Đề cương đầy đủ, chi tiết, theo giá trình mới, trúng 90%, đã dàn chữ căn lề phù hợp in cỡ nhỏ (a8, a6) bao gồm cả các chủ đề thầy cho thảo luận trong kì.
Trang 1MỤC LỤC
Câu 1: Khái niệm đầu tư Phân loại hoạt động đầu tư 1
Câu 2: Đầu tư phát triển Đặc điểm đầu tư phát triển Phân biệt đầu tư phát triển và đầu tư dịch chuyển 3
Câu 3 : Nội dung của đầu tư phát triển 6
Câu 4: (Chủ đề 1) Vai trò của đầu tư với tăng trưởng kinh tế? Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam 7
Câu 5: (Chủ đề 2) Vai trò của đầu tư với dịch chuyển cơ cấu kinh tế Liên hệ thực tế Việt Nam 9
Câu 6: (Chủ đề 3) Nội dung cơ bản của các lý thuyết đầu tư Ưu nhược điểm của mỗi lý thuyết, đánh giá khả năng áp dụng các lý thuyết tại Việt Nam 11
Câu 7: Nguồn vốn đầu tư là gì? Bản chất nguồn vốn đầu tư? 15
Câu 8 Các nguồn vốn đứng trên góc độ vĩ mô? Đặc điểm mỗi nguồn 17
Câu 9: Các nguồn vốn đứng trên góc độ vi mô của doanh nghiệp? Đặc điểm? 20
Câu 10: Phân tích lợi ích huy động vốn qua thị trường chứng khoán? Liên hệ thực tiễn VN 22
Câu 11: Điều kiện và thủ tục phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn cho đầu tư 23
Câu 12 Điều kiện huy động có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư? Liên hệ thực tiễn VN 24
Câu 13: Đầu tư PT trong DN là gì??? Phân biệt hđ đầu tư PT trong DN và hđ sxkd trong DN 27
Câu 14: Các ND của đầu tư PT trong DN 27
Câu 15: Kết quả hđ đầu tư PT trong DN Các chỉ tiêu phản ánh kết quả hđ đầu tư PT trong DN 29
Câu 16: Hiệu quả hđ đầu tư PT trong DN Phân biệt kết quả và hiệu quả hđ đầu tư PT 50
Trang 2Câu 17: Mục tiêu, nhiệm vụ quản lý hđ đầu tư 31Câu 18: Các pp quản lý hđ đầu tư Ưu và nhược điểm mỗi pp Tại sao phải sd phối hợp các pp trong quản lý hđ đầu tư 32Câu 19: Phân tích, khái quát quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý hđ đầu tư tại VN thời gian qua Đặc trưng của quá trình thực hiện cơ chế quản lý hđ đầu tư tại VN thời gian qua là gì? 33
Trang 3Câu 1: Khái niệm đầu tư Phân loại hoạt động đầu tư
1 Khái niệm đầu tư
- Khái niệm thường dùng: đầu tư là quá trình sử dụng vốn hoặc các nguồn lực
khác nhau nhằm đạt được 1 hay tập hợp mục tiêu nào đó
- Khái niệm thiên về tài sản: đầu tư là quá trình bỏ vốn nhằm tạo ra tiềm lực
sản xuất kd dưới hình thức tài sản kd, đó cũng là quá trình quản trị tài sản để sinhlời
- Khái niệm thiên về khía cạnh tài chính: đầu tư là 1 chuỗi hoạt động chi của
nhà đầu tư và ngược lại nhà đầu tư sẽ nhận được 1 chuỗi hoạt động thu để hoàn vốn
và sinh lời
- Khái niệm thiên về tiến bộ KHKT: đầu tư là quá trình thay đổi phương thức
sản xuất thông qua việc đổi mới và hiện đại hóa phương thức sản xuất để thay thếlao động phổ thông
- Khái niệm thiên về xây dựng: đầu tư xây dựng là quá trình bỏ vốn nhằm tạo
ra các tài sản vật chất dưới dạng các công trình xây dựng
- Những điểm cần chú ý:
+ Chi phí và lợi ích thể hiện thông qua mqh trực tiếp or gián tiếp
+ Hiện tại và tương lai: yếu tố thời gian
+ Thu nhập kì vọng và rủi ro: có sự đánh đổi
=> khái niệm chung: đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực ở hiện tại
với kì vọng đem lại cho nền kinh tế và xã hội những kết quả (hoặc lợi ích) trongtương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả (lợi ích) đó
Chú ý: + Nguồn lực : vật chất và phi vc
+ Lợi ích: vật chất và phi vật chất
VD 1: Ở Mỹ đánh bạc không phải hoạt động đầu tư vì:
+ Đánh bạc mục tiêu không phải kiếm tiền,là hđ gải trí, tiền chỉ tăng sức hấp dẫn+ Kết quả hành vi quá ngắn so với yêu cầu đầu tư
+ Rủi ro nhân tạo (do chính người đó tạo ra)
+ Có rủi ro nhưng không cso đánh đổi lợi ích kỳ vọng với rủi ro
Trang 4+ Phân tích kinh tế, tài chính, thương mại khoogn có giá trị trong việc đánh bạc.
VD 2: Thôn tính, sáp nhập doanh nghiệp (dịch chuyển quyền sở hữu tài sản)
VD 3: Đầu tư bds:
+ Thị trường sơ cấp: Đầu tư phát triển
+ Thị trường thức cấp: dịch chuyển quyền sở hữu; xuất hiện đầu cơ; giảm tínhthanh khoản, điều tiết của vốn
2 Phân loại hoạt động đầu tư
* Theo bản chất của các đối tượng đầu tư
- Đầu tư cho các đối tượng vật chất
- Đầu tư cho các đối tượng tài chính ( mua cp,trái phiếu )
- Đầu tư cho các đối tượng phi vc( phát minh, sang chế, phương thức sx )Đầu tư cho tài sản vật chất là điều kiện tiên quyết, cơ bản làm tiềm lực cho nền kinh
tế ,đầu tư tài sản trí tuệ và nhân lực là điều kiện tất yếu để đảm bảo chi đầu tư cácđối tượng vật chất tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế xã hội
* Theo phân cấp quản lý
Đầu tư phát triển được chia thành đầu tư theo các dự án quan trọng quốc gia, dự
án nhóm A, B, C
Tùy theo tính chất và quy mô đầu tư của dự án mà phân thành dự án quan trọngquốc gia, dự án nhóm A, B, và C, trong đó, Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hộiquyết định, dự án nhóm A do do Thủ tướng Chính phủ quyết định, nhóm B và C do
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, UBNDtỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương quyết định
* Theo cơ cấu tái sx
- Đầu tư chiều rộng: gia tăng năng lực sx = cách tăng quy mô 1 cách thuần túy
Trang 5- Đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kd: tại DN trực tiếp tạo năng lực sx, kdcho DN, sau đó cho nền kinh tế)
- Đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật: cải thiện KHCN của quốc gia, ngànhvùng có sự tham gia của DN và NN
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: cải thiện năng lực phục vụ của hệ thống hạtầng
* Theo đặc điểm hđ của các kết quả đầu tư
- Đầu tư cơ bản: tạo ra TSCĐ
- Đầu tư vận hành: đáp ứng nc vận hành các kq của ĐTCB
* Theo thời gian
- Đầu tư ngắn hạn
- Đầu tư dài hạn
* Theo nguồn vốn đtư
- Đầu tư trong nước
- Đầu tư nước ngoài
* Theo vùng lãnh thổ: đt pt các vùng lãnh thổ, vùng kt trọng điểm , kv thành
thị và nông thôn
* Theo quan hệ quản lí của chủ đầu tư
- Đầu tư gián tiếp: người bỏ vốn và người sử dụng vốn k phải là 1 chủ thể( người bỏ vốn k trực tiếp tham gia quản lí, điều hành tài sản mà họ đtư) Ví dụ:mua chứng chỉ, cổ phiếu trên thị trường thứ cấp…
- Đầu tư trực tiếp: người đầu tư( bỏ vốn ) trực tiếp tha gia quản lí điều hành tàisản mà họ đtư
+ Đầu tư dịch chuyển: hình thức của đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn
nhằm dịch chuyển sở hữu tài sản , k làm gia tăng giá tị tài sản
+ Đầu tư phát triển: hình thức của đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn nhằm
gia tăng giá trị tài sản Sự gia tăng trong đầu tư phát triển nhằm tạo ra nănglực sx mới ,cải tạo, mở rộng, năng lực sx hiện có vì mục tiêu phát triển
Trang 6Câu 2: Đầu tư phát triển Đặc điểm đầu tư phát triển Phân biệt đầu tư phát triển và đầu tư dịch chuyển
1 Đầu tư phát triển: là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong
hiện để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vậtchất ( nhà xưởng, thiết bị ) và tài sản trí tuệ ( tri thức, kĩ năng…), gia tăng nănglục sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển
- Nguồn lực:
+ Nghĩa hẹp là nguồn vốn
+ Nghĩa rộng là tiền vốn, đất đai lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên
- Đối tượng :
+Trên quan điểm phân công xã hôi: đtư theo ngành và theo lãnh thổ
+Trên góc độ tính chất mục đích đtư: vì lợi nhuận và phi lợi nhuận
+Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng: được khuyến khích, k đc kk, bị cấm đtư+Trên góc độ tài sản: tài sản vật chất và tài sản vô hình
- Kết quả: sự tăng lên về tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, tài sản vô hình, năng lực sx
xã hôi
- Hiệu quả: phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kte xh thu đc và chi phí chi ra đểđạt kết quả đó
2 Đặc điểm đầu tư phát triển
2.1 Quy mô tiền vốn, vật tư lao động lớn: Vốn nằm khê đọng lâu trong suốt
quá trình thực hiện đầu tư Quy mô vốn đtư lơn đòi hỏi có giả pháp tạo vốn hợp lý,xây dựng cs, quy hoạch kế hoạch đtư đúng đắn , quản lý chặc chẽ tổng vốn đầu tư,
bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, đtư có trọng điểm
Lao động cần sử dụng lớn (đb là các d/a trọng điểm) do vậy công tác tuyểndụng, đào tao, sử dụng và đãi ngộ phải theo 1 kế hoạch định trước để đáp ứng tốtnhất nhu cầu từng loại nhân lực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “ hậu d/a”
2.2 Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực
hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Do vốn lớn lại nằmkhê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư,
Trang 7điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch vốn đầu tư, khắcphục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
2.3 Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian vận hành các
kết quả đầu tư được tính từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng vàđào thải công trình Yêu cầu đặt ra đối với công tác đầu tư là rất lớn, nhất là về côngtác dự báo về cung cầu thị trường sản phẩm đầu tư trong tương lai, quản lý tốt quátrình vận hành, nhanh chóng đưa thành quả đầu tư đưa vào sử dụng, hoạt động tối
đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh hao mòn vô hình, chú ý đến cả độtrễ thời gian trong đầu tư Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản
lý hoạt động đầu tư
2.4 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng Không dễ dàng di chuyển đã đầu tư từ nơi này sang
nơi khác nên công tác quản lí hđ đtư phát triển cần quán triệt đặc điểm này trên 1 sốnd:
- Có chủ trương đtư và quyết định đtư đúng ( đtư cái j, công suất bao nhiêu làhợp lí ) cần đc nghiên cứu kĩ lưỡng
- Lựa chọn địa điểm đtư thích hợp ( dựa trên căn cứ khoa học, các chỉ tiêuktee, chính trị , văn hóa…)
2.5 Hoạt động đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Do quy mô vốn đầu tư
lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéodài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường rất cao Nguyênnhân:
+ Rủi ro do nguyên nhân khách quan : các rủi ro về thời tiết ví dụ như trong
quá trình đầu tư gặp phải mưa bão, lũ lụt làm cho các hoạt động thi công côngtrình đều phải dừng lại ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và hiệu quả đầu tư Các rủi ro
về thị trường như giá cả, cung cầu các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra thay đổi,
ví dụ như do thông tin trong sữa Trung Quốc có chất gây bệnh sỏi thận mà cầu vềsữa giảm sút nghiêm trọng, hoạt động đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất chế biến sữacủa một số doanh nghiệp vì thế cũng bị ngưng trệ Ngoài ra quá trình đầu tư còn
thể gặp rủi ro do điều kiện chính trị xã hội không ổn định
Trang 8+ Rủi ro do nguyên nhân chủ quan : quản lý kém, chất luợng sản phẩm khôngđạt yêu cầu
=> Khi đã nhận diện được các rủi ro nhà đầu tư cần :
- Nhận diện rủi ro đầu tư
- Đánh giá mức độ rủi ro
- Xây dựng các biện pháp phòng chống rủi ro
3 Phân biệt đầu tư phát triển và đầu tư dịch chuyển: đều là hình thức của đtư
Không tạo ra năng lực sx, phục
vụ mới
Quyền sở
hữu tài sản Ko có sự chuyển dịch quyền sởhữu ts Có sự dịch chuyển quyền sởhữu ts
Mục tiêu Đem lại lợi ích cho ng đtư và
mục tiêu phát triển Chỉ có lợi ích của ng đtư
Ví dụ Xây dựng đường, trường học,
nhà máy…
Sáp nhập, mua lại doanhnghiệp , cơ sở sxkd
Câu 3 : Nội dung của đầu tư phát triển
Đầu tư vào tài sản vc
1 Đầu tư cho xây dựng cơ bản:
- Đặc trưng :
Xây dựng cơ bản là nghành sản xuất vật chất có đặc điểm riêng khác với cácnghành sản xuất vật chất khác bởi tính cố định tại một vị trí nhất định, nên nơi sảnxuất cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm Có tính đơn chiếc, quy mô lớn kết cấu phức tạp,thời gian thực hiện và sử dụng lâu dài
- Vai trò :
Trang 9Đầu tư xây dựng cơ bản có ý nghĩa quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kĩthuật cho doanh nghiệp, là nhân tố quan trọng nâng cao năng lực sản xuất chodoanh nghiệp.
- Hình thức đầu tư:
Đầu tư cho hoạt động xây dựng: đây là quá trình la động để ta ra những sảnphẩm xây dựng bao gồm các công việc:
+ Thăm dò, khảo sát, thiết kế
+ Xây dựng mới, xây dựng lại công trình
+ Cải tạo, mở rộng, nâng cấp hiện đại hóa các công trình
+ Sửa chữa lớn nhà của vật kiến trúc
+ Lắp đặt thiết bị máy móc và công trình
+ Thuê pương tiện máy móc thi công có người điều khiển đi kèm
Hoạt động lắp dặt máy móc, thiết bị: công tác lắp đặt máy móc, thiế bị là quátrình lắp đặt thiết bị, máy móc trên nền bệ máy cố định dể máy móc và thiết bị cóthể hoạt động được, nhưng: lắp đặt thiết bị máy sản xuất, thiết bị vận chuyển, thiết
bị thí nghiệm, thiết bị khám chữa bệnh nhưng khống bao gồm công tác lắp đặtthiết bị là một bộ phận kế cấu của nhà cửa, vật kiến trúc như hê thống thông gió, hệthóng lò sưởi, hệ thống thắp sáng linh hoạt
Đầu tư xây dựng cơ bản khác, như: đầu tư các công trình sản xuất phụ, đầu tưxây dựng các công trình tạm để tao nguông vật liệu và các phụ kiện phục vụ ngaycho sản xuất xây dựng
2 Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ
- Đặc trưng
Trang 10Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ tài nguyên nhiên vật liệu, bán thànhphẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp Tùy theo loại hìnhdoanh nghiệp, quy mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữ cũng khác nhau.
- Vai trò
Nguyên vật liệu là một bộ phận hàng tồn trữ không thể thiếu của doanh nghiệp thương mại dịch vụ Tỷ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trong tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp thường mại thường cao hơn so với các loại hình doanh
nghiệp khác Do vậy cần xác định quy mô đầu tư hàng tồn trữ tối ưu cho doanh nghiệp lại rất cần thiết
Đầu tư pt các tài sản vô hình
3 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực:
- Đặc trưng:
Các đầu vào của một quá trình sản xuất, như: nguyên liệu, máy móc thiết bị,công nghệ, tài sản cố định( hữu hình như: đất đai, nhà xưởng; vô hình như: thươnghiệu, chất lượng, nhãn mác sản phẩm, ), vốn đầu tư đều là những sản phẩm của trítuệ và lao động con người Còn một yếu tố đầu vào quan trọng để tiến hành sảnxuất kinh doanh, đó là yếu tố lao động( hay nguồn nhân lực) Lao động là yếu tốđầu vào duy nhất vừa là chủ thể đầu tư, vừa là đối tượng được đầu tư Số lượng laođộng phản ánh sự đóng góp về lượng, chất lượng lao động( thể hiện ở thể lực, trílực, ở tinh thần và ý thức lao động( phản ánh bởi sự đóng góp về chất của lao độngvào quá trình sản xuất
- Vai trò:
Nguồn nhân lực là tài sản của doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫncòn có quan niệm con người chỉ là một yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinhdoanh Việc quản trị nguồn nhân lực đơn thuần là thuê mướn và sau đó là “caiquản” Quan niệm đó dẫn đến doanh nghiệp không có nhu cầu đào tạo để phát triển
Trang 11nguồn nhân lực của mình, xem đào tạo là gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp, thayvào đó chỉ cần sa thải nhân viên không đáp ứng yêu cầu và tuyển người mới.
Trái lại, theo xu hướng phát triển nguồn nhân lực hiện nay ở nhiều nước, ngườilao động được xem là tài sản của doanh nghiệp Thêm vào đó là có rất nhiều khókhăn trong việc thu hút lao động có chất lượng tốt, vì thế đào tạo vè tái đào tạođược các doanh nghiệp coi là hoạt động đầu tư chứ không phải là gánh nặng chiphí Xác định được như vậy, mỗi doanh nghiệp cần vạch ra chiến lược phát triểnnguồn nhân lực cũng như chiến lược quản lý nhân sự phù hợp với kế hoạch kinhdoanh của mình
Thay đổi vai trò và xu hướng trong quản trị nhân sự chiến lược
Đánh giá, nhận xét định tính Đánh giá định lượng
Hoạt động mang tính hành chính Hoạt động mang tính tư vấn
Chú trọng vào chức năng Chú trọng vào khách hàng
Chú trọng vào hoạt động Chú trọng vào giải pháp
Phản ứng với nhứng thay đổi Chủ động thực hiện
- Các hình thức đầu tư nguồn nhân lực:
Đào tạo trực tiếp: trang bị kiến thức phổ thông, chuyên nghiệp và kiến thứcquản lý cho người lao động Việc đào tạo thể hiện ở hai cấp độ:
Đào tạo phổ cập: mục đích là cung cấp cho người lao động kiến thức cơ bản để
có thể hiểu và nắm được các thao tác cơ bản trong quá trình sản xuất Hình thức đàotạo này đơn giản và dễ tiếp thu, phù hợp với nhu cầu phát triển theo chiều rộng Đàotạo phổ cập có thể thông qua hai hình thức:
+ Một là đào tạo mới:áp dụng với người lao động chưa có nghề hoặc chưa có kỹnăng lao động đối với nghề đó
Trang 12+ Hai là đào tạo lại: áp dụng với người lao động đã có nghề nhưng nghề đókhông còn phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp, hoặc áp dụng khi doanhnghiệp thay đổi công nghệ mới đòi hỏi kiến thức và kỹ năng mới.
Đào tạo chuyên sâu: mục đích là nhằm hình thành nên một đội ngũ cán bộ vàcông nhân giỏi, chất lượng cao, làm việc trong những điều kiện phức tạp hơn Đây
là lực lượng lao động nòng cốt của doanh nghiệp và tạo nên sức mạnh cạnh tranhcủa doanh nghiệp
Lập quỹ dự phòng mất việc làm đê đào tạo lao động trong trường hợp thay đổi
cơ cấu hoặc công nghệ, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho lao động trong doanhnghiệp Trợ cấp cho lao động thường xuyên nay bị mất việc làm
Lập quỹ khen thưởng, quỹ bảo hiểm xã hội để khuyến khích người lao độngnâng cao tay nghề, phát huy sáng kiến, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kihndoanh Phương pháp này khuyến khích lao động làm việc hăng say, tự giácvới chất lượng tốt nhất
Lập quỹ phúc lợi để hỗ trợ người lao động khi gặp khó khăn, giúp họ yên tâmsản xuất
4 Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triên:
- Đặc trưng, vai trò:
Nghiên cứu và phát triển (R&D) là hoạt động không thể thiếu mang tính tất yếutrong nền kinh tế thị trường Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh hay không, cóthể tồn tại và phát triển bền vững trên thị trương hay không là do một phần rất lớn
từ kết quả của hoạt động R&D của doanh nghiệp đó Có thể nói R&D là sự đảm bảocho sự tồn tại để không bị lạc hậu của tất cả các doanh nghiệp, của tất cả các nềnkinh tế trên thế giới
Một trong những xu hướng mới trong hoạt động R&D là đổi mới quản lý và các
tổ chức khoa học và công nghệ Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ
Trang 13chức khoa học và công nghệ được đánh giá là tiền đề để phát huy năng lực nội tại
và nâng cao sức cạnh tranh Điều đặc biệt là quá trình đổi mới này luôn đi kèm vớităng cường tiềm lực (chi phí, nhân lực) cho khoa học và công nghệ (KH&CN) vàthay đổi cách cấp kinh phí nghiên cứu, cũng như đưa nghiên cứu và sản xuất gắnkết với nhau hơn
- Các hình thức đầu tư R&D:
Nghiên cứu thuần túy: là việc khảo sát ban đầu nhằm phát mình công nghệ mới,hoặc sử dụng những nguyên liệu mới Hình thức đầu tư này đòi hỏi chi phí rất cao
và khả năng rủi ro lớn, vì vậy thường chỉ các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và
có tham vọng trở thành người tiên phong trong việc tìm ra công nghệ mới thì mớitheo đuổi hình thức này
Nghiên cứu ứng dụng: thường hướng vào giải quyết vấn đề đặc biệt hay có mụcđặc biệt Nghiên cứu ứng dụng hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp vì có thể nhìnthấy triển vọng và thực tế cho phép thu hồi vốn đầu tư nhanh hơn Trong hình thứcnày, khoa học cơ bản được vận dụng vào các quá trình công nghệ, vật liệu hay sảnphẩm mới Thông qua nghiên cứu các doanh nghiệp có thể giảm giá thành sản phẩmnhờ sử dụng nguyên liệu mới tốt hơn, đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt hơn, hoặctạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao thậm chí là tuyệt đối (đối với sản phẩmkhó sản xuất, sản phẩm hoàn toàn mới), tăng thêm sức hấp dẫn đối với khách hàngnhờ cải tiến mẫu mã sản phẩm
Hiện nay chuyển giao công nghệ là hoạt động thường xuyên gắn liền với quátrình R&D, đổi mới công nghệ đặc biết với doanh nghiệp ở các quốc gia đang pháttriển như Việt Nam Hình thức này thường được thực hiện thông qua quan hệ kinh
tế đối ngoại, có thể là trực tiếp (mua công nghệ) hoặc gián tiếp (qua liên doanh vớinước ngoài)
Một số nội dung trong đầu tư cho khoa học và công nghệ
Trang 14+ Đầu tư vào hệ thống máy móc thiết bị, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng cho việc nghiêncứu ứng dụng và triển khai KH&CN.
+ Đầu tư cho công tác phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ
+ Đầu tư xây dựng tổ chức hệ thống thông tin quản lý phục vụ hoạt động KH&CN.+ Đầu tư thuê mua bản quyền phát minh, bằng sáng chế
Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt với mọi thứ luôn biến đổi cần phải đặt vấn
đề R&D vào trong chiến lược phát triển tổng thể của doanh nghiệp, trong suy nghĩcủa những người lãnh đạo doanh nghiệp, tạo cho họ thói quan xem xét hiệu quả vànăng suất của các hoạt động R&D như là những yếu tố quan trọng hàng đầu tronghoạt động của công ty
5 Đầu tư cho Marketing, củng cố uy tín và xây dựng thương hiệu
- Vai trò của Marketing với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp không chỉ có mối quan hệ bên trong(thể hiện ở chức năng quản lý sản xuất, quản lý tài chính, quản lý nguồn nhân lực)
mà còn có mối quan hệ gắn kết, chặt chẽ với thị trường thể hiện thông qua chứcnăng quản lý Marketing Mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng hướng đếnnhu cầu của khách hàng và trong một thị trường cạnh tranh với vố số người bán,Marketing sẽ giúp doanh nghiệp mang hình ảnh của mình, sản phẩm của mình đếnvới khách hàng một cách gần hơn, trực diện hơn
- Vai trò của thương hiệu:
Thương hiệu là căn cứ đầu tiên giúp cho khách hàng và đối tác nhận ra sản phẩmcủa doanh nghiệp mình và phân biệt với sản phẩm của doanh nghiệp khác
Thương hiệu là yếu tố nổi bật gắn với uy tín của doanh nghiệp, chất lượng sảnphẩm – dịch vụ của doanh nghiệp
Thương hiệu mạng lại lợi ích to lớn cho doanh nghiệp như: tạo niềm tin chokhách hàng vào chất lượng sản phẩm, dễ thu hút khách hàng( thương hiệu là cách
Trang 15truyền tin thú vị vì nó thu hút sự chú ý, phá bỏ rào cản và cho phép thiết lập mốiquan hệ với khách hàng), mang lại lợi nhuận( hơn nữa là lợi nhuận siêu ngạch) chodoanh nghiệp.
Thương hiệu có uy tín mang lại cơ hội đầu tư, thu hút đầu tư và quan trọng nhất
là chiếm lĩnh được thị phần cho doanh nghiệp
- Chi phí cho hoạt động Marketing, cũng có uy tín và phát triển thương hiệu.
Chi phí cho quảng cáo( chiếm một ít phần không nhỏ trong tổng ci phí và tỏnglợi nhuận)
Chi phí cho tiếp thị, khuyến mãi
Chi phí cho nghiên cứu thị trường, xay dựng cà củng có uy tín và phát triểnthương hiệu( vì một thương hiệu tốt thì phải có cách tiếp thị và tryền thông tốt).Việc đầu tư phát triển thương hiệu cần phải được xây dựng thành 1 chiến lược và
có sự giúp đỡ của chuyên gia Nếu không nó sẽ là con dao 2 lưỡi
Hình thành quỹ đầu tư phát triển thương hiệu và mở rộng thị phần kinh doanhtrích từ các khoản thu của doanh nghiệp
6 Đầu tư vào các tài sản vô hình khác :
Ở đây ta xét đến đầu tư vào chất lượng sản phẩm.
Chất lượng luôn là một yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng cạnh tranhcủa DN trên thị trườngChất lượng hàng hoá tốt sẽ giúp DN tạo uy tín, danh tiếng tốttới người tiêu dùng Là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài cho DN Nâng caochất lượng sản phẩm còn là biện pháp hữu hiệu kết hợp các loại lợi ích của DN,người tiêu dùng, xã hội, người lao động
Nâng cao chất lượng sp sẽ làm mở rộng thị trường nhờ chất lượng cao hơn vàgiá thấp hơn Từ đó dẫn đến tăng sản xuất, đảm bảo việc làm tăng thu nhập chongười lao động
Trang 16Câu 4: Vai trò của đầu tư với tăng trưởng kinh tế? Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam
Hầu hết các tư tưởng, mô hình và lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đều trực tiếphoặc gián tiếp thừa nhận đầu tư và việc tích lũy vốn cho đầu tư là một nhân tố quantrọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất, cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế Việcgia tăng quy mô vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọng trong việc gia tăng sản lượngquốc gia và sản lượng bình quân mỗi lao động Cụ thể ở đề tài này, chúng ta sẽnghiên cứu vai trò của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế thông qua mô hình Cobb-Douglas, Harrod – Domar và số nhân đầu tư
g = t+ αk +βl +γrg: Tốc độ tăng trưởng của GDP
k, l, r: Tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào
T : phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ
Như vậy, hàm sản xuất Cobb-Douglass cho biết có 4 yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế và cách thức tác động của 4 yếu tố này là khác nhau giữa các yếu tố K, L, R và T Do đó có thể thấy rằng đầu tư chính là một trong những hoạt động trực tiếp tạo ra tăng trưởng kinh tế
Trang 172 Mô hình Harrod – Domar
2.1 Mô hình
Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, mộtngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư chonó
g= ΔY
Y =
ΔY Y
Từ đó có thể suy ra
∆ Y = 1ICOR I
Trong đó: 𝛥Y là mức gia tăng sản lượng
𝛥K = I là mức đầu tư thuần (hay phần vốn gia tăng giữa các thời kỳ)
K là tổng quy mô vốn của nền kinh tế
Y là tổng sản lượng của nền kinh tế
ICOR là hệ số gia tăng vốn – sản lượng
2.2 Hệ số ICOR
Mối quan hệ giữa đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế được thể hiện thôngqua hệ số ICOR Hệ số ICOR là tỷ số giữa qui mô vốn đầu tư tăng thêm với mứcgia tăng sản lượng Hệ số này cho biết muốn có một đồng tăng trưởng thì phải cầnbao nhiêu đồng vốn đầu tư
→ Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư
- Hệ số ICOR của nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Cơ cấu đầu tư ngành thay đổi ảnh hưởng đến hệ số ICOR từng ngành, do đó, tácđộng đến hệ số ICOR chung
Sự phát triển của khoa học và công nghệ có ảnh hưởng hai mặt đến hệ số ICOR.Gia tăng đầu tư cho khoa học công nghệ, một mặt, làm tăng mức đầu tư thuần, mặtkhác, sẽ tạo ra nhiều ngành mới, công nghệ mới, làm máy móc hoạt động hiệu quảhơn, năng suất cao hơn, kết quả đầu tư tăng lên
Trang 18Do thay đổi cơ chế chính sách và phương pháp tổ chức quản lý Cơ chế chínhsách phù hợp, đầu tư có hiệu quả hơn (tức là, kết quả đầu tư – mức gia tăng sảnlượng tăng lớn hơn chi phí đầu tư – phần vốn đầu tư tăng thêm) làm cho ICORgiảm và ngược lại.
- Ưu điểm của hệ số ICOR:
ICOR là chỉ tiêu quan trọng để dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc dự báoquy mô vốn đầu tư cần thiết để đạt một tốc độ tăng trưởng kinh tế nhất định trongtương lai Kết quả dự báo là cơ sở quan trọng để xây dựng các chính sách kinh tế,
xã hội và lập các kế hoạch liên quan
Trong những trường hợp nhất định, hệ số ICOR được xem là một trong nhữngchỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư ICOR giảm cho thấy: để tạo ra một đơn vị GDPtăng thêm, nền kinh tế chỉ phải bỏ ra một số lượng vốn đầu tư ít hơn, nếu các điềukiện khác ít thay đổi
- Nhược điểm của hệ số ICOR:
Hệ số ICOR mới chỉ phản ánh ảnh hưởng của yếu tố vốn đầu tư mà chưa tínhđến ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất khác trong việc tạo ra GDP tăng thêm
Bỏ qua sự tác động của các ngoại ứng như điều kiện tự nhiên, xã hội, …
Không tính đến yếu tố độ trễ thời gian của kết quả và chi phí đầu tư, vấn đề táiđầu tư…
3 Số nhân đầu tư
Mỗi sự gia tăng về vốn đầu tư đều kéo theo sự gia tăng về nhân công và tư liệusản xuất Do vậy đầu tư sẽ làm gia tăng việc làm và nhu cầu tiêu dùng của nền kinh
tế, từ đó sẽ làm tăng thu nhập Đến lượt mình, tăng thu nhập lại làm tăng đầu tưmới Đầu tư mới lại làm tăng thu nhập mới Quá trình này thể hiện qua một đạilượng là số nhân đầu tư
Số nhân đầu tư thể hiện mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư với gia tăng thu nhập
Nó chỉ rõ sự gia tăng đầu tư sẽ kéo theo sự gia tăng thu nhập lên bao nhiêu Hay nóicách khác số nhân đầu tư cho chúng ta biết rằng khi có một lượng tăng thêm về đầu
tư tổng hợp thì thu nhập sẽ tăng lên một lượng là m lần mức gia tăng đầu tư
Ta có : m= dY
dI
Trang 19Với giả thiết : I=S →m = dY dS= 1−1dC
dY = 1−C1Trong đó : dY là gia tăng thu nhập
dI là gia tăng dầu tư
c là xu hướng tiêu dùng cận biên
Theo Keynes, mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo cầu bổ sung về nhân công
và tư liệu sản xuất từ đó làm gia tăng thu nhâp Thu nhập tăng là tiền đề cho tăngđầu tư Như vậy Keynes sử dụng khái niệm số nhân để chứng minh những kết quảtích cực của chính sách đầu tư
Tuy nhiên do xu hướng tiêu dùng giới hạn, nên tiêu dùng tăng chậm hơn so vớităng thu nhập, còn tiết kiệm lại tăng nhanh hơn Điều này làm cho tiêu dùng giảmtương đối Việc giảm tiêu dùng tương đối sẽ làm giảm cầu có hiệu quả, mà cầu lạiảnh hưởng đến quy mô sản xuất và tăng trưởng kinh tế Để điều chỉnh sự thiếu hụtcủa cầu tiêu dùng, cần phải tăng chi phí đầu tư, tăng tiêu dùng sản xuất Song khốilượng đầu tư lại phụ thuộc vào ý muốn đầu tư cho tới khi nào hiệu quả giới hạn của
tư bản giảm xuống bằng mức lãi suất Nhưng trong nền kinh tế, hiệu suất tư bản có
xu hướng giảm xuống, còn lãi suất cho vay lại có xu hướng ổn định, điều đó tácđộng đến đầu tư mới, và khủng hoảng xuất hiện, nền kinh tế trở nên trì trệ
Do vậy theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục thất nghiệp,khủng hoảng và duy trì tăng trưởng kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường
tự điều tiết, mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế nhằm thúcđẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động: đầu tư nhà nước, hệ thống tài chính tíndụng và lưu thông tiền tệ, các hình thức khuyến khích tiêu dùng
Liên hệ Việt Nam:
Tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế
- Đánh giá tác động của đầu tư tới tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2001-2011 thông qua hệ số ICOR
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng được thể hiện thông qua hệ số ICOR Sốliệu thống kê cho thấy hệ số ICOR thường nằm trong khoảng 3 và 4 trong thế kỷ
19, nhưng hệ số ICOR khác nhau đáng kể giữa các ngành kinh tế Ở nước ta tỷ lệvốn đầu tư toàn xã hội so với GDP còn thấp so với các quốc gia trong khu vực Hệ
Trang 20số ICOR năm 1991 của Việt Nam là 0,39, tức là để có 1 đồng tăng trưởng cần phảiđầu tư 0,39 đồng vốn Đến năm 2001, số liệu này là 3,82 Thực tế cho thấy càngtiếp cận sâu rộng với thị trường thế giới thì lợi thế cạnh tranh ban đầu sẽ giảm đi(tài nguyên phong phú, lao động rẻ) Nếu không phát huy được lợi thế cạnh tranhban đầu và không tạo được những lợi thế cạnh tranh mới thì khó có thể đạt đượcmức tăng trưởng mong muốn
Cùng với việc tăng trưởng kinh tế phụ thuộc lớn vào vốn đầu tư, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với thực trạng hiệu quả đầu tư đang ở trạng thái thấp.
Hiệu quả đầu tư của Việt Nam đang giảm dần qua các giai đoạn tăng trưởng củanền kinh tế cụ thể: trong giai đoạn 1996-2000 bình quân 1 đồng vốn đầu tư tạo ra3,01 đồng GDP, nhưng con số này đã giảm dần trong các giai đoạn tiếp theo.Xuống còn 2,59 đồng GDP, trong giai đoạn 2001-2005 và 2,34 đồng GDP tronggiai đoạn 2006-2010 Theo hệ số ICOR, thì hệ số ICOR cũng tăng nhanh qua cácgiai đoạn đặc biệt là giai đoạn 2006-2010:
Nếu xét ở đầu vào có 3 yếu tố đóng góp vào tăng trưởng kinh tế là số lượng vốnđầu tư, số lượng lao động và sự đóng góp của các yếu tố năng suất tổng hợp (tiến bộkhoa học công nghệ, nguồn nhân lực…) Theo tính toán ban đầu, yếu tố số lượngvốn đầu tư đã đóng góp khoảng 57%, yếu tố số lượng lao động đóng góp khoảng20%, yếu tố TFP đóng góp 23% Có thể thấy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựachủ yếu vào sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư Tỷ lệ vốn đầu tư so vớiGDP từ năm 2004 đến nay đều đã vượt qua mốc 40% (năm 2004 đạt 40,7%, năm
2005 đạt 40,9%, năm 2006 đạt 41%, ước năm 2007 đạt 40,4%), kế hoạch năm 2008còn cao hơn, lên đến 42% Đây là tỷ lệ thuộc loại cao nhất thế giới, chỉ sau tỷ lệ trêndưới 44% của Trung Quốc Bên cạnh đó là sự đóng góp của yếu tố lao động cũngchiếm tỷ trọng lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế ở việt Nam, trong khi tỳ trọngđóng góp của yếu tố TFP vào tăng trưởng kinh tế còn thấp (23%) Điều nay chothấy nền kinh tế Việt Nam hiện vẫn đi theo hướng tăng trưởng về số lượng, vẫn chủ
yếu phát triển theo chiều rộng, trong khi chưa chú trọng phát triển về chiều sâu
Tỉ lệ vốn đầu tư xã hội/GDP của Việt Nam đã tăng lên khá nhanh và hiện ở mức khá cao Nếu trước năm 2004, tỷ lệ này còn ở dưới mức 40% GDP thì giai
đoạn 2006-2011, tỉ lệ vốn đầu tư/GDP đã có nhiều khởi sắc và tăng mạnh Với41.6% năm 2006, tỉ lệ này đã có sự tăng trưởng vượt trội với con số kỉ lục 46,5%vào năm 2007- thuộc nhóm cao nhất thế giới Vốn đầu tư đã góp phần làm tăng
Trang 21trưởng kinh tế của Việt Nam thuộc loại cao, tăng liên tục và tăng trong thời gian dài(tính đến nay đã đạt 32 năm).
Câu 5: Vai trò của đầu tư với dịch chuyển cơ cấu kinh tế Liên hệ thực tế Việt Nam.
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan
hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và lượng, tuỳ thuộc mục tiêu của nền kinh tế, trong những điều kiện về không gian, thời gian và kinh tế xã hội nhất định
- Cơ cấu ngành: xuất phát từ phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản
xuất theo ngành
- Cơ cấu vùng lãnh thổ: bố trí sản xuất theo không gian địa lý.
- Cơ cấu thành phần kinh tế: theo chế độ sở hữu.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận
cấu thành nền kinh tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triểnkhông đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng
Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư góp phầnlàm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật và chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối trên phạm vi nền kinh tếquốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫncoi trọng yếu tố ngoại lực
1 Đối với cơ cấu ngành.
Đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư vào từng ngành nhiều hay ít, việc
sử dụng vốn có hiệu quả cao hay thấp… đều ảnh hướng đến tốc độ phát triển, đếnkhả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo điều kiện tiền đề vật chấtcho sự phát triển các ngành mới…do đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành
Đầu tư gây nên sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ nhất là trong ngành công nghiệp
và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu của khu vực công nghiệp được thực hiện gắn liềnvới sự phát triển các ngành theo hướng da dạng hóa, từng bước hình thành một sốngành trọng điểm và mũi nhọn, có tốc độ phát triển cao, thuận lợi về thị trường, cókhả năng xuất khẩu Tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong GDP tăng dần thực sựtrở thành động lực cho phát triển kinh tế quốc dân Chuyển dịch của khu vực công
Trang 22nghiệp theo hướng hình thành, phát triển một số ngành và sản phẩm mới thay thếnhập khẩu cung cấp cho thị trường nội địa, nhiều mặt hàng có chất lượng cao đãchiếm lĩnh thị trường trong nước.
Đối với ngành dịch vụ, đầu tư giúp phát triển các ngành thương mại, dịch vụ vậntải hàng hóa, mở rộng thị trường trong nước và hội nhập quốc tế Đầu tư còn tạonhiều thuận lợi trong việc phát triển nhanh các ngành dịch vụ bưu chính viễn thông,phát triển du lịch, mở rộng các dịch vụ tài chính tiền tệ
Đối với các ngành nông lâm nghiệp, đầu tư tác động nhằm đẩy nhanh côngnghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn bằng cách xây dựng kết cấu kinh
tế xã hội nông nghiệp nông thôn, tăng cường khoa học công nghệ…
2 Đối với cơ cấu vùng lãnh thổ.
Đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnhthổ, đưa vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa lợi thế
so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị…của những vùng có khả năng pháttriển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển Đầu tư vàonhững vùng kinh tế trọng điểm nhằm phát huy đươc thế mạnh và tiềm năng củavùng, bên cạnh đó chính phủ còn có những hoạt động hỗ trợ đầu tư cho những vùngkém phát triển nhằm cải thiện đời sống nhân dân và giảm chênh lệch kinh tế giữacác vùng Thống nhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa các vùng, tỉnh, thànhphố, tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật vànguồn nhân lực Nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và khu vực
3 Đối với cơ cấu thành phần kinh tế.
Đầu tư tác động nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong cơ cấu thành phầnkinh tế Trong những năm qua, cơ cấu thành phần kinh tế của nước ta đã có sựchuyển biến mạnh mẽ, đa dạng về hình thức sở hữu Đặc biệt là sự đổi mới thànhphần kinh tế nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Bên cạnh đó còn có sựphát triển của các thành phần kinh tế khác, sự liên doanh liên kết giữa các thànhphần kinh tế, nhất là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được chú trọng.Phát triển kinh tế nhiều thành phần có tác động về nhiều mặt: giải phóng sức sảnxuất, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tạo ra cạnh tranh - động lựccủa tăng trưởng; thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế, thực hiện đại đoàn kết dân
Trang 23tộc, huy động sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội; là con đường xâydựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất
Thực tế để phát huy vai trò tích cực của đầu tư đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cần phải thực hiện tốt một số giải pháp sau:
- Các ngành, địa phương cần có qui hoạch tổng thể phát triển KTXH, trên cơ sở đóxây dựng quy hoạch đầu tư
- Đầu tư và cơ cấu đầu tư phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội củaquốc gia
- Cần điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng: căn cứ vào thị trường chung cả nước vàphát huy lợi thế so sánh của từng vùng
- Các ngành, địa phương phải có kế hoạch đầu tư phù hợp khả năng tài chính, tránhđầu tư phân tán, dàn trải
Liên hệ VN:
1.Cơ cấu kinh đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thực hiện định hướng cơ bản trên đây của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sau hơn 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những kết quả nổi bật sau đây
Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của
GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000; 20,9% năm 2005, và đến năm 2008 ước còn 20,6% Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm
1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7%; năm 2005: 41% và đến năm 2008 ước tính
sẽ tăng đến 41,6% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7%; năm 2005: 38,1%; năm 2008 sẽ là khoảng 38,7%
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi
Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sự chuyển dịch
ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3% năm 2001 lên 19,3% năm 2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông
Trang 24thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần Tỷ lệ hộ nông nghiệp (baogồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp) đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên
8,78% Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu
hộ, tăng 62% so với năm 2000
Trong cơ cấu các thành phần kinh tế kinh tế tư nhân được phát triển không hạn
chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng cácnguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
Về cơ cấu vùng kinh tế, trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu
quan trọng, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế Trên bình diện quốc gia, đã hình thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng ĐôngNam bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng động lực cho tăng trưởng kinh tế cả nước
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây dựng các khucông nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng vùng Điều này tạo thuận lợicho phát triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá, hướng về xuất khẩu
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng, nghĩa
là hệ số mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001, và đến năm
2005 là trên 50% Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001 – 2005 đã đạt 111 tỉ
USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiến cho năm 2005, bìnhquân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000 Năm
2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao – 40 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng 21,5% so với năm 2006; năm 2008 tăng
29,5% so với năm 2007, đưa tỷ lệ XK/GDP đạt khoảng 70%.
Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản… đã cósức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từ năm 2004 đến nay Năm 2001, vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỉ USD;
Trang 25tiếp theo, năm 2002: 3,0 tỉ USD; 2003: 3,2 tỉ USD; 2004: 4,5 tỉ USD; 2005: 6,8 tỉ USD; 2006: 10,2 tỉ USD; và năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta liên tục nhận được các nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục: 20,3 tỉ USD, tăng gấp đôi so với năm 2006, bằng tổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm 2001-2005, chiếm 1/4 tổng vốn FDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa qua.
Năm 2008 này, tuy kinh tế toàn cầu có nhiều khó khăn lớn trong xu thế suy thoái, song đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tại Việt Nam đạt 64,011 tỉ USD, tăng gấp đôi năm 2007 Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 diễn ra đầu tháng 12, tại Hà Nội, tổng cam kết từ các nhà tài trợ lên tới 5,014 tỉ USD (thấp hơn 1 chút so với năm 2007: 5,4 tỉ USD) Giải ngân vốn ODA được 2,2 tỉ USD, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra và cao hơn mức năm 2007 (2,176 tỉ USD).Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu được triển khai Các doanh nghiệp Việt Nam đã có một số dự án đầu tư ra nước ngoài như khai thác dầu
ở An-giê-ri, Xin-ga-po, Vê-nê-du-ê-la; trồng cao su ở Lào…
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là một trong những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả, thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng ta giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách, vốn tích luỹ, cán cân thanh toán quốc tế…, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế – xã hội theo hướngbền vững Các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình
về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội cho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho người nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm
2007, và năm 2008 còn13,1% Chỉ số phát triển con người (HDI) đã không ngừng tăng, được lên hạng 4 bậc, từ thứ 109 lên 105 trong tổng số 177 nước…
2.Những hạn chế, bất cập của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
So với yêu cầu đặt ra, tốc độ chuyển dịch CCKT còn chậm và chất lượng chưa cao Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng yếu tố hiện đại trong toàn ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệ nhìn chung, vẫn
ở mức trung bình Công nghiệp chế biến, đặc biệt là những ngành công nghệ cao chưa phát triển Tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm liên tục trong những năm gần đây Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao như dịch
vụ tài chính – tín dụng, dịch vụ tư vấn chậm phát triển Tình trạng độc quyền, dẫn tới giá cả dịch vụ cao, chất lượng dịch vụ thấp còn tồn tại ở nhiều ngành như điện lực, viễn thông, đường sắt Một số ngành có tính chất động lực như giáo dục – đào
Trang 26tạo, khoa học – công nghệ, tính chất xã hội hoá còn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước.
Mới đây, tháng 9-2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra đánh giá tổng quan vềtình hình thực hiện kế hoạch kinh tế – xã hội trong 3 năm qua (2006-2008) và dựbáo khả năng thực hiện 52 chỉ tiêu chủ yếu đã được Đại hội X của Đảng đề ra trong
kế hoạch kinh tế – xã hội giai đoạn 2006-2010, trong đó có các chỉ tiêu liên quanđến việc thực hiện nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá ở nước ta Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra cảnh báo, mặc dù đã
có sự chuyển dịch đúng hướng, song tiến độ thực hiện còn chậm so với mục tiêu kếhoạch; trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái hiện nay mà dự báo là sẽ còn rấtnan giải, chí ít là trong vài ba năm tới, nếu không có các giải pháp chính sách thúcđẩy mạnh mẽ hơn nữa trong phát triển công nghiệp và dịch vụ theo hướng nâng caosản lượng và chất lượng tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế cùngvới chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ… thìkhó có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra Có cảnh báo đó là vì, theo ước tính,đến hết năm 2008, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP vẫn còn 20,6-20,7%, trong khi
kế hoạch đến năm 2010 phải giảm còn 15-16%; giá trị công nghiệp năm 2008 mớiđạt 40,6-40,7% GDP, trong khi kế hoạch đến năm 2010 phải đạt 43-44%; tỷ trọngthương mại – dịch vụ năm 2008 ước tính có thể đạt 38,7-38,8% GDP, trong khi kếhoạch đến năm 2010 phải là 40-41%
Câu 6: Nội dung cơ bản của các lý thuyết đầu tư Ưu nhược điểm của mỗi lý thuyết, đánh giá khả năng áp dụng các lý thuyết tại Việt Nam
1 Lý thuyết gia tốc đầu tư
- Lý thuyết này cho rằng cần phải có một lượng vốn nhất định để sản xuất ra 1 khốilượng sản phẩm đầu ra cho trước Tồn tại 1 mối quan hệ cố định giữa mức vốn đầu
tư và sản lượng đầu ra
Công thức: x = Kt Yt (1)
Trong đó: Yt: Tổng sản lượng đầu ra của nền kinh tế tại giai đoạn t
Kt: Tổng quy mô vốn đầu tư tại giai đoạn tx: Không thay đổi trong mọi thời kỳ
Có: Kt = x.Yt Kt-1 = x.Yt-1
Trang 27+ Lí thuyết gia tốc đầu tư phản ánh
quan hệ giữa sản lượng với đầu tư.
Nếu x không đổi trong kỳ kế hoạch thì
có thể sử dụng công thức để lập kế
hoạch khá chính xác.
+ Lí thuyết phản ánh sự tác động
của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư.
Khi kinh tế tăng trưởng cao, sản
lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh
doanh lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao
và đầu tư nhiều
+ Theo lý thuyết này thì nhu cầu đầu
tư được đáp ứng kịp thời, ngay lập tứctrong 1 thời kỳ (thực tế còn phụ thuộcvào tình trạng sản xuất của nền kinh tế,quy mô nhu cầu)
+ Đầu tư mới chỉ đề cập đến đầu tưthuần (đầu tư gia tăng) mà chưa phảnánh được tổng mức đầu tư
*) Lý thuyết đầu tư thả nổi: Theo lý thuyết này, đầu tư phụ thuộc vào sản lượng
đầu ra nhưng mức độ đáp ứng nhu cầu đầu tư phụ thuộc vào mức chênh lệch giữanhu cầu vốn đầu tư và quy mô vốn đầu tư thực tế
I = λ (K’t – Kt-1)
K’t: Tổng mức vốn đầu tư thực tế kỳ trước
Kt-1: Nhu cầu đầu tư thời kỳ t
λ: Mức độ đáp ứng nhu cầu đầu tư thời kỳ t (0<λ<1)λ<λ<1)1)
- Khả năng áp dụng tại Việt Nam:
Trang 28Theo quan điểm của lý thuyết gia tốc đầu tư truyền thống, chúng ta có thể ápdụng chính sách tài khóa để điều tiết hoạt động đầu tư Chính phủ thực hiện chínhsách tài khóa (mở rộng hoặc thắt chặt) bằng cách thay đổi mức chi tiêu chính phủ vàthuế Chính sách tài khóa mở rộng nhằm kích tổng cầu và tăng sản lượng cân bằngthông qua việc tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế (hoặc ngược lại với chínhsách TK thắt chặt) Chi tiêu chính phủ tăng → Tổng cầu và thu nhập tăng → Tăngđầu tư
Còn theo quan điểm của lý thuyết gia tốc đầu tư thả nổi thì có thể áp dụng cảchính sách tài khóa và tiền tệ để áp dụng Chính sách tài khóa thì đã trình bày như ởtrên Về chính sách tiền tệ (nới lỏng hoặc thắt chặt) ảnh hưởng đến nền kinh tếthông qua kiểm soát các điều kiện tài chính như sự sẵn sàng về tín dụng và chi phívay tiền Với chính sách tiền tệ nới lỏng kích cầu bằng cách tăng cung ứng tiền tệ,còn chính sách tiền tệ thắt chặt lại cắt giảm tổng cầu thông qua việc cắt giảm cungtiền Giả sử: Cung tiền tăng → Lãi suất giảm → Đầu tư tăng → Tổng chi tiêu kếhoạch tăng → Thu nhập tăng
2 Lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ
I = f (Π) ) Π) : Lợi nhuận thực tế
- Do đó, dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn Vì lợinhuân cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu tư sẽ cao hơn
- Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm:
+ Nguồn vốn nội bộ của doanh nghệp (if): Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấu hao,+Nguồn vốn bên ngoài (ef): Phát hành trái phiếu và bán cổ phiếu, vay ngân hàng vàcác tổ chức tài chính
- Ưu điểm: Giải thích được vì sao các doanh nghiệp lại giảm thuế TNDN để giữ lại
nhiều lợi nhuận và tăng đầu tư
- Nhược điểm: Dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được lựa chọn,nên các
dự án mang tính chất phúc lợi xã hội sẽ ít được quan tâm đề cập nhiều
- Khả năng áp dụng: Theo lí thuyết quỹ nội bộ của đầu tư thì việc giảm thuế lợi
tức của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ đó tăng đầu tư và tăng sản lượng, màtăng lợi nhuận có nghĩa là tăng quỹ nội bộ Có thể áp dụng lý thuyết với chính sáchthuế thu nhập doanh nghiệp Lí do vì khi doanh nghiệp đi vay vốn bên ngoài sẽ dẫn