1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với trọng tài

70 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 452 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp của luận văn Với tính cách là một trong những công trình khoa học nghiên cứu mộtcách có hệ thống các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điềuchỉnh sự hỗ trợ của c

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, với sự tham gia hoạt độngkinh doanh của mọi thành phần kinh tế thuộc các hình thức sở hữu khác nhau,với mục đích là lợi nhuận trực tiếp của các chủ thể kinh doanh, những xungđột, mâu thuẫn về mặt lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh là điềukhông thể tránh khỏi Do đó, yêu cầu khách quan đặt ra là phải áp dụng cácphương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả để bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của các bên, ổn định các quan hệ kinh tế, tạo lập môi trườngpháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội

Theo thông lệ quốc tế, pháp luật Việt Nam thừa nhận các phương thứcgiải quyết tranh chấp cơ bản như: thương lượng, hòa giải, trọng tài thươngmại và tòa án Mỗi phương thức đều có những ưu điểm nhất định So với cácphương thức khác, trọng tài thương mại là hình thức vừa đơn giản, nhanhchóng, đảm bảo bí mật kinh doanh cũng như uy tín của các bên tranh chấp

Để kịp thời điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài,Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản có giá trị pháp lý cao như Luật Trọngtài thương mại (LTTTM) 2010; Bộ luật tố tụng dân sự 2004; Luật thi hành ándân sự 2008…, điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho phương thức này tồn tại,phát huy được vai trò cũng như là căn cứ cho các bên tranh chấp có thể sửdụng để giải quyết tranh chấp

Tuy nhiên, mặc dù có những yếu tố tiến bộ, tích cực, nhưng thực tế chothấy các bên tranh chấp trước đây rất ít sử dụng phương thức trọng tài để giảiquyết Nguyên nhân của hiện tượng này có cả khách quan lẫn chủ quan nhưngmột yếu tố không thể không nhắc tới chính là thiếu sự hỗ trợ của các cơ quan

tư pháp đối hoạt động của trọng tài thương mại, hoặc sự hỗ trợ này chưa đủmạnh để làm tăng hiệu quả của hoạt động trọng tài Điều này đã làm cho cácbên tranh chấp cũng như chủ thể kinh doanh chưa thực sự tin tưởng và lựachọn phương thức trọng tài với tư cách là phương thức giải quyết tranh chấptối ưu Do vậy, việc hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tàithương mại là hết sức cần thiết Vì thế, việc nghiên cứu các quy định của pháp

Trang 2

luật về vấn đề này, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa sựtham gia hỗ trợ của các cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài có ý

nghĩa quan trọng Xuất phát từ nhận thức trên, tôi đã chọn vấn đề: “Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thươngmại là vấn đề có tính thời sự cao Do vậy, từ trước tới nay có không ít cáccông trình nghiên cứu về vấn đề này Có thể chia các công trình nghiên cứuthành hai nhóm:

- Nhóm luận văn, luận án: Ở nhóm này có thể liệt kê đến một số công

trình nghiên cứu tiêu biểu như:“Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại” của Nguyễn Thị Yến (Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2005), “Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại” của Trần Thị Vân Anh (Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, 2007) hay Vũ Thanh Minh với đề tài “Sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội”, Hà Nội, 2008… Nhìn chung các đề

tài trên đã nghiên cứu về sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động củatrọng tài thương mại, tuy nhiên các nghiên cứu trên đều trên cơ sở quy địnhcủa Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003

- Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: Các bài nghiên cứu

thuộc nhóm này chủ yếu được đề cập trên các tạp chí như Tạp chí Tòa ánnhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nghiêncứu lập pháp, Tạp chí Luật học… Trong đó phải kể đến bài viết của tác giả

Đào Trí Úc với đề tài: “Thẩm quyền của hội đồng trọng tài và vai trò của Tòa

án trong quá trình tố tụng trọng tài”, Tạp chí Kinh tế - Luật, 2010; “Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và cơ chế hỗ trợ của tòa án” của tác giả Bạch Thị Lệ Hoa, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử; “Pháp lệnh trọng tài thương mại - những thử thách phía trước” của Trần Hữu Huỳnh, tạp chí Nhà

nước và pháp luật, 2005… Phần lớn các bài viết thuộc nhóm này chỉ đề cập

Trang 3

tới một số vấn đề cụ thể liên quan đến sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối vớihoạt động của trọng tài, chưa đề cập toàn diện các vấn đề sự hỗ trợ của các cơquan tư pháp đối với trọng tài khi trọng tài giải quyết tranh chấp thương mại,

và cũng nghiên cứu dựa trên các quy định của PLTTTM 2003

Tóm lại, từ khi LTTTM 2010 ra đời và có hiệu lực, chưa có một côngtrình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu, đầy đủ và có

hệ thống về vấn đề hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tàithương mại Do vậy, đề tài Luận văn này không trùng lặp về mặt nội dung vớicác công trình nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi nghiên cứu của mình, Luận văn không đi nghiên cứu cụthể cơ chế giải quyết tranh chấp trong kinh doanh - thương mại bằng phươngthức trọng tài Ở đây, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của phápluật hiện hành dưới góc độ sự hỗ trợ của các cơ quan tư pháp đối với hoạtđộng của trọng tài thương mại theo quy định của LTTTM 2010 (như vậy,phần tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc công nhận và cho thi hành phán quyếtcủa trọng tài nước ngoài không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn) Luậnvăn đi sâu nghiên cứu, phân tích, lý giải về sự cần thiết phải có sự hỗ trợ củaTòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan Thi hành án đối với hoạt động của trọngtài thương mại Bên cạnh đó, luận văn phân tích các quy định của pháp luậthiện hành về vấn đề liên quan cũng như so sánh với quy định của PLTTTM vàpháp luật nước ngoài; nghiên cứu thực trạng của sự hỗ trợ này và đưa ra một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sự hỗ trợ của các cơ quan tư phápđối với hoạt động của Trọng tài thương mại trên thực tế

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp chủ yếunhư phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; phương pháp phântích, so sánh luật học; phương pháp tổng hợp, trích dẫn, thống kê; phương

pháp chuyên gia v.v Trên cơ sở đó đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn của

sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp với hoạt động của trọng tài; đặc biệt đánh giá,

Trang 4

phân tích thực trạng về vấn đề này; qua đó rút ra những ưu điểm, tồn tại trongviệc thi hành pháp luật và đề ra các giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung vàhoàn thiện pháp luật về trọng tài nói chung và pháp luật về sự hỗ trợ của cơquan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài nói riêng.

5 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là qua quá trình nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật trọng tài thương mại, các văn bản pháp luật liên quan vàthực trạng của vấn đề này trong những năm gần đây, Luận văn đề xuất một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp khác nhằm nâng caohơn nữa hoạt động của các thiết chế trong việc thi hành pháp luật về sự hỗ trợcủa cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn cần phải giải quyếtđược những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối vớihoạt động của trọng tài thương mại

- Phân tích và đánh giá thực trạng về sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đốivới hoạt động của trọng tài thương mại trong những năm gần đây, đặc biệt làsau khi LTTTM 2010 có hiệu lực;

- Đưa ra một số vướng mắc liên quan, từ đó đề xuất một số giải phápnhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định về sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đốivới hoạt động của trọng tài thương mại

6 Đóng góp của luận văn

Với tính cách là một trong những công trình khoa học nghiên cứu mộtcách có hệ thống các vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điềuchỉnh sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thươngmại, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại những đóng góp mới về khoahọc pháp lý như sau:

- Nghiên cứu về vai trò của trọng tài thương mại với tư cách là phươngthức giải quyết tranh chấp song song với Tòa án, từ đó lý giải sự cần thiếtphải có sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của TTTM

Trang 5

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về sự hỗ trợ của cơquan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại được quy định trongLTTTM trên cơ sở so sánh với các quy định trong PLTTTM và pháp luật nướcngoài để thấy được những điểm tiến bộ của các quy định pháp luật hiện hành

về vấn đề này và chỉ ra những hạn chế cần khắc phục

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thicủa sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Khái quát chung về trọng tài, cơ quan tư pháp và sự cầnthiết của việc cơ quan tư pháp hỗ trợ hoạt động trọng tài thương mại

- Chương 2: Pháp luật về sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạtđộng của trọng tài thương mại

- Chương 3: Nguyên nhân và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với TTTM

Trang 6

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI, CƠ QUAN TƯ PHÁP VÀ

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC CƠ QUAN TƯ PHÁP HỖ TRỢ

HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về trọng tài thương mại

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm trọng tài thương mại

Theo cuốn Đại từ điển kinh tế thị trường: “Trọng tài là một phươngthức giải quyết một cách hòa bình các vụ tranh chấp Là chỉ đôi bên đương sự

tự nguyện đem những sự việc, những vấn đề tranh chấp giao cho người thứ ba

có tư cách công bằng chính trực xét xử Phán quyết do người này đưa ra cóhiệu lực ràng buộc với cả hai bên” [39,tr.1989]

Theo OKEZIE CHUKWUMERITE: “Trọng tài là một cơ chế giảiquyết tranh chấp giữa các bên với nhau được thực hiện thông qua một cá nhân

do các bên lựa chọn hoặc bởi việc dựa trên những thủ tục hay những tính chấtnhất định được lựa chọn bởi chính các bên” [42,tr.2] Với một quan điểmtương tự, JAME và NICHOLAS cho rằng: “Trọng tài được coi như là mộttiến trình được mở ra theo một thỏa thuận của các bên nhằm giải quyết mộttranh chấp đang tồn tại hoặc có thể sẽ phát sinh bởi một hội đồng trọng tàigồm một hoặc nhiều trọng tài viên” Hội đồng trọng tài này là kết quả của sựlựa chọn của chính các bên tranh chấp hoặc thông qua những đại diện của họ

và chính các bên cũng sẽ là những người thiết lập nên các thủ tục mà hội đồngtrọng tài phải áp dụng để giải quyết tranh chấp [41,tr.3]

Bằng cách tiếp cận khác nhưng cùng nội dung như trên, “trọng tài đượccoi như là một thủ tục mà trong đó theo sự thỏa thuận của các bên tranh chấp,tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một hoặc nhiều thành viên trọng tài, người

sẽ ra quyết định ràng buộc giữa các bên tranh chấp Cách tiếp cận này cònnhấn mạnh hơn về việc loại trừ sự áp đặt của Tòa án đối với các bên về thủtục tranh chấp bởi vì phải dựa vào Tòa án”[32,tr.3]

Như vậy, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về trọng tài, tuynhiên trong khoa học pháp lý, trọng tài có thể được xem xét dưới hai góc độ:

Trang 7

Là một hình thức giải quyết tranh chấp (hình thức trọng tài) và là cơ quan giảiquyết tranh chấp (tổ chức trọng tài).

* Với tư cách là hình thức giải quyết tranh chấp: Trọng tài được hiểu

là hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là chủ thể thứ ba độc lập với cácbên tranh chấp, có cùng xem xét và đưa ra phán quyết về vụ việc buộc cácbên tranh chấp phải thi hành Cơ chế giải quyết tranh chấp trọng tài là sự kếthợp giữa hai yếu tố: thỏa thuận và tài phán Với tư cách là hình thức giảiquyết tranh chấp, trọng tài có các đặc điểm sau:

Một là: Tranh chấp giải quyết bằng trọng tài luôn có sự tham gia của

bên thứ 3 là 1 Hội đồng trọng tài hay 1 trọng tài viên duy nhất do các bên thoảthuận lựa chọn đóng vai trò là trung gian đứng giữa hai bên, phán xét mộtcách công tâm trong quá trình giải quyết tranh chấp Các bên có thể thoảthuận lựa chọn trọng tài do chính các bên tự lập ra để giải quyết tranh chấp làtrọng tài vụ việc hoặc trung tâm trọng tài mà họ tin tưởng

Hai là: Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục tố

tụng chặt chẽ Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bênđương sự phải tôn trọng theo đúng trình tự, thủ tục nêu tại LTTTM 2010,Điều lệ và Quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài quy định

Ba là: Phán quyết cuối cùng của trọng tài đưa ra là sự kết hợp linh hoạt

giữa yếu tố thoả thuận và yếu tố tài phán Dựa trên nền tảng tôn trọng sự thoảthuận của các bên đương sự, trọng tài xem xét, cân nhắc và đưa ra phán quyếtcuối cùng, phán quyết này là chung thẩm, có hiệu lực thi hành ngay

* Với tư cách là cơ quan giải quyết tranh chấp: Trọng tài được định

nghĩa là cơ quan xét xử do các bên đương sự thỏa thuận thành lập để giảiquyết tranh chấp giữa các đương sự Thành phần trọng tài do các bên đương

sự thỏa thuận quyết định Với tư cách là cơ quan giải quyết tranh chấp, trọngtài thương mại có các đặc điểm sau:

Một là: Trọng tài là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, do các trọng tài viên

tự nguyện thành lập để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinhdoanh, thương mại Do là cơ quan hoạt động độc lập với các cơ quan doChính phủ lập ra nên các trung tâm trọng tài đều có trụ sở làm việc, Điều lệ

Trang 8

hoạt động và Quy tắc tố tụng riêng do chính các trung tâm đặt ra Việc quản

lý, điều hành, lên kế hoạch hoạt động của trung tâm trọng tài đều do các trọngtài viên trực tiếp đảm nhiệm; không chịu sự chỉ đạo, quản lý của bất kỳ cơquan nào

Hai là: Thẩm quyền của trọng tài chỉ được hình thành khi có sự thoả

thuận của các bên đương sự Điều này thể hiện các bên đã tin tưởng traoquyền phán quyết cho trọng tài Nếu không có thoả thuận lựa chọn trọng tài,trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết

Ba là: Khác với cơ quan xét xử Nhà nước là Toà án, phán quyết trọng

tài không mang tính quyền lực nhà nước Phán quyết trọng tài chỉ có giá trịbắt buộc với các bên tranh chấp mà không có giá trị bắt buộc đối với bên thứ

ba Trong trường hợp các bên không tự nguyện thi hành, cần có sự hỗ trợ của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cưỡng chế thi hành

Qua những đặc điểm trên, trọng tài – với tư cách là cơ quan giải quyếttranh chấp tồn tại song song với Toà án đã thể hiện những nét đặc thù và khácbiệt so với Toà án Điều này lý giải vì sao trọng tài đang ngày càng được đánhgiá cao và được giới kinh doanh yêu thích lựa chọn

1.1.2 Hình thức trọng tài

* Trọng tài vụ việc

Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏathuận thành lập để giải quyết tranh chấp giữa các bên và sẽ tự giải tán khi giảiquyết xong vụ tranh chấp đó Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài xuất hiệnsớm, được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới Pháp luật về trọng tàicủa các nước trên thế giới đều ghi nhận sự tồn tại của hình thức trọng tài này.Tuy nhiên, quy định của pháp luật các nước về hình thức trọng tài này cũng ởmức độ sâu, rộng khác nhau Trọng tài vụ việc có các đặc trưng cơ bản sau:

(i) Chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạtđộng khi giải quyết xong tranh chấp

(ii) Không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành và không

có danh sách trọng tài viên

Trang 9

(iii) Không có quy tắc tố tụng dành riêng, do vậy các bên tranh chấp cóthể thỏa thuận lựa chọn bất kỳ một quy tắc tố tụng phổ biến nào mà thôngthường là quy tắc tố tụng của các Trung tâm trọng tài có uy tín trong nước vàquốc tế.

Như vậy, trọng tài vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt

và mềm dẻo về phương thức hoạt động nên phù hợp với tranh chấp ít tình tiếtphức tạp, cần giải quyết nhanh chóng và các bên tranh chấp có kiến thức vàhiểu biết về pháp luật cũng như có kinh nghiệm tranh tụng Tuy nhiên, trênthực tế ở Việt Nam, số lượng các vụ tranh chấp được giải quyết thông quahình thức trọng tài vụ việc không nhiều

sự bảo trợ của một cơ quan Nhà nước, ví dụ ở Thái Lan: Viện trọng tài thườngtrực thuộc Bộ Tư pháp; ở Trung Quốc, Cộng hòa liên bang Đức và một sốnước khác TTTM lại được tổ chức theo dạng một Ủy ban

Ở Việt Nam, trọng tài thường trực tồn tại dưới hình thức Trung tâmtrọng tài Các Trung tâm trọng tài mang một số đặc trưng sau:

- Là các tổ chức phi Chính phủ không nằm trong hệ thống cơ quan Nhànước

- Có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau, giữa các Trung tâmtrọng tài không có quan hệ trực thuộc về tổ chức mà chỉ có sự cạnh tranh lẫnnhau để tạo uy tín và thu hút khách hàng Trung tâm trọng tài không tồn tạiquan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới như hệ thống các cơ quan tài phán Nhànước

- Cơ cấu tổ chức của các Trung tâm trọng tài rất đơn giản gọn nhẹ:Trung tâm trọng tài có Ban điều hành và Ban thư ký Cơ cấu, bộ máy của

Trang 10

Trung tâm trọng tài do điều lệ của Trung tâm quy định Ban điều hành Trungtâm trọng tài gồm có Chủ tịch, một hoặc các Phó Chủ tịch, có thể có Tổng thư

ký do Chủ tịch Trung tâm trọng tài cử Chủ tịch Trung tâm trọng tài là trọngtài viên (Khoản 4 Điều 27 LTTTM 2010)

- Mỗi Trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và cóQuy tắc tố tụng riêng

- Hoạt động xét xử của Trung tâm trọng tài được tiến hành bởi cáctrọng tài viên của trung tâm

So với trọng tài vụ việc, trọng tài thường trực được điều hành bởi cácchuyên gia có nhiều kinh nghiệm, do đó hạn chế tối đa các sai sót có thể xảy

ra Do có trụ sở bộ máy cố định nên các hoạt động như: hành chính vănphòng, hoạt động dịch vụ như phiên dịch, thông tin liên lạc… được tổ chứcchu đáo Các trung tâm trọng tài đều có danh sách trọng tài viên, biểu phítrọng tài được niêm yết công khai Các ưu điểm trên không tìm thấy ở trọngtài vụ việc, do không có bộ máy cố định cho nên các bên tranh chấp phải tựmình tiến hành các hoạt động hành chính văn phòng Bên cạnh đó, trọng tàithường trực tồn tồn tại một số hạn chế như: chi phí thường cao hơn so vớitrọng tài vụ việc, “do có quy tắc tố tụng sẵn nên các bên không thể thỏa thuậnsửa đổi được thì có thể kéo dài thời hạn một cách không cần thiết đối với mộtvài giai đoạn tố tụng này hoặc lại quá ngắn trong một vài giai đoạn tố tụngkhác gây khó khăn cho các bên” [16, tr.58]

1.2 Một số cơ quan tư pháp tham gia hỗ trợ hoạt động của TTTM

1.2.1 Cơ quan Toà án

Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nướcxét xử các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội Tòa án ra bản án, quyếtđịnh có tính bắt buộc các bên đương sự phải thi hành Điều 7 LTTTM 2010xác định Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài là Tòa án nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được các bên lựa chọn Trong trườnghợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn Tòa án, thẩm quyền của Tòa ánđược xác định theo điều 7 LTTTM

Trang 11

Quy định về việc các bên có quyền lựa chọn Tòa án và chi tiết hóathẩm quyền Tòa án trong từng trường hợp cụ thể khi các bên không có sự lựachọn là một trong những điểm mới cơ bản của LTTTM 2010 so với PLTTTM

2003 Theo PLTTTM, tham gia hỗ trợ đối với hoạt động trọng tài chỉ có Tòakinh tế - Tòa án nhân dân cấp tỉnh – tòa chuyên trách giải quyết các tranhchấp phát sinh trong hoạt động thương mại

Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 30 Luật tổchức Tòa án nhân dân 2002, tuy nhiên Tòa án chỉ có chức năng xét xử màkhông có chức năng trong sự hỗ trợ đối với hoạt động của TTTM

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và LTTTM 2010 quy định vai trò của Tòa

án trong việc hỗ trợ hoạt động của trọng tài là cần thiết, tuy nhiên việc thựchiện có hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí hợp tác củaTòa án Những vấn đề liên quan đến sự hỗ trợ của Tòa án đối với TTTM sẽđược trình bày cụ thể trong Chương 2

1.2.2 Cơ quan Thi hành án

Thi hành án là hoạt động làm cho các bản án, quyết định đã có hiệu lựcpháp luật của Tòa án và các cơ quan tài phán khác được thực hiện trên thực tế.Khoa học pháp lý cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau vềbản chất của hoạt động thi hành án, nhưng quan điểm được thừa nhận rộng rãihiện nay là hoạt động thi hành án mang tính hành chính – tư pháp

Điều 8 LTTTM 2010 xác định cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thihành phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờicủa trọng tài là Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trungương nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết hoặc nơi biện pháp khẩn cấp tạmthời cần được áp dụng Như vậy, về bản chất, hoạt động hỗ trợ của cơ quanThi hành án đối với TTTM là hoạt động hỗ trợ TTTM trong việc thi hànhphán quyết trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của trọng tài

Việc cơ quan Thi hành án hỗ trợ hoạt động đối với TTTM có vai tròquan trọng, bởi vì phán quyết của trọng tài có khách quan công bằng, chínhxác đến đâu nhưng nếu không được đương sự thi hành thì quyền và lợi íchcủa các bên không được bảo vệ, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín của

Trang 12

trọng tài Vì vậy, LTTTM 2010 quy định sự hỗ trợ của cơ quan Thi hành ánđối với hoạt động của TTTM là cần thiết.

1.2.3 Cơ quan kiểm sát

Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Viện kiểm sát nhândân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, gópphần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất CácViện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hànhquyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm

do luật định Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 02/4/2004, Việnkiểm sát nhân dân thực hiện chức năng nhiệm vụ bằng công tác: Kiểm sátviệc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế,lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (khoản 4 Điều 3).Như vậy, Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đều không cóquy định về sự hỗ trợ của cơ quan kiểm sát đối với hoạt động của TTTM [40]

Với tư cách là cơ quan có chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp,Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát việc tuân theopháp luật của Tòa án nhân dân trong tất cả các hoạt động tư pháp LTTTM

2010 đã đề cập vai trò của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi Hội đồngtrọng tài đang thụ lý giải quyết vụ tranh chấp trong việc giám sát hoạt động hỗtrợ của Tòa án đối với Hội đồng trọng tài trong việc thu thập chứng cứ (Điều46), triệu tập người làm chứng (Điều 47) và khi Tòa án xét đơn yêu cầu hủyphán quyết trọng tài (Điều 71) Tức là, Viện kiểm sát không kiểm tra, giám sáttrực tiếp hoạt động của trọng tài mà chỉ kiểm tra, giám sát hoạt động hỗ trợcủa Tòa án đối với trọng tài Điều này thể hiện đúng bản chất của hoạt độngkiểm tra, giám sát của cơ quan kiểm sát cũng như không làm mất đi bản chấtcủa trọng tài Trọng tài vẫn là tổ chức giải quyết các tranh chấp có tính chất

“quyền lực tư”, thể hiện ý chí tự định đoạt tối đa của các đương sự mà không

bị sự can thiệp quá sâu từ phía các cơ quan Nhà nước nói chung và cơ quankiểm sát nói riêng [40]

Như vậy, cơ quan Tòa án, cơ quan Thi hành án, Cơ quan kiểm sát đều

có vai trò nhất định tạo nên tính hiệu quả của hình thức giải quyết tranh chấp

Trang 13

bằng trọng tài Trọng tài là cơ quan đại diện cho “quyền lực theo hợp đồng”nếu nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ phía các cơ quan đại diện cho “quyền lựccông”, với việc phát huy tối đa các ưu thế của mình, chắc chắn trọng tài sẽ làhình thức giải quyết tranh chấp tối ưu được các nhà kinh doanh lựa chọn.

1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động trọng tài

1.3.1 Cơ sở lý luận

Thứ nhất: Xuất phát từ bản chất trọng tài.

Trọng tài về bản chất là một quá trình giải quyết tranh chấp dựa trên sựlựa chọn tự nguyện của các bên tranh chấp Thẩm quyền của trọng tài xuấtphát từ “quyền lực theo hợp đồng” hay “quyền lực đại diện” do các bên tranhchấp giao phó uỷ nhiệm Trong khi, Hội đồng xét xử trong tố tụng Tòa án đạidiện cho quyền lực Nhà nước (quyền tư pháp), được Nhà nước trao quyền xét

xử, nhân danh Nhà nước ra bản án có tính bắt buộc đối với các bên và đượccưỡng chế thi hành bằng sức mạnh của Nhà nước Sự khác biệt về nguồn gốcquyền lực của Tòa án và trọng tài từ lâu đã làm cho chúng ta quan niệm rằng,Tòa án và các Trung tâm trọng tài là những tổ chức tài phán khác nhau về bảnchất và hoạt động độc lập với nhau Nhưng “cái sai sót mà chúng ta đã phạmphải trong thời gian vừa qua là chúng ta đã làm cho hai cơ quan tài phán nàyhoàn toàn biệt lập với nhau, giữa chúng không có bất kỳ mối quan hệ pháp lýnào, vô hình chung, chúng ta đã làm cho trọng tài kinh tế yếu đi rất nhiều”[15, tr.49]

Do đại diện cho “quyền lực theo hợp đồng” nên bản thân trọng tàikhông thể tự mình thực hiện một số công việc có tính chất cưỡng chế như:bảo đảm cho việc thi hành phán quyết trọng tài, xem xét thỏa thuận trọngtài… Nếu bản thân trọng tài không thực hiện được công việc này, Tòa ánkhông có sự hỗ trợ, trọng tài không giải quyết tốt được các tranh chấp “Một

cơ quan tài phán yếu kém, bất lực trước nhiều vấn đề quan trọng như vậy, rõràng là không hề hấp dẫn đối với các nhà kinh doanh” [15, tr.49]

Việc LTTTM 2010 quy định sự hỗ trợ của Cơ quan tư pháp đối với hoạtđộng TTTM là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giải

Trang 14

quyết tranh chấp bằng trọng tài, giúp trọng tài giải quyết tốt hơn các tranhchấp ngày càng gia tăng về quy mô và tính chất.

Thứ hai: Xuất phát từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng mạnh mẽ,pháp luật quốc gia nói chung cũng như pháp luật trọng tài nói riêng chịu ảnhhưởng của pháp luật TTTM thế giới Một trong những xu thế phát triển phápluật TTTM của các nước hiện nay là việc pháp luật TTTM của các nước theohướng ngày càng xích lại gần nhau thông qua việc tiếp nhận luật mẫu vềTTTM của Ủy ban TTTM Quốc tế của Liên Hợp Quốc Bất kỳ một quốc gianào khi tham gia vào thị trường quốc tế, có sự giao lưu kinh tế thương mạiđều phải chấp nhận xu thế tất yếu này Đối với Việt Nam, gia nhập Hiệp hộicác nước Đông Nam Á, là thành viên chính thức diễn đàn hợp tác Châu ÁThái Bình Dương và gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, muốn thamgia vào “sân chơi chung” về kinh tế thương mại, trước hết Việt Nam phải đổimới hoàn thiện hệ thống pháp luật sao cho phù hợp với thông lệ chung của thếgiới Việt Nam hiện đang thu hút được nhiều nhà đầu tư, các nhà đầu tư khôngchỉ quan tâm đến môi trường tự nhiên, môi trường lao động dồi dào mà cònquan tâm đến môi trường pháp lý Họ mong muốn pháp luật Việt Nam khôngchỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, pháp nhân Việt Nam màcòn phải bảo vệ cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài Vì vậy, Việt Nam đã dầnhoàn thiện môi trường pháp lý nói chung và pháp luật về TTTM nói riêngtrong đó phải kể đến tính cưỡng chế thi hành đối với phán quyết của trọng tài

Thứ ba: Xuất phát từ yêu cầu quản lý Nhà nước đối với hoạt động TT.

Trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp, tồn tại độc lập và hoạt độnghoàn toàn dựa vào uy tín và hiệu quả trong thực tế của chính mình Nhà nướcquản lý hoạt động trọng tài thông qua việc ban hành hệ thống các văn bảnpháp luật quy định về tổ chức và hoạt động trọng tài, cấp giấy phép thành lậpTrung tâm trọng tài, chấp thuận việc thay đổi nội dung giấy phép thành lậpTrung tâm trọng tài, phê chuẩn điều lệ Trung tâm trọng tài, hướng dẫn đàotạo, bồi dưỡng nghiệp và xây dựng đội ngũ trọng tài viên… Đặc biệt, Nhànước đã thiết lập cơ chế giám sát, kiểm tra của Tòa án – cơ quan xét xử đại

Trang 15

diện cho quyền lực Nhà nước đối với trọng tài – cơ quan tài phán đại diện cho

“quyền lực tư” thông qua các biện pháp hỗ trợ đối với hoạt động của TTTM

Thứ tư: Xuất phát từ việc giảm bớt “gánh nặng” cho tòa kinh tế.

Do ảnh hưởng của nền kinh tế kế hoạch tập trung, mọi kế hoạch do Nhànước hoạch định sẵn và mang nặng tâm lý chỉ có cơ quan tư pháp đại diện cho

“quyền lực công” mới giải quyết khách quan, công bằng, đúng pháp luật Vìthế, trong nhiều năm qua, số vụ tranh chấp đưa đến Tòa án ngày càng tăngtrong khi số vụ tranh chấp mà trọng tài thụ lý khá khiêm tốn mặc dù số vụtranh chấp kinh doanh thương mại ngày càng tăng trong nền kinh tế thịtrường Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do trước đây trọng tàithiếu sự hỗ trợ từ phía các cơ quan Nhà nước Việc LTTTM 2010 tiếp tục quyđịnh về sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động trọng tài là cần thiết,giúp các nhà kinh doanh tin tưởng hơn vào hình thức giải quyết tranh chấpbằng trọng tài từ đó giảm bớt “gánh nặng” cho tòa kinh tế

Thứ năm: Xuất phát từ yêu cầu giải quyết tranh chấp thương mại.

Tùy thuộc vào trình độ phát triển các quan hệ kinh tế xã hội và do ảnhhưởng của những đặc điểm về phong tục tập quán, cơ chế giải quyết tranhchấp trong kinh doanh được pháp luật của mỗi quốc gia quy định không giốngnhau Tuy nhiên, xuất phát từ các đặc trưng chung của hoạt động kinh doanh

và nhu cầu điều chỉnh của pháp luật, mọi tranh chấp trong kinh doanh khi xảy

ra cần phải được giải quyết một cách triệt để, thích hợp Trên thế giới hiệnnay tồn tại bốn hình thức giải quyết tranh chấp: thương lượng, hòa giải, Tòa

án và trọng tài; nhưng để đáp ứng tốt các yêu cầu của giải quyết tranh chấp

TM, chỉ có thể tìm thấy ở hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Hiệnnay, các nhà kinh doanh sẽ tin tưởng hơn vào hình thức giải quyết tranh chấpbằng TT nếu như nhận được sự hỗ trợ từ phía các cơ quan Nhà nước

Trang 16

của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng Trọng tài ngoại thương.Tiếp sau đó, ngày 5/10/1964, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số153/CP về việc thành lập Hội đồng Trọng tài hàng hải Đến ngày 28/4/1993,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 204/TTg về việc thành lậpTrung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất hai Hội đồng Trọng tài Môhình thứ hai là các Trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định

số 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ Sau gần 10 năm thực hiệnNĐ116-CP, đã có 5 Trung tâm trọng tài được thành lập với hơn 130 trọng tàiviên Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan và khái quát, trọng tài giaiđoạn này chưa thể hiện được vai trò của mình với chức năng là một cơ quantài phán có vai trò hỗ trợ đắc lực cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp.Trong suốt thời gian dài từ năm 1994 đến năm 2003, 05 Trung tâm trọng tàikinh tế được thành lập theo NĐ116/CP hầu như không có việc làm, có trungtâm từ ngày được thành lập đến khi Nghị định hết hiệu lực không nhận đượcbất kỳ một đơn kiện nào

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng nguyên nhân cơbản xuất phát từ chính các quy định về trọng tài Hàng loạt chế định cơ bảncủa trọng tài không được đề cập đến trong đó có sự can thiệp hỗ trợ của cơquan tư pháp trong việc chỉ định, thay đổi trọng tài viên; áp dụng biện pháptạm thời; công nhận và thi hành quyết định trọng tài v.v

Thực tiễn cho thấy, trọng tài không thể phát huy được hiệu quả nếukhông có sự hỗ trợ của các cơ quan tư pháp Ở các nước trên thế giới, tuy Tòa

án và trọng tài là hai phương thức giải quyết tranh chấp độc lập, song chúng

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhưng Việt Nam thời điểm này, Tòa án vàtrọng tài không có bất kỳ mối quan hệ nào Vào thời điểm đó, mối quan hệduy nhất giữa Tòa án và trọng tài được đề cập đến là việc phân định thẩmquyền giữa Tòa án và trọng tài Điều 32 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các

vụ án kinh tế năm 1994 quy định việc Tòa án sẽ trả lại đơn kiện trong trườnghợp “sự việc đã được các bên thoả thuận trước là giải quyết theo thủ tục trọngtài” Tuy nhiên, quy định này cũng có nhiều bất cập, chỉ đề cập một cách

Trang 17

chung chung là Tòa án phải từ chối giải quyết tranh chấp khi các bên đã cóthoả thuận trọng tài, nhưng đã bỏ sót một vấn đề quan trọng là hiệu lực pháp

lý của thoả thuận trọng tài, dẫn đến việc trên thực tế tồn tại nhiều trường hợp

mà thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được

Ngoài ra, giải quyết tranh chấp đòi hỏi phải có một số biện pháp bảođảm cần thiết để bảo vệ lợi ích của các bên tranh chấp như ra lệnh áp dụngbiện pháp khẩn cấp tạm thời, triệu tập nhân chứng Do hạn chế về thẩmquyền, nhất là quyền đối với bên thứ ba, trọng tài không thể ra lệnh áp dụngcác biện pháp này Trong trường hợp này, pháp luật các nước đều có quy địnhvai trò hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài Sẽ vô cùng rủi ro khi các bên chọntrọng tài để giải quyết tranh chấp mà không biết rằng, pháp luật chưa có cơchế để bảo đảm các quyền của các bên trong quá trình trọng tài Vì vậy, chỉvới sự hỗ trợ cần thiết và kịp thời của Tòa án, các bên mới có niềm tin khi sửdụng trọng tài Tiếc rằng, pháp luật Việt Nam vào thời điểm đó đã bót sót chếđịnh quan trọng này

Điểm bất cập tiếp theo đó là pháp luật không có cơ chế thi hành quyếtđịnh trọng tài Do pháp luật không có quy định về vai trò của Tòa án đối vớitrọng tài nên Tòa án sẽ đứng ngoài cuộc, cho dù các bên có làm đơn yêu cầuTòa án can thiệp, hỗ trợ để bảo vệ quyền lợi của mình Pháp luật quy định cácquyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm, ràng buộc các bên và có hiệulực thi hành Tuy nhiên, trong thực tế, sau khi quyết định trọng tài được tuyên,việc thi hành quyết định trọng tài hoàn toàn phụ thuộc và sự tự nguyện thihành của các bên Thậm chí, điều 31 NĐ116/CP quy định “Trong trường hợpquyết định trọng tài không được một bên chấp hành thì bên kia có quyền yêucầu Toà án nhân dân có thẩm quyền xét xử theo thủ tục giải quyết các vụ ánkinh tế” Quy định này đã phá bỏ nguyên tắc giải quyết của trọng tài là xét xử

1 lần, làm cho pháp luật trọng tài Việt Nam hoàn toàn khác biệt với pháp luậttrọng tài các nước, đồng thời làm triệt tiêu tính ưu việt của phương thức trọngtài là tính chung thẩm Nếu các bên không tự nguyện thi hành, cũng không cóchế tài nào được áp dụng Đây là một giai đoạn vô cùng bất lợi cho các bênkhi có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Việt Nam

Trang 18

Số liệu các vụ giải quyết tranh chấp của các Trung tâm trọng tài minhchứng cho điều này Cụ thể [2]:

- Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) từ năm 1993 đến

2003, thụ lý được 198 vụ, trong đó xét xử được 123 vụ;

- Trung tâm TTKT Hà Nội (HEAC): Từ khi thành lập đến năm 2000,tổng số vụ việc thụ lý: 11 vụ; trong 2 năm (2000-2001) giải quyết 5 vụ; từ

2002 đến 2003: chưa thụ lý vụ tranh chấp nào

- Trung tâm TTKT Thăng Long (ECOARCEN): cho đến năm 2003chưa thụ lý vụ nào

- Trung tâm TTKT Bắc Giang: cho đến năm 2003 đã thụ lý và giảiquyết bằng hòa giải 01 vụ

- Trung tâm TTKT Sài Gòn: năm 1998 thụ lý 10 vụ, năm 1999: 07 vụ,năm 2000: 06 vụ, năm 2001: 03 vụ, năm 2002: 02 vụ; 6 tháng đầu năm 2004:chưa giải quyết vụ nào

- Trung tâm TTKT Cần Thơ năm 2002 mới thụ lý vụ tranh chấp đầutiên

Chính vì vậy mà nhiều nhà tư vấn, văn phòng luật sư nước ngoài giaiđoạn này đã đưa ra những khuyến cáo các doanh nghiệp nước ngoài khôngnên chọn trọng tài Việt Nam bởi có quá nhiều rủi ro

* Thực trạng hoạt động của các Trung tâm trọng tài Việt Nam sau khi

có sự hỗ trợ của các cơ quan tư pháp

Nhằm khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực củacác Trung tâm trọng tài và đội ngũ trọng tài viên, ngày 25/02/2003, Ủy banthường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại số08/2003/PL-UBTVQH (có hiệu lực từ ngày 01/7/2004) và ngày 15/01/2004,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thihành một số điều của PLTTTM Pháp lệnh đã quy định sự hỗ trợ của Nhànước mà cụ thể là của Toà án, cơ quan Thi hành án đối với trọng tài bằng cácquy định từ việc xác định hiệu lực pháp lý của thỏa thuận trọng tài, chỉ địnhtrọng tài viên, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của hội đồng trọng tài, ápdụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu huỷ quyết định trọng

Trang 19

tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài và thi hành quyết định trọng tài Đây là vấn đề quantrọng được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm và mong đợi Với việc banhành một loạt các quy định trong đó xác lập vai trò của Tòa án và cơ quan Thihành án đối với trọng tài, Pháp lệnh đã lấp đầy “khoảng trống” của hệ thốngpháp luật trọng tài trước đây Điều này sẽ góp phần làm tăng tính hấp dẫn vàhiệu quả của trọng tài, đồng thời góp phần thúc đẩy trọng tài phát triển Cóthể gọi đây là một sự tiếp sức cho trọng tài, thể hiện quan điểm của Nhà nướctrong việc đa dạng hoá phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiệnthuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh được sự bảo hộ của Nhà nước vềmặt pháp lý trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại [13].

Một năm sau khi PLTTTM 2003 có hiệu lực, Bộ Tư pháp đã phê chuẩnĐiều lệ sửa đổi, bổ sung cho 5 Trung tâm Trọng tài Thương mại là TTTTTM

Hà nội, TTTTTM TP.Hồ Chí Minh, TTTTTM Cần Thơ, Trung tâm Trọng tàiQuốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công Nghiệp Việt Nam vàTTTTTM Á Châu Đồng thời, Bộ cũng đã hướng dẫn TTTTKT Bắc Gianghoàn tất các thủ tục chấm dứt hoạt động theo quy định của Pháp lệnh vàNĐ25/2003/NĐ-CP Năm 2008, TTTT Quốc tế Châu Á Thái Bình Dương vàTTTT Viễn Đông cũng được thành lập

PLTTTM 2003 ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hìnhthành và hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam, đặc biệt là sự ghinhận các quy định về vai trò hỗ trợ và giám sát của Tòa án đối với trọng tàicũng như xác định hiệu lực pháp lý của quyết định trọng tài và cơ chế thihành quyết định trọng tài Điều này làm cho các doanh nghiệp tin tưởng lựachọn và sử dụng trọng tài nhiều hơn Số vụ tranh chấp được giải quyết tạitrọng tài tăng lên một cách đáng kể Theo số liệu thống kê của Trung tâmTrọng tài Quốc tế Việt Nam: Năm 2004 thụ lý 32 vụ; năm 2005: 27 vụ; năm2006: 36 vụ; năm 2007: 30 vụ; năm 2008: 58 vụ; năm 2009: 48 vụ; năm2010: 63 vụ (trích nguồn) Mặc dù vậy, số vụ tranh chấp được giải quyết vẫnchủ yếu tập trung ở Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, số vụ được giảiquyết ở các trung tâm khác vẫn không mấy khả quan [13]

Trang 20

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nhưng một trong nhữngnguyên nhân cơ bản là sau một thời gian phát huy hiệu lực, PLTTTM 2003 đãbộc lộ không ít những hạn chế và bất cập, trong đó có sự bất cập của các quyđịnh về sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động trọng tài Mặt khác,quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang đặt ra nhu cầu phải đổimới một cách cơ bản cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại phù hợp với xuhướng chung của các nước trên thế giới Phương thức giải quyết tranh chấpthương mại, đặc biệt là các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài thôngqua TTTM với sự hỗ trợ, giúp đỡ của các cơ quan tư pháp đang là xu hướngchung, có nhiều ưu thế được các nhà kinh doanh lựa chọn.

Tóm lại, với những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nói trên, việcLTTTM 2010 đã tiếp tục hoàn thiện các quy định sự hỗ trợ của cơ quan tưpháp đối với hoạt động của TTTM là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng được đòihỏi của hoạt động trọng tài trên thực tế cũng như nhu cầu chính đáng trongviệc hoàn thiện phương thức giải quyết tranh chấp trọng tài của các doanhnghiệp, phù hợp với xu thế quy định về phương thức giải quyết tranh chấpbằng trọng tài trên thế giới

Trang 21

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA CƠ QUAN TƯ PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Như đã trình bày ở trên, tham gia hỗ trợ hoạt động TTTM theo LTTTMbao gồm 3 cơ quan: Tòa án, Viện kiểm sát và cơ quan Thi hành án Tuy nhiên,khác với vai trò của hai cơ quan còn lại, Viện kiểm sát không hỗ trợ trực tiếphoạt động trọng tài mà chỉ kiểm tra, giám sát hoạt động hỗ trợ của Tòa án đốivới trọng tài Có thể thấy vai trò của Viện kiểm sát là hết sức mờ nhạt, vànhững quy định điều chỉnh vấn đề này chủ yếu nằm trong Hiến pháp, Luật tổchức Tòa án và Luật tổ chức Viện kiểm sát Vì vậy, trong phạm vi Luận văn,người viết chủ yếu phân tích sự hỗ trợ của Tòa án và cơ quan Thi hành án mà

sẽ không tiếp tục đề cập đến vai trò hỗ trợ của Viện kiểm sát

2.1 Sự hỗ trợ của Toà án đối với hoạt động của TTTM

Tòa án là một trong các cơ quan tư pháp có vai trò quan trọng trongviệc hỗ trợ hoạt động của TTTM khi giải quyết tranh chấp thương mại Hơnnữa, chính bản thân Tòa án cũng là một cơ quan giải quyết tranh chấp thươngmại nên xuất phát từ những ưu điểm, hạn chế của cả hai phương thức này,thấy rằng mối quan hệ giữa Tòa án và TTTM là mối quan hệ hợp tác [34,tr.275] Trong mối quan hệ này, Tòa án cần xem trọng tài như là sự bổ sungkhông thể thiếu được cho vai trò của mình với tư cách là một thể chế của thịtrường và trong việc thực thi sứ mệnh đảm bảo công lý Ngược lại, sự hỗ trợcủa Tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài cũng có ý nghĩa to lớn nhằm nângcao hiệu quả hoạt động của trọng tài

Xét một cách cụ thể, sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài được thểhiện không giống nhau ở từng giai đoạn liên quan đến quá trình TTTM giảiquyết tranh chấp, điều này được thể hiện qua một số quy định dưới đây

2.1.1 Sự hỗ trợ của Tòa án trong giai đoạn trước khi thành lập Hội đồng TTTM

Ở giai đoạn này, Tòa án đóng vai trò duy trì công lý, bảo đảm sự tôntrọng thỏa thuận trọng tài và ý chí của các bên trong việc đưa vụ việc tranh

Trang 22

chấp ra trọng tài Đó là trách nhiệm từ chối thụ lý vụ việc tranh chấp, nếu mộtbên cố ý đưa nó ra Tòa án (điều 6 LTTTM).

Tuy nhiên, cũng theo quy định trên, nhằm đạt được mục đích là dunghòa mâu thuẫn, giải quyết dứt điểm những bất đồng trong quan hệ thươngmại, pháp luật cho phép Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp mặc dù

các bên đã có thỏa thuận trọng tài khi “thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được” Các trường hợp này được quy định

cụ thể tại điều 18 LTTTM 2010 LTTTM 2010 đã mở rộng một cách đáng kểthẩm quyền của trọng tài, theo đó Trọng tài có thẩm quyền giải quyết nhiềuloại tranh chấp (theo điều 2) và khái niệm “hoạt động thương mại” được xácđịnh nhất quán với quy định ở Luật thương mại 2005 (là những hoạt độngnhằm mục đích sinh lợi) Đây là quy định mới tiến bộ so với PLTTTM 2003.PLTTTM 2003 không đưa ra quy định về thẩm quyền của trọng tài, mà việcxác định thẩm quyền của trọng tài dựa vào quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự, mặt khác thẩm quyền của trọng tài cũng bị hạn chế nhiều bởi quy định về

“hoạt động thương mại” (là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mạicủa “cá nhân, tổ chức kinh doanh”) – hay nói cách khác phải là các tranh chấpphát sinh giữa các thương nhân và thuộc các lĩnh vực được Pháp lệnh và Bộluật tố tụng liệt kê Việc mở rộng thẩm quyền của TTTM, hạn chế các trườnghợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu đã đi đúng tinh thần của việc ban hànhLTTTM là giảm bớt gánh nặng của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấpthương mại, tôn trọng tối đa quyền tự quyết của các bên tranh chấp

Quy định về việc Tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp thỏa thuậntrọng tài có hiệu lực và thực hiện được là một thông lệ trong pháp luật trọngtài của nhiều quốc gia Theo Điều 9 Luật trọng tài Trung Quốc 1994: Nếu mộtbên đưa ra trọng tài hoặc Toà án Nhân dân về cùng một vụ tranh chấp đã cóđiều khoản trọng tài, Hội đồng trọng tài hoặc Toà án Nhân dân sẽ không thụ

lý vụ kiện

2.1.2 Sự hỗ trợ của Tòa án trong việc thành lập Hội đồng TT vụ việc

Trang 23

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Tòa án có vai trò quan trọngtrong việc thành lập Hội đồng trọng tài, khi các bên, tuy đã có thỏa thuậntrọng tài, nhưng không đưa ra được thỏa thuận thích hợp về việc thành lậpHội đồng trọng tài, hoặc thiếu vắng các quy tắc cần thiết cho việc thành lậpHội đồng trọng tài Quy định này nhằm tránh bế tắc trong tố tụng trọng tàiđồng thời cũng đảm bảo vụ tranh chấp được trọng tài giải quyết [24, tr.20],bởi vì tố tụng trọng tài sẽ bắt đầu khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyênđơn Sau đó quá trình này được tiếp tục với bước tiếp theo là thành lập Hộiđồng trọng tài Nhưng nếu Hội đồng trọng tài không thể thành lập được, chắcchắn tố tụng trọng tài cũng sẽ không thể tiếp tục tiến hành Một khi các bên đãthỏa thuận đưa vụ tranh chấp của mình cho trọng tài giải quyết và thỏa thuậnnày có hiệu lực, Tòa án sẽ không thụ lý vụ việc Lúc này các bên đã khôngcòn có sự lựa chọn nào khác và tiếp tục tố tụng trọng tài là con đường duynhất Do vậy, sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động thành lập Hội đồng trọngtài là hết sức cần thiết Các công việc cụ thể mà Tòa án tiến hành để thành lậpHội đồng trọng tài vụ việc gồm:

Thứ nhất, sự hỗ trợ của Tòa án trong việc chỉ định trọng tài viên và

Chủ tịch Hội đồng trọng tài

Về nguyên tắc, việc lựa chọn trọng tài viên là quyền của các bên tranhchấp Bên nguyên đơn và bên bị đơn có quyền lựa chọn thành lập hoặc Hộiđồng trọng tài gồm ba trọng tài viên, hoặc Hội đồng trọng tài chỉ có một trọngtài viên duy nhất để giải quyết tranh chấp cho mình Riêng với hình thứctrọng tài vụ việc, nếu hết thời hạn quy định mà bị đơn không chọn được trọngtài viên hoặc hai trọng tài viên được chọn không thống nhất chọn trọng tàiviên thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài, hoặc các bên đương sự khôngchọn được trọng tài viên duy nhất, các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩmquyền chỉ định trọng tài viên (Khoản 1 Điều 41 LTTTM 2010)

Quy định này được kế thừa từ PLTTTM 2003 và chỉ sửa cụm từ “Tòa

án nhân dân cấp tỉnh” bằng cụm từ “Tòa án có thẩm quyền” cho phù hợp hơn.Thực tiễn cho thấy, có thể xảy ra trường hợp bên bị kiện không chỉ định trọngtài viên nhằm trì hoãn việc giải quyết tranh chấp Nếu vụ việc được giải quyết

Trang 24

tại Trung tâm trọng tài, Chủ tịch Trung tâm trọng tài sẽ chỉ định trọng tài viêngiải quyết vụ việc Còn nếu tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng trọng tài

vụ việc, để đảm bảo cho vụ việc được giải quyết nhanh chóng, tránh gâyphiền hà cho bên nguyên đơn, pháp luật đã cho phép nguyên đơn có quyềnyêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định trọng tài viên cho bị đơn

Ngoài ra, pháp luật cũng dự liệu trường hợp tranh chấp thương mại cónhiều bị đơn mà các bị đơn không chọn được trọng tài viên khi hết thời hạn(khoản 2 Điều 41 LTTTM 2010) Như vậy, cũng tương tự với trường hợp vụtranh chấp chỉ có một bị đơn, trường hợp có nhiều bị đơn trong vụ tranh chấp,các bị đơn này phải cùng nhau thống nhất chọn trọng tài viên cho mình Nếu

họ không thống nhất được trọng tài viên, pháp luật cho phép cả nguyên đơn

và các bị đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định trọng tài viên cho các bịđơn Đây là quy định hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ, nguyên nhân làm cho các bịđơn không chọn được trọng tài viên cho mình có thể xuất phát từ thái độ thiếuthiện chí của một trong các bị đơn nhưng cũng có thể xuất phát từ việc các bịđơn không thống nhất được nên chọn trọng tài viên nào để đại diện cho lợi íchcủa tất cả họ Chính vì vậy ngay trong nội bộ các bị đơn đã có sự không thốngnhất và cần có bên thứ ba tác động việc chọn trọng tài viên, đó là Tòa án

LTTTM 2010 quy định: sau khi các bên tranh chấp đã chọn được trọngtài viên cho mình hoặc được Tòa án chỉ định thì trong thời hạn 15 ngày, kể từngày được các bên chọn hoặc được Tòa án chỉ định, các trọng tài viên bầumột trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài Trong trường hợpkhông bầu được Chủ tịch Hội đồng trọng tài và các bên không có thoả thuậnkhác thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Chủ tịchHội đồng trọng tài (Khoản 3 Điều 41 LTTTM 2010) Nếu việc giải quyếttranh chấp thương mại được các bên thỏa thuận giải quyết bởi một trọng tàiviên duy nhất nhưng không chọn được trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày,

kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, nếu các bên không có thoả thuậnyêu cầu một Trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên, thì theo yêu cầu củamột hoặc các bên, Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên duy nhất(Khoản 4 Điều 41 LTTTM 2010)

Trang 25

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong thời hạn 07 ngày làmviệc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của các bên trong các trường hợp nêutrên, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải phân công một Thẩm phán chỉđịnh Trọng tài viên và thông báo cho các bên đương sự biết (Khoản 5 Điều 41LTTTM 2010) Thẩm phán này phải chỉ định những người đáp ứng các điềukiện để có thể trở thành trọng tài viên và có trình độ chuyên môn nghiệp vụphù hợp với lĩnh vực mà các bên đang tranh chấp Để việc quyết định chỉ địnhtrọng tài viên được đúng, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của các Trungtâm trọng tài, liên hệ với Hội luật gia cùng cấp, hiệp hội ngành nghề ở trungương hoặc địa phương để các tổ chức này giới thiệu người có thể được chỉđịnh làm trọng tài viên.

Quy định về việc Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc chỉ định trọng tàiviên là hoàn toàn phù hợp với thông lệ pháp luật trọng tài trên thế giới Khoản

3 Điều 1035 Luật trọng tài Đức; Điều 13, 15 Luật trọng tài Thái Lan 1987;Điều 12 Luật trọng tài Malaixia 1952; Điều 7 đến Điều 12 Quy tắc tố tụngtrọng tài của Phòng thương mại Quốc tế ICC 1998; Điều 6 đến Điều 12 Quytắc trọng tài UNCITRAL 1976… cũng có những quy định tương tự về vấn đềchỉ định trọng tài viên

Thứ hai, sự hỗ trợ của Tòa án trong việc thay đổi trọng tài viên

Để giải quyết đúng đắn các tranh chấp nói chung, mâu thuẫn, bất đồngtrong lĩnh vực thương mại nói riêng, sự vô tư của trọng tài viên trong việcthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn là điều rất quan trọng Vì vậy, trọng tài viênphải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp dẫnđến sự không vô tư của họ khi thực hiện nhiệm vụ (Điều 42 LTTTM).LTTTM 2010 quy định việc thay đổi trọng tài viên được diễn ra ở cả hai hìnhthức: Hội đồng trọng tài và Trung tâm trọng tài Tuy nhiên, đối với hình thứcTrung tâm trọng tài, việc thay đổi trọng tài viên do Chủ tịch Trung tâm trọngtài hoặc do các thành viên còn lại quyết định, tùy trường hợp Còn đối vớitrường hợp tranh chấp do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổitrọng tài viên sẽ do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định.Trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết

Trang 26

định được hoặc nếu các trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giảiquyết tranh chấp, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phánquyết định về việc thay đổi trọng tài viên (Khoản 4 Điều 42 LTTTM 2010).

Tương tự như PLTTTM 2003, LTTTM 2010 không quy định rõ ràngviệc Tòa án chỉ quyết định việc thay đổi trọng tài viên hay sẽ chỉ định cả trọngtài viên thay thế Theo tinh thần của Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP của Hộiđồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy địnhcủa PLTTTM, Tòa án sẽ chỉ quyết định việc có thay đổi trọng tài viên haykhông, còn việc lựa chọn trọng tài viên khác thay thế cho trọng tài viên bịthay thế sẽ do các đương sự thực hiện Điều này bảo đảm quyền tự do lựachọn trọng tài viên của các bên Do PLTTTM không còn hiệu lực nên Nghịquyết số 05/NQ-HĐTP cũng hết hiệu lực Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay,LTTTM 2010 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành luật chưa quy địnhvấn đề này nên chúng ta vẫn có thể vận dụng yếu tố hợp lý của Nghị quyết số05/NQ-HĐTP để giải quyết trong thực tế

Nếu so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài, các điều ướcquốc tế, pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài về vấn đề này có sựtương đồng Ví dụ, về việc thay đổi trọng tài viên, Luật mẫu UNCITRAL, tạiĐiều 13 quy định: “Các bên được tự do thỏa thuận thủ tục để khước từ trọngtài viên Nếu không thỏa thuận, bên có ý định khước từ trọng tài viên sẽ gửivăn bản nêu rõ lý do để khước từ tới Hội đồng trọng tài hoặc sau khi biếtnhững hoàn cảnh được nêu ra tại khoản 2 Điều 12 Nếu trọng tài viên bị từchối không rút khỏi hội đồng trọng tài hoặc bên kia không đồng ý về việc từchối này, Hội đồng trọng tài sẽ quyết định Nếu việc từ chối theo thủ tục đượccác bên thỏa thuận hoặc theo thủ tục được quy định như trên không thànhcông, trong thời hạn 30 ngày sau khi nhận được quyết định bác từ chối, có thểyêu cầu Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền xác định tại Điều 6 quyết định vềviệc từ chối này” Điều 12 Luật trọng tài Malaixia (có hiệu lực tại Sarawakngày 18/6/1952; tại các Bang khác ngày 1/11/1972); khoản 3 Điều 1037 Luậttrọng tài thương mại Đức 1998; Điều 3 Luật trọng tài Thống nhất Hoa Kỳnăm 1955, sửa đổi năm 1956; Điều 13, 15 Luật trọng tài Thái Lan năm 1987;

Trang 27

Điều 7, 9, 11, 12 Quy tắc trọng trài của Phòng thương mại quốc tế (ICC) cũngquy định tương tự…

Tuy rằng pháp luật của Việt Nam về vấn đề này có nhiều điểm tươngđồng so với pháp luật và thông lệ quốc tế, nhưng giữa pháp luật Việt Nam vớipháp luật nước ngoài cũng có điểm khác biệt đáng kể Điều này thể hiện ởviệc Luật mẫu UNCITRAL cũng như hầu hết pháp luật TTTM của các nướctrên thế giới đều không có sự phân chia thành hai trường hợp hỗ trợ của Tòa

án đối với trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế mà hầu hết pháp luật cácnước chỉ chia thành Hội đồng trọng tài với số lượng là 03 trọng tài viên vàHội đồng trọng tài chỉ có một trọng tài viên duy nhất Khi thuộc trường hợppháp luật quy định, các bên có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ mà không cầnbiết đó là trọng tài vụ việc hay trọng tài thường trực Lẽ đương nhiên là nếucác bên đã lựa chọn trọng tài thường trực, trong mọi trường hợp họ đều nhậnđược sự hỗ trợ từ phía Trung tâm trọng tài trong việc chỉ định hoặc quyết địnhthay thế trọng tài viên Với hình thức là những quyết định hành chính, chúng

sẽ tránh mất nhiều thời gian hơn so với việc yêu cầu Tòa án quyết định vớinhững thủ tục tố tụng bắt buộc Chính vì sự tiện lợi và nhanh chóng đó nêntrên thực tế, đa số các Trung tâm trọng tài đều cung cấp dịch vụ chỉ định trọngtài viên cho trọng tài vụ việc [24, tr.22]

Tóm lại, khi nghiên cứu về sự hỗ trợ của Tòa án trong quá trình thànhlập Hội đồng trọng tài, thấy rằng việc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc đểgiải quyết tranh chấp là do chính các bên đương sự tự quyết định Chỉ trongtrường hợp các bên không tự chọn được trọng tài viên cho mình hoặc khôngthống nhất được việc chỉ định hoặc thay đổi trọng tài viên, Tòa án sẽ can thiệpbằng sự hỗ trợ đối với các bên trong việc quyết định lựa chọn và thay đổitrọng tài viên, Chủ tịch Hội đồng trọng tài Điều này có ý nghĩa quan trọngnhằm giúp trọng tài có thể tiếp tục thực hiện được nhiệm vụ mà các đương sự

đã tin tưởng giao phó

Các quy định về sự hỗ trợ của Tòa án trong việc thành lập Hội đồngtrọng tài mà cụ thể là chỉ định, thay thế trọng tài viên đã được ghi nhận trongPLTTTM 2003 và tiếp tục được khẳng định trong LTTTM 2010, nhưng trên

Trang 28

thực tế công việc này được tiến hành không nhiều tại Việt Nam vì hầu hết các

vụ tranh chấp, các bên thường lựa chọn trọng tài quy chế, rất ít trường hợpchọn trọng tài vụ việc [34, tr.27] Hơn nữa, nếu các bên tranh chấp có đưa vụviệc ra giải quyết tại trọng tài vụ việc, các bên cũng thường chuẩn bị sẵn mộtvài trọng tài viên có năng lực, do vậy cơ quan Tòa án không có điều kiện để

hỗ trợ trọng tài trong việc chỉ định hay thay đổi trọng tài viên Từ năm 2004đến năm 2011, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội không có sự hỗ trợ nàotrong việc chỉ định, thay thế trọng tài viên trọng tài vụ việc là một minhchứng cụ thể cho điều đó

2.1.3 Tòa án xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài

Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên mà chỉ có thẩm quyền giảiquyết tranh chấp khi được các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan thỏa thuậnchỉ định [8, tr 357] Như vậy, thẩm quyền của TTTM được xác lập trên cơ sởthỏa thuận trọng tài, tức là tiền đề của việc giải quyết tranh chấp bằng trọngtài chính là việc thỏa thuận trọng tài của các bên và thỏa thuận đó là hợppháp Thỏa thuận trọng tài là sự thống nhất ý chí của các bên nhằm đưa tranhchấp đã hoặc sẽ phát sinh ra giải quyết bằng con đường trọng tài Nếu các bênkhông có thỏa thuận trọng tài, hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu,trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết vụ việc và do đó việc giải quyếttranh chấp của trọng tài có thể bị Tòa án hủy theo đơn yêu cầu của một bên

Do vậy, việc xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa quan trọng.Khi giải quyết vụ việc, Hội đồng trọng tài phải xem xét sự thỏa thuận trọngtài có rơi vào một trong các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu quy địnhtại Điều 18 LTTTM 2010 hay không, bởi nếu các bên có thỏa thuận trọng tàinhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu, Tòa án vẫn có thẩm quyền giải quyết(Điều 6 Luật TTTM 2010)

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trước khi xem xét nội dung vụtranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài;thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyềncủa mình Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình,

Trang 29

Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật(khoản 1 Điều 43 LTTTM 2010) Sau khi xem xét về thỏa thuận trọng tài, Hộiđồng trọng tài sẽ phải ra một trong hai quyết định sau:

- Nếu có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, vụviệc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, khi đó Hội đồng trọng tài sẽ tiếnhành giải quyết các bước tiếp theo;

- Nếu các bên có thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận trọng tài vôhiệu (theo Điều 18 LTTTM 2010), khi đó Hội đồng trọng tài sẽ không cóthẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp; hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tàikhông thể thực hiện được, Hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giảiquyết và thông báo ngay cho các bên (Khoản 1 Điều 43 LTTTM 2010)

Trong trường hợp Hội đồng trọng tài đình chỉ việc giải quyết, pháp luậtcho phép đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét quyết định đó của trọngtài (Khoản 1, 4 Điều 44 LTTTM 2010) Trong giai đoạn này, khi giải quyếtđơn yêu cầu của đương sự, Tòa án căn cứ vào đơn yêu cầu, xem xét các tàiliệu liên quan và trong trường hợp Toà án quyết định vụ tranh chấp khôngthuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏathuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được,Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp Trong trườnghợp này, nếu không có thỏa thuận khác, các bên có thể khởi kiện ra Tòa án(Khoản 6 Điều 44 LTTTM 2010)

Rõ ràng theo quy định trên, Tòa án sẽ là cơ quan giúp các bên xem xétlại quyết định về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài Việc làm này của Tòa án

có tác dụng đối với cả các bên tranh chấp cũng như TTTM Bởi lẽ, một mặtnếu Hội đồng trọng tài tự mình ra quyết định xem xét tranh chấp đó có thuộcthẩm quyền của mình hay không rồi sau đó chính trọng tài lại xem xét quyếtđịnh về thẩm quyền của mình khi có đơn yêu cầu của đương sự rõ ràng làkhông khách quan Mặt khác, việc hỗ trợ của Tòa án trong việc xem xét thỏathuận trọng tài và thẩm quyền của trọng tài sẽ giúp cho các bên đương sự chủđộng hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình liên quan đến vụ việc, vì nếuthỏa thuận trọng tài hợp pháp, trọng tài vẫn giải quyết vụ việc như đúng

Trang 30

nguyện vọng của các bên; ngược lại, nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền củatrọng tài, các bên cũng có quyền tự mình yêu lựa chọn phương thức khác đểgiải quyết tranh chấp.

Có thể thấy pháp luật về TTTM của Việt Nam cũng có nhiều điểmtương đồng với pháp luật nước ngoài Ví dụ: Theo quy định trong Luật mẫu

về TTTM quốc tế của UNCITRAL 1985: “Ủy ban trọng tài có thể quyết định

về đơn yêu cầu chỉ ra ở khoản 2 của Điều này như là vấn đề mở đầu hoặc giải quyết tại phán quyết về nội dung tranh chấp Nếu ủy ban trọng tài giải quyết như là một vấn đề mở đầu là ủy ban có thẩm quyền xét xử, thì bất kỳ bên nào cũng có thể, trong vòng 30 ngày sau khi nhận được thông báo về quyết định này, đề nghị toà án được xác định tại Điều 6 quyết định vấn đề này” (khoản 3 Điều 16) Ngoài ra, cũng có thể bắt gặp các quy định tương tự

trong văn bản pháp luật liên quan của một số nước như tại Trung Quốc (Điều

26 Luật trọng tài); Đức (Điều 1032; 1033 Luật trọng tài 1998); Quy tắc tốtụng của Phòng thương mại quốc tế ICC (Khoản 3 Điều 6); …

Tuy nhiên, quy định về việc Hội đồng trọng tài có thẩm quyền xem xéthiệu lực của thỏa thuận trọng tài, xem xét thẩm quyền của chính Hội đồngtrọng tài, xem xét thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không cóphần không hợp lý Bởi nếu Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giảiquyết vụ tranh chấp, vụ tranh chấp không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuậntrọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được, liệu việc thành lập một Hộiđồng trọng tài để xem xét thỏa thuận trọng tài và ra quyết định đình chỉ vụviệc trong trường hợp này có hợp lý? Như chúng ta đã biết, pháp luật trọng tàiquy định cụ thể rằng: Không có thỏa thuận trọng tài thì không có hoạt độngtrọng tài, Hội đồng trọng tài chỉ được thành lập khi thỏa thuận trọng tài cóhiệu lực Về vấn đề này, Điều 1032 Luật trọng tài Đức (1998) quy định rấthợp lý, cụ thể: “Trước khi thành lập Ủy ban trọng tài, các bên có thể gửi đơnyêu cầu tới Tòa án để xác định liệu tố tụng trọng tài có được thừa nhận haykhông” Như vậy việc xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Ủy bantrọng tài hay nói chung là tính hợp pháp của hoạt động trọng tài là do Tòa ánquyết định và xảy ra trước khi Ủy ban trọng tài được thành lập Điều đó thể

Trang 31

hiện sự hỗ trợ cần thiết của Tòa án đối với hoạt động trọng tài, đồng thời thểhiện tính hợp lý của quy định trên

Tóm lại, việc pháp luật quy định sự hỗ trợ của Tòa án trong quá trìnhgiải quyết tranh chấp bằng trọng tài thông qua việc Tòa án xem xét thỏa thuậntrọng tài, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài và đặc biệt

là xem xét tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của TTTM haykhông nhằm tránh tốn kém thời gian, tiền của của các bên đương sự một cách

vô ích Do vậy, việc pháp luật tiếp tục quy định về vấn đề này là hợp lý và cầnthiết Quy định này trên thực tế thời gian qua cũng đã được áp dụng nhưngkhông nhiều Từ năm 2004 đến hết năm 2011, Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dânthành phố Hà Nội đã hỗ trợ trọng tài trong việc xem xét thỏa thuận trọng tàiđược 1 vụ, xem xét thẩm quyền của Hội đồng trọng tài được 2 vụ Cụ thể:

- Quyết định số 07/2009/QĐ-GQYC ngày 18/12/2009 về việc giải quyết yêu cầu xem xét lại Quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài Bên yêu cầu: Công ty Novo Commodities Limited; địa chỉ: Phòng

1108-09, China Merchants, Tower, Shun Take Centre Hong Kong Bên liênquan: Công ty Filipino Metals Corp (FMC); địa chỉ: Phòng 1104, 11th Floor,Tytana Plaza Condominum Plaza Loeno Ruiz, Binodo Manila, Metro Manila,Philipines Toà Kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xác định thoảthuận trọng tài vô hiệu (xem Phụ lục 1)

- Quyết định số 05/2010/KDTM-ST ngày 05/11/2010 về việc xem xét lại thẩm quyền của Hội đồng trọng tài vụ kiện số 12/10 ngày 14/10/2010 tại

Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam Bên yêu cầu: Công ty cổ phần Đầu tư

và Phát triển điện miền Bắc 2 Bên liên quan: Viện Nghiên cứu Thiết kế Quyhoạch Thuỷ lợi Bắc Kinh, Trung Quốc Toà Kinh tế TAND thành phố Hà Nội

đã ra Quyết định chấp nhận đơn yêu cầu của nguyên đơn, theo đó: Trung tâmTrọng tài Quốc tế VN không có thẩm quyền giải quyết vụ kiện số 12/10

- Quyết định số 01/KDTM-ST-QĐTT ngày 21/02/2011 về việc xem xét lại thẩm quyền của Hội đồng trọng tài vụ kiện số 25/10 ngày 25/01/2011 của

Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam Bên yêu cầu: Công ty cổ phần Đầu tưPhát triển Hoàng Gia Bên liên quan: Công ty TNHH Công nghệ Huawei Việt

Trang 32

Nam Toà Kinh tế TAND thành phố Hà Nội đã ra Quyết định chấp nhận yêucầu của nguyên đơn, theo đó Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam không cóthẩm quyền giải quyết vụ kiện số 25/10 (xem Phụ lục 2).

2.1.4 Tòa án hỗ trợ việc thu thập chứng cứ; triệu tập người làm chứng và áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

* Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc thu thập chứng cứ

Chứng cứ là những cái có thật, theo một trình tự do luật định Tòa ándùng làm căn cứ để giải quyết việc dân sự [9,tr.155] Chứng cứ có thể lànhững tin tức, dấu vết liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ việc Tương

tự như trong vụ việc dân sự, quan hệ tranh chấp giữa các bên trong thươngmại, chứng cứ có vai trò quan trọng, là căn cứ để các bên tranh chấp có thểdựa vào để chứng minh cho hành động của mình, đồng thời cũng là cơ sở đểbên thứ ba (Tòa án, TTTM hoặc người thứ ba khác) giải quyết vụ việc đượckhách quan và toàn diện Tuy trong LTTTM 2010 không đưa ra khái niệmchứng cứ, nhưng chúng ta có thể vận dụng khái niệm chứng cứ trong Bộ luật

Tố tụng dân sự 2004, theo đó: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ

và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự” (Điều 84) Như vậy, chứng cứ trong vụ việc

giải quyết tranh chấp thương mại bằng TTTM chính là những gì có thật đượccác bên tranh chấp giao nộp cho Hội đồng trọng tài để chứng minh các sựviệc có liên quan đến nội dung đang tranh chấp

Trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, không phải trong mọitrường hợp TTTM đều có các chứng cứ để giải quyết vụ việc mà nhiều khi cóthể do cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan dẫn đến việc phải thu thập chứng

cứ Thu thập chứng cứ và việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào

hồ sơ vụ việc để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc[24,tr.164] Như vậy, việc thu thập chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với cảviệc chứng minh của đương sự và việc giải quyết của Hội đồng trọng tài Do

Trang 33

vậy, tại Điều 46 Luật TTTM 2010 quy định Hội đồng trọng tài có quyền thuthập chứng cứ Quy định Hội đồng trọng tài có quyền thu thập chứng cứ trongLTTTM 2010 là sự kế thừa của PLTTTM 2003

Tuy nhiên trên thực tế, khác với vụ việc dân sự, giải quyết tại Tòa ántheo thủ tục dân sự, nếu các đương sự đã giao chứng cứ nhưng không đủ, Tòa

án có thể yêu cầu họ giao nộp bổ sung hoặc nếu trong trường hợp đương sựkhông thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu, Tòa án sẽ tiến hànhmột số biện pháp nghiệp vụ để thu thập chứng cứ Trong việc giải quyết tranhchấp thương mại bằng TTTM, nhiều khi các bên hoặc chính Hội đồng trọngtài đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn không thu thập được chứng cứ.Trong trường hợp này pháp luật quy định các bên hoặc chính Hội đồng trọngtài có quyền đề nghị Tòa án giúp đỡ (khoản 5 Điều 46 LTTTM 2010) Đây làđiểm mới của LTTTM so với PLTTTM trước đây nhằm khắc phục tình trạngkhông thể thu thập được chứng cứ, do đó gây trở ngại cho việc giải quyết vụtranh chấp Trên thực tế thi hành PLTTTM 2003, có nhiều trường hợp các tổchức, cá nhân có liên quan nắm giữ chứng cứ từ chối những yêu cầu của trọngtài vì họ cho rằng thỏa thuận trọng tài chỉ có ràng buộc đối với hai bên tranhchấp, trọng tài không nhân danh quyền lực Nhà nước do vậy họ không phải cónghĩa vụ thực hiện theo yêu cầu của trọng tài Theo quy định của LTTTM,trong trường hợp các tài liệu đọc được, nhìn được hoặc các hiện vật khác cóliên quan đến vụ tranh chấp mà một hoặc các bên tranh chấp và Hội đồngtrọng tài đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn không thể thu thập được,khi đó một hoặc các bên, Hội đồng trọng tài sẽ bằng văn bản đề nghị Tòa ányêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ các tài liệu đó cho Hội đồngtrọng tài để có cơ sở đưa ra các phán quyết giải quyết vụ án một cách nhanhchóng và khách quan

Khi nhận được đơn yêu cầu thu thập chứng cứ của một hoặc các bên,Hội đồng trọng tài, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩmphán xem xét, giải quyết yêu cầu thu thập chứng cứ (trong thời hạn 7 ngàylàm việc) Thẩm phán phải có văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đangquản lý, lưu giữ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và gửi văn bản đó cho Viện

Trang 34

kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của phápluật Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có tráchnhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thờihạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Đồng thời, khi nhận được chứng

cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp, Tòa án phải thông báo cho Hộiđồng trọng tài, bên yêu cầu biết để tiến hành việc giao nhận chứng cứ

Quy định về việc Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc thu thập chứng cứcũng tương thích với pháp luật của nhiều nước trên thế giới Luật mẫuUNCITRAL (Điều 27) có quy định: “Ủy ban trọng tài hoặc một bên với sựđồng ý của ủy ban trọng tài có thể yêu cầu toà án có thẩm quyền của Nướcnày trợ giúp thu thập chứng cứ Toà án có thể thực hiện yêu cầu đó trongphạm vi thẩm quyền của mình và theo nguyên tắc về thu thập chứng cứ Luậttrọng tài Singapore (Điều 14) cũng quy định tương tự

* Tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc triệu tập người làm chứng

PLTTTM 2003 không xác lập cơ chế hỗ trợ của Tòa án đối với TTTMtrong việc triệu tập nhân chứng Đây là sự bổ sung quan trọng trong tố tụngtrọng tài Quá trình giải quyết tranh chấp không chỉ có các bên mà nhiềutrường hợp có liên quan đến người thứ ba hoặc bên thứ ba Trong khi Tòa án

có thẩm quyền đương nhiên trong việc triệu tập các đối tượng này thì TTTMlại không có thẩm quyền Về vấn đề này, Luật trọng tài các nước có quy địnhHội đồng trọng tài hoặc một bên đương sự được sự đồng ý của Hội đồngtrọng tài có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền trợ giúp triệu tập nhân chứng

có mặt tại trọng tài Do trước đây PLTTTM không quy định cơ chế hỗ trợ nàynên các luật sư và doanh nghiệp vẫn băn khoăn khi lựa chọn trọng tài ViệtNam để giải quyết tranh chấp [11]

Hiện nay vấn đề trên đã được khắc phục tại Điều 47 LTTTM 2010.Người làm chứng là người không có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến

vụ việc nên thường khai báo khách quan hơn đương sự Do vậy, lời khai củangười làm chứng có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các tình tiết liênquan đến nội dung của vụ tranh chấp Tuy nhiên, chính việc họ không cóquyền và lợi ích liên quan đến nội dung vụ tranh chấp nên thường họ không

Trang 35

“mặn mà” với yêu cầu của đương sự thậm chí là Hội đồng trọng tài Điều này

sẽ gây trở ngại cho Hội đồng trọng tài trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ

và do vậy sẽ ảnh hưởng đến chất lượng phán quyết của Hội đồng trọng tài, vìthế, cần vai trò hỗ trợ của Tòa án

Thông thường, theo yêu cầu của một hoặc các bên và xét thấy cần thiết,Hội đồng trọng tài có quyền yêu cầu người làm chứng có mặt tại phiên họpgiải quyết tranh chấp Tuy nhiên nếu người làm chứng đã được Hội đồngtrọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên họp nhưng không có lý do chínhđáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp, Hộiđồng trọng tài gửi văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định triệutập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài Việc gửi văn bảnnày phải nêu rõ nội dung vụ việc đang được giải quyết tại trọng tài; họ, tên,địa chỉ của người làm chứng; lý do cần triệu tập người làm chứng; thời gian,địa điểm người làm chứng cần phải có mặt Khi nhận được văn bản đề nghịtriệu tập người làm chứng của Hội đồng trọng tài, Chánh án Tòa án có thẩmquyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết yêu cầu triệu tập ngườilàm chứng Thẩm phán phải ra quyết định triệu tập người làm chứng Khi đó,người làm chứng có nghĩa vụ nghiêm chỉnh thi hành quyết định của Tòa án(khoản 3 Điều 47 LTTTM 2010)

Quy định này cũng tương thích so với pháp luật trọng tài của các nướcnhư: Luật trọng tài Mỹ tại Điều 7 có quy định: “Các trọng tài viên có thể gửi(yêu cầu người khác gửi) giấy triệu tập để nhân chứng tham gia và để đưa racác sổ sách, bản ghi, tài liệu và các chứng cứ khác, và có quyền làm lễ tuyênthệ Các giấy triệu tập phải được tống đạt, và trên cơ sở đơn yêu cầu của mộtbên hoặc của các trọng tài viên tới Toà án, phải được thi hành theo cách thứcluật quy định cho việc tống đạt và thi hành các trát đòi hầu toà trong một vụkiện dân sự” Luật mẫu của UNCITRAL cũng quy định tương tự

Tuy nhiên, trên thực tế, do sự hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài trongviệc thu thập chứng cứ và triệu tập người làm chứng là điểm mới củaLTTTM, chỉ áp dụng đối với các tranh chấp có thỏa thuận trọng tài được xáclập sau ngày Luật có hiệu lực, nên các bên tranh chấp hoặc chính Hội đồng

Ngày đăng: 06/11/2018, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w