.Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của hòa giải viên lao động...8 2.2.2.Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích tại Hội đồng t
Trang 1MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỀ LỢI ÍCH 2
1.1 Khái niệm tranh chấp lao động tập thể về lợi ích 2
1.2 Đặc điểm của tranh chấp lao động tập thể về lợi ích 3
II THẨM QUYỀN VẦ TRÌNH TỰ, THỦ TỊCH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỀ LỢI ÍCH THEO QUY ĐỊNH TẠI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012 5
2.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể vì lợi ích 5
2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích 7
2.2.1 .Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của hòa giải viên lao động 8
2.2.2.Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích tại Hội đồng trọng tài lao động 9
III NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ THẨM QUYỀN VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYÊT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỀ LỢI ÍCH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012 SO VỚI PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 11
3.1 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp 11
3.2 Những điểm mới về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp 13
C KẾT LUẬN 16
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là một hiện tượng xã hội phổ biến trong nền kinh tế thị trường Tranh chấp lao động tập thể xảy ra ngày càng thường xuyên hơn ở Việt Nam, đây là loại hình tranh chấp có quy mô lớn, nó sẽ gây tác động tiêu cực đến cuộc sống của người lao động cũng như sự bình ổn của quan hệ sản xuất, thậm chí cả an ninh công cộng Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật liên quan tới vấn
đề này là hết sức quan trọng và có tính cấp thiết Do đó, nhóm chúng tôi đã lựa
chọn đề tài: “Thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích theo quy định tại BLLĐ 2012 - những điểm mới so với pháp luật hiện hành” để làm bài tập nhóm chuyên đề của mình
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỀ LỢI ÍCH
1.1 Khái niệm tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
Để hiểu rõ khái niệm tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, ta sẽ đi từ những khái niệm chung nhất về tranh chấp, tranh chấp lao động
Theo từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1998, “tranh chấp là
sự đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là những vấn đề quyền lợi giữa các bên”.
Khoản 1 Điều 157 Bộ luật Lao động Việt Nam (đã sửa đổi bổ sung năm 2006)
quy định: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh
trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể người lao động với người sử dụng lao động”.
Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì tại Khoản 7, Điều 3 có đưa
ra khái niệm về tranh chấp lao động Theo đó: “Tranh chấp lao động là tranh chấp
về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.
Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động”.
Khái niệm tranh chấp lao động tập thể về lợi ích cũng liên quan đến khái niệm
tập thể lao động Tại Khoản 3 Điều 3 Bộ luật lao động 2012 đã định nghĩa: “Tập
Trang 3thể lao động là tập hợp có tổ chức của người lao động cùng làm việc cho một người sử dụng lao động hoặc trong một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của người
sử dụng lao động.”
So với khái niệm cũ được quy định tại Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung năm
2006, khái niệm này đã nhấn mạnh hơn vào tính liên kết, tập hợp của người lao động Từ khái niệm trên, có thể hiểu, tập thể lao động là một tập hợp những người lao động được hình thành tự nhiên trong từng phạm vi nhất định Nhưng đấy không đơn thuần là tập hợp những người lao động rời rạc, mà giữa những người lao động này có sự liên kết với nhau, có tổ chức Họ có thể cùng hướng tới một lợi ích chung và chính sự liên kết giữa họ mới có thể góp phần tạo nên thế quân bình với người sử dụng lao động Tập thể lao động ra đời không cần có sự cho phép hay xác nhận của công quyền hay sự cho phép của người sử dụng lao động Bởi vì việc liên kết với nhau của người lao động là xuất phát từ nhu cầu bảo vệ quyền lợi của người lao động, giúp họ chống lại những đối xử bất công từ phía người sử dụng lao động Hình thành tập thể lao động có thể xem như một quyền năng tự nhiên của người lao động được pháp luật nhiều nước thừa nhận Trong quan hệ với người sử dụng lao động, tập thể lao động chủ yếu thực hiện quyền, nghĩa vụ thông qua đại diện là tổ chức công đoàn
Tại khoản 9 Điều 3 Bộ luật LĐ năm 2012 quy định: “Tranh chấp lao động
tập thể về lợi ích là tranh chấp lao động phát sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu
xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật về lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động”.
Quy định này của pháp luật giúp chúng ta nhận biết và phân biệt với tranh chấp lao động tập thể về quyền Sự khác biệt giữa hai khái niệm này cho phép có thể rút ra một số dấu hiệu cơ bản để nhận biết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, tranh chấp lao động tập thể về quyền Trên cơ sở đó mà các chủ thể xác định được trình tự, thủ tục khi giải quyết những tranh chấp lao động xảy ra để có cách giải quyết nhanh và đúng nhất
Trang 41.2 Đặc điểm của tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
Thứ nhất, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích luôn tồn tịa và phát sinh từ những bất đồng về “lợi ích” giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích phát sinh khi không
có sự vi phạm đến quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể của tranh chấp Đây là đặc điểm cơ bản nhất của loại tranh chấp này Nó giúp chúng ta phân biệt được tranh chấp lao động tập thể về lợi ích với tranh chấp lao động tập thể về quyền cũng như với các loại hình tranh chấp khác xảy ra trong xã hội
“Lợi ích”, đối tượng của tranh chấp lao động tập thể về lợi ích chính là những điều kiện làm việc mới (như tiền lương, tiền thưởng, thu nhập, định mức lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và phúc lợi khác trong doanh nghiệp) cho tập thể người lao động so với quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế thỏa thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp trong quá trình thương lượng tập thể giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động
Quá trình sử dụng lao động thường biến động và kéo dài đòi hỏi các bên chủ thể của quan hệ lao động là tập thể người lao động và người sử dụng lao động phải thỏa thuận thiết lập các quyền và nghĩa vụ trước đó Khi đó, sự vi phạm thỏa thuận xâm hại đến quyền, lợi ích của một bên đối với bên kia trong quan hệ lao động thì vấn đề tranh chấp sẽ được đặt ra Tuy nhiên, trong quá trình duy trì quan hệ lao động, do đặc điểm thời gian thực hiện mối quan hệ tương đối lâu dài cho nên không phải bao giờ các thỏa thuận của hai bên cũng phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp Nếu xảy ra trường hợp các bên tham gia quan hệ lao động đều
đã thực hiện những quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng với quy định của pháp luật và theo như thỏa thuận nhưng tập thể người lao động cho rằng những quyền lợi mà mình được hưởng những quyền lợi mà họ cho rằng mình xứng đáng được hưởng thì vấn đề tranh chấp lao động vẫn được đặt ra
Thứ hai, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là loại hình tranh chấp thường dẫn đến đình công do đó loại hình tranh chấp này gây ảnh hưởng rất lớn đến an ninh công cộng, đời sống kinh tế và chính trị toàn xã hội Người lao động và gia đình trông cậy vào thu nhập ổn định từ lao động của họ Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, chính trị - xã hội phụ thuộc vào sự ổn định chung trong đời sống của người lao động Trong khi đó, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là loại
Trang 5hình tranh chấp có sự tham gia của tập thể lao động, khi tranh chấp xảy ra sẽ gây thiệt hại cho thu nhập của những người lao động trong tập thể Điều nay sẽ gây ảnh hưởng đến kinh tế của nhiều gia đình người lao động trong tập thể đó Trong tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, tập thể người lao động yêu cầu người sử dụng lao động cho họ những lợi ích mà họ cho rằng mình xứng dáng được hưởng Do vậy, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích thường dẫn tới đình công, tuy nhiên có một thực tế là đa số các cuộc đình công xảy ra ở Việt Nam là bất hợp pháp, điều này sẽ đem lại hậy quả bất lợi cho người lao động Người lao động tham gia vào tranh chấp lao động với mong muốn sẽ đạt được những lợi ích nhất định Tuy nhiên trong trường hợp này, họ chẳng những không được lợi ích gì khi tham gia tranh chấp mà có thể còn phải chịu những trách nhiệm phát sinh (nếu gây thiệt hại cho người sử dụng lao động), điều này nếu xảy ra sẽ gây thiệt hại nặng nề cho người lao động và gia đình họ Đối với doanh nghiệp sử dụng lao động, dù vụ việc tranh chấp lao động tập thể xảy ra trong phạm vi bộ phận doanh nghiệp hay trong toàn doanh nghiệp, dù họ có thể bác bỏ yêu cầu của người lao động hoặc phải chấp nhận chúng hay không thì hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng sẽ bị ngưng trệ Điều đó gây thiệt hại không nhỏ cho doanh nghiệp và nếu không khắc phục kịp thời có thể dẫn tới phá sản doanh nghiệp Trong trường hợp tập thể người lao động đình công trong phạm vi toàn ngành (như vụ đình công của công nhân tàu điện ngầm ở Anh…) chẳng những gây thiệt hại cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh độc lập trong ngành đó mà còn gây bất ổn cho nền kinh tế của cả nước, dẫn đến bất ổn cho chính trị và an ninh toàn xã hội, đây là một hậu quả cực kỳ nghiêm trọng của tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
II THẨM QUYỀN VẦ TRÌNH TỰ, THỦ TỊCH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TẬP THỂ VỀ LỢI ÍCH THEO QUY ĐỊNH TẠI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
II.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể vì lợi ích
Việc giải quyết tranh chấp lao động có ý nghĩa vô cùng to lớn, trước hết là giúp ổn định quan hệ lao động, bảo vệ các bên tranh chap khỏi bị xâm hại, đồng thời giúp bảo vệ các quan hệ kinh tế, phòng ngừa và khắc phục những xung đột phát sinh Bên cạnh đó, giải quyết tranh chấp lao động còn giúp bảo vệ pháp chế và tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đối với mọi người Đó không chỉ là mong muốn của các bên tranh chấp mà còn là nhiệm vụ của nhà nước Nhận
Trang 6thấy được tầm quan trọng đó nên pháp luật lao động của nước ta đã có những quy định khá cụ thể vê các cơ quan giải quyết tranh chấp lao động nhằm ổn định các mối quan hệ xã hội
Khoản 2 Điều 203 BLLĐ 2012 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:
a) Hoà giải viên lao động;
b) Hội đồng trọng tài lao động”.
- Hòa giải viên lao động được cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cử để hòa giải tranh chấp lao động (1) Khi tham gia giải quyết vụ tranh chấp lao động nói chung và tranh chấp lao động tập thể về lợi ích nói riêng, hòa giải viên lao động có trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động, không được lợi dụng danh nghĩa hòa giải viên lao động để thực hiện các hành vi trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội
So với hình thức Hội đồng hòa giải lao động thì hình thức hòa giải viên lao động có ưu điểm vượt trội hơn đó là: hòa giải viên lao động là bên độc lập, trung gian đại diện cho nhà nước được mời đến để giải quyết tranh chấp, họ hoàn toàn là người không liên quan đến doanh nghiệp Do dó, việc giải quyết tranh chấp sẽ khách quan, nhanh chóng không vì lợi ích riêng của bên nào Còn Hội đồng hòa giải thì hai bên thương lượng, là đại diện cho quyền lợi của hai bên đối lập nên có khả năng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng là rất lớn nếu như buổi thương lượng không được chuẩn bị chu đáo Tuy nhiên, hình thức hòa giải viên lao động cũng có hạn chế đó là chỉ khi hai bên tranh chấp đặt niềm tin vào người hòa giải thì họ mới trao đổi những nội dung còn vướng mắc để từ đó hòa giải viên có thể đưa ra phương án chính xác thu hút được sự đồng thuận của các bên Điều này đòi hỏi hòa giải viên phải là những chuyên gia giỏi, có uy tín thực sự Trong khi thực tế, việc tuyển được một hòa giải viên giỏi không hề đơn giản, họ lại thường xuyên thay đổi công tác Mặt khác, hiệu quả hoạt động hòa giải của hòa giải viên lao động không cao vì các hòa giải viên lao động đều là kiêm nhiệm, kinh phí thù lao cho họ cũng hạn chế
- Cơ quan thứ hai có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là Hội đồng trọng tài lao động Hội đồng trọng tài lao động do Chủ tịch Ủy
Trang 7ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Thành phần của Hội đồng trọng tài lao động được hình thành theo số lẻ và không quá 07 người, trong đó có: Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về lao động, thư ký Hội đồng và các thành viên là đại diện công đoàn cấp tỉnh, tổ chức đại diện người sử dụng lao động Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Hội đồng trọng tài lao động có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quan
hệ lao động ở địa phương (2) Hội đồng trọng tài lao động quyết định theo đa số bằng hình thức bỏ phiếu kín (3) Do Bộ luật lao động 2012 chưa có các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, theo hướng dẫn thi hành của Bộ luật hiện hành (4), Hội đồng trọng tài lao động khi giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
+ Một là, tìm hiểu vụ việc, gặp gỡ các bên tranh chấp, những người liên quan, những người làm chứng Thu thập tài liệu chứng cứ, yêu cầu các bên tranh chấp và những người có liên quan cung cấp đầy đủ các tài liệu có liên quan đến vụ tranh chấp
+ Hai là, yêu cầu các bên tranh chấp tới phiên họp hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp do hội đồng trọng tài triệu tập
+ Ba là, đưa ra phương án hòa giải để hai bên tranh chấp cùng xem xét thương lượng
+ Bốn là, lập biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành
II.2 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
Theo quy định tại Điều 204 Bộ luật lao động 2012, trình tự hoà giải tranh chấp lao động tập thể về lợi ích được thực hiện theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật, trong đó Biên bản hòa giải phải nêu rõ loại tranh chấp lao động tập thể
- Trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành các bên có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết
- Trường hợp hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của
Bộ luật mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì các bên có quyền
Trang 8gửi đơn yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xác định loại tranh chấp về quyền hoặc lợi ích Trường hợp là tranh chấp lao động tập thể về lợi ích thì hướng dẫn ngay các bên yêu cầu giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 204 (yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết)
II.2.1 Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của hòa giải viên lao động
Trình tự hoà giải tranh chấp lao động tập thể được thực hiện theo quy định tại Điều 201 của Bộ luật lao động 2012 và Biên bản hòa giải phải nêu rõ loại tranh chấp lao động tập thể (về lợi ích) Theo quy định trên thì có thể thấy rằng thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích được tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: nhận đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Theo đó, mỗi bên hoặc cả hai bên tranh chấp lao động tập thể về lợi ích khi có yêu cầu giải quyết tranh chấp phải làm đơn yêu cầu gửi cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện trong trường hợp ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động thỏa thuận với NSDLĐ quyết định lựa chọn hòa giải viên lao động giải quyết
- Bước 2: chuẩn bị phiên họp hòa giải vụ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Theo đó, Hòa giải viên được phân công giải quyết vụ tranh chấp lao động phải nhanh chóng tiến hành tìm hiểu vụ việc và dự kiến phương án hòa giải
- Bước 3: tổ chức hòa giải vụ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Tại phiên họp hòa giải, hòa giải viên lao động phải kiểm tra sự có mặt của hai bên tranh chấp lao động, những người được mời Trường hợp hai bên tranh chấp lao động ủy quyền cho người khác làm đại diện thì phải kiểm tra giấy ủy quyền Khi hai bên tranh chấp hoặc đại diện của họ có mặt đầy đủ tại phiên họp thì tiến hành hòa giải Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng
+ Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành
+ Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành
Trang 9+ Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý
do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành
+ Trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 201 mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết (5)
Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản
Như vậy, việc giải quyết tranh chấp lao động bằng con đường hòa giải tại cơ sở có
ý nghĩa rất quan trọng Thứ nhất, đây là phương pháp giải quyết tranh chấp có thể tạo ra khả năng duy trì quan hệ lao động sau tranh chấp Thực chất của việc hòa giải tranh chấp lao động là việc hai bên tiếp tục thương lượng, thỏa thuận với nhau với sự giúp đỡ của hòa giải viên để tìm ra được giải pháp chung, giải quyết được mâu thuẫn, bất đồng Vì vậy, các bên tranh chấp có thể thỏa thuận lựa chọn phương
án giải quyết tranh chấp phù hợp với yêu cầu, điều kiện của mình để rồi sau đó lại tiếp tục hợp tác sau tranh chấp Thứ hai, hòa giải tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là phương pháp giải quyết tranh chấp lao động nhanh chóng và tiết kiệm nhất bởi thủ tục hòa giải nhanh gọn (Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải), giúp các bên nhanh chóng giải quyết tranh chấp Mặt khác, khi hòa giải tranh chấp tại cơ sở thì các bên tranh chấp không phải nộp bất kì một khoản lệ phí nào cho hòa giải viên
II.2.2.Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích tại Hội đồng trọng tài lao động
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích của Hội đồng trọng tài lao động được quy định tại Điều 206 BLLĐ 2012 bao gồm các bước: thụ lý vụ việc, chuẩn bị giải quyết, phiên họp hòa giải (hoặc hòa giải và giải quyết) tranh chấp lao động của Hội đồng trọng tài lao động
- Bước 1: Thụ lí vụ việc
Trang 10Sau khi tiến hành hòa giải nhưng không thành thì mỗi bên tranh chấp đều có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải cung cấp cho Hội đồng trọng tài lao động tất cả những chứng
cứ, tài liệu liên quan tới vụ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Đơn yêu cầu của đương sự phải được gửi tới Hội đồng trọng tài lao động nơi xảy ra tranh chấp Khi chủ tịch Hội đồng đã duyệt thụ lí, thư kí Hội đồng trọng tài lao động vào sổ thụ lí, thông báo cho các bên đương sự biết và bắt đầu các thủ tục cần thiết cho việc hòa giải và giải quyết tranh chấp lao động tập thể giữa các bên
- Bước 2: Chuẩn bị giải quyết
Chuẩn bị giải quyết tranh chấp lao động là quá trình Hội đồng trọng tài lao động tiến hành những công việc cần thiết để tiến tới phiên họp hòa giải và ra quyết định về vụ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích mà hội đồng đã thụ lí
Những công việc mà Hội đồng trọng tài lao động phải tiến hành trong quá trình chuẩn bị giải quyết tranh chấp có thể bao gồm:
+ Cử thành viên của Hội đồng trọng tài tham gia hòa giải, giải quyết tranh chấp lao động
+ Xác minh, thu thập chứng cứ, lập hồ sơ giải quyết tranh chấp Bao gồm nhiều cách như: yêu cầu các bên đương sự, các cơ quan, cá nhân, tổ chức hữu quan cung cấp các tài liệu, chứng cứ; xác minh tại chỗ, trưng cầu giám định
+ Gửi hồ sơ giải quyết tranh chấp cho các đương sự, thành viên hội đồng tham gia giải quyết vụ tranh chấp Hồ sơ giải quyết tranh chấp bao gồm: các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ tranh chấp, danh sách thành viê hội đồng tham gia giải quyết
+ Trường hợp một hoặc cả hai bên tranh chấp có yêu cầu thay đổi thành viên của Hội đồng trọng tài lo động vì cho rằng thành viên đó không đảm bảo tính khách quan, công bằng trong việc giải quyết tranh chấp lao động thì phải có đơn gửi Hội đồng trọng tài lao động Việc thay thế thành viên trong từng phiên họp hòa giải và giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích do chủ tịch Hội đồng trọng tài lao động quyết định 6
- Bước 3: Phiên họp hòa giải