Câu hỏi nghiên cứu đặt ra là liệu thua lỗ lớn như vậy thì một người có thể nghĩ đó là thất bại của quản trị rủi ro hay không?. Và cuối cùng, mục tiêu của bài nghiên cứu là nhằm thảo luận
Trang 1TÓM TẮT
Bài viết nhan đề: Những thất bại của quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào? được thực hiện bởi tác giả Rene M Stulz, phòng Tài Chính, Đại học bang Ohio tháng
10 năm 2008
Thua lỗ lớn không phải là bằng chứng của thất bại quản trị rủi ro vì thua lỗ lớn có thể xảy ra thậm chí quản trị rủi ro không có sai sót gì cả Tác giả cung cấp một lý thuyết về thất bại của quản trị rủi ro và những dạng thất bại quản trị rủi ro hay xảy ra Xuất phát từ nguyên nhân có sự hạn chế trong việc đánh giá khả năng xảy ra dựa vào dữ liệu quá khứ và những tiềm ẩn của khủng hoảng tài chính, tác giả kết luận những tổ chức tài chính nên sử dụng phân tích ngữ cảnh để đánh giá ngay cả khi khả năng xảy ra các sự kiện là rất nhỏ
I GIỚI THIỆU:
Mục tiêu nghiên cứu của bài: Trên thực tế, có trường hợp thất bại của hedge fund LTCM năm 1998, một quỹ đầu tư quy mô lớn nhưng lại lỗ rất nhiều Câu hỏi nghiên cứu đặt
ra là liệu thua lỗ lớn như vậy thì một người có thể nghĩ đó là thất bại của quản trị rủi ro hay không? Bài nghiên cứu bàn luận đến liệu bài học thất bại quản trị rủi ro có giúp cải thiện thực hành quản trị rủi ro không? Và cuối cùng, mục tiêu của bài nghiên cứu là nhằm thảo luận một cách tiếp cận quản trị rủi ro để có thể cải thiện nó trong tương lai giúp công tác quản trị rủi ro tốt hơn
Lý do của bài nghiên cứu ra đời là vì: Bài nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh kinh tế toàn cầu khủng hoảng, vì vậy, vấn đề nổi cộm của bài nghiên cứu đã lồng khủng hoảng tài chính vào công tác quản trị rủi ro Đề xuất bài học kinh nghiệm rút ra từ những thất bại trước đây và gợi ý một số phương pháp tốt hơn giúp hạn chế thất bại của quản trị rủi ro
II CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY:
Có nhiều nghiên cứu trước đây về đề tài này, nhóm xin đưa ra một số những paper tìm được
có liên quan tới bài nghiên cứu gốc:
1 Financial Crisis: Where did risk management fail?(tạm dịch: Khủng hoảng tài chính: đâu là thất bại của quản trị rủi ro?) Tác giả: Gabriele Sabato – Royal bank
of Scotland.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả tin rằng có 3 thất bại quan trọng của QTRR ở hầu hết các ngân hàng: 1) thiếu vắng chiến lược vốn, 2) Tầm nhìn rời rạc về rủi ro và 3)
Trang 2cấu trúc quản trị rủi ro không thích hợp Những vấn đề này không bao giờ được nghiên cứu một cách thích đáng ở các ngân hàng và trở nên rõ ràng hơn ở giây phút khủng hoảng bắt đầu
Tác giả đề xuất một chiến lược phân phối vốn nên được xác định cho cả ngắn và dài hạn sử dụng mô hình hấp thụ rủi ro Mô hình này xác định khả năng chịu đựng rủi ro
và mức độ hấp thu rủi ro của ngân hàng theo sau những chỉ đạo của ban giám đốc Phòng rủi ro và kinh doanh cần làm việc chung với nhau để tạo ra một nền văn hóa rủi
ro trong tổ chức tài chính
Trong bài nghiên cứu, tác giả cũng chỉ ra rằng cách rủi ro được kết hợp và báo cáo không có cách tối ưu Một khối lượng lớn các bài nghiên cứu tìm ra nhiều cách mà các NH có thể thực hiện một mô hình quản lý rủi ro doanh nghiệp (enterprise risk management framework), nhưng có rất ít các NH thử thực hiện và thậm chí còn ít hơn nữa số các ngân hàng thành công
Cuối cùng tác giả biện luận rằng cấu trúc quản trị rủi ro có lẽ cũng đóng một vai trò
cơ bản trong thất bại của QTRR thực tế ở hầu hết các NH Hệ thống báo cáo yếu kém cùng với sự thiếu vắng tầm nhìn của CRO ở cấp độ ban quản trị là vấn đề chính nên được giải quyết để đảm bảo tính độc lập của chức năng QTRR
2 The paradox of a predictable failure in RM (tạm dịch: Nghịch lý của thất bại quản trị rủi ro có thể tiên đoán được) Tác giả: Olivier Raison, Swiss Management Center.
Bài nghiên cứu này trình bày một vài vấn đề mấu chốt mà khủng hoảng tài chính đã mang lại sự sáng tỏ cho quản trị rủi ro và thiếu sự kiểm soát từ các công ty cổ phần, ngân hàng, kiểm toán, đại lý tín dụng và chính phủ Bài nghiên cứu không tập trung cung cấp những giải pháp nhưng thay vì vậy chúng cho người đọc hiểu biết 1 cách hợp lý những gì có thể đã tránh được hay cải thiện
Theo sau sự sụp đổ của hệ thống tài chính và ngân hàng trong năm 2008, một lần nữa
có thể hy vọng rằng các nhà quản trị cấp cao sẽ có cái nhìn sáng suốt hơn mà quản trị rủi ro mang lại Quả thực, quyền ưu tiên của họ thường là sự thành công khi vận hành công ty cái
mà nhà đầu tư thường quan tâm là cổ phiếu và lợi tức mang lại cho họ Do đó, điều này gửi thông điệp rõ ràng đến nhà quản lý cấp cao người mà chấp nhận mức rủi ro cao hơn để đạt được điều mà họ mong muốn
Trong khi, những đám mây lớn được tạo ra xung quanh thị trường tài chính được giấu
đi thực ra là khủng hoảng tín dụng bắt nguồn từ nguyên nhân do những người thường theo đuổi mục tiêu ngắn hạn hơn là sự tăng trưởng dài hạn
Trang 3Không may thay, lịch sử gợi lại cho chúng ta rằng mỗi quy định hoặc thủ tục được tạo
ra là lổ hỗng của pháp luật mà nó có thể được khai thác Vì thế, vấn đề tổng quát lừa dối thiết
kế hiệu quả của những hệ thống được quy định, sự đưa vào sổ sách kế toán rủi ro cố hũ riêng biệt có lien quan giữa kinh tế và đầu tư cá nhân Tập trung nhiều hơn trong vấn đề này chắc chắn sẽ giảm mầm móng trong tương lai và bây giờ nó đang là mối lo ngại ở châu Âu và Mỹ những ai đang tìm cải cách nổi bậc trong hệ thống luật lệ và chất lượng những tổ chức xếp hạng Cải tiến quản trị rủi ro bây giờ là đòi hỏi rõ ràng Do đó, hệ thống quản trị rủi ro yếu kém đưa đến rủi ro nhiều hơn
3 Risk Management Lessons from Madoff Fraud (Tạm dịch: Những bài học của quản trị rủi ro từ sự lừa đảo của Madoff) Tác giả: Pierre Clauss,Thierry Roncalli,Guillaume Weisang:First version: March 2, 2009 ,Current version: April 4, 2009.
Sau khi vụ lừa đảo của Madoff (tháng 12 năm 2008) bằng việc giải thích hệ thống của Madoff và việc khám phá ra những lý do đối với sự sụp đổ của nó Bài nghiên cứu này đã rút
ra những bài học về quản trị rủi ro đối với sự lừa đảo này, đặc biệt đối với quản trị rủi ro hoạt động
Bài nghiên cứu này trình bày những vấn đề đối với yêu cầu vốn rủi ro được nêu ra bởi
sự sụp đổ kế hoạch của Madoff Những ảnh hưởng đối với quá trình làm việc phù hợp, bao gồm việc sử dụng việc sao chép định lượng để đánh giá sự tin cậy của việc thực hiện một quỹ phòng hộ cũng được xem xét
Cuối cùng sự suy xét được đưa ra đối với phương pháp tiêu chuẩn hóa và lập quy của nghề kinh doanh quỷ phòng vệ như là một sự phản ứng đối với những sự lừa đảo tương tự như của Madoff
4 The Amaranth Debacle: A Failure of Risk Measures or a failure of Risk Management? (Tạm dịch: Sự tan rã Amaranth: Thất bại của đo lường rủi ro hay thất bại của quản trị rủi ro?) Tác giả: Ludwig B Chincarini: First Version: December 5, 2006.
Tháng 9 năm 2006 hoạt động của Amaranth Advisors(một quỹ phòng hộ có qui mô lớn ở tiểu bang Connecticute, Mỹ) đã thua lỗ 5,85 tỉ đô la tương đương với 2/3 số tài sản trong những hoạt động hợp đồng tương lai và quyền chọn của quỷ.Ba tháng sau đó,quỹ Amaranth đã bị thanh lý Bài viết này trình bài một cuộc điều tra chi tiết về những nguyên
Trang 4nhân có thể có đằng sau vụ thất bại của quỹ đầu cơ này và rút ra những bài học bằng việc đánh giá những hoạt động kinh doanh của Amaranth trong khuôn khổ quản trị rủi ro tiêu chuẩn.Amaranth có dính liếu trong những vụ làm ăn mang tính rủi ro cao mà nó liên quan đến vấn đề tài chính nghiêm trọng đối với rủi ro thanh khoản-một yếu tố rủi ro cực kỳ khó khăn để quản lý
Bài nghiên cứu này đã sử dụng dữ liệu quyền chọn và hợp đồng tương lai khí đốt lich
sử từ NYMEX được kết hợp với bằng chứng khác nhau từ những nguồn tài liệu công khai để xác định những nghề kinh doanh nào có khả năng hơn và ít khả năng hơn được Amaranth hoạt động
Bài nghiên cứu cũng điều tra việc quản trị rủi ro của Amaranth là không đủ
Bài nghiên cứu cũng kiểm tra phương diện khác của vấn đề rủi ro, đó là rủi ro thanh khoản
5 Oversight liability for risk management failures at financial firms - Robert T Miller
Vài người giả thuyết rằng nếu tài chính công ty có quản lý rủi ro thì công ty sẽ không bao giờ lỗ và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2008 đã có thể được ngăn ngừa Đây có thể nói là sự mê tín của một số nhà trí thức
Quản lý rủi ro không giống như một ma thuật Những mô hình tài chính được sử dụng trong quản lý rủi ro dự đoán tương lai dựa vào những dự định: tương lai mong đợi sẽ xảy ra giống như quá khứ nhưng thường thì không như vậy Những thiết kế và áp dụng những mô hình này thường bao gồm những quy định đáng kể của các hoạt động kinh doanh và những thất bại của quản lý rủi ro là do những thất bại do quyết định kinh doanh
Những quyết định kinh doanh với 1 kết quả tồi có thể là đặc điểm của thất bại trong quản lý rủi ro Mở rộng oversight liability cho những sai lầm trong quản lý rủi ro được xem như ủy quyền cho thẩm phán xem xét những điểm tốt trong các quyết định kinh doanh tại các level kinh doanh của công ty Nếu những luật lệ quyết định kinh doanh của công ty hiệu quả thì việc mở rộng này xem như phá hủy những hiệu quả này
Trong quản lý rủi ro không phải là ngăn chặn lỗ mà nói đến việc một smoothing returns và quyết định sao cho smooth returns là một quyết định kinh doanh Và quản lý rủi ro
là trách nhiệm của ban giám đốc không phải của các courts
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong bài nghiên cứu này, tác giả không sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (không có mô hình, số liệu, chạy dữ liệu…) mà chỉ đơn giản là dùng phương pháp thống kê
Trang 5mô tả Phương pháp này dựa vào phân tích sự kiện và các lý thuyết đã biết để suy ra ý kiến của tác giả, thuộc nghiên cứu định tính
IV NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Theo tác giả, để định nghĩa thất bại của quản trị rủi ro, một người cần phải xác định vai trò của quản trị rủi ro: trong một công ty, vai trò của quản trị rủi ro là: đầu tiên, đánh giá công ty gặp phải rủi ro gì, tuyên truyền rủi ro đó cho những người đưa ra quyết định có rủi ro
Và cuối cùng quản lý và theo dõi những rủi ro đó sao cho chắc chắn rằng cty chỉ đang phải gánh chịu rủi ro trong khoảng rủi ro mà ban điều hành chấp nhận
Đo lường rủi ro: VaR là mức tổn thất/lỗ lớn nhất (maximum loss) được cho ở một độ tin cậy nhất định trong 1 khoảng thời gian Như vậy, nếu sử dụng độ tin cậy 95%, và 1 cty có VaR một ngày là 150 triệu USD, cty có tỷ lệ 5% bị lỗ vượt trên 150 triệu USD ngày tiếp theo nếu VaR được tính đúng
Về phương pháp Var, xin được giải thích mở rộng thêm ở phần phụ lục
Tác giả nhấn mạnh, quản trị rủi ro không ngăn ngừa lỗ Với việc quản trị rủi ro tốt, lỗ lớn có thể xảy ra khi những quyết định chấp nhận rủi ro kết luận rằng chấp nhận những rủi ro lớn và hiểu biết nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp
Có 2 dạng lỗi trong việc xác định rủi ro:
+ Rủi ro đã biết bị đo lường sai và một vài rủi ro có thể bị bỏ qua
+ Nhà quản trị rủi ro có thể thất bại trong việc sử dụng phương pháp đo lường rủi ro
6 dạng thất bại của quản trị rủi ro:
1) Mismeasurement of known risks (đo lường sai rủi ro đã biết)
2) Failure to take risks into account (bị bỏ sót rủi ro)
3) Failure in communicating the risks to top management (thất bại trong việc truyền đạt rủi
ro đó cho ban giám đốc)
4) Failure in monitoring risks (thất bại trong việc theo sát rủi ro)
5) Failure in managing risks (thất bại trong việc quản lý rủi ro)
6) Failure to use appropriate risk metrics (thất bại trong việc sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro thích hợp)
Đi vào chi tiết:
1.Mismeasurement of known risks (đo lường sai rủi ro đã biết): Khi đo lường rủi ro, nhà
quản trị rủi ro cố gắng hiểu dạng phân phối của lợi nhuận có thể xảy ra Có thể bị sai lầm khi
Trang 6đánh giá khả năng thua lỗ hay độ lớn của thua lỗ Hơn nữa, họ có thể dùng dạng phân phối sai
Ví dụ trong trường hợp của LTCM, giả dụ, xác suất thua lỗ 70% cao hơn 1 một khoảng 25% (tức xác suất thực tế là 1.25%) nhưng nhà quản trị rủi ro lại đánh giá là chỉ 1% Việc này có thể dấn đến kết quả tệ hại cho nguồn quỹ vì nó có thể dẫn đến thực thi những thương vụ làm hủy hoại giá trị cty
LTCM chỉ lỗ 70% 1 lần, làm sao chúng ta biết được việc đánh giá rủi ro bị lỗi là 1.25% chứ không phải 1%? thực tế là không biết được
Một phần khác là, lỗi cũng xảy ra nếu phân phối không phải là nhị phân, mà là một phân phối khác nữa kết hợp vào Chẳng hạn, có 1% xác suất lỗ 70% và thêm 9% xác suất lỗ 100% Lỗi khác nữa là đánh giá sai mối tương quan (correlation) giữa các positions hay các dự
án Khi tương quan cao, rủi ro có vẻ cao hơn
Phân phối của rủi ro thường dựa vào dữ liệu của quá khứ, nhưng không phải vấn đề nào cũng có dữ liệu trong quá khứ sẵn
Có 1 vấn đề cơ bản đối với quản trị rủi ro là khi các đánh giá là chủ quan Những dự đoán chủ quan dễ bị đặt câu hỏi nghi vấn Chẳng hạn, người ta sẽ thắc mắc là liệu những dự đoán của nhà quản trị rủi ro đối với bất động sản có tốt hơn là bản thân các chuyên gia bất động sản hay không? Nếu các chuyên gia bất động sản cho rằng việc giảm giá mạnh là khó xảy ra, thì tại sao lại phải tốn một khoản chi phí cho việc kiểm tra về điều đó để tìm ra tác động của việc sụt giá nghiêm trọng? Kết quả là, cuối cùng người ta dựa vào sở thích rủi ro của nhà quản trị hơn là 1 mô hình quản trị rủi ro
2.Mismeasurement due to ignored risks
Có 3 trường hợp rủi ro bị bỏ qua:
- Bỏ qua rủi ro đã biết trước: bỏ qua rủi ro có thể gây ra tổn thất lớn Ví dụ trường hợp hedging theo ví dụ trong bài
- Bị mắc lỗi trong thu thập thông tin: Do không ai biết về nó hay bởi vì có một ai đó biết
về rủi ro đó nhưng không đưa vào mô hình rủi ro liên quan Ví dụ về 1 trường hợp ngân hàng Thụy Sĩ
- Những rủi ro không được biết đến: hầu hết những rủi ro không được biết đến không tạo
ra vấn đề quản trị rủi ro Vì những rủi ro này rất nhỏ bé, không đáng kể, xác suất xảy ra rất thấp Ví dụ về trường hợp 1 người đánh giá lợi nhuận của 1 cổ phiếu Anh ta tin rằng cổ phiếu theo phân phối chuẩn Với mô hình này, anh ta không cần quan tâm tại sao lợi nhuận trong 1 thời kỳ lại là 10%, trong thời kỳ khác là -15% Với công việc của
Trang 7anh ấy, anh ta luôn biết mức dao động 20%, và có 5% xác suất thua lỗ trên 30% hay hơn Rủi ro này không ảnh hưởng đến quyết định quản trị
Loại rủi ro chưa biết mà đại diện cho thất bại của quản trị rủi ro là những rủi ro chưa biết mà nếu như nhà quản trị rủi ro biết được thì họ sẽ hành động khác
3.Thất bại trong việc truyền đạt thông tin:
Thông tin thất bại là 1 trong những nguyên nhân của khủng hoảng gần đây Ví dụ như báo cáo của UBS giải thích cho cổ đông một cách phức tạp, không rõ ràng, dùng những dữ liệu lỗi thời hoặc gửi ko đúng cho những người đáng lẽ phải được nhận
4.Thất bại trong việc theo dõi và quản trị rủi ro:
Nhà quản trị rủi ro cần phải đảm bảo các rủi ro phải là những rủi ro mà công ty muốn
có chứ không phải những rủi ro khác Trong các công ty phi tài chính, rủi ro thường thay đổi một cách chậm rãi Công ty Tài chính thì ngược lại, rủi ro thay đổi rất nhanh, đặc biệt là khi
có các vị thế phái sinh Qua thời gian, những vị thế này trở nên phức tạp hơn nữa
Tác giả đề cập đến hedging như là một thành tố quan trọng trong việc áp dụng nhanh chóng
để giúp công ty ứng phó với rủi ro thay đổi
Tính hiệu quả của quản trị rủi ro phụ thuộc vào văn hóa và động lực thúc đẩy của công ty Nếu đánh giá rủi ro là việc của mọi người trong công ty, thì rủi ro rất khó chen chân vào Một công ty với văn hóa và động lực tốt sẽ quản trị rủi ro tích cực hơn và hiệu quả hơn một công ty với văn hóa và động lực nghèo nàn
5.Thất bại trong việc đo lường rủi ro:
Phương pháp daily VaR giả định rằng tài sản có thể bán đi một cách nhanh chóng hoặc được phòng ngừa rủi ro, vì vậy công ty có thể giới hạn rủi ro của nó qua từng ngày Tuy nhiên, trong cả năm 1998 và năm ngoái, chúng ta chứng kiến thị trường trở nên ít thanh khoản, và VaR bản thân nó mất đi giá trị Nếu một công ty ngồi trên 1 đống danh mục không thể giao dịch được, việc đo lường daily VaR không còn là một phương pháp đo lường rủi ro danh mục nữa bởi vì công ty đang bị kẹt lại với danh mục đó trong khoản thời gian dài hạn hơn
Để đánh giá rủi ro, một công ty sẽ phải xem xét các cách tiếp cận vấn đề dài hạn hơn
và sẽ phải có một cái nhìn tổng quát thấu đáo về RR của họ Tầm nhìn một năm (one-year horizon) được sử dụng rộng rãi để đo lường rủi ro firm-wide Phương pháp tiếp cận này có thể đánh giá rủi ro, ước tính vốn tối ưu cho công ty, và ước tính khả năng sinh lợi của dự án
và các dạng kinh doanh thông qua việc đánh giá cẩn thận chi phí vốn cần thiết để chịu được rủi ro của công ty Tuy nhiên, phương pháp này cũng chưa đủ
Trang 8Việc phân loại tín nhiệm hiệu quả cũng có nghĩa là công ty cố gắng tránh thất bại trong mọi trường hợp ngoại trừ những trường hợp đặc biệt nhất Nếu 1 công ty hướng tới mục tiêu xếp hạng AA, nó sẽ chọn 1 khả năng xảy ra thua lỗ ít thường xuyên nhất (ít hơn 1 lần trong hàng ngàn năm) Khủng hoảng xảy ra nhiều hơn thế, vì vậy công ty phải có 1 chiến lược cho phép nó sống sót trong khủng hoảng Hơn nữa, khả năng khủng hoảng xảy ra rất khó để tính toán một cách chính xác, vì vậy mặc dù khả năng ước tính xảy ra ít, nhưng với sai
số, thì khả năng/xác suất thực sự xảy ra lại cao hơn nhiều công ty nên quan tâm tới những
sự kiện khủng hoảng trong việc quản trị rủi ro
Các mô hình rủi ro hiện tại không được thiết kế để nắm bắt được rủi ro liên quan đến khủng hoảng Những mô hình này sử dụng dữ liệu quá khứ và chính xác hơn đối với chu kỳ ngắn – như là ngày Với những chu kỳ ngắn như vậy, thì khủng hoảng rất hiếm khi xảy ra Tuy nhiên, khi chúng ta xem xét đến tháng, năm thì khủng hoảng không còn hiếm xảy ra nữa Thời gian tháng và năm là thời kỳ tốt hơn đế đánh giá RR khi có khủng hoảng Có 2 lý do: thứ nhất, chẳng hạn như năm 2007, khủng hoảng dẫn đến thị trường mất đi tính thanh khoản lớn, Điều này có nghĩa là các công ty bị mắc kẹt lại ở vị thế mà chi phí cho các giao dịch cao
Vị thế các công ty nghĩ là có thể vượt qua trong khoảng 1 ngày thì lại bấtt ngờ bị kéo dài hàng tuần hay hàng tháng Thứ hai, trong suốt thời kỳ khủng hoảng, các công ty sẽ gây ra tổn thất lớn gấp bội daily VaR của họ và những tổn thất này có thể làm cho các công ty trở nên yếu đi Chính vì thế, các giải pháp đo lường rủi ro cần phải cân nhắc kỹ lưỡng đến phân phối thua lỗ lớn trong thời gian dài hơn thay vì chỉ trong một ngày
Quản trị rủi ro không tính đến một sự thật là, nếu một công ty là lớn trong một thị trường, thì thua lỗ của nó có thể gây ra thua lỗ nhiều hơn nữa Khi một công ty bị thua lỗ, nó
sẽ kéo theo giảm giá chứng khoán các tổ chức khác và làm việc tài trợ vốn trở nên tốn kém hơn trong các tổ chức, có thể có hiệu ứng phản hồi cho các tổ chức Việc bỏ qua các hiệu ứng phản hồi này có thể dẫn đến việc đánh giá thấp vị thế rủi ro trong trường hợp có khủng hoảng
Có ít hy vọng cho các mô hình rủi ro dựa vào những dữ liệu lịch sử để có thể nắm bắt được những tình huống phức tạp như trên Thay vào đó, công ty nên gia cố thêm vào những
mô hình với những phân tích ngữ cảnh để tìm hiểu bằng cách nào mà khủng hoảng bị phát hiện và làm cách nào họ có thể tác động vào nó dưới những giả định khác nhau về việc cách thức công ty phản ứng với khủng hoảng Với những phân tích ngữ cảnh trong tay như vậy, nhà quản lý cao cấp có thể hiểu được khủng hoảng gây tác hại đến công ty của họ và làm cách nào để quản lý rủi ro trước khi chúng xảy ra để họ có thể sống sót vượt qua Cách tiếp
Trang 9cận phân tích ngữ cảnh như thế đòi hỏi phân tích kinh tế và tài chính Cách tiếp cận như vậy không thể thành công nếu như các nhà quản trị cấp cao không tin vào những ngữ cảnh đại diện cho những nguy cơ hợp lý cho tổ chức và tổ chức đó phải bảo vệ chính nó chống lại những nguy cơ đó
V KẾT LUẬN:
Thực tế quản trị rủi ro có thể được cải thiện thông qua việc xem xét đến những bài học
từ khủng hoảng tài chính Những khủng hoảng này xảy ra thường xuyên đủ để mô hình hóa
và các tổ chức phải tập trung vào phân tích ngữ cảnh để đánh giá hàm ý rút ra từ khủng hoảng Những phân tích ngữ cảnh như vậy không thể được xây dựng từ những mô hình định lượng sử dụng dữ liệu quá khứ, mà thay vào đó họ phải sử dụng phân tích kinh tế để đánh giá tác động của việc mất đi thanh khoản và hiệu ứng tác động phản hồi vốn phổ biến trong các cuộc khủng hoảng tài chính Để tác động một cách thành công cho chiến lược công ty, những phân tích đó phải đào sâu vào văn hóa công ty và trong suy nghĩ chiến lược của các nhà quản trị cấp cao
Hướng nghiên cứu tiếp theo: Gợi ý của tác giả về phân tích ngữ cảnh là xác đáng Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu vào phương pháp phân tích mà chỉ đề ra giải pháp chung chung Vì vậy, cần đào sâu nghiên cứu hơn nữa phân tích ngữ cảnh là gì, phương pháp thực hiện Việc làm này không dễ, tuy nhiên cần có những nghiên cứu tiếp theo để đưa ra xu hướng cụ thể trong vấn đề phân tích ngữ cảnh