có ba phần: mở đầu, diễn biến, kết thúc Phần diễn biến của kiểu truyện này ở Việt Nam và Lào đều tương đồng vì đều là những cuộc đấu trí của nhân vật thông minh, láu lỉnh với đối thủ là những kẻ

Trang 26

tham lam, kiêu ngạo, những kẻ có quyền thế, những chức sắc tôn giáo, những

kẻ giàu có, hợm hĩnh… nhằm phê phán thói hư tật xấu, đề cao trí thông minh,

sự nhanh trí, lanh lợi của người bình dân để chiến thắng “kẻ thù”, kẻ có thế lực Ở phần mở đầu, nếu như trong truyện Lào nhân vật thông minh xuất thân

là những người bình thường thì trong truyện Việt Nam nhân vật thường là khác thường Nếu như trong truyện Lào kết thúc của nhân vật thông minh thường có hậu thì trong truyện Việt Nam kết thúc bằng cái chết của nhân vật

Do vậy, xác định thể loại của kiểu truyện, xét từ nguồn gốc đến sự hiện diện của nó, kiểu truyện này nằm trong tiểu loại cổ tích sinh hoạt Vì “truyện cổ tích sinh hoạt và cổ tích động vật là cổ tích Sau này, trong quá trình phát triển của văn học dân gian, chúng ta thấy có những sáng tác tương tự như truyện cười, tiếu lâm, ngụ ngôn…Rất có thể các kiểu loại cổ tích sinh hoạt, cổ tích về động vật đã phát triển đẩy lên thành truyện cười, tiếu lâm và ngụ ngôn” [ 29,

tr 84]

Trang 27

Chương 2 NHỮNG MOTIF TƯƠNG ĐỒNG CỦA KIỂU TRUYỆN NHÂN VẬT NGƯỜI THÔNG MINH, LÁU LỈNH TRONG TRUYỆN DÂN GIAN

VIỆT NAM VÀ LÀO

Văn học dân gian của mỗi dân tộc- quốc gia mang đậm bản sắc văn hóa tộc người, đồng thời sự ra đời các thể loại và đặc trưng các thể loại của nó trong những thời kì lịch sử ở những dân tộc khác nhau mang tính thế giới đại đồng: “ Truyện cổ tích cũng như các thể loại khác của văn hóa dân gian mang tính thế giới đại đồng, song cổ tích của mỗi dân tộc… mang bản sắc dân tộc độc đáo riêng” [ 29, tr 102] Bởi thế, các motif nằm trong một kiểu loại văn học dân gian cũng có những tương đồng giữa truyện dân gian Lào- Việt:

2.1 Những motif tương đồng

2.1.1 Motif gậy ông đập lưng ông

Từ điển Tiếng Việt- Hoàng Phê đã định nghĩa gậy ông đập lưng ông là

“ví trường hợp thủ đoạn của mình nhằm làm hại người khác, lại gây hại cho chính mình”[35, Tr.476 ] Motif gậy ông đập lưng ông là một motif phổ biến trong truyện cười dân gian Lào và Việt Nam Gậy ông đập lưng ông là cách

mà các nhân vật thông minh, láu lỉnh thường sử dụng như một vũ khí chống lại đối tượng khác Những truyện có chứa motif này thường thể hiện trí tuệ dân gian đáo để, dí dỏm gắn liền những tiếng cười thâm sâu thông qua hình tượng của nhân vật chính Khảo sát motif này trong kiểu truyện về nhân vật người thông minh, láu lỉnh của truyện dân gian Lào và Việt Nam có tới 20/28 chuỗi truyện sử dụng motif này- đứng thứ hai về mức độ phổ biến trong phạm

vi 14 motif được khảo sát Với motif này, những nhân vật thông minh, láu lỉnh tiêu biểu nhất của truyện dân gian Lào và Việt Nam gần như được lộ diện hết: Xiêng Miệng, các chú Tiểu, Trạng Quỳnh, Thủ Thiệm, Xiển Bột, chàng Cuội… Motif gậy ông đập lưng ông trong các truyện này đều có cách thức

Trang 28

hành động là: làm theo y nguyên mệnh lệnh, dùng chính mệnh lệnh của đối phương để đáp trả Có thể khái quát công thức chung của các motif này là: Phe đối phương ra lệnh, hoặc dặn dò nhân vật thông minh- nhân vật thông minh cố tình làm theo lời ra lệnh một cách máy móc - đối phương nhận phải hậu quả bẽ bàng nhưng không dám trừng phạt

Motif gậy ông đập lưng ông là motif xếp thứ tư về tần suất sử dụng trong tổng số 14 motif của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh

Có tới 80 lần motif này được sử dụng trong số 415 truyện về kiểu nhân vật thông minh, láu lỉnh cả ở Lào và Việt Nam Trong đó, tần suất xuất hiện trong truyện dân gian Việt Nam nhiều hơn: 45 lần, ở Lào: 35 lần Tuy nhiên nếu tính về tỉ lệ xuất hiện motif theo chuỗi nhân vật thì lại có kết quả ngược lại, ở Việt Nam là: 2,37 %( 45/19), và ở Lào là: 3,88%( 35/9) Nghĩa là, trung bình mỗi một chuỗi truyện về một nhân vật ở Việt Nam sẽ có 2,37 motif xuất hiện

và 3,88 motif trong truyện dân gian Lào Có hiện tượng này là do số lượng truyện về kiểu nhân vật thông minh ở Lào ít hơn ở Việt Nam Kết quả này có thể chưa phản ánh hết thực trạng phân bổ motif gậy ông đập lưng ông bởi tình hình sưu tập văn học dân gian của Lào đang còn nhiều bất cập, chính vì thế các nhà nghiên cứu rất khõ tiếp cận với văn bản ghi chép về các truyện cổ Sự thể hiện motif gậy ông đập lưng ông trong các chuỗi truyện cụ thể có sự khác nhau rõ rệt

Trong số 20 chuỗi truyện về 20 nhân vật thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Lào và Việt Nam, thì ở Lào chỉ có 5 chuỗi truyện Tuy nhiên

chuỗi truyện Xiêng Miệng ở Lào lại đứng đầu về tần suất sử dụng motif gậy

ông đập lưng ông với tỉ lệ: 0,57%( 21/37) Có nghĩa là, cứ khoảng 2 câu

chuyện trong chuỗi truyện về Xiêng Miệng là lại có hơn 1 lần motif này xuất hiện Tuy nhiên đây cũng chỉ là tỉ lệ trung bình so với tỉ lệ của các motif khác

Trang 29

trong kiểu truyện về nhân vật thông minh, láu lỉnh Các motif liên tiếp xuất

hiện trong hàng loạt các truyện về Xiêng Miệng: Tiểu Khăm ăn mía trí khôn,

Khóc Đại tăng thống, Bọ hung xuôi dòng, Pha Nha ăn phân khô, Xiêng Miệng đánh cung nữ, Mộ người sứt môi về sửa nhà, Xiêng Nhan ngửi rắm, Vào chầu Pha Nha trước gà, Xiêng Miệng đi nhặt ớt, Mẹ trí khôn của Xiêng Miệng, Pha Nha không muốn nhìn mặt Xiêng Miệng, Vào chầu Pha Nha cả nhà…(Tên các

truyện ngắn được dịch từ bản kể kí hiệu LD) Tổng cộng có 21 lần trong số 37

mẩu truyện (không tính các bản kể trùng lặp) motif gậy ông đập lưng ông được Xiêng Miệng sử dụng Cách thức hành động của Xiêng Miệng là dựa vào sơ hở trong câu nói của đối phương để tìm ra cách trả đũa, khiến đối phương biết bị chơi xỏ nhưng đành ngậm bồ hòn làm ngọt Ví dụ khi ra lệnh

cho Xiêng Miệng phải vào chầu trước gà( nghĩa là phải vào chầu Pha Nha

sớm, trước cả khi gà gáy sáng), Xiêng Miệng đã chọn cách đối phó: vào chầu thật muộn và buộc con gà bằng một sợi dây và kéo nó theo sau mình Câu chuyện đối đáp của nhân vật thông minh quá đỗi hợp lý và logic, khiến Pha

Nha không thể có cớ để phạt tội Xiêng Miệng Hoặc trong truyện Xiêng Nhan

ngửi rắm, vì muốn xem trí tuệ của Xiêng Miệng tài giỏi đến đâu, Xiêng Nhan

nghĩ ra cách xì rắm của mình vào trong ống, định lừa để Xiêng Miệng ngửi rắm của mình Cuối cùng, chỉ bằng một lí luận đơn giản: sợ Xiêng Nhan đi đường xa rắm đã mất mùi, và khuyên Xiêng Nhan ngửi thử xem còn mùi không, thế là vô tình Xiêng Nhan lại phải ngửi rắm của chính mình Thật là

vố đau nhớ đời cho đối phương khi muốn chơi khăm Xiêng Miệng Ngoài Xiêng Miệng, trong truyện dân gian Lào còn có nhân vật là các chú Tiểu cũng thường xuyên có cách thức hành động lấy Gậy ông đập lưng ông để trả đũa

đối phương Như trong truyện: Sư mắc bệnh kín Sau khi bị nhà sư già đối xử:

“cầm ngay quả mít đập vào cái đầu trọc của chú Tiểu và nói: Đây, bận sau phải học cách dâng lễ vật nghe chưa?” (Tr 60, Bản kể kí hiệu LU) Đến lần

Trang 30

kế tiếp, khi được dân bản biếu mít chú Tiểu đã làm đúng như vậy, kết quả là nhà sư xấu bụng đã bị chảy máu đầu vì quả mít đang còn xanh Một kiểu nhân vật thông minh, láu lỉnh và có phần ranh mãnh không kém là nhân vật con Rể Trong quá trình khảo sát chúng tôi mới chỉ thu thập được 2 truyện dài về nhân vật con Rể Trong truyện, để đối phó với ông bố vợ khôn ngoan, 4 lần nhân vật sử dụng cách thức hành động Gậy ông đập lưng ông (Tr 97, bản kể kí hiệu LF và tr 454, bản kể kí hiệu LV) Nhân vật Con Rể trong truyện dân gian Lào có nhiều điểm tương đồng với nhân vật Chàng Rể thông minh trong truyện dân gian dân tộc Thái- Việt Nam, đều là những chàng Rể thông minh, láu cá, có sự linh hoạt trong ứng xử và đối đáp với bố vợ

Motif gậy ông đập lưng ông trong kiểu truyện nhân vật thông minh, láu lỉnh của Việt Nam xuất hiện trong 15 chuỗi truyện nhiều gấp 3 lần so với ở Lào(5 chuỗi truyện) Hai chuỗi truyện về Trạng Quỳnh với 10 lần xuất hiện motif và chuỗi truyện về Thủ Thiệm có 8 lần xuất hiện motif, chiếm tần suất

xuất hiện motif nhiều nhất Trong truyện Cây nhà lá vườn dâng Chúa (Tr

475, bản kể kí hiệu VH), Trạng Quỳnh đã thể hiện trí tuệ đáo để, láu lỉnh của mình khi cả gan dâng chúa những củ cải vừa to vừa ngon và cũng không giấu diếm cải do được bón bằng phân của lính đến bậy ra nhà Trạng nên mới tốt như thế Như thế nghĩa là chính Chúa đã hại mình chứ chẳng phải ai nên đành câm nín nuốt hận mà không làm gì được Trạng Nhân vật Thủ Thiệm, trong

truyện Trừng phạt lý trưởng (Tr 908, bản kể kí hiệu VH ) lợi dụng lệnh của

lý trưởng ban ra là : “ có dịp, cứ bắt trói Thủ Thiệm lại và đánh cho nhừ tử đi,

và sau đó hạ hồi phân giải”, Thủ Thiệm đóng giả lý trưởng nhân tối trời hò hét cho dân làng xông vào đánh Thủ Thiệm( thực ra là lý trưởng đã bị bắt trói

và nhét giẻ vào miệng) sau đó lôi ra trói ở đình làng suốt đêm Hôm sau dân làng mới ngã ngũ thì mọi sự đã rồi, lý trưởng cũng chẳng còn hơi sức đâu mà phạt Thủ Thiệm nữa

Trang 31

Nhìn chung, motif gậy ông đập lưng ông trong truyện dân gian Lào có phần đặc sắc và hấp dẫn hơn Motif với các tình huống đa dạng, lối lập luận ngây ngô nhưng logic và dễ gây cười của nhân vật, tạo cho nhân vật thông minh, láu lỉnh như Xiêng Miệng một đặc điểm khó lẫn so với các nhân vật khác Nhân vật thông minh dùng chính những mệnh lệnh của bề trên dành cho mình để đáp trả Kết cục này mang lại sự căm hận, tức giận nhưng đành bất lực của đối phương Về lý, các nhân vật vẫn làm đúng, không hề trái lời Thế nên những chiến thắng với motif gậy ông đập lưng ông lại càng mang lại cho người đọc sự hả hê, vui mừng bởi sự khôn ngoan, sắc sảo của nhân vật

2.1.2 Motif lừa bịp

Motif lừa bịp là motif phổ biến nhất, thường xuyên nhất trong các

chuỗi truyện về nhân vật thông minh, láu lỉnh ở Việt Nam và Lào Kết quả khảo sát 25 tuyển tập truyện dân gian của hai nước cho thấy: có 21/28 chuỗi truyện có sử dụng motif này Motif lừa bịp góp phần khắc họa đậm nét tính cách láu lỉnh, ranh ma khó lường của các nhân vật thông minh Với motif lừa bịp này, ngoài những những nhân vật tiêu biểu đã lộ diện ở trên, một số nhân vật chưa ghi dấu ấn đậm nét ở motif gậy ông đập lưng ông đã bắt đầu thể hiện tính cách nghịch ngợm, lém lỉnh, láu cá như Ba Giai- Tú Xuất, Cuội ở Việt Nam và Chàng Pô ở Lào Cách thức hành động chung của các nhân vật thông

minh trong motif lừa bịp này là: dựng những tình huống như thật để đánh tráo sự thật- khiến đối phương sơ hở- bị lừa Có hai trường hợp xảy ra

trong những motif này: thứ nhất, đối phương thử tài lừa bịp của nhân vật thông minh và bị lừa lúc nào mà không hề biết Thứ hai, nhân vật thông

minh vì muốn phản kháng với đối phương nên cố tình lừa bịp Dù ở trường hợp nào thì nhân vật thông minh, láu lỉnh cũng đều có một cái cớ chính đáng để tiến hành hành động của mình Chính vì vậy, xét đến tận cùng,

hành động lừa bịp của các nhân vật thông minh, láu lỉnh được sự đồng tình

Trang 32

của trí tuệ dân gian Hay nói cách khác, nhờ vào motif lừa bịp là phương thức

để dân gian gỡ gạc lại sự công bằng, sự hả hê trước thất bại của những thế lực, những đối tượng cần phải lên án trong xã hội

Motif lừa bịp là motif xếp thứ nhất về tần suất sử dụng trong tổng số 14 motif khảo sát của kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh Có tới

143 lần motif này được sử dụng trong 415 truyện về kiểu nhân vật thông minh, láu lỉnh cả ở Lào và Việt Nam Trong đó, tần suất xuất hiện trong truyện dân gian Việt Nam là 101 lần gấp hơn 2 lần ở Lào: 42 lần Tuy nhiên nếu tính về tỉ lệ xuất hiện motif theo chuỗi nhân vật thì lại có kết quả ngược lại, ở Việt Nam là: 5,31%( 101/19), và ở Lào là: 4,66%( 42/9) Nghĩa là cứ một chuỗi truyện về một nhân vật thông minh, láu lỉnh ở Việt Nam sẽ có trung bình 5,31 lần motif xuất hiện và ở Lào sẽ là 4,66 lần Tỷ lệ này không chênh lệch nhiều thể hiện sự tương đồng về tần suất trong việc sử dụng motif lừa bịp trong truyện dân gian hai nước Tuy nhiên đi vào từng chuỗi truyện của mỗi nhân vật sẽ có sự phân hóa motif khác nhau

Trong truyện dân gian Việt Nam, motif này xuất hiện với tần suất rất cao Các đại diện tiêu biểu nhất là các chuỗi truyện về Ba Giai- Tú Xuất, Cuội, Thủ Thiệm, Ông Ó… Đứng đầu là chuỗi truyện về Cuội- dân tộc Mường với tỉ lệ 1,69% (22/13) motif xuất hiện Cứ 1 câu chuyện trong chuỗi truyện về Cuội thì có 1,69 lần motif lừa bịp xuất hiện Các mánh lừa xuất hiện với tần suất dày đặc suốt cả chuỗi truyện, tới mức trong dân gian Việt Nam người ta truyền nhau câu nói: “ nói dối như Cuội” Đối tượng bị Cuội lừa bịp không từ một ai, từ mẹ, cô, anh em, dân làng đến bọn nhà giàu, người nhà Lang…Nhưng phần lớn những mánh lừa gia đình, dân làng đều là trò nghịch ngợm của tuổi trẻ nông nổi Xét cho cùng thì đối tượng để lừa bịp mà tác giả dân gian hướng đến vẫn là tầng lớp thống trị: bọn nhà giàu, Lang Đỉnh điểm

Trang 33

của hành động lừa bịp là Cuội đã khiến cho Lang phải nhận lấy cái kết đau

đớn: chết chìm dưới đáy sông Để lừa được Lang, Cuội cũng đã dựng lên câu chuyện( dựng tình huống) về mường Pưa Tín giàu có, đồng ruộng bát ngát,

vàng bạc trâu bò không đếm xuể ở dưới đáy sông Máu tham nổi lên, đương

nhiên Lang sa vào bẫy lừa của Cuội ngay tức khắc Để củng cố niềm tin( nhằm xây dựng tình huống hợp lý) cho đối phương, Cuội cũng cùng Lang

đi xuống đáy sông, nhưng Cuội ngồi trong túi làm bằng giấy vì mình là kẻ hèn, người dưới còn Lang thì ngồi trong túi vải, bằng gấm vóc, vì Lang là người sang, kẻ bề trên Lý luận hợp lý quá, mánh lừa của Cuội quả là hoàn hảo nhờ vào tình huống mà nhân vật dựng lên nhằm che giấu sự lừa bịp Ba Giai và Tú Xuất cũng nổi tiếng về sự lừa lọc chuyên nghiệp khiến phố phường, dân tình và hàng quan lại ở xứ Bắc Kì bạt vía mỗi khi nhắc tới Nhìn chung, motif lừa bịp trong truyện dân gian Việt Nam thuộc về trường hợp thứ

hai theo sự phân loại ở trên: nhân vật thông minh vì muốn phản kháng với

đối phương nên cố tình lừa bịp

Trong truyện dân gian Lào, có vẻ các nhân vật không sử dụng mẹo lừa

bịp theo trường hợp thứ hai mà thuộc về trường hợp thứ nhất: đối phương thử tài lừa bịp của nhân vật thông minh và bị lừa lúc nào mà không hề

biết Xiêng Miệng không ít lần lừa bịp trong tình huống là do đối phương

khởi xướng trước Trong truyện: Lừa Pha Nha xuống ao, Mẹ trí khôn của

Xiêng Miệng, Bọ hung xuôi dòng, Xiêng Nhan ngửi rắm…đều do đối phương

chủ định muốn thử trí khôn của Xiêng Miệng, nhưng rốt cuộc lại bị Xiêng Miêng lừa lại thật đau lúc nào không biết Xiêng Miệng sẽ đánh lạc hướng

khiến đối phương chú ý vào một tình huống nào đó, và vô tình đối phương

sẽ bị sơ hở và mắc lừa Pha Nha thách Xiêng Miệng lừa xuống ao, nhưng

Xiêng miệng lập luận rằng: giờ ngài đang ngồi trên bờ mà lừa xuống ao thì

khó quá( cái bẫy của Xiêng Miệng), nếu ở dưới ao rồi mà lừa lên bờ thì dễ

Trang 34

hơn( tình huống giả định rất hợp lý) Ngay lập tức Pha Nha xuống ao(đối phương mắc bẫy) để cho Xiêng Miệng lừa Mẹo lừa của Xiêng Miệng rất

đơn giản mà hoàn hảo không ngờ

Motif lừa bịp trong kiểu truyện nhân vật người thông minh, láu lỉnh ở Lào và Việt Nam có hai vai trò chính: vừa là một yếu tố khắc họa tính cách láu lỉnh, ranh ma của nhân vật vừa là một thủ pháp gây cười của tác phẩm Nếu không có những mẹo lừa thông minh, dí dỏm của nhân vật thì có lẽ sức hấp dẫn của kiểu truyện này cũng giảm đi phần nào Theo lẽ thường, có nhiều mục đích khi đi lừa bịp Phần lớn đối tượng đi lừa bịp sẽ có lợi ích từ việc lừa người khác Tuy nhiên đối với các nhân vật thông minh trong kiểu truyện này, cái lợi và cái hại của việc lừa bịp cũng chỉ một chín một mười Bởi đa phần đối tượng bị lừa đều là những đối tượng mà nhân vật thông minh căm ghét nên việc lừa bịp như một cách phản kháng ngầm để đấu tranh lại với các thế lực lớn Người được lợi trong những cuộc lừa bịp này phần nhiều là những người nông dân, thấp cổ bé họng trong xã hội Tuy nhiên cũng có những nhân vật có mánh lừa khá hiểm, thường là những trò nghịch dại của nhân vật thông minh khi còn bé như Cuội, Xiêng Miệng, chàng Pô Nhưng sau một thời gian, nhân vật thông minh dần ý thức được: “ bây giờ anh biết suy nghĩ hơn, nếu có nói dối thì với quan tham, bọn buôn gian bán lận…chứ không nói dối người lương thiện…” (tr.72, bản kể kí hiệu VO)

2.1.3 Motif chơi chữ

Chơi chữ là “Lợi dụng các hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v trong

ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định( như bóng gió, châm biếm, hài hước…) trong lời nói”[ 35, Tr.217] Đây là hình thức sử dụng ngôn ngữ một cách tài tình linh hoạt Người sử dụng ngôn ngữ phải là người có vốn ngôn ngữ phong phú và làm chủ được ngôn ngữ Khai thác sự đa dạng của ngôn

Trang 35

ngữ là đặc tính của dân gian và nó đều xuất hiện trong truyện ở cả Lào và Việt Nam Motif chơi chữ của kiểu truyện về nhân vật người thông minh, láu

lỉnh ở hai nước sử dụng những cách thức chính: nói lái hoặc lợi dụng hiện tượng đồng âm khác nghĩa Motif này thể hiện sự sắc sảo, thông minh và

khả năng sử dụng ngôn ngữ linh hoạt của các nhân vật thông minh Motif chỉ xuất hiện ở 6 chuỗi truyện của 6 nhân vật thông minh, láu lỉnh trong truyện dân gian Lào và Việt Nam nhưng có vai trò không nhỏ khắc họa tính cách lém lỉnh, trí tuệ sâu sắc của các nhân vật

Cách thức lợi dụng sự đồng âm khác nghĩa là biến báo từ sự việc nọ

sang sự việc kia theo hướng có lợi cho mình Ở Việt Nam ngôn ngữ dân tộc rất phong phú, vì thế sử dụng từ đồng âm là một chiêu mà các nhân vật thông minh Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Nguyễn Kinh, Ông Tuyn, Thủ Thiệm thường xuyên dùng để thách thức đối tượng khác với tổng cộng 42 lượt sử dụng trong

5 chuỗi truyện Tiếng Việt có rất nhiều từ đồng âm khác nghĩa Sự mập mờ,

dễ bị đảo lộn từ nghĩa này sang nghĩa khác trở thành lãnh địa để các nhân vật thể hiện sự thông minh tài tình của mình Xiển Bột là nhân vật tiêu biểu cho cách thức sử dụng motif này Với 17 lượt sử dụng motif này chiếm 40,4%(17/42) số lượt xuất hiện motif trong toàn bộ hệ thống kiểu truyện nhân vật thông minh ở Việt Nam và Lào Điểm đặc sắc của lối chơi chữ của Xiển Bột là cố tình tạo ra những hoàn cảnh xuất hiện hiện tượng chữ đồng âm để chửi bọn quan lại, án sát, hay để mỉa mai những thói xấu của người đời

Trong truyện: Quan đấy! , khi thấy vợ chồng quan tri huyện Hoằng Hóa đi

chợ, Xiển liền giả vờ ôm chó đi bán, cố ý đứng gần chỗ Quan đang mua hàng, khách hỏi giá chó thì Xiển trả lời: “Quan đấy! Quan đấy” (Tr 751, bản kể kí hiệu VH) ( từ quan vừa có nghĩa là quan tiền- một đơn vị tiền tệ của Việt Nam thời xưa, vừa có ý chỉ ông Quan) Thật là một cách chửi khéo léo, thâm thúy nhưng không kém phần cay nghiệt Những lần khác, có lần thì Xiển Bột dùng

Trang 36

quả tiêu( quả ớt) để chửi án Tiêu, lúc dùng chữ tiền để chửi quan huyện Tiền,

có lúc thì dùng chữ khiếu( cái mũi ) để chửi quan phủ Khiếu…Hay có một

bữa nọ, khi con lão nhà giàu thích con cò của Xiển, Xiển đòi năm quan vì con

cò này biết nói Để chứng minh, Xiển hỏi cò: “ cò ơi, mi có biết nói không? Sau đó Xiển bóp mạnh vào cổ cò một cái thật mạnh, con cò kêu lên một tiếng: Có”( Tr 760, bản kể kí hiệu VH) Thế là lão nhà giàu đánh chịu mất tiền cho Xiển Bột Trạng Quỳnh cũng lợi dụng sự đồng âm của từ ngữ để chửi nhà vua, chơi khăm bà chúa Liễu, lỡm quan Thị, mỉa mai công đức của nhà chúa hoặc khiến cho bọn phú hào háo danh “ông nọ, bà kia”, trở thành trò cười trước mặt làng xóm mà không một ai dám oán trách… Tất cả giới chức quan lại, vua chúa, thần linh trở thành trò cười dưới bàn tay xoay trở ngôn ngữ tài tình của nhân vật thông minh Hoặc có lúc, những nhân vật thông minh như

Trạng Quỳnh, Xiển Bột, Thủ Thiệm… sử dụng cách nói lái để chơi xỏ đối phương Nói lái là cách thay đổi trật tự của từ ngữ nhằm mục đích vừa ám chỉ

vừa lộ liễu vỗ thẳng vào mặt đối phương khiến đối phương nhiều khi lâm vào

cảnh “ ngậm bồ hòn khen ngọt” Trong hàng loạt mẩu truyện: Làm thơ tặng

bạn học, Tấm biển mừng đám cưới, Thái quá… thì phải chấp?, Thủ Thiệm đóng hề, Câu đố của Thủ Thiệm, Góp nửa tiền xây đình làng, Đợi một tí, Nhứt thiện, Biết ý quan, Hạ “cờ tây” chỗ sạch sạch,… Thủ Thiệm tỏ rõ là

một người sắc sảo, lém lỉnh khi sử dụng ngôn ngữ dân gian địa phương Ví

như trong truyện Làm thơ tặng bạn học, để mỉa mai con trai nhà người bạn

học dốt, đi thi bị trượt nhưng được cha mua cho chức cửu phẩm văn giai, Thủ

Thiệm tặng gia đình hai câu thơ: Cha ở nhà đại du, Con đi thi đậu tru- đậu tru nói lái thành trụ đâu – một cách vạch mặt bản chất của anh con trai Với Thủ

Thiệm, nói lái và chơi chữ pha chút màu sắc tục là một phương thức hiệu nghiệm để chửi khéo kẻ khác

Trang 37

Trong truyện dân gian Lào tuy motif này không được sử dụng nhiều,

duy nhất chỉ có truyện Xiêng Miệng, nhưng cũng để lại ấn tượng khá sâu sắc

nhờ những lần chơi chữ tài tình của nhân vật Trong suốt chuỗi truyện, thống

kê cho thấy chỉ có 7 lần Xiêng Miệng sử dụng motif chơi chữ nhưng trên thực

tế, qua đánh giá của người Lào thì đây là 6 câu truyện được nhiều người yêu

thích và nhớ đến nhiều nhất: tiểu Khăm ăn mía trí khôn, Được tên Xiêng

Miệng, Mộ người sứt môi về sửa nhà, Pha Nha sẽ chết trong 7 ngày, Xiêng Miệng đi nhặt ớt, Pha Nha cho tìm váy có chân được vẽ Người ta thường

truyền nhau những cách chơi chữ, lợi dụng sự đồng âm từ ngữ của Xiêng Miệng để minh họa cho trí tuệ dân gian tài tình, linh hoạt Bởi sự cố tình hiểu nghĩa của từ theo hướng trêu chọc đối phương khiến cho sự đáp trả của Xiêng Miệng rất sắc sảo mà đối phương khó lòng trừng phạt được Khi Pha Nha bảo

tìm “ປາກແວ່ງ” (cái chạc cây) để về sửa nhà thì Xiêng Miệng cố tình hiểu theo nghĩa thứ hai của từ này là những người sứt môi(Tr.52, bản kể kí hiệu LD) Hoặc có lúc Pha Nha sai Xiêng Miệng đi ເກ ັບໝາກເຜັດ(đi hái quả ớt) (

Tr 120, bản kể kí hiệu LD) nhưng Xiêng Miệng cố tình hiểu theo nghĩa thứ

hai của từ: đi nhặt ớt, khiến cho Pha Nha đợi cả buổi cũng không có ớt để ăn

cơm, Xiêng Miệng lý luận: đợi cả buổi nhưng không có quả ớt nào rụng để

nhặt Câu truyện yêu thích nhất khi người ta đọc Xiêng Miệng và thường xuất

hiện trong tất cả các bản kể về Xiêng Miệng chính là truyện Được tên Xiêng

Miệng Trong đó, Xiêng Miệng đã dùng kế lợi dụng sự đồng âm để lừa bịp

những người lái buôn “Miệng”( ở việt Nam gọi là chè) và thu về rất nhiều

chiến lợi phẩm Nhờ việc thách đố ຂ້າມ( Tiếng Lào có nhiều nghĩa vừa là

sang vừa là vượt qua), đám lái buôn có người bơi qua, có người lại lặn để qua

sông Nhưng nhân vật thông minh cãi là phải vượt qua- nghĩa là phải bay qua

Trang 38

mặt sông Tiếp tục sử dụng mánh lừa lợi dụng sự đồng âm, Xiêng Miệng lại đòi phần phạt cao sau khi thắng cuộc đám người buôn, Pha Nha phân xử Xiêng Miệng được lấy ສີ່ຊາຫ້າບາດ( 4 đến 5 đồng bạt- nghĩa là rất ít) (Tr 22

bản kể kí hiệu LD) nhưng Xiêng Miệng lại cố tình luận mệnh lệnh của Pha

Nha là: 4 giỏ 5 âu chè- nghĩa là hết luôn cả đống hàng của đám người buôn)

Những mánh lới của Xiêng Miệng không chỉ là là sự chơi khăm mà còn là yếu tố gây cười cho truyện Câu chuyện này thú vị tới mức có một bản kể tương tự ở Thái Lan và nhiều motif gần giống như thế ra đời Điều này chứng

tỏ sức hấp dẫn của câu chuyện gắn liền với motif chơi chữ- lợi dụng sự đồng

âm trong ngôn ngữ dân tộc của nhân vật thông minh, lém lỉnh ở Lào Cũng từ câu chuyện này, chú tiểu Khăm được người đời gọi là Xiêng Miệng sau khi bị bắt phải hoàn tục do phạm vào giới luật của nhà Phật

Nhìn chung, với những motif chơi chữ như trên, nhân vật tỏ ra khôn

ngoan, lém lỉnh và cực kỳ thông minh Sự vận dụng tài tình ngôn ngữ dân tộc

để tạo thành vũ khí sắc bén cho bản thân đã chứng tỏ điều ấy Những chiến thắng của các nhân vật thông minh trong những trường hợp này thể hiện sự thâm thúy, sâu sắc và sự đa dạng trong ngôn ngữ của hai nước Lào và Việt Nam

2.1.4 Motif dùng sự việc phi lý để cãi lý

Motif dùng sự việc phi lý để cãi lý là cách để nhân vật giải quyết

những vấn đề hóc búa, hoặc là thử thách của đối phương đặt ra Motif này có tần suất xuất hiện ít nhất trong số 14 motif được khảo sát Chỉ có 7 lần trong tổng số 415 câu chuyện có sử dụng motif này Ở Lào là chuỗi truyện về Xiêng Miệng, về chàng mồ côi thông minh và con rể thông minh Ở Việt Nam là các

chuỗi truyện: Trạng Quỳnh, Em bé thông minh( 2 lượt xuất hiện) và con dâu thông minh Dựa vào sự thể hiện các motif, có thể chia làm hai nhóm: nhóm

Trang 39

một, truyện về Xiêng Miệng, Trạng Quỳnh, Con dâu thông minh và em bé

thông minh; nhóm hai, chàng mồ côi thông minh và con rể thông minh Công

thức chung của motif này là: nhân vật thông minh bị đưa vào tình huống ngược đời, phi lý- nhân vật xử lý tình huống bằng cách tạo ra một tình huống phi lý khác tương tự để chứng minh sự phi lý của tình huống thử thách- vấn đề được giải quyết Tuy các motif này xuất hiện với số lượng rất

ít nhưng những cốt truyện xuất hiện motif này đều rất đặc sắc, logic và gây

được ấn tượng cho người đọc

Ở nhóm một, cấp độ motif đã được nâng lên thành type truyện nhỏ:

Giới đực không biết chửa Nghĩa là cốt truyện, kết cấu, cách thức giải quyết

vấn đề của nhân vật trong các truyện có sự trùng khớp khá cao đến mức có thể xem đây là các dị bản của một type truyện nhỏ Type truyện này có trong

các truyện: Bố con chửa ạ (Tr 528, bản kể kí hiệu VJ), Em bé thông minh(Tr

204, bản kể kí hiệu VA), Dê đực chửa(Tr 204, bản kể kí hiệu VH), Thi đẻ

trứng(Tr 57, bản kể kí hiệu LD) Cốt truyện chung của type truyện này là:

nhân vật thông minh bị đưa vào một hoàn cảnh thử thách rất hóc búa: nhận một con vật thuộc giống đực và bắt buộc phải làm cho nó chửa hoặc sinh con

Nhân vật thông minh đã sử dụng lý luận giới đực( như: bố, gà trống, trâu đực) không biết chửa, đẻ để khiến cho đối phương vô tình thừa nhận sự phi

lý trong mệnh lệnh của mình Nhờ đó các nhân vật: Trạng Quỳnh, Xiêng

Miệng, con dâu thông minh trong truyện dân tộc Thái ở Việt Nam, em bé

thông minh vượt qua thử thách một cách dễ dàng Trong truyện Thi đẻ trứng,

tình huống của Xiêng Miệng là bị Pha Nha trả thù bằng cách đặt nhân vật thông minh vào tình thế khó xử: bắt nhảy xuống sông và thi làm gà đẻ trứng, nếu không có trứng dâng lên sẽ bị phạt Các cung nữ cùng chơi đều được người đứng đầu báo trước nên đã âm thầm chuẩn bị một quả trứng Riêng Xiêng Miệng bị dồn vào thế bí, tưởng chừng khó thoát tội được Nhưng

Trang 40

Xiêng Miệng nhanh trí đóng giả thành gà trống và cãi rằng: “Thần không thể

dâng trứng cho Pha Nha được vì thần là gà trống có nhiệm vụ đạp mái để gà mái có trứng, nếu không có gà trống thì gà mái cũng sẽ không có trứng”

(Dịch từ Tr.58, bản kể kí hiệu LD) Đó là sự thật mà Pha Nha không thể chối cãi được, và nhờ đó Xiêng Miệng thông minh lại tiếp tục chiến thắng trước

âm mưu trả thù của Pha Nha

Ở nhóm thứ hai, motif được triển khai theo công thức phi lý đối lại phi

lý Ví dụ như tình huống của chàng rể thông minh trong truyện dân gian Lào, sau khi bị bố vợ giao kèo: “ sẽ cho các con nên vợ nên chồng nhưng nội trong ngày mai phải đẻ con cho bố bồng”( Tr.454, bản kể kí hiệu LV) Chàng rể đã đưa cho bố vợ một cây chuối con và nói “ bố đưa đi trồng để ngày mai có chuối ra buồng và chín kịp cho cháu ăn, không có chuối cho nó ăn thì nó

không chui ra”( Tr 455, bản kể kí hiệu LV) Nhân vật tạo ra tình huống phi

lý để chỉ ra sự phi lý của tình huống thử thách Đương nhiên là bố vợ đành

chịu thua trước lí lẽ của chàng rể

2.1.5 Motif bỡn cợt, chơi khăm đối phương

Bỡn cợt, chơi khăm trong từ điển tiếng Việt là “Trêu để đùa vui”[35, tr.109] và “ Bày tỏ ác ngầm để làm hại người khác”[35, tr.217 ] Đây là motif khá phổ biến, thường thấy trong các chuỗi truyện về nhân vật thông minh, láu lỉnh ở Việt Nam và Lào Motif này có tần suất xuất hiện nhiều thứ ba sau motif lừa bịp, với 128 lượt xuất hiện trong 14/28 chuỗi truyện Trong đó, motif này xuất hiện trong các chuỗi truyện ở Việt Nam với 118 lượt, còn ở Lào chỉ có 10 lượt (riêng chuỗi truyện nhân vật Xiêng Miệng có 9 lượt)

Motif bỡn cợt, chơi khăm ở Việt Nam đa số tập trung ở các chuỗi

truyện của các nhân vật người Kinh Còn nhóm các nhân vật người dân tộc thiểu số không sử dụng nhiều motif này Motif bỡn cợt, chơi khăm đối

Ngày đăng: 07/11/2018, 10:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w