NỘI DUNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 quy định “ Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”. Từ đó ta có thể định nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau : trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân mà trước đó giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại không có giao kết hợp đồng hoặc giữa họ có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng . Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm: Có thiệt hại xảy ra : Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân và tổ chức. Thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu không có thiệt hại xảy ra thì không phải bồi thường . Thiệt hại ở đây bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là thiệt hại về tài sản, các chi phí cứu chữa, phục hồi, chăm sóc, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, các chi phí phát sinh để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất do danh dự nhân phẩm bị xâm hại. Còn tổn thất về tinh thần là khoản bù đắp về tinh thần do quá đau buồn, mất mát, bi thương, góa bụa, mồ côi,…. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật : Hành vi trái pháp luật là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật. Cụ thể ở đây đó là hành vi xâm phạm tới tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và đa phần được thể hiện dưới dạng hành động. Tuy nhiên không phải mọi hành vi xâm phạm đều là trái pháp luật, nếu các hành vi xâm phạm nói trên được thực hiện theo quy định của pháp luật thì không bị coi là trái pháp luật. Chẳng hạn như gây thiệt hại trong trường hợp phòng về chính đáng, tình thế cấp thiết,… Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với hành vi trái pháp luật : nghĩa là hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại, hành vi trái pháp luật xảy ra trước, thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Chỉ người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại mới phải bồi thường, còn hành vi của một người được xác định chỉ là điều kiện thì không có mối quan hệ bồi thường với người đó. Lỗi : Khi một người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để lựa chọn xử sự phù hợp với pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì bị coi là có lỗi. Lỗi bao gồm 2 dạng là lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong thực tế của chúng ta, khi xảy ra tai nạn gây ra thiệt hại cho người khác ta thường nghĩ ta chỉ phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong trường hợp mình có lỗi Tuy nhiên, theo quy định của Luật và thực tế cuộc sống, có một số trường hợp ta vẫn phải bồi thường trong khi cả hai bên đều không có lỗi Lỗi là một trong các căn
cứ để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hay nói cách khác ta
có lỗi thì ta mới phải bồi thường Vậy những trường hợp như đã nói ở trên liệu có đi ngược lại với quy định chung của Luật, liệu không có lỗi nhưng vẫn phải bồi thường cho người khác có phải là một điều thiệt thòi hay không? Em xin làm rõ vấn đề này
qua sự nghiên cứu và phân tích đề bài số 15 : “Phân tích các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Xây dựng một tình huống tranh chấp có liên quan và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân”
NỘI DUNG
I - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 quy định “ Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.” Từ đó ta có thể định nghĩa trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng như sau : trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân mà trước đó giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại không có giao kết hợp đồng hoặc giữa họ có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng [ 1 ]
1 “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản,tính mạng vàsức khỏe”, TS Phùng Trung Tập
Trang 2Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm:
Có thiệt hại xảy ra : Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do
việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân và tổ chức Thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nếu không có thiệt hại xảy ra thì không phải bồi thường Thiệt hại ở đây bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về vật chất là thiệt hại về tài sản, các chi phí cứu chữa, phục hồi, chăm sóc, thu nhập thực tế bị mất,
bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, các chi phí phát sinh để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất do danh dự nhân phẩm bị xâm hại Còn tổn thất về tinh thần là khoản bù đắp về tinh thần do quá đau buồn, mất mát, bi thương, góa bụa, mồ côi,…
Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật : Hành vi trái pháp luật là hành vi
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật Cụ thể ở đây
đó là hành vi xâm phạm tới tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và đa phần được thể hiện dưới dạng hành động Tuy nhiên không phải mọi hành vi xâm phạm đều là trái pháp luật, nếu các hành vi xâm phạm nói trên được thực hiện theo quy định của pháp luật thì không bị coi là trái pháp luật Chẳng hạn như gây thiệt hại trong trường hợp phòng về chính đáng, tình thế cấp thiết,…
Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với hành vi trái pháp luật :
nghĩa là hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại, hành vi trái pháp luật xảy ra trước, thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi trái pháp luật Chỉ người
có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại mới phải bồi thường, còn hành vi của một người được xác định chỉ là điều kiện thì không có mối quan hệ bồi thường với người đó
Trang 3Lỗi : Khi một người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để lựa chọn
xử sự phù hợp với pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì bị coi là có lỗi Lỗi bao gồm 2 dạng là lỗi cố ý và lỗi vô ý
2 Nguồn nguy hiểm cao độ.
Điều 601 BLDS 2015 quy định “ Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động,
vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.”
Điều 601 đã liệt kê cho ta một loạt các loại nguồn nguy hiểm cao độ tuy nhiên khái niệm cụ thể về từng loại nguồn nguy hiểm cao độ lại được quy định trong các loại văn bản khác nhau Cụ thể :
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới : Hiện nay chưa có một văn bản pháp
luật nào chính thức đưa ra khái niệm về phương tiện giao thông vận tải cơ giới Theo Khoản 18 Điều 3 Luật giao thông đường bộ 2008 thì “ phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự ” Như vậy, ngoài phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường bộ còn có phương tiện giao thông vận tải cơ giới đường sắt, đường biển, đường hàng không,….Cụ thể các phương tiện giao thông đường thông đường thủy như tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác ( Khoản 7 Điều 3 Luật giao thông đường thủy nội địa năm 2004) Các phương tiện giao thông đường hàng không bao gồm máy bay, trực thăng, tàu lượn, khí cầu và các thiết bị bay khác ( Khoản 1 Điều 13 Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006) Các phương tiện giao thông đường sắt là đầu máy, toa xe, toa xe động lực, phương tiện chuyên dùng di chuyển trên đường sắt ( Khoản 20 Điều 3 Luật đường sắt 2005)…
Trang 4Hệ thống tải điện : được hiểu là dây truyền dẫn điện, mô tơ, máy phát điện Nhà
máy công nghiệp như công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ Cũng giống như phương tiện vận tải cơ giới chúng chỉ được xem là nguồn nguy hiểm cao độ nếu đang trong trạng thái hoạt động
Vũ khí : là những phương tiện được sử dụng với mục đích sát thương nhanh bao
gồm vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn, công cụ hỗ trợ, [2]
Chất cháy, chất nổ : là các chất rắn, lỏng, khí…dễ xảy ra cháy nổ.[3] Chất cháy
có khả năng tự bốc cháy cao khi tiếp xúc với oxy Chất nổ có khả năng gây nổ mạnh, nhanh tỏa nhiệt và phát sáng
Chất độc: là những chất có độc tính cao, rất nguy hiểm cho tính mạng sức khỏe
con người, động vật và môi trường xung quanh Ví dụ Acônitin,…
Chất phóng xạ : là chất ở thể rắn, lỏng hoặc khí, có hoạt động phóng xạ riêng lớn
hơn 70 kbo/kg [4] Chất phóng xạ có tính sát thương rất lớn, có khả năng phát ra những tia phóng xạ không nhìn thấy và gây bệnh hoặc gây nhiễm xạ với con người, động vật và môi trường sống
Thú dữ : là động vật bậc cao, có lông mao, có tuyến vú, nuôi con bằng sữa,….Ví
dụ như gấu, báo, hổ, sư tử,…
Nguồn nguy hiểm cao độ khác : là được xem như là một quy định mở của pháp
luật Pháp luật quy định như vậy nhằm dự liệu trước nhiều nguồn nguy hiểm chưa được phát hiện nhưng gây ra thiệt hại và cần phải bồi thường thiệt hại cho người bị thịêt hại
Như vậy, nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ là những loại đã được liệt kê ở Điều
601 BLDS 2015 mà còn bao gồm cả những loại khác cũng chứa đựng khả năng gây
4 Pháp lệnh về an toàn và kiểm soát bức xạ năm 1996.
Trang 5thiệt hại như nguồn nguy hiểm cao độ Vì vậy để xác định một vật là nguồn nguy hiểm cao độ thì cần phải căn cứ vào các điều kiện sau :
Vật phải đang hiện hữu và phải đang hoạt động vận hành, sản xuất,…
Phải luôn chứa đựng khả năng gây thiệt hại cho con người và môi trường xung quanh rất lớn
Con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt hại
3 Trách nhiệm bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một
trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là trách nhiệm của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trong việc nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần, phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại nhằm khôi phục tình trạng tài sản, bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại.[5] Thiệt hại liên quan đến các nguồn nguy hiểm rất
đa dạng và do nhiều nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên chỉ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra khi thỏa mãn được các điều kiện sau:
Thứ nhất : vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải đang trong tình trạng
vận hành hoạt động, chẳng hạn như phương tiện giao thông vận tải cơ giới đang tham gia trên đường, chập hệ thống dây tải điện đang hoạt động,…Trường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ đang ở trạng thái “tĩnh” – không hoạt động thì không thể coi
là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được
Thứ hai : thiệt hại phải do chính sự tác động của bản thân nguồn nguy hiểm cao
độ hoặc do hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm gây ra Thiệt hại này nằm ngoài sự kiểm soát, chế ngự của con người, không có sự tác động bởi hành vi của con người
Trang 6và do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại Ví dụ xe ô tô đang đi trên đường thi bị nổ lốp và đâm vào chiếc xe đạp đi bên cạnh, nó khác với trường hợp ô tô đang
đi trên đường vì tránh khúc gỗ ở trước mặt mà đâm vào xe đạp đang đi bên cạnh, đây
là thiệt hại do hành vi của con người gây ra chứ không thể là xác định là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Căn cứ vào Điều 601 BLDS 2015 thì khi nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường được xác định như sau :
Chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường khi gây thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng
Nguồn nguy hiểm cao độ đang bị chiếm hữu trái pháp luật gây thiệt hại thì người người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường
Nguồn nguy hiểm cao độ đang bị chiếm hữu trái pháp luật gây ra thiệt hại mà chủ sở hữu có lỗi trong việc để người khác chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ thì chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ và người đang chiếm hữu , sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải liên đới bồi thường thiệt hại
Nguồn nguy hiểm cao độ đang bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây ra thiệt hại mà người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao
độ đó có lỗi trong việc để cho nguồn nguy hiểm cao độ bị người khác chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đó và người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải liên đới bồi thường thiệt hại
Trong thực tế, khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thường có sự nhầm lẫn giữa trách nhiệm dân sự do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với trách nhiệm dân
sự cho hành vi trái pháp luật gây ra Do đó thường dẫn đến việc xác định trách nhiệm không đúng của các chủ thể phải bồi thường
Trang 7Theo quy định tại khoản 3 Điều 601 thì căn cứ để loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là: “ Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
II - CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do đó căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cũng áp dụng như căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi và có nhiều quan điểm khác nhau.Vậy để hiểu rõ hơn về các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra em xin đi vào phân tích cụ thể từng căn cứ một như sau
1 Có thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Thiệt hại ở đây được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất của một người được xác định được trên thực tế và những thiệt hại gián tiếp chắc chắn sẽ xảy ra Thiệt hại có thể là trực tiếp cũng có thể là gián tiếp Thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại đã phát sinh trên thực tế và có thể được xác định bằng tiền Ví dụ như giá trị của tài sản bị mất mát, hư hỏng… Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại chưa xảy ra trên thực tế nhưng chắc chắn sẽ xảy ra trên cơ sở khoa học Ví dụ như sự sụt giảm giá trị của tài sản, suy giảm hoặc mất những lợi ích khi sử dụng, khai thác từ tài sản,…
Trang 8Nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây thiệt hại cho bất kỳ ai bao gồm cả chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, vận hành, người không liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ….Tuy nhiên trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ chỉ được đặt ra khi nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho “những người xung quanh” – là những người không có quan hệ lao động hoặc quan hệ sở hữu hoặc liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ Ví dụ như xe tải của anh A đang đi trên đường vì mất phanh lên lao xuống dốc với tốc độ nhanh và đâm vào ô tô của anh B gây thiệt hại thì khi đó anh A sẽ phải bồi thường thiệt hại cho anh B do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra mà anh A là chủ sở hữu Còn nếu là chủ sở hữu của tài sản thì họ phải tự chịu mọi rủi ro do tài sản của mình gây ra Ví dụ ông A là chủ sở hữu của chiếc ô tô, anh B là lái xe riêng của ông A, khi đang trên đường chở ông A đi làm thì xe bị nổ lốp trước
và mất lái nên đâm vào cháu C đang đi xe đạp bên đường, cháu C bị gãy mất 1 chân
và 1 tay Nhưng cháu C lại là con ông A nên ông C cũng không được yêu cầu bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Hoặc với trường hợp người bị thiệt hại trong khi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo nghĩa vụ lao động thì sẽ được hưởng bồi thường theo chế độ bảo hiểm tai nạn lao động Anh Ba làm việc tại một nhà máy sản xuất đồ đông lạnh, công việc của anh là đi kiểm tra lại các thiết bị, máy móc dây chuyền sản xuất sau khi mọi người đã tan làm, trong một lần đi kiểm tra có múi điện bị hở nhưng anh Ba không biết nên vô tình chạm tay vào dây điện và
bị điện giật chết Như vậy trong trường hợp này cũng không thể xác định thiệt hại của anh Ba là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được
Nguồn nguy hiểm cao độ là những tài sản có khả năng gây thiệt hại trong quá trình vận hành, sử dụng do đó những thiệt hại do nó gây ra chỉ có thể là thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe Còn thiệt hại về danh dự nhân phẩm uy tín là những thiệt hại chỉ phát sinh do hành vi của con người nên không thuộc phạm vi tác động của nguồn nguy hiểm cao độ Nhiều người cho rằng trường hợp “chó cắn rách váy” khiến cho người phụ nữ bị xấu mặt, bị mọi người chê cười là thiệt hại về danh dự nhân phẩm, tuy nhiên thiệt hại ở đây phải là những chi phí để khắc phục những tổn
Trang 9thất do bị xâm hại, còn cái bị xâm hại ở đây tức danh dự nhân phẩm thì được coi là khách thể
2 Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ.
Khoản 1 Điều 601 BLDS 2015 đã liệt kê một loạt các loại được coi là nguồn nguy hiểm cao độ Tuy nhiên trên thực tế còn rất nhiều nguồn nguy hiểm cao độ khác nhau do đó để xác định được đâu là nguồn nguy hiểm cao độ cần phải căn cứ vào các văn bản, quy định khác có liên quan ( như đã phân tích ở mục 2 phần I )
Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải do chính bản thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Cũng có quan điểm cho rằng vật là thứ vô tri vô giác do đó chúng không thể gây thiệt hại nếu không có sự tác động của con người Tuy nhiên trên thực
tế có rất nhiều trường hợp thiệt hại do vật gây ra mà không hề có có sự tác động của con người, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ nằm ngoài sự kiểm soát của con người, không có một biện pháp nào khác có thể ngăn chặn được Trên thực tế có rất nhiều trường hợp thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ và thường bị nhầm lẫn giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người gây ra Ví dụ như trường hợp đánh cá bằng mìn, dùng điện để bẫy chuột, nhốt người vào chuồng hổ,
….những hành vi này là hoàn toàn có chủ ý chứ không phải do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại Những trường hợp như xe ô tô đang chạy thì mất phanh, chập đường dây tải điện, cháy nổ nhà máy do trục trặc kỹ thuật….thì mới được coi là thiệt hại do chính bản thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Hoạt động gây thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải có tính trái pháp luật Việc gây thiệt hại trái pháp luật tức là những thiệt hại do sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, pháp luật không cho phép Ví dụ như xe tải nổ lốp đâm đâm vào xe khách đang đi trên đường gây chết người, dây điện của nhà máy công nghiệp bị chập làm chết nhiều người,… Ngoài ra, có những trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại nhưng không bị coi là trái pháp luật ví dụ như
Trang 10trường hợp xe tải của anh A đang đi trên đường thì bị mất phanh nếu đi thẳng anh sẽ đâm phải chiếc xe khách phía trước đang chở 24 người , vì vậy anh đã rẽ sang bên trái và đâm vào cổng của một nhà nằm bên đường, trong trường hợp này có thiệt hại
do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhưng bị coi là trái pháp luật
3 Mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra với thiệt hại xảy ra
Quan hệ giữa sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra có mối quan hệ phổ biến, biện chứng Hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân tất yếu, có ý nghĩa quyết định dẫn đến thiệt hại và thiệt hại xảy ra là kết quả của hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại điểm mấu chốt là phải xác định được thiệt hại đó do nguyên nhân nào gây ra Tóm lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ được
áp dụng khi tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại
Ví dụ như A là chủ của một khu chuồng nuôi hổ B là nhân viên chăm sóc cho hổ Đến một hôm B vào cho hổ ăn như bình thường nhưng bất ngờ bị con hổ tấn công làm cho B chết Vậy mối quan hệ nhân quả ở đây chính là hoạt động gây thiệt hại do con hổ gây ra và thiệt hại là tính mạng của B
4 Vấn đề lỗi trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Theo căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung thì lỗi là một trong bốn điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Một người chỉ phải bồi thường khi có thiệt hại do hành vi có lỗi của mình gây ra Cở sở để người bị thiệt hại được bồi thường là họ phải chứng minh được người gây thiệt hại có lỗi Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra mà không hề do lỗi của ai cả Ví dụ như xe đang xuống dốc thì bị mất phanh và gây thiệt hại cho người khác,…Trong trường hợp đó nếu xác định trách nhiệm theo yếu tố lỗi thì không thể